Hành trình về phương Nam
Những ngày cuối tháng 5, chúng tôi lại khăn
gói lên đường. Gần một trăm thành viên Câu lạc bộ Kinh Dịch UNESCO Hà Nội lên
đường Nam tiến theo con đường mà tổ tiên chúng ta đã khai mở bờ cõi và văn hóa
Việt Nam.
Cố đô Huế
Có lẽ không ở đâu trên đất nước này có sức hấp
dẫn những người mê khảo cứu văn hóa như Huế, nơi mà đền đài lăng tẩm nguy nga
trong cảnh sơn thủy hữu tình hòa quyện cùng nét bình dị như dĩa cơm hến xinh
xinh, như giọng nói êm ái nhẹ nhàng của người thiếu nữ, tạo nên một cái gì đó
‘rất Huế’. Chính vì sức hấp dẫn đó mà chúng tôi tuy đã thăm Huế nhiều lần nhưng
vẫn muốn trở lại. Trân trọng và nâng niu Huế, chúng tôi càng thấm thía rằng sẽ
không có Huế, và cả những gì rất Huế, nếu không có câu “Hoành sơn nhất đái vạn
đại dung thân” của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tám chữ vàng này không chỉ quyết định
số phận một đời người như trong môn Bát tự, mà nó đã mở ra cho dân tộc Việt Nam
một con đường sáng, con đường Nam tiến. Không chỉ là giải quyết sự kình địch nhất
thời giữa Nguyễn Hoàng với Trịnh Kiểm mà còn định ra một đại chiến lược cho dân
tộc trong cả ngàn năm sau, kể cả tới thời điểm hiện tại cũng như tương lai, khi
Việt Nam cần phải thoát ly khỏi ảnh hưởng về chính trị và quân sự từ quốc gia
hùng mạnh phương Bắc.
Chúng tôi đã tới xã Hương Thọ thăm lăng Gia
Long, chiêm ngưỡng thế đất phong thủy tú mỹ ôm bọc bởi hai nhánh con sông Hương
thơ mộng. Lần đầu tiên chúng tôi được chứng kiến thủy Phá Quân, một cách cục rất
khác so với các sách vở địa lý thông thường. Mới thấy tạo hóa thiên nhiên thật
kì diệu biết bao, phàm đã kết thành huyệt thì mọi yếu tố đều hoàn chỉnh. Ở đây
chúng tôi cũng được nghe kể về sự tích của lăng Gia Long. Tương truyền Lê Quý
Thanh, con trai của nhà bác học Lê Quý Đôn, được giao nhiệm vụ tầm long điểm
huyệt cho vua Gia Long, ròng rã mấy năm trời ông đã tìm ra cuộc đất đẹp như mơ
này. Chút cá nhân nổi lên, ông muốn giữ lấy huyệt này cho gia tộc mình nên đã
chỉ sang gò án của huyệt và bảo với Gia Long đó chính là huyệt. Vốn là người
thông minh, lại được phúc dày của tổ tiên luôn che chở dẫn dắt, vua xem xét một
hồi rồi vặn lại Quý Thanh, ‘mi bảo đó là huyệt, vậy Long Hổ của ta đâu?’, Quý
Thanh luống cuống cứng lưỡi. Bấy giờ voi của Gia Long cứ đứng một chỗ, giục mãi
cũng không chịu đi, vua hiểu ngay chỗ voi đứng mới là đích huyệt, liền quát mắng
Quý Thanh rằng: mi dám gạt trẫm sao, có phải mi muốn giành lấy huyệt này để
táng cho cha ngươi không? Bèn thét quân sĩ lôi Quý Thanh ra chém. May nhờ các
quan đi cùng xin giúp nên phong thủy sư đã thoát khỏi tội chết. Về sau khi thăm
lăng trong quá trình xây dựng, Gia Long bị vật liệu rơi trúng suýt chết. Ông đã
không trừng phạt quân sĩ mà còn khao thưởng họ, có thể thấy về văn hóa tâm linh
ông là một người hiểu biết rất sâu sắc. Mà cũng nhờ thế ông mới có thể tồn tại
được khi phải chung vòm trời với một anh hùng xuất chúng như Nguyễn Huệ.
