Xem đêm - Tập thơ duy nhất của Phùng Cung
Bến xuân
Dâu biển
Nghiêng lụy
Dáng nhạn
Khói cuối năm
Người làng
Vay
Tìm em
Chùa Kim Liên
Đêm xuân
Mồ hôi xương
Gặp thu
Đò khuya
Đêm xá tội
Quê khoai
Làng khuya
Hanh heo
Đêm cuối thu
Vòm sao nhớ
Nghe đêm
Dâu biển
Nghiêng lụy
Dáng nhạn
Khói cuối năm
Người làng
Vay
Tìm em
Chùa Kim Liên
Đêm xuân
Mồ hôi xương
Gặp thu
Đò khuya
Đêm xá tội
Quê khoai
Làng khuya
Hanh heo
Đêm cuối thu
Vòm sao nhớ
Nghe đêm
Về thơ Phùng Cung, chúng tôi đã có viết riêng một bài tổng
quan.(1) Sau đây là Tuyển 1, trong nhiều tuyển sẽ cố thực hiện. Tất cả các bài
đều từ tập Xem đêm - tập thơ duy nhất của Phùng Cung -, và đều xuất
hiện ngẫu nhiên chứ không được sắp xếp theo một thứ tự nào.
Bến xuân
Bến đò, mới mẻ gì đâu. Ðã đi vào ca dao, thơ Nguyễn Bính, thơ Hồ Dzếnh v.v. từ lâu rồi. Vậy mà Bến Xuân rõ ràng không phải thơ... thừa.
Có lần ngẫm nghĩ, thấy thơ Phùng Cung hẳn là những lời chót của Quê.(2)
Những đóa hoa cuối cùng của một “cây” văn hóa sống suốt mấy nghìn năm, chúng đẹp và thơm xứng với vai trò lịch sử đấy chứ.
Sợi tơ trời
Nghiêng bay trong nắng
Hoa gạo bên sông đỏ thắm
Ðợi chuyến sang
Lúng liếng mây - trôi - giải yếm
Mái tóc em đẹp - gió bến đò.
Dâu biển
Chiều, vườn dâu dập dờn, dào dạt. Con chim bé như chiếc kẹp phơi áo bay lên vẽ biển...
Cảm xúc đẹp. Thơ đẹp, như bao nhiêu thơ của một người.
Chiều xâm xẩm
Vườn dâu đòi xanh biển
Con chim chích buông cành
bay liệng
Vẽ vòng sóng vỗ xa xưa.
Nghiêng lụy
Em ngự trị một góc lớn của Thơ. Em thường ở trong đời. Thỉnh thoảng có Em ra ở ngoài đời, như Em Kiều trong Ðoạn trường tân thanh, Em Sư trong Nghiêng Lụy.
Ðời không phải cứ bước ra khỏi là quên được đâu. Mà không phải đã cố ý tránh là sẽ không gặp lại. Cho nên một chiều, dưới mái tam quan, tiếng chim rơi thánh thót, giọt trăng lã chã. Ới Bụt ơi!
Tình cờ gặp em
Em đã là sư bác
Nhìn trước nhìn sau
Em khẽ khóc
Mái tam quan
Thánh thót tiếng - chim - rơi
Ngại đường tu dang dở
Em vội lau nước mắt
Vạt áo nâu đẵm màu cát bá
ngày xưa
Trót nhớ mãi
Một chiều nghiêng lụy
Nước mắt em sư
Lã chã trăng - Kiều.
Dáng nhạn
Nhầm áo nâu với buồm nâu, cái gió rõ khéo nhầm!
Bài thơ 25 chữ vẽ nên tuyệt vời một mảng quê.
Sông đẹp dòng
Ðò vui rời bến
Cô lái vươn mình
Trôi dáng - nhạn
Gió ngỡ buồm quen...
Vạt áo nâu non khép vội tà.
Khói cuối năm
Áo cũ, bạn cũ, mùi khói cũng cũ, chỉ mới có “lạnh bước chân”...
Sương chiều nghe lạnh bước chân
Khách áo cũ
Tìm về bạn cũ
Ai đốt rác lá tre bên ngõ
Lối đi đầy mùi khói cuối năm.
Người làng
“Ngước mắt trông lên trời cũng lạ”.(3)
May quá, cúi trông xuống thì "dáng lạt bó rau" vẫn còn quen...
Bạc tóc trở về quê
Bỡ ngỡ tìm đò bến mới
Nhìn dáng lạt bó rau
Nhận được người làng.
Vay
Ông là người làng
Hay khách lạ thăm ai
Ông ngơ ngẩn - lá thu -
vàng hơi úa
Dáng ông trầm - sương gió
Em muốn vay ông một chút bụi đường.
Em là người làng
Hay khách lạ thăm ai
Em ngơ ngác - lá xuân -
lặng gió
Dáng em mềm - xóm ngõ
Tôi muốn vay em một chút dịu dàng.
Tìm em
“... Xếp tàn y lại để dành hơi”.(4) “Khăn áo cũ” của “em” phải xếp cất cho kỹ chứ sao lại để “hơi” bay lung tung làm “thơm - lạnh” cả vách, giường thế kia.
“Em đi nào biết năm nào
Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây”.(5)
Sông vẫn có sờ sờ, sao nỡ thôi có đò ơi!
“Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn bể bắc đi tìm bể đông”
(Ca dao)
Tìm về gặp em
Em đã đi
Vách, giường thơm - lạnh
Mùi khăn áo cũ
Ðêm nghiêng gió chập chờn
mưa gõ lá
Không có sông
Sao có tiếng gọi đò.
Chùa Kim Liên Chùa Kim Liên có cái mái tam quan thật đẹp. Lâu rồi, có lần làm du khách đã đứng mãi nơi cổng mà “bâng khuâng” ngắm những góc đầu đao cong vút...
Nghe nói chùa bây giờ đã bị biệt thự vây kín. “Chuông thiêng” nay tha hồ “ngân mãi” thứ tiếng của “ngậm ngùi”...
Sen vàng từ thuở lên ngôi
Bâng khuâng du khách
Ngậm ngùi vần thơ
Cổng chùa nhện mải giăng tơ
Chuông thiêng ngân mãi
Tiếng thừa trong không.
Đêm xuân
“Ðêm xuân” thường là một thế hệ, hai phái. Nhưng hai thế hệ “khoanh tròn nong ổ rạ” vào phút giao mùa cũng hay, già có trẻ, lạnh rồi tới ấm...
Ðom đóm bay ngang
Ngọn đèn gió bẻ
Hai thế hệ
Khoanh tròn nong ổ rạ
Gà khai khẩu gối mùa
lạnh ấm
Lác đác bên trời
Ngọc úa sao khuya.
Mồ hôi xương
Thương vợ thành thơ, mấy người rồi nhỉ? Ðầu tiên hình như là Tú Xương. Ông Tú thương vợ kể lể dông dài. Phùng Cung thương bằng thứ lời “vắt tận trong xương”...
Em vất vả
Tối ngày tất tả
Lưng áo em
Ngoang vôi trắng xóa
Cái trắng này
Vắt tận trong xương.
Gặp thu
Thu cốm, thu hồng là thu Hà Nội. Còn ở quê, đã có thu ổi. Đâu xa, cữ này ai có việc qua bên Bát Tràng, có thấy trên đường đê đang đổ bê-tông bụi mù cứ một quãng lại một cái lều con bán ổi? Xanh xanh, bằng quả chanh, mà ngọt.(6)
“Mùa ổi xanh về, thơm bàn tay nhỏ...”(7)
“Mùi năm ngoái”, năm kia, năm nào...
Trở dậy gặp thu
Không gian ngập mùi ổi chín
Mùi năm ngoái
Ðáy nước ao bèo
Mây trắng lênh đênh
Bâng khuâng mình tự
hỏi mình
Trời thu thả nắng
Giếng đình vắng ai.
Đò khuya
Cũng tiếng gọi đò ban đêm, mà Tú Xương nghe ra tiếng ếch, còn Phùng Cung lại “trông” ra sợi chỉ căng ngang sông!
Có phải người gọi đứng bên này, gần ông Tú, thì tiếng nghe to giống tiếng ếch. Còn nếu người gọi ở mãi bên kia sông, thì tiếng mảnh đi, hóa như sợi chỉ chới với tìm lỗ tai... Phùng Cung mà chui vào.
Bài thơ vỏn vẹn 15 chữ, ngắn hơn cả bài haiku.
Ðêm về khuya
Trăng ngả màu hoa lý
Tiếng gọi đò
Căng chỉ ngang sông.
Đêm xá tội
Xá tội vong nhân vào rằm tháng bảy. Chắc vì có trăng nên “đêm canh hến”. Ngoài kia trong ánh sáng lờ lờ, ma đói phất phơ. Trong này bên đèn bấc lụn “loe mũi lợn”, trên “võng nứa tròng trành” “điệu tình ru bôi bác”... Ðộc đáo cái đêm thơ Phùng. Im ắng bốn bề
Hoa đèn loe mũi lợn
Ma đói lần vườn
Lá rụng
Chó mím mõm sủa nằm
Ðêm canh hến
Khuya khoắt
tròng trành
võng nứa
Giọng khê khàn
Bôi bác điệu tình ru.
Quê khoai
Mưa mòi là mưa ra sao? Mưa mòi “láy tháy” làm “lũy tre bên ấy ngả màu xanh rau khúc”... A, cái rau khúc, hình như lá nó màu xanh nhạt. Lá tre vốn xanh đậm nhưng mưa giăng giăng làm nhạt màu đi, có phải?
Em ý tứ, hiền như khúc như khoai, chính thị em của “tôi” rồi!
Trên bến đợi đò
Em ý tứ soi gương đáy nón
Tôi nhận ra ngay
Em gái vùng soi bãi
Trên sông láy tháy mưa mòi
Lũy tre bên ấy
Ngả màu xanh rau khúc
Em mau mắn cười
Nheo mắt đầy sông nước
Tay run run khẽ chỉ
Giọng hẹp dần
Làng em đấy - quê khoai.
Làng khuya
Làng khuya không phải ngủ cả, vẫn có chân đi để va vào dấu chân, vẫn có mắt nhìn để thấy “giọt trăng khuya” soi “ao tím hoa bèo”...
Lỡ đò khuya mới về làng
Ngõ quen bước vội
Va dấu chân em
Khô bùn để lại
Ao tím hoa bèo
Ngóng giọt trăng khuya.
Hanh heo
Hình tượng trong thơ Phùng Cung bí ẩn với ngày càng đông người Việt hiện đại. Người sống ở phố, lạ lúa lạ cò, làm sao hiểu được “chấp chới” với “nhũng nhẵng” với “phơi tã”... Cũ quá mất rồi, quê ơi.
Xóm lảnh bạ đê quai
Ốc luộc lá bòng thơm
tấy ngõ Lúa non chấp chới dậy thì
Nhũng nhẵng dây cò - phơi tã
Gió - dắt điệu ru hời lẫm chẫm
Lũy tre chiều ngoang nắng
hanh heo.
Đêm cuối thu
Trăng cuối thu
Thơm mùi thị úa
Xóm khuya ai thức
Nghe chó, gió
Nghe tận đáy lòng ao.
Chó sủa dông dài
Gió chuyển canh
Trái thị cuối thu
Thơm mùi trăng úa
Ao khuya nước thở thì thầm.
Vòm sao nhớ
Sóng trăng? Không, trăng Phùng Cung không siêu thực như trăng Hàn Mặc Tử đâu. Ðây là trăng rất thực, thực như “cánh cò khuya dạt” nơi “bờ mây ngấn cát”. Thực như “người xa” đang phiêu dạt chân trời. Trông cò bâng khuâng nhớ, “mắt ruổi vòm sao”, chợt tai... Mưa phương nào không rơi ướt mái nhà mà rơi thẳng vào lòng cho “ướt giấc” người nghe sấm!
Sóng trăng nhẹ
Bờ mây ngấn cát
khuya dạt cánh cò
Mắt ruổi vòm sao nhớ
Tiếng sấm xa
Mưa ướt giấc người xa.
Nghe đêm
Tóc ai rồi chả bạc. Nhưng mấy ai đã “nghe” tóc mình bạc. Phải người thế nào, cảnh thế nào, mới nghe được “tiếng ru” của tóc chứ!
Ðêm chợt nghe
Trong gối vọng tiếng ru
Lắng tai mới rõ
Tiếng tóc mình chuyển bạc.
