Nhạc sĩ Lam Phương: Đời là vạn ngày sầu
Những bi kịch của một
thế hệ thanh niên trí thức miền Nam trong giai đoạn chuyển giao lịch sử (1954 –
1975) đầy bức bối tù túng như thể bị cầm tù, bị tước đoạt tự do, hạnh phúc đã
làm nên một diện mạo âm nhạc Việt Nam vô cùng sôi động và đa sắc. Lam Phương là
một trong những nhạc sĩ như thế, người nhạc sĩ của niềm đau, thương tích trái
tim và một gia tài ca khúc ẩn mình nằm sâu trong “kỷ nguyên bóng tối”.
Trong số tất cả những nhạc sĩ đứng ở trên đỉnh cao danh vọng của
Tân nhạc Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 như Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên hay Vũ
Thành An... có lẽ nhạc sĩ Lam Phương chênh vênh, long đong và lận đận hơn hết
thảy. Suốt cuộc đời nhạc sĩ tài hoa này chỉ ngập trong vùng trời
thương đau, nước mắt, chia ly và nỗi buồn. Nỗi buồn theo Lam Phương từ lúc ông
mới chạm ngõ bình minh cuộc đời cho tới khi tựa ngọn đèn leo lắt tắt dần trước
gió.
Nhạc sĩ Lam Phương (áo trắng) trong một ngày vui cùng bạn hữu
15 tuổi đã khắc khoải và nặng nợ với duyên phận tình yêu
Nhạc sĩ Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh ngày
20/03/1937 tại Rạch Giá Kiên Giang. Nội tổ của ông chính là người Hoa, bỏ xứ
lênh đênh sang Việt Nam lập nghiệp. Đời ông nội của ông đã bắt đầu lai dòng máu
Việt và đến bố ông thì vẻ ngoài chẳng còn chút gì sót lại của bóng dáng của
người gốc Hoa nữa.
Lam Phương sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó có sáu anh
em, ông là anh cả. Bố đã rời bỏ gia đình theo người đàn bà khác từ khi Lam
Phương còn rất bé. Thậm chí, ông không nhớ nổi mặt cha vì lớn lên chỉ biết có
mẹ. Cả thời thơ ấu của Lam Phương chìm ngập trong thiếu thốn, khó khăn và vất
vả. Mẹ ông, người đàn bà tảo tần sớm khuya, người nuôi dưỡng cảm xúc, giúp ông
viết trọn rất nhiều những ca khúc hay và là người mà mỗi khi Lam Phương nhắc
đến đều không thể ngăn được nước mắt tuôn rơi đã một tay chăm lo cho cả đại gia
đình. “Tôi thương má tôi lắm. Má tôi là một người đàn bà quê mùa nhưng mà thực
lòng thương tôi lắm. Con trai lớn mà! Má tôi chỉ cần nói một câu thôi mà tôi đã
ráng làm muốn chết luôn”, ông nhớ về má mình trong hồi ức ấm áp bồi hồi.
Mười tuổi, Lam Phương giã từ mái nhà tranh xơ xác nơi vùng quê
nghèo, lên Sài Gòn làm thuê kiếm tiền phụ giúp mẹ nuôