Một lần đọc lại “Nguyễn
Minh Châu - Về tác gia và tác phẩm” (1), tôi đặc biệt chú ý một đoạn hồi ức của
nhà văn Trung Trung Đỉnh về băn khoăn của nhà văn Nguyễn Minh Châu khi lần đầu
đưa truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa cho nhà văn Lê Lựu đăng trên
tạp chí Văn nghệ quân đội. Đại để thế này, vào một “buổi chiều u ám” (có
lẽ là năm 1983 - năm tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa ra đời), Lê Lựu
vừa đãi Trung Trung Đỉnh món bún lá mắm tôm đậu phụ rán vừa kể lại cốt truyện
và ý tưởng cái truyện ngắn mới nhất của Nguyễn Minh Châu (chính là truyện Chiếc
thuyền ngoài xa) thì Nguyễn Minh Châu đến. Không những “bác Châu” “không có vẻ
xởi lởi vui vẻ như những buổi tới chơi tán gẫu thường ngày” mà còn mang một “vẻ
mặt căng thẳng”. Hoá ra “bác Châu” đến xin lại bản thảo vì “mình nghĩ lại rồi”,
vì “không nên in lúc này Lựu ạ” (2). Tự hỏi lòng cái gì khiến tác giả phân vân
như vậy, tôi đọc đi đọc lại Chiếc thuyền ngoài xa.
1. Nguyễn Minh Châu trăn
trở
Sinh thời, Nguyễn Minh
Châu gọi “cái nghề viết văn là nghề cắc cớ. Cái sự cắc cớ ở đây hàm chứa cả về
nỗi niềm khắc khoải sâu xa và chân thành của người nghệ sĩ đối với những bước
thăng trầm của quê hương, của đất nước lẫn sự nhạy cảm của anh ta đối với những
biến chuyển phức tạp của đời sống xã hội.” (3) Chiếc thuyền ngoài xa phải
chăng là sự nhạy cảm cắc cớ ấy, là niềm khắc khoải sâu xa ấy, là sự trăn trở
trung thực ấy của nhà văn về những thăng trầm, chuyến biến phức tạp của đời sống
xã hội?
Chiếc thuyền ngoài xa có
hai câu chuyện lồng vào nhau, câu chuyện của nghệ sĩ nhiếp ảnh tên Phùng đi
săn ảnh nghệ thuật và câu chuyện của một gia đình hàng chài tình cờ Phùng chứng
kiến trong chuyến công tác ấy đã làm trong anh có thay đổi suy nghĩ về nghệ
thuật, cuộc sống và con người.
Theo yêu cầu của trưởng
phòng, Phùng xách máy ảnh đến một vùng phá nước miền Trung cách Hà Nội sáu
trăm cây số (cũng là về thăm một vùng chiến trường cũ) để chụp bổ sung cho bộ
ảnh nghệ thuật về “thuyền và biển. Không có người. Hoàn toàn tĩnh vật” cho tấm
lịch năm sau. Sau nhiều ngày “phục kích”, Phùng được “một cảnh đắt trời cho” - “một bức tranh mực tầu của một danh hoạ thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ
loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh
mặt trời chiếu vào”, “toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài
hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở
nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”.
Tâm hồn người nghệ sĩ đã
rung động thật sự trước vẻ đẹp một tuyệt tác “có một không hai” của thiên
nhiên và một niềm xúc cảm thẩm mỹ cao độ đã làm anh ngây ngất. Trong đời một
người bình thường, được rung động trước vẻ đẹp của tạo hoá đã là một niềm hạnh
phúc lớn. Huống chi, đây là người nghệ sĩ - những con người tự nguyện “bị trời
đày” vì cái Đẹp - có được một khoảnh khắc rung cảm như thế, tưởng có chết
cũng không ân hận.
Trong giây phút ấy, người
nghệ sĩ còn “khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái
khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”, “phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là
đạo đức”. Trong khi thụ cảm cái Đẹp, Phùng còn chạm tới cái Chân, cái Thiện của
cuộc đời, anh cảm thấy tâm hồn như được gột rửa, trở nên trong trẻo, tinh
khôi. Đó chính là sức mạnh thanh lọc tâm hồn con người của cái Mỹ.
Thế nhưng, khi chiếc thuyền
đâm thẳng vào bờ, nghệ sĩ Phùng phải chứng kiến một cảnh tượng thật “trớ trêu
và bất ngờ”: một người đàn ông và một người đàn bà rời thuyền thẳng vào sau
bãi những xe tăng, xe rà phá mìn của công binh Mỹ còn lại sau chiến tranh.
Lão đàn ông rút phắt chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà. “Người
đàn bà với vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả,
cũng không tìm cách trốn chạy”. Vậy mà, khi thằng Phác (đứa con) lao vào giằng
được chiếc thắt lưng, “dướn thẳng người vung chiếc khoá sắt quật vào giữa
khuôn ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen như hắc ín, loăn xoăn”
của kẻ làm cha, thì “người đàn bà dường như lúc này mới cảm thấy đau đớn - vừa
đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã” gục xuống nức nở.
Ba hôm sau, trong cái “xó
bãi xe tăng” ấy, cảnh tượng ấy lại tái diễn, lần này có thêm đứa con gái lớn
xuất hiện để tước cái dao găm trong cạp quần đùi thằng Phác. Phùng phải vào
trạm xá vì nện nhau với gã đàn ông vũ phu. Đẩu, bạn chiến đấu cũ của Phùng,
chánh án toà án huyện “triệu tập” người đàn bà lên, đầy giận dữ: “Ba ngày một
trận nhẹ, năm ngày một trận nặng (…) chị không sống nổi với cái lão đàn ông
vũ phu ấy đâu!”. Bất ngờ thay, người đàn bà “chắp tay lại vái lia lịa : Quý
toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”.
Câu chuyện trớ trêu của
cái gia đình hàng chài làm dấy lên ở Phùng rất nhiều phản ứng, lần đầu là “kinh
ngạc” đến mức “cứ đứng há mồm ra mà nhìn”, rồi bất đồ “vứt chiếc máy ảnh chạy
nhào tới”. Lần tái kiến cảnh tượng đau lòng, anh đã nện “cái lão đàn ông độc
ác và tàn nhẫn nhất thế gian ấy” “cú nào ra cú nấy” “bằng bàn tay rắn sắt của
một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng”. Tại toà án huyện, trước
cách ứng xử của người đàn bà, lúc đầu Phùng thấy “gian phòng ngủ lồng lộng
gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá”, sau
thì cảm nhận “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện
vùng biển, lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ”.
Cái “mới vừa vỡ ra” trong
Đẩu (và Phùng) được Nguyễn Minh Châu để ngỏ - thủ pháp để ký thác những băn
khoăn của nhà văn về con người và cuộc đời. Con người, nhất là những người phụ
nữ, thường không hạnh phúc, không đơn giản, tâm hồn họ lại càng không giản
đơn, cách hành xử của họ có khi không theo cái logic thông thường của lý trí
mà theo cái lý của trái tim. Bề ngoài có thể họ có vẻ ngờ nghệch đến mức khó
chấp nhận được nhưng trong chiều sâu tâm hồn, họ “sắc sảo”, “thâm trầm”, “thấu
hiểu các lẽ đời” đến không ngờ. Đằng sau sự “cam chịu” rất phi lý của người
đàn bà hàng chài là lòng thương con, là đức hy sinh, bởi vì “đám đàn bà hàng
chài ở thuyền cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng
làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa”.
Cuộc đời, trong triết lý của
Nguyễn Minh Châu, cũng như con người, là cả một thế giới biểu hiện rất đa diện,
chuyển động rất đa chiều. Lão đàn ông “độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian ấy”
hoá ra vốn là “anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm”, quất vợ bằng “chiếc
thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa” nhưng hoá ra lại “nghèo khổ, túng quẫn đi
vì trốn lính”. Anh ta nhiễm “thói tàn nhẫn của dân đàn ông đánh cá trong vùng
địa phương này – do phong tục để lại”, nhưng khác là trong khi những người
đàn ông hàng chài thường giải toả nỗi khổ trong rượu thì hắn lại xả stress
lên người vợ chỉ có một cái lỗi là “đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”. Đánh vợ
“man rợ, tàn bạo”, “vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két”
nhưng lại “nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn” (Sự “rên rỉ đau đớn” của
hắn phải chăng có cái gì đó giống với sự nức nở của nhà văn Hộ khi tỉnh ra nhớ
lại mình đã tệ mạt với vợ con trong tác phẩm Đời thừa của Nam
Cao?). Hoá ra, hắn ta cũng là nạn nhân đáng thương của “cái sự lạc hậu”. “Cái
sự lạc hậu” tưởng đâu đã chấm dứt cùng với cuộc chiến tranh, hoá ra sau gần
mười năm tính từ “tháng ba bẩy nhăm” vẫn tồn tại ở đây như tàn tích “những
bãi xe tăng do bọn thiết giáp nguỵ vứt lại trên đường rút chạy”. Hai anh
chiến sĩ giải phóng từng vào sinh ra tử, “lòng các chú tốt”, hoá ra không thể
bảo vệ người đàn bà bất hạnh bị bạo hành như cơm bữa vì không thể thuyết phục
chị ta bỏ lão chồng đáng bị bỏ. Dù Phùng có “nện hắn cũng đã khiếp” thì hắn vẫn
được bảo vệ bởi cái thành trì vững chắc là cái tập tục lạc hậu cố hữu đang “gặm
mòn” giá trị con người.
Bởi vậy, dường như có sự đảo
lộn vị thế các nhân vật. Người đàn bà ban đầu “khúm núm”, “sợ sệt” “tìm đến một
góc tường để ngồi”, “rón rén ngồi ghé vào mép chiếc ghế và cố thu người lại”,
rồi “nhấp nhổm xoay mình trên chiếc ghế như bị kiến đốt”… Nhưng chỉ qua mấy
câu mào đầu, chị đã khác – “điệu bộ khác, ngôn ngữ khác”. Ban đầu xưng “con”,
gọi “quý toà”, sau xưng “chị”, xưng “tôi”, gọi “các chú”; trên khuôn mặt khi
thì “chợt ửng sáng lên như một nụ cười”, khi thì tỏ vẻ “thông cảm với chúng
tôi hơn ”! Còn “chúng tôi” ở đây, một là quan toà, một vừa là nhân chứng
vừa là ân nhân, ban đầu bị “kích thích trí tò mò”, nghe giữa chừng thì “không
thể nào hiểu được”, sau thì “vỡ ra” – cái “vỡ ra” không chỉ dừng lại về “các
người làm ăn lam lũ, khó nhọc”…
Qua hai phát hiện của nghệ
sĩ Phùng, Nguyễn Minh Châu muốn ký thác chân lý cuộc sống và nghệ thuật. Cuộc
đời thì đa sự, con người thì đa đoan, hầu như không đơn giản, xuôi chiều mà
thường chứa đựng nghịch lý, luôn tồn tại những mặt đối lập tốt/ xấu, thiện/
ác, “trong con người đang sống lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn
rết, thiên thần và ác quỷ” (Bức tranh). Sự thật nghiệt ngã trong cái khoang
thuyền vó bè đã xua tan làn khói lãng mạn bao phủ hình ảnh đẹp đến mức “kinh
điển” – chiếc thuyền ngư phủ ẩn hiện sau màn sương hồng hồng trên không gian
biển cả huyền ảo. Nó như lời cảnh tỉnh những ai quen nhìn cuộc đời bằng đôi
kính màu hồng, quen “tráng lên một lớp men trữ tình” cho hiện thực cuộc sống.
Nó nhắc nhở người cầm bút phải vất bỏ thói quen mỹ lệ hoá hiện thực đời sống,
tránh dễ dãi về cách nhìn và phô bày đời sống một cách đơn giản. Nghệ thuật
chỉ bằng lòng với việc “chụp ảnh” từ “ngoài xa”, từ bên ngoài là thứ nghệ thuật
hời hợt, giả dối, vô trách nhiệm, phi đạo đức…
Ở phần kết câu chuyện,
Phùng trở về với tấm ảnh mà “không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về
sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các
gia đình sành nghệ thuật”. Tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, Phùng
lại thấy “hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai” và nếu nhìn lâu hơn,
bao giờ anh cũng thấy người đàn bà “bước ra khỏi tấm ảnh”, “bước những bước
chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hoà lẫn trong đám đông”. Nếu đọc
không kỹ, người đọc có thể hiểu theo chiều hướng rằng người chồng sẽ thay đổi
tâm tính, chị vợ sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn. Bạn đọc thận trọng thì dường
như cảm nhận cuộc sống vẫn trượt theo quán tính của nó. Cái bước chân “chậm
rãi”, “chắc chắn” của chị hơn một lần nhà văn nói đến (cả bước chân của người
đàn ông, nhà văn cũng dùng cái từ ấy: “Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc
chắn”) chính là cái dáng đi quen thuộc của người dân miền biển. Số phận người
đàn bà là tình trạng phổ biến của cái “đám đông” kia, cái “đám đông” kia ai
cũng là một người đàn bà như thế.
Xuất phát từ khuynh hướng
đào sâu hiện thực ẩn kín, Nguyễn Minh Châu không những gói ghém ý đồ nghệ thuật
vào các biểu tượng đa nghĩa mà còn nâng tầm khái quát triết mỹ của các biểu
tượng. “Chiếc thuyền” nhìn xa - nhìn gần là những chiêm nghiệm, là chân
lý về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Nghệ thuật cần tránh cách nhìn
cuộc sống một chiều, lãng mạn, thi vị hoá; nghệ thuật phải tiếp cận, đào sâu
để khám phá, tìm ra bản chất của hiện thực. Nhà văn phải có cái nhìn sâu sắc,
toàn diện, phải có tiếng nói trung thực, thông cảm, thấu hiểu lẽ đời. Biểu tượng
đa nghĩa làm cho tác phẩm không rơi vào tính luận đề gượng gạo, trái lại rất
giàu tính triết luận - trữ tình, hướng đến chân lý phổ quát khiến người đọc
cùng suy tư. Từ đó, tác phẩm nói với chúng ta rất nhiều về tấm lòng thiết tha
của Nguyễn Minh Châu đối với cuộc sống, con người và công việc lao động nghệ
thuật.
2. Trăn trở với Nguyễn
Minh Châu
Đã đành là Chiếc thuyền
ngoài xa ra đời trước thời kỳ “cởi trói cho văn học”, nhưng cái gì đã
làm “nhà văn đi tiên phong trong công cuộc đổi mới” thận trọng đến vậy? Với
khuynh hướng đi sâu vào đề tài đời tư – thế sự, với quan niệm nghệ thuật về
“con người bên trong con người” (Bakhtin), với cảm hứng “nỗi lo âu sao mà lớn
lao và đầy khắc khoải về con người” (Mùa trái cóc ở miền Nam), Nguyễn Minh
Châu đã có Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê,
Khách ở quê ra…trước đó. Vậy vấn đề mà nhà văn cẩn trọng ở đây hẳn không chỉ
là sự tiên phong đổi mới tư duy nghệ thuật cho hợp với xu thế thời đại.
Đến một ngày đem cái điều
thắc mắc ấy hỏi một người thầy đáng kính, tôi dường như đã phần nào chạm được
đến cái ẩn ý của nhà văn trong Chiếc thuyền ngoài xa. Tìm về với phần
nhập và kết của truyện, hình tượng vị trưởng phòng có cái gì đó gờn gợn. Thoạt
nhìn, đó là một người “sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến”, có “cặp mắt đầy tinh
khôn”, “không bằng lòng với cách làm ăn từ trước đến giờ” nên muốn có một “bộ
sưu tập chuyên đề. 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển. Không
có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật…”. Vậy nên đã tháng bảy rồi – cái tháng
mà “chỉ có bão táp với biển động”, trưởng phòng vẫn yêu cầu Phùng đi chụp bổ
sung “một cảnh buổi sáng có sương”.
Những tấm ảnh Phùng mang về
đã làm cho “trưởng phòng rất bằng lòng” (đầy đủ là “trưởng phòng rất bằng
lòng về tôi”!). Sự may mắn tình cờ đã khiến cho Phùng đáp ứng được yêu cầu của
trưởng phòng – một người lãnh đạo rất tuỳ hứng, tuỳ tiện, bất chấp điều kiện
khách quan. Người đọc còn băn khoăn: liệu có thể có một bức tranh “Không có
người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật” như vị trưởng phòng yêu cầu không? “Văn học
và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó là con người”(4)thì
một yêu cầu chủ quan như thế, một sự “bằng lòng” như thế là duy ý chí, là phản
nghệ thuật; cần phải đọc ngay “lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” (5) ấy.
Trong bài tiểu luận Hãy
đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ, Nguyễn Minh Châu tâm sự
rằng nhà văn ở ta “vừa muốn phô diễn tư tưởng, chõ miệng ra giữa hai hàng chữ
để cảnh tỉnh với đời một cái điều gì đó tiên cảm trong đời sống nhưng lại muốn
giấu nó đi, gói nó trong bao lần lá, rào nó sau bao tầng chữ”(6). Hình ảnh vị
lãnh đạo văn nghệ ở trên quả là một trường hợp “gói” kín như thế. Thế còn chỗ
nào là nhà văn “rào” kỹ?
Trong lời kể lể tại toà án
của người đàn bà thuyền chài, có một từ có thể làm người đọc chúng ta băn
khoăn. Hãy ghi lại đây tất cả những lần xuất hiện cái từ “cách mạng” ấy: “Giá
như tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách
mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển
suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối”;
“Từ ngàycách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở,
vì không bỏ nghề được!”; “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám
đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống
khi phong ba…”; “Trong cái đám con cái đông đúc đang sống ở dưới thuyền,
mụ không yêu một đứa nào bằng thằng Phác, cái thằng con từ tính khí đến mặt
mũi giống như lột ra từ cái lão đàn ông đã hành hạ mụ, và không khéo sẽ còn
hành hạ mụ cho đến khi chết – nếu không có cách mạngvề”.
Trong năm lần xuất hiện, bốn
lần đầu, từ “cách mạng” đi với phụ từ “đã” hoặc tính từ hoá bổ nghĩa cho cụm
danh từ “các chú” để chỉ Phùng và Đẩu (những chiến sĩ quân giải phóng, cán bộ
cách mạng) hoặc để chỉ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã hoàn thành gần mười
năm trước. Chỉ riêng lần dùng thứ năm và là lần cuối cùng, nó kết hợp với từ
“sẽ”, đi kèm với nghĩa giả định “không khéo sẽ… nếu không có…”. Như thế, đang
có một cuộc cách mạng trong mong đợi của nhân vật, trong “tiên cảm” của nhà
văn chăng? Phải chăng đó là cuộc cải tổ đất nước, đổi mới văn nghệ sau thời
điểm tác phẩm ra đời vài năm?
Cái điều băn khoăn vì sao
tác giả không muốn khai sinh Chiếc thuyền ngoài xa ngay khi nó ra đời
xem như đã được giải toả. Nhờ mấy dòng hồi kể của Trung Trung Đỉnh mà trân trọng
vô cùng, kính trọng vô cùng sự dũng cảm của nhà văn Nguyễn Minh Châu - người Sợ
nhất ở nhà văn là có chất máu cá (7). Song, vẫn còn một điều trăn trở mang
tính cá nhân về Chiếc thuyền ngoài xa trong chương trình trung học
phổ thông nhìn từ hai nhân vật: người đàn ông hàng chài và đứa con - thằng
Phác.
Nếu đã khẳng định tác giả
không đặt tên cho nhân vật người đàn bà hàng chài là một dụng ý nghệ thuật,
chứ không phải ngẫu nhiên, càng không phải là sơ suất, có nghĩa chị là một
người trong đám đông đông đúc và vô danh xung quanh chúng ta. Ở họ toát lên vẻ
đẹp của tình mẫu tử, của đức hy sinh, của sức sống bền bỉ, nhẫn nại dưới cái
vẻ ngoài thô kệch, lam lũ, cam chịu. Vậy, gã chồng chị cũng không phải là cá
biệt. Anh ta cũng không có tên, cũng ở trên một “chiếc thuyền đánh cá
không có bến (…) Thường thường mỗi thuyền là một gia đình, ngoài thuyền lớn
còn vài chiếc mủng để đi lại. Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá
mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc
thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ
không cố kết vào một khoảnh đất nào.” Thói bạo hành của gã chồng là sản
phẩm của cuộc đời nghèo đói, túng quẫn, của tập quán sống lênh đênh gần như
hoang dã. Nguyễn Minh Châu chọn một cái kết để ngỏ về cách hành xử của người
đàn ông hàng chài: chỉ thấy nói “Đẩu gặp lão đàn ông để răn dạy lão”, còn kết
quả thế nào, thái độ lão ra sao không thấy nhân vật Phùng kể tiếp. Ngòi bút
lách sâu vào những góc cạnh xù xì của hiện thực cuộc sống không cho phép nhà
văn đưa ra một kết thúc truyện dễ dãi, khiên cưỡng.
Do vậy, khi giảng dạy Chiếc
thuyền ngoài xa, giáo viên dường như phải vừa phê phán thủ phạm bạo
hành, đánh vợ không chùn tay để xoa dịu những bức bối có “chu kỳ” “ba ngày một
trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” lại vừa bao biện cho một nạn nhân của hoàn
cảnh. Ngay cả sự cứng cỏi đến trơ lì trước những trận đòn hành hạ mà một người
mẹ thương con phải hứng chịu phi lý liệu người thầy có thể khen ngợi một chiều
không?
Thêm nhân vật đứa con trai
cũng là một nhân vật có thể “có vấn đề”. Vì thương mẹ, vì muốn bảo vệ người mẹ
khốn khổ, Phác đã “giận dữ và căng thẳng” lao vào người cha như “một viên đạn
trên đường lao đến đích đã nhắm”, giật chiếc thắt lưng trong tay người cha, “dướn
thẳng người vung chiếc khoá sắt quật vào giữa khuôn ngực trần vạm vỡ, cháy nắng”
của ông ta. Hành động của thằng Phác “làm đau” cả hai, “như một viên đạn bắn
vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống
những dòng nước mắt”. Lần thứ hai Phùng chứng kiến, mọi chuyện lại diễn ra y
như trước, chỉ khác là lần này, thằng Phác giấu một “con dao găm sáng loáng”
trong cạp quần. Một đứa trẻ, “một viên đạn” và một “con dao găm”! Làm sao có
thể biện minh cho động cơ muốn bảo vệ mẹ bằng những hành động bạo lực trái đạo
với cha?
Chưa hết, từ khi biết
Phùng biết mọi chuyện trong nhà nó, thằng Phác “thù ghét” Phùng (ba lần
nhà văn dùng đúng một từ “thù ghét” - “đâm ra thù ghét”, “hết sức thù ghét”,
“đầy một sự thù ghét” - cho phản ứng của thằng Phác). Từ một “thằng bé thông
minh và dễ thương”, Phác “đã hoàn toàn biến thành một đứa trẻ độc ác và mất dạy,
nó hét lên trước mặt tôi bằng giọng the thé đầy giận dữ: “Hãy cút đi! Cút đi!”.
Phản ứng tuy trẻ con, có thể hiểu được, thậm chí có thể thông cảm được nhưng
quả là ái ngại và không khỏi âu lo khi một phiên bản của lão đàn ông man rợ
đang dần xuất lộ, “cái thằng con từ tính khí đến mặt mũi giống như lột ra từ
cái lão đàn ông đã từng hành hạ mụ, và không khéo sẽ hành hạ mụ cho đến chết”.
Trong nhà trường, người dạy
Văn phải rất nỗ lực để làm cho giờ Văn thật sự là một giờ Văn, thì trường hợp
phải mất thời gian để lý giải, đánh giá hành động chồng đánh vợ, con đánh bố,
bố đánh lại con (thực tế giảng dạy cho thấy học sinh cũng thường thắc mắc những
chi tiết này) (xin mở ngoặc nói thêm: trong trường hợp giáo viên không có nhiều
thời gian nên phải “làm ngơ” hoặc “xin hẹn dịp khác” thì thật ra cũng “chẳng
chết ai” nhưng các em học sinh sẽ băn khoăn, bức xúc, và thế là bao nhiêu cái
hay, cái đẹp của tác phẩm các em đều quên hết để chỉ “cãi nhau” cái lý thuộc
về ai) hoá ra lại “quá sức” với người thầy vậy.
Nên chăng, chúng ta hãy
cân nhắc, chọn một tác phẩm khác của Nguyễn Minh Châu cho hợp với tính chất
văn học trong nhà trường và phù hợp với các em học sinh lớp 12. Trước đây,
tác phẩm Bức tranh được chọn đọc thêm ở bậc Trung học cơ sở, nhưng
từ khi Bến quê được đưa vào học chính thức thì Bức tranh bị
“tháo xuống”. Thiết nghĩ, trong những tác phẩm thời kỳ đổi mới của Nguyễn
Minh Châu, Bức tranh tỏ ra phù hợp hơn với đối tượng học sinh Trung
học phổ thông.
Chiếc thuyền ngoài xa là
một cơ hội “đối chứng” (tên tác phẩm của Nguyễn Minh Châu) âm thầm, đầy trăn
trở của ngòi bút Nguyễn Minh Châu về trách nhiệm của người cầm bút, về cách
tiếp cận cuộc sống, con người trong những cơn biến chuyển lớn của đất nước. Chiếc
thuyền ngoài xa là một biểu tượng nhiều mặt, một văn bản đa thanh, tiêu
biểu cho phong cách Nguyễn Minh Châu, đã và vẫn đang mời gọi bạn đọc cùng
khám phá, chiêm nghiệm.
Trong cuộc trao đổi về
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu do báoVăn nghệ tổ chức năm 1985, nhà văn
Đào Vũ mở đầu có đoạn như sau: “Chúng tôi cho rằng những năm vừa qua, tiểu
thuyết và cả truyện ngắn Nguyễn Minh Châu có nhiều thành tựu, có nhiều đóng
góp rất đáng quý. Chúng tôi tin ở tấm lòng của anh, cũng như ở tài năng của
anh, chúng tôi trân trọng và nâng niu những trang viết của anh. Nhưng cũng phải
nói thật lòng, bên cạnh niềm vui và cả niềm tự hào nữa về người bạn viết của
mình, chúng tôi có không ít những băn khoăn về một số truyện ngắn của anh những
năm gần đây (…) Có lúc thấy dường như tác giả bối rối điều gì đó, nhưng lại
có lúc sợ rằng chính mình bối rối.”(8) Chiếc thuyền ngoài xa là một
trong những tác phẩm rất hay, rất độc đáo của Nguyễn Minh Châu nhưng có thể
làm người đọc “bối rối”, dù có thể sự bối rối ở mỗi người là không giống
nhau…
(1) Nguyễn Trọng Hoàn giới
thiệu, tuyển chọn - Nguyễn Minh Châu - Về tác gia và tác phẩm , NXB
Giáo dục, 2002.
(2), (3) Trung Trung Đỉnh,
“Nhà văn Nguyễn Minh Châu” – In trong Nguyễn Minh Châu – Về tác gia và
tác phẩm, trang 391 – 405.
(4) Nguyễn Minh Châu – Trang
giấy trước đèn – NXB Khoa học Xã hội, 1994.
(5), (6) Nguyễn Minh Châu
– Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ - Báo Văn
nghệ số 49 và 50, 1987.
(7) Bài viết cuối cùng của
Nguyễn Minh Châu, đăng trên Tiền phong chủ nhật số 1, sau đó tạp
chí Văn nghệ quân đội số 4/ 1990 in lại với tiêu đề do chính ông đặt
“Ngồi buồn viết mà chơi”.
(8) Nhiều tác giả, “Trao đổi
về truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu” - In trong Nguyễn
Minh Châu - Về tác gia và tác phẩm, trang 238 - 261.
|
đại lý vé máy bay eva air
vé máy bay đi mỹ tháng nào rẻ nhất
phòng vé korean air tại tphcm
vé máy bay đi mỹ bao nhiêu tiền
giá vé máy bay từ tphcm đi canada
Những Chuyến Đi Cuộc Đời
Ngau Hung Du Lich
Tri Thuc Du Lich