Bến xuân
Bến đò, mới mẻ gì đâu. Ðã đi vào ca dao, thơ Nguyễn Bính, thơ Hồ Dzếnh v.v. từ lâu rồi. Vậy mà Bến Xuân rõ ràng không phải thơ... thừa.
Có lần ngẫm nghĩ, thấy thơ Phùng Cung hẳn là những lời chót của Quê.(2)
Những đóa hoa cuối cùng của một “cây” văn hóa sống suốt mấy nghìn năm, chúng đẹp và thơm xứng với vai trò lịch sử đấy chứ.
Sợi tơ trời
Nghiêng bay trong nắng
Hoa gạo bên sông đỏ thắm
Ðợi chuyến sang
Lúng liếng mây - trôi - giải yếm
Mái tóc em đẹp - gió bến đò.
Dâu biển
Chiều, vườn dâu dập dờn, dào dạt. Con chim bé như chiếc kẹp phơi áo bay lên vẽ biển...
Cảm xúc đẹp. Thơ đẹp, như bao nhiêu thơ của một người.
Chiều xâm xẩm
Vườn dâu đòi xanh biển
Con chim chích buông cành
bay liệng
Vẽ vòng sóng vỗ xa xưa.
Nghiêng lụy
Em ngự trị một góc lớn của Thơ. Em thường ở trong đời. Thỉnh thoảng có Em ra ở ngoài đời, như Em Kiều trong Ðoạn trường tân thanh, Em Sư trong Nghiêng Lụy.
Ðời không phải cứ bước ra khỏi là quên được đâu. Mà không phải đã cố ý tránh là sẽ không gặp lại. Cho nên một chiều, dưới mái tam quan, tiếng chim rơi thánh thót, giọt trăng lã chã. Ới Bụt ơi!
Tình cờ gặp em
Em đã là sư bác
Nhìn trước nhìn sau
Em khẽ khóc
Mái tam quan
Thánh thót tiếng - chim - rơi
Ngại đường tu dang dở
Em vội lau nước mắt
Vạt áo nâu đẵm màu cát bá
ngày xưa
Trót nhớ mãi
Một chiều nghiêng lụy
Nước mắt em sư
Lã chã trăng - Kiều.
Dáng nhạn
Nhầm áo nâu với buồm nâu, cái gió rõ khéo nhầm!
Bài thơ 25 chữ vẽ nên tuyệt vời một mảng quê.
Sông đẹp dòng
Ðò vui rời bến
Cô lái vươn mình
Trôi dáng - nhạn
Gió ngỡ buồm quen...
Vạt áo nâu non khép vội tà.
Khói cuối năm
Áo cũ, bạn cũ, mùi khói cũng cũ, chỉ mới có “lạnh bước chân”...
Sương chiều nghe lạnh bước chân
Khách áo cũ
Tìm về bạn cũ
Ai đốt rác lá tre bên ngõ
Lối đi đầy mùi khói cuối năm.
Người làng
“Ngước mắt trông lên trời cũng lạ”.(3)
May quá, cúi trông xuống thì "dáng lạt bó rau" vẫn còn quen...
Bạc tóc trở về quê
Bỡ ngỡ tìm đò bến mới
Nhìn dáng lạt bó rau
Nhận được người làng.
Vay
Ông là người làng
Hay khách lạ thăm ai
Ông ngơ ngẩn - lá thu -
vàng hơi úa
Dáng ông trầm - sương gió
Em muốn vay ông một chút bụi đường.
Em là người làng
Hay khách lạ thăm ai
Em ngơ ngác - lá xuân -
lặng gió
Dáng em mềm - xóm ngõ
Tôi muốn vay em một chút dịu dàng.
Tìm em
“... Xếp tàn y lại để dành hơi”.(4) “Khăn áo cũ” của “em” phải xếp cất cho kỹ chứ sao lại để “hơi” bay lung tung làm “thơm - lạnh” cả vách, giường thế kia.
“Em đi nào biết năm nào
Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây”.(5)
Sông vẫn có sờ sờ, sao nỡ thôi có đò ơi!
“Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn bể bắc đi tìm bể đông”
(Ca dao)
Tìm về gặp em
Em đã đi
Vách, giường thơm - lạnh
Mùi khăn áo cũ
Ðêm nghiêng gió chập chờn
mưa gõ lá
Không có sông
Sao có tiếng gọi đò.