Tiếp theo đoàn đã khảo cứu lăng Tự Đức, hiểu
được tại sao phong thủy của thế đất này gây ra nhiều người hoàng tộc chết trẻ
trong các thế hệ sau, sau đó phần lớn đoàn ở lại Huế tiếp tục nghiên cứu, trong
khi một nhóm anh em lại tiếp tục lên đường vào Quảng Ngãi rồi ra đảo Lý Sơn, tiếp
tục cuộc hành trình khám phá văn hóa theo bước đường Nam tiến.
Ra tiền đồn biển Đông, gặp nghệ nhân mộ gió
Dừng chân tại khách sạn Đồng Khánh của thành
phố Quảng Ngãi, các vị vua triều Nguyễn như tiếp tục dẫn dắt chúng tôi, để ra đảo
Lý Sơn tức Cù Lao Ré, nơi đồn trú của Hải đội Hoàng Sa do vua Gia Long thành lập.
Ngày ấy theo lệnh của vua Gia Long, Hải đội Hoàng Sa thường xuyên thực hiện các
chuyến hải hành từ Cù Lao Ré ra quần đảo Hoàng Sa để đo đạc thủy trình và thu thập
tài vật từ các con thuyền bị đắm khi đi qua vùng nước dữ này. Cũng là Hải đội
Hoàng Sa đã dựng những tấm bia đầu tiên xác định chủ quyền đất nước trên quần đảo
cùng tên. Có thể nói, một đời bôn ba nước ngoài của vua Gia Long đã cho ông một
tầm nhìn rất xa về biển và hải đảo, khi mà các nước khác trong khu vực, bao gồm
cả Trung Quốc, còn chưa nhận ra giá trị của chúng. Công lao của Gia Long đối với
chủ quyền trên biển Đông của nước ta là vô cùng to lớn. Mặt khác, là người vào
sinh ra tử, rất biết quý trọng sỹ tốt, lại có sự quan tâm sâu sắc tới các vấn đề
tâm linh, đích thân vua Gia Long đã chỉ đạo cho một phong thủy sư dạy dân đảo
Lý Sơn cách thức làm mộ gió để an táng cho những chiến sĩ Hải đội Hoàng Sa hy
sinh trên biển, vốn không có xác để an táng theo cách thông thường. Chúng tôi vẫn
chưa tìm hiểu được phong thủy sư kia có phải là Lê Quý Thanh? và tên họ của người
được phong thủy sư chọn để truyền thụ pháp thuật này. Nhưng chúng tôi đã gặp
truyền nhân của họ vẫn đang bảo tồn và duy trì nghệ thuật làm mộ gió phục vụ
cho ngư dân và cả người bình thường bị mất xác, đó là hai bố con ông Võ Văn Toại
và anh Võ Văn Nhành.
Trước mặt chúng tôi là một tráng niên với
thân hình rắn rỏi và nước da rám nắng của người miền biển. Anh trông giống như
những ngư dân Lý Sơn vẫn đang ngày đêm bám biển. Đôi lúc anh lại gợi cho chúng
tôi hình ảnh của người lính Hải đội Hoàng Sa khi xưa. Được biết đoàn khảo cứu
văn hóa của CLB Kinh Dịch UNESCO Hà Nội tới thăm với mục đích tìm hiểu về nghệ
thuật làm mộ gió bí truyền của gia đình, anh Võ Văn Nhành trở nên cởi mở. Anh
cho biết bố anh, cụ Võ Văn Toại có 3 người con trai, nhưng chỉ có anh là theo
được môn này, vì nó đòi hỏi phải là người có duyên để lĩnh hội cũng như có pháp
lực để có thể dùng thần chú điều khiển và giao tiếp với thế giới bên kia. Cụ Toại
tuổi đã cao, nụ cười tuy móm mém nhưng rất tươi. Hàng ngày cụ chỉ quanh quẩn bầu
bạn với mấy ông bạn hàng xóm, mọi việc về mộ gió đều giao anh Nhành đảm trách.
Mới cuối năm ngoái đây thôi, anh Nhành phải làm mộ cho 4 ngư dân Lý Sơn đắm tàu
mất tích trên biển. Cuộc đời mưu sinh của ngư dân đầy rẫy những hiểm nguy bấp
bênh, và công việc của cha con anh Nhành đã cứu giúp những linh hồn xấu số được
trở về với đất mẹ, làm vơi bớt dòng nước mắt của thân nhân họ.
Trước sự tha thiết của chúng tôi, anh Nhành
đã đồng ý thực hiện mẫu các nghi lễ của một cuộc làm mộ gió cho chúng tôi khảo
cứu. Anh hẹn chúng tôi hôm sau quay lại, vì có nhiều công việc phải chuẩn bị
như lấy đất ở miệng ngọn núi lửa đã tắt trên đảo để làm thân mình của hình
nhân, lấy gỗ dâu làm xương, than sầu đông làm ngũ tạng, rồi thì viết bùa, dựng
phướn. Công việc quả là cầu kỳ, và càng tăng sự hấp dẫn với chúng tôi. Tới hôm
sau, gặp lại anh Nhành mà chúng tôi tưởng như một người khác. Trong bộ lễ phục
mũ mão chỉnh tề, anh đã hóa thân thành một pháp sư mà uy quyền vươn tới tận thế
giới bên kia, vươn tới cả những vùng biển và hải đảo xa xôi. Mặc dù căn lều làm
lễ được dựng ở một khu đất vắng, nhưng khi biết anh Nhành hành lễ, không chỉ
chúng tôi mà cả người lớn và trẻ em địa phương cũng tò mò kéo tới xem, đó là vì
tất cả các cuộc làm mộ gió trước đây đều thực hiện hoàn toàn kín đáo cho nội bộ
gia đình người xấu số, người ngoài không được xem.
Mà không chỉ có vậy, trong cảnh hành lễ với
những câu thần chú thầm thì hòa cùng tiếng gió biển, dường như có đông đảo các
vong linh cũng tụ họp nơi đây, hoặc để nghe lệnh, hoặc để thỏa tính hiếu kỳ –
như chúng ta vậy, hoặc để hưởng thụ những đồ được chuẩn bị cầu kì trên 3 mâm lễ
mà chúng tôi phải hoa cả mắt mới đếm ra được. Sau thao tác đánh đất, tức cho đất
và bông gòn vào cối giã nhuyễn ra, là tới công đoạn nặn hình nhân. Anh Nhành bỗng
chốc trở thành một nghệ nhân tạc tượng, từ vành tai, khóe mắt, cho tới cả những
tiểu tiết như cái ti, cái rốn, và cái … ấy lần lượt hiện ra sinh động dưới đôi tay
khỏe khoắn và điêu luyện. Cho đến những công đoạn tạo xương, gân và ngũ tạng
thì chúng tôi hết sức khâm phục sự cầu kì và chu đáo của người làm mộ gió, từng
đốt xương ngón tay, xương ngón chân nhỏ xíu được gắn vào tượng đất một cách rất
cẩn thận kỹ lưỡng. Thông thường một cuộc làm mộ gió cũng phải mất trọn một
ngày, sau khi hành lễ và nặn hình nhân xong, việc chôn cất diễn ra bình thường.
Chúng tôi có đến thăm mộ của cai đội Phạm Quang Ảnh của Hải đội Hoàng Sa khi
xưa, trên bề mặt thì như một ngôi mộ bình thường, nhưng bên dưới chính là hình
nhân của cụ được tổ sư của gia đình anh Nhành thực hiện.
Có thể nói nghệ thuật làm mộ gió mà gia đình
anh Võ Văn Nhành lưu giữ lại là một nét văn hóa tâm linh vô cùng đặc sắc và độc
đáo của huyện đảo Lý Sơn nói riêng và Việt Nam ta nói chung. Nó thể hiện tính
nhân văn sâu sắc giữa những vật lộn sinh tồn và khát vọng biển cả của dân tộc
Việt. Theo quan niệm truyền thống, chết mất xác là một vết thương tâm linh cho
người xấu số cũng như thân nhân họ, những công việc của anh Nhành và tiền nhân
đã góp phần hàn gắn những vết thương đó. Trong đoàn chúng tôi nói vui rằng Bin
Laden mới bị Mỹ thả xác xuống biển mất tích, dù ông ta có thế nào thì nghĩa tử
là nghĩa tận, có lẽ người Ảrập Hồi giáo phải tới Lý Sơn của Việt Nam để nhờ làm
mộ gió mới phải.
Trở về và suy ngẫm
Hành trình theo chân vó ngựa Nguyễn Hoàng của
chúng tôi tạm dừng ở Quảng Ngãi. Trở về với thủ đô mà lòng còn bao trăn trở,
khi đúng vào thời điểm chúng tôi ở Lý Sơn thì tàu Trung Quốc liên tục xâm phạm
trái phép và gây hấn tàu thuyền trong lãnh hải của chúng ta. Tàu Trung Quốc bắn
tàu cá ngư dân Phú Yên tại Trường Sa, cắt cáp tàu thăm dò Bình Minh. Trước đó
thì xâm nhập cách biển Thuận An (Huế) có 20 hải lý, cách Lý Sơn có 5 hải lý.
Càng thấm thía với tinh thần Nam tiến của cha
ông xưa, Nam tiến để giảm sự lệ thuộc, để hướng tới sự tự do như Tôn Ngộ Không
thoát khỏi vòng kim cô. Chẳng phải tiền đề của Nam tiến đã được xác lập cách
đây 1000 năm khi vua Lý Công Uẩn định đô ở Thăng Long với bản quái cục Ly Hỏa
ư?
Tiếc rằng thủ đô Thăng Long với tư cách là
cái nôi của Nam tiến, đồng thời là trái tim của cả nước, đã bị đổi tên thành Hà
Nội dưới triều vua Minh Mạng. Trước kia tôi vẫn không để ý lắm đến cái tên này,
cho tới khi một người bạn Trung Quốc của tôi chỉ ra rằng Hà Nội có nghĩa là
“Inside the River” (bên trong dòng sông), như vậy thì khác với tên Thăng Long
có tính chất Hỏa (thăng lên) rất phù hợp, cái tên Hà Nội vô hình chung đã đem
Thủy khí dập tắt Hỏa cục của cuộc đất. Suốt một ngàn năm Thăng Long nước ta độc
lập và mở mang bờ cõi, chưa đầy hai trăm năm Hà Nội thì bị đô hộ và chiến tranh
tới hơn một trăm năm. Hy vọng một ngày nào đó cái tên Thăng Long được trả lại
cho thủ đô yêu dấu, để dân tộc ta lại tiếp tục cuộc hành trình Nam tiến. Mà lần
này không phải là Nam tiến về địa giới vì nó đã được hoàn tất. Cái chúng ta cần
bây giờ, như lời giáo sư Cao Huy Thuần (Đại học Paris), là Nam tiến trong tư tưởng.
Một vấn đề khác cần phải xem xét lại, đó là
khi xây thành Thăng Long cha ông ta đã kiến tạo con đường đâm thẳng tắp tại
phương Ly, phương Sinh khí của bản cục, mà ngày nay là con đường Lê Duẩn. Đó là
hình tượng mũi tên bắn ra vạn dặm một cách kiêu hùng. Nhưng cũng có câu ngạn ngữ
rằng, có mũi tên nào bắn lên mà cuối cùng không rơi xuống đất? Phải chăng nếu
như con đường đó thay vì thẳng tắp mà chi huyền một hai khúc, thì tuy hành
trình Nam tiến của tổ tiên sẽ bị chậm lại đôi chút, nhưng văn hóa mang nét Ấn Độ
của dân tộc Chàm sẽ thực sự hòa quyện cùng văn hóa mang nét Trung Hoa của người
Việt để con đường Nam tiến thời đó cũng như về sau này đã không phải là con đường
chiến tranh mà trở thành con đường hòa bình và trí tuệ!
Phạm Hồng Kiên







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét