Phạm Duy - Trả
Hết Cho Người
Có một khúc đồng dao được lũ trẻ chúng tôi hát từ khi mới biết
nói, từ lớp mẫu giáo về, bi bô cùng cha mẹ và anh chị: “Ông trăng xuống chơi cây cau thì cau
sẽ cho mo, ông trăng xuống chơi học trò thì học trò cho bút, ông trăng xuống
chơi ông Bụt thì ông Bụt cho chùa…”.
Có một bản nhạc được một cậu bé 11, 12 tuổi hát suốt những buổi
chiều quê bảng lảng, khi mục tử gọi trâu về, khi đi theo bố mẹ gánh lúa về nhà,
băng qua những mảnh ruộng, những sườn đồi của thị trấn Di Linh thơ mộng: “Chiều ơi! lúc chiều về rợp bóng nương khoai,
trâu bò về rục mõ xa xôi, ơi chiều. Chiều ơi! Áo chàm về quẩy lúa trên vai, in
hình vào sườn núi chơi vơi, ới chiều…”.
Có một nhịp điệu được chính cậu bé ấy ra ngoài đường cái hát tràn
những đêm trăng khi tuổi mới tập tành qua nhà cô hàng xóm: “Hôm qua tôi đến nhà em, ra về mới nhớ
rằng quên, quên cây đàn, tình tang, tính tính tình tang,….”.
Có những lời ca như ám ảnh chàng trai mới lớn khi nghĩ về quê hương đất nước: “Đất nước tôi, bốn ngàn năm ròng rã
buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.
Có những giai điệu quấn theo những ngày tháng phiêu bồng, lãng tử
của một kẻ từng rong rêu đây đó rồi hớt hải về quỳ bên mộ mẹ: “Từng tiếng xào xạc lắc lay, là tiếng cội
già khóc cây, hay tiếng lòng mình khóc ai giờ đây…”.
Có những âm thanh được ngâm mãi trên môi khi tôi đã nếm trải chút
cay đắng của cuộc đời bởi những toan tính của thế nhân, rồi hướng về kỷ niệm: “Cho tôi lại còn nhiều, cho tôi lại
tình yêu, tôi không cần khôn khéo, tôi không đòi bao nhiêu, cho tôi lòng non
yếu, dễ khóc dễ tin theo…”.
Cậu bé ấy, chàng trai ấy, khi hát những giai điệu ấy ngày xưa,
không hề quan tâm và không hề biết đến tựa đề, tác giả của bản nhạc. Khi biết
đó là những Bé ca, Nương chều, là Cây đàn bỏ
quên, là Tình ca, là Đường chiều
lá rụng hay Kỷ niệm của Phạm Duy, thì tác giả của
nó đang ở một phương trời xa, bị cấm hẳn về nước và cấm hẳn luôn cả những nhạc
phẩm của ông. Đầu thập niên 90, tôi nghe lóm mấy anh bạn văn nghệ nói nhạc sĩ
Phạm Thế Mỹ có xin nhà nước cho Phạm Duy về, người ta bảo hễ Phạm Duy về phải bị
chặt làm ba khúc, khúc đầu chôn miền Bắc, khúc giữa miền Trung và khúc dưới
miền Nam. Hôm nay lên mạng mới biết chính xác đó là câu nói của Tố Hữu trả lời
cho Trần Văn Khê khi ông từ Pháp trở về sau 1975: “Bỏ khúc giữa, lấy khúc đầu
và khúc đuôi”. Hẳn ai cũng có thể hiểu câu nói ấy của Tố Hữu có ý bỏ những sáng
tác của Phạm Duy giai đoạn sau 1954, giai đoạn mà ông đang ở miền Nam. Nhưng
với tôi và có lẽ cũng với rất nhiều người khác, đoạn giữa của ông chính là đoạn
đầu, đầu đời, đầu những tháng ngày bắt đầu biết nghe nhạc. Khi những băng
cassette ở hải ngoại tràn về cuối thập niên 80, Thái Thanh với những Kỷ
vật cho em, Áo anh sứt chỉ đường tà đã làm thổn thức tim tôi khi nghĩ về khói lửa quê hương mà một
phần tuổi thơ tôi đã từng nếm trải, nó có cái gì đó trầm thống hơn cả những Tình
khúc da vàng của Trịnh Công Sơn khi nói về chiến tranh.
Hình ảnh “em ngại ngùng dạo phố mùa xuân, bên người yêu chai cằn
sỏi đá…” qua giọng ca Thái Thanh ngày nào còn thống
thiết hơn nhiều lần hình ảnh Đại bác ru đêm hay Mẹ vỗ tay reo mừng xác con… của Trịnh Công Sơn mà Khánh Ly thể hiện.
Đó chỉ là những cảm nhận ban đầu đối với thế hệ chúng tôi, một thế
hệ chưa biết nghe nhạc trước 1975, thế hệ chỉ biết hát những Kết đoàn, những Xuống
đường mà người ta hay gọi làNhạc đỏ, thế hệ
mà khi vừa biết nghe nhạc, bạn bè chúng tôi chỉ biết Thanh Tuyền, Phương Dung,
Hương Lan, Tuấn Vũ rên rỉ, may mắn cho bản thân chúng tôi khi biết tiếp xúc với
những Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Sĩ Phú, Duy Trác…. Và qua những giọng ca
kinh điển ấy, nhạc của Phạm Duy như được chắp cánh. Hay nói một cách hình ảnh,
họ sinh ra để hát nhạc Phạm Duy như đất sinh ra để cho cỏ mọc lên vậy. Đặc biệt
là giọng Soprano của Thái Thanh. Gần như nhạc phẩm nào của Phạm Duy mà Thái
Thanh thể hiện rồi thì đều đạt đến đỉnh, người sau muốn thể hiện lại thì chỉ là
nhại lại cho giống Thái Thanh thôi. Nếu có phăng tiết tấu, nhạc điệu cho khác
chỉ nghe qua một lần rồi chán, người sành điệu vẫn thích tìm lại Thái Thanh,
ròng rã trên 60 năm qua.
Ở tuổi “Tam thập nhi lập”, nghe Nha Trang ngày về, Bên ni bên nớ, Nghìn trùng xa cách, Mùa
thu chết, Ngàn thu áo tím…,
ít ai cưỡng lại được sự quyến rủ đến mê hoặc những giai điệu chì chiết của Phạm
Duy. “Tôi như là con
ốc, bơ vơ nằm trên cát, chui sâu vào thân xác lưu đày. Dã tràng ơi! sao lấp cho
vơi sầu này ”, hay “Em có nghe bên ni lạnh hơn bên nớ ? Phút
giây chia lìa, trong lòng vẫn phải đèo mong. Hai tâm linh giam kín lại. Bấm đốt
ngón tay chờ đợi. Chờ ngày con thơ, thơ cũng ra đời…”. Những Tình hoài hương, Dòng sông xanh… cứ réo rắt tâm hồn tôi nhiều đêm không dứt. Phạm Duy đã lặn sâu
vào đáy cảm xúc của hầu hết những người đã đi qua cuộc đời, đi qua cuộc tình,
và đi qua thân phận mình để viết nên những giai điệu buồn não nuột đến thế, say
chất ngất đến thế, nhớ da diết đến thế, cô đơn chán chường cùng cực đến thế.
Không phải ở ca từ. Bởi ở ca từ, Trịnh Công Sơn còn phù thủy hơn cả Phạm Duy.
Ca từ của Phạm Duy mộc mạc, gần gũi. Nhưng ở đây là nhạc. Trịnh Công Sơn chỉ là
kẻ hát thơ, còn Phạm Duy thì trả nhạc cho thơ. Tuồng như trong mỗi câu thơ, mỗi
lời, mỗi chữ, nó phải được đặt đúng âm giai như thế mới hết ý của thơ. Hãy đọc Ngậm
ngùi của Huy Cận qua nhạc phẩm của Phạm Duy để thấy rõ. Huy Cận viết: “Ngủ
đi em mộng bình thường. Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ”. Đây chưa phải là hai câu hay trong Ngậm ngùi, nhưng qua Phạm Duy, lời thơ được cắt ra, phân nhịp, gắn cảm xúc: “Ngủ
đi em, mộng bình thường, ngủ đi em, ngủ đi em. Ngủ đi mộng vẫn bình thường, à ơ
sẵn tiếng thùy dương mấy bờ…”. Không phải Phạm Duy ru em ngủ,
mà là lời ru em ngủ phải là như thế, không thể khác, dìu dặt, khoan thai. Có
thể em đã ngủ rồi, ngủ lâu rồi, hay đang mơ màng trong giai điệu, anh vẫn hát,
anh vẫn ru, dù cho “cây dài bóng xế ngẩn ngơ…”.
Trong thế hệ nhạc sĩ tiền chiến, sang cả như Cung Tiến, não nuột
như Đặng Thế Phong, thánh thoát như Văn Cao, thâm trầm như Dương Thiệu Tước,
dìu dặt như Đoàn Chuẩn Từ Linh, có lẽ chỉ mỗi Phạm Duy là đa dạng, phong phú và
đi vào lòng người nhiều nhất. Bởi lẽ ngoài những khúc đồng dao, nhạc đồng quê,
dân ca, tình ca, sử ca, tục ca, thiền ca, vô số ca loại khác, Phạm Duy còn
thoát lên với những giai điệu như Thánh ca trong những dàn hợp xướng của nhà
thờ. Và khi cần thiết, người ta có thể quỳ xuống giữa đại ngàn để cất lên những
giai điệu thống thiết, chất ngất bình sinh cho một lần tìm về nguồn cội, tìm về
lại chính mình. Tôi rất thích bài Chắp tay hoa trong Đao ca số 9, Đạo ca giữa
thành quách sương mù: “Chắp tay lạy trời, chắp tay lạy người,
chắp tay lạy hoài, lạy mãi không thôi. Tâm là đạo quý, giữa biển luân hồi, thần
thánh đi rồi, chỉ có lòng thôi, hiện hữu đây rồi, không ý không lời. Đâu không
là Phật, đâu chẳng là trời. Tôi không là tôi, người không là người”. Có thể Phạm Duy không phải là một Phật tử, nhưng nhờ thấm đẫm tinh
thần Phật Việt nên mới có những tư tưởng nhân văn phảng phất tinh thần Hoa
Nghiêm, tinh thần Bát Nhã sâu sắc đến thế!
Sánh với Phạm Duy về mặt âm nhạc, không nói đến số lượng mà nói về
chất liệu, có thể kể đến Văn Cao, người bạn chí cốt thời trai trẻ của ông. Văn
Cao có thể còn siêu xuất hơn Phạm Duy về mặt âm nhạc. Nhưng những nhạc phẩm của
Văn Cao dường như ít người thể hiện thành công, một Ánh Tuyết xuất hiện cuối
đời nhạc sĩ tài hoa như một món quà quý hiếm của đời sống dành cho Văn Cao và
cho người thưởng thức âm nhạc. Phạm Duy thì ngược lại, ngoài giọng ca bất hủ
của Thái Thanh còn rất nhiều người hát, thích hát và thuộc những nhạc phẩm của
ông. Có thể nói, Phạm Duy là một trong vài nhạc sĩ lớn nhất của nền tân nhạc
Việt Nam.
Phạm Duy đã về lại quê hương sau mấy mươi năm Thuyền viễn xứ. Theo ông, về lại Việt Nam là “Lá rụng về cội”. Hãy bỏ qua, không
bàn đến thái độ chính trị. Có người Việt Nam nào mà không bị thời cuộc đẩy đưa
kia chứ! Cái chính là ông và rất nhiều văn nghệ sĩ khác như ông thèm về đất mẹ.
Nhiều người muốn về mà không về được, chưa về được. Một người bạn của tôi đã
nói: “Tôi chỉ ước mơ về đến phi trường Tân Sơn Nhất, quỳ xuống lạy đất mẹ thân
yêu ba lạy cho thỏa lòng mong nhớ rồi ra đi cũng mãn nguyện rồi”. Một người
bình thường còn nghĩ như thế, huống hồ là một Phạm Duy mà từng giai điệu đã
thấm sâu vào 2 phần 3 thế kỷ cho mọi thế hệ trên mảnh đất ngàn đời khổ lụy này.
Ông thèm về quê mẹ, nên đã bất chấp mọi thị phi của người đời, và ông đã mãn
nguyện. Ông đã ra đi ở tuổi 93, khép lại một cuộc đời trọn vẹn. Tin ông ra đi
lan tỏa thật nhanh sau 14h30 chiều ngày 27 tháng 1 năm 2013. Đúng 15h, một
chàng sinh viên Đà Nẵng gọi cho tôi: “Phạm Duy mất rồi!”, hụt hẫng như mất một
người thầy lớn. Ngay tức khắc, nhạc phẩm “Nghìn trùng xa cách” tự nhiên được
mấp máy trên môi tôi: “Chuyện đôi ta buồn ít hơn vui. Lời khóc
lời cười, chuyện ngắn chuyện dài, trả hết cho người, cho người đi, trả hết cho
ai, cả những chua cay. Ngày chia tay, lặng lẽ mưa rơi, từng tiếng thương ôi,
trả hết cho người, trả nốt đôi môi gượng cười…”
Khi ông sống, thôi thì đúng sai hay dở, ngay cả với những người
suốt mấy mươi năm yêu thích nghe và hát nhạc ông. Nhưng ông chết rồi, sao lại
còn những trận bút chiến tưng bừng trên mạng ảo ngay khi xác ông còn chưa được
chôn cất? Hãy thắp cho ông một nén nhang, hãy ngâm cho ông một điệu nhạc. Mộ
của ông nằm trên môi những người hát Tình ca như lời ông nói. “Tôi
yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”. Ai yêu tiếng mẹ đẻ của mình thì
hãy gác hết vũ khí và hát lên, hòa vào dàn hợp xướng của quê hương, với Mẹ
Việt Nam, với Con đường cái quan; Với Cô
hái mơ, Tiếng hát Sông Lô ở miền Bắc, với Về
miền Trung, Bà mẹ Gio Linh ở miền Trung, với Tình
hoài hương, Bà mẹ quê ở miền Nam, với từng lứa tuổi,
từng tâm trạng, từng địa phương, từng chiến tuyến, từng ý thức hệ… Trả hết cho
người, cho người đi, một lần và mãi mãi.
Đà Lạt mùa hoa dã quỳ
eva air vietnam
ve may bay eva di my
korean air booking
vé máy bay giá rẻ đi mỹ khuyến mãi
vé máy bay đi canada tháng nào rẻ nhất
Nhung Chuyen Di Cuoc Doi
Du Lich Tu Tuc
Kien Thuc Du Lich