Chùa Kim Liên Chùa Kim Liên có cái mái tam quan thật đẹp. Lâu rồi, có lần làm du khách đã đứng mãi nơi cổng mà “bâng khuâng” ngắm những góc đầu đao cong vút...
Nghe nói chùa bây giờ đã bị biệt thự vây kín. “Chuông thiêng” nay tha hồ “ngân mãi” thứ tiếng của “ngậm ngùi”...
Sen vàng từ thuở lên ngôi
Bâng khuâng du khách
Ngậm ngùi vần thơ
Cổng chùa nhện mải giăng tơ
Chuông thiêng ngân mãi
Tiếng thừa trong không.
Đêm xuân
“Ðêm xuân” thường là một thế hệ, hai phái. Nhưng hai thế hệ “khoanh tròn nong ổ rạ” vào phút giao mùa cũng hay, già có trẻ, lạnh rồi tới ấm...
Ðom đóm bay ngang
Ngọn đèn gió bẻ
Hai thế hệ
Khoanh tròn nong ổ rạ
Gà khai khẩu gối mùa
lạnh ấm
Lác đác bên trời
Ngọc úa sao khuya.
Mồ hôi xương
Thương vợ thành thơ, mấy người rồi nhỉ? Ðầu tiên hình như là Tú Xương. Ông Tú thương vợ kể lể dông dài. Phùng Cung thương bằng thứ lời “vắt tận trong xương”...
Em vất vả
Tối ngày tất tả
Lưng áo em
Ngoang vôi trắng xóa
Cái trắng này
Vắt tận trong xương.
Gặp thu
Thu cốm, thu hồng là thu Hà Nội. Còn ở quê, đã có thu ổi. Đâu xa, cữ này ai có việc qua bên Bát Tràng, có thấy trên đường đê đang đổ bê-tông bụi mù cứ một quãng lại một cái lều con bán ổi? Xanh xanh, bằng quả chanh, mà ngọt.(6)
“Mùa ổi xanh về, thơm bàn tay nhỏ...”(7)
“Mùi năm ngoái”, năm kia, năm nào...
Trở dậy gặp thu
Không gian ngập mùi ổi chín
Mùi năm ngoái
Ðáy nước ao bèo
Mây trắng lênh đênh
Bâng khuâng mình tự
hỏi mình
Trời thu thả nắng
Giếng đình vắng ai.
Đò khuya
Cũng tiếng gọi đò ban đêm, mà Tú Xương nghe ra tiếng ếch, còn Phùng Cung lại “trông” ra sợi chỉ căng ngang sông!
Có phải người gọi đứng bên này, gần ông Tú, thì tiếng nghe to giống tiếng ếch. Còn nếu người gọi ở mãi bên kia sông, thì tiếng mảnh đi, hóa như sợi chỉ chới với tìm lỗ tai... Phùng Cung mà chui vào.
Bài thơ vỏn vẹn 15 chữ, ngắn hơn cả bài haiku.
Ðêm về khuya
Trăng ngả màu hoa lý
Tiếng gọi đò
Căng chỉ ngang sông.
Đêm xá tội
Xá tội vong nhân vào rằm tháng bảy. Chắc vì có trăng nên “đêm canh hến”. Ngoài kia trong ánh sáng lờ lờ, ma đói phất phơ. Trong này bên đèn bấc lụn “loe mũi lợn”, trên “võng nứa tròng trành” “điệu tình ru bôi bác”... Ðộc đáo cái đêm thơ Phùng. Im ắng bốn bề
Hoa đèn loe mũi lợn
Ma đói lần vườn
Lá rụng
Chó mím mõm sủa nằm
Ðêm canh hến
Khuya khoắt
tròng trành
võng nứa
Giọng khê khàn
Bôi bác điệu tình ru.
Quê khoai
Mưa mòi là mưa ra sao? Mưa mòi “láy tháy” làm “lũy tre bên ấy ngả màu xanh rau khúc”... A, cái rau khúc, hình như lá nó màu xanh nhạt. Lá tre vốn xanh đậm nhưng mưa giăng giăng làm nhạt màu đi, có phải?
Em ý tứ, hiền như khúc như khoai, chính thị em của “tôi” rồi!
Trên bến đợi đò
Em ý tứ soi gương đáy nón
Tôi nhận ra ngay
Em gái vùng soi bãi
Trên sông láy tháy mưa mòi
Lũy tre bên ấy
Ngả màu xanh rau khúc
Em mau mắn cười
Nheo mắt đầy sông nước
Tay run run khẽ chỉ
Giọng hẹp dần
Làng em đấy - quê khoai.
Làng khuya
Làng khuya không phải ngủ cả, vẫn có chân đi để va vào dấu chân, vẫn có mắt nhìn để thấy “giọt trăng khuya” soi “ao tím hoa bèo”...
Lỡ đò khuya mới về làng
Ngõ quen bước vội
Va dấu chân em
Khô bùn để lại
Ao tím hoa bèo
Ngóng giọt trăng khuya.
Hanh heo
Hình tượng trong thơ Phùng Cung bí ẩn với ngày càng đông người Việt hiện đại. Người sống ở phố, lạ lúa lạ cò, làm sao hiểu được “chấp chới” với “nhũng nhẵng” với “phơi tã”... Cũ quá mất rồi, quê ơi.
Xóm lảnh bạ đê quai
Ốc luộc lá bòng thơm
tấy ngõ Lúa non chấp chới dậy thì
Nhũng nhẵng dây cò - phơi tã
Gió - dắt điệu ru hời lẫm chẫm
Lũy tre chiều ngoang nắng
hanh heo.
Đêm cuối thu
Trăng cuối thu
Thơm mùi thị úa
Xóm khuya ai thức
Nghe chó, gió
Nghe tận đáy lòng ao.
Chó sủa dông dài
Gió chuyển canh
Trái thị cuối thu
Thơm mùi trăng úa
Ao khuya nước thở thì thầm.
Vòm sao nhớ
Sóng trăng? Không, trăng Phùng Cung không siêu thực như trăng Hàn Mặc Tử đâu. Ðây là trăng rất thực, thực như “cánh cò khuya dạt” nơi “bờ mây ngấn cát”. Thực như “người xa” đang phiêu dạt chân trời. Trông cò bâng khuâng nhớ, “mắt ruổi vòm sao”, chợt tai... Mưa phương nào không rơi ướt mái nhà mà rơi thẳng vào lòng cho “ướt giấc” người nghe sấm!
Sóng trăng nhẹ
Bờ mây ngấn cát
khuya dạt cánh cò
Mắt ruổi vòm sao nhớ
Tiếng sấm xa
Mưa ướt giấc người xa.
Nghe đêm
Tóc ai rồi chả bạc. Nhưng mấy ai đã “nghe” tóc mình bạc. Phải người thế nào, cảnh thế nào, mới nghe được “tiếng ru” của tóc chứ!
Ðêm chợt nghe
Trong gối vọng tiếng ru
Lắng tai mới rõ
Tiếng tóc mình chuyển bạc.
(1) Xem bài “Phùng Cung - Tổng quan” , trang gocnhin.net.
(2) Xem chú thích 1.
(3) Trong bài Trở Về Quê Cũ của Nguyễn Bính.
(4) Trong bài thơ Khóc Bằng Phi, có người cho là của vua Tự Ðức.
(5) Phỏng theo Kiều, câu 215-216: “Trông theo nào thấy đâu nào, hương thừa dường hãy ra vào đâu đây”.
(6) Lời bàn này viết trong tháng 10 năm 2010.
(7) “Mùa cốm xanh về, thơm bàn tay nhỏ...” (Nhớ Mùa Thu Hà Nội, TCS).
(2) Xem chú thích 1.
(3) Trong bài Trở Về Quê Cũ của Nguyễn Bính.
(4) Trong bài thơ Khóc Bằng Phi, có người cho là của vua Tự Ðức.
(5) Phỏng theo Kiều, câu 215-216: “Trông theo nào thấy đâu nào, hương thừa dường hãy ra vào đâu đây”.
(6) Lời bàn này viết trong tháng 10 năm 2010.
(7) “Mùa cốm xanh về, thơm bàn tay nhỏ...” (Nhớ Mùa Thu Hà Nội, TCS).
Thu Tứ






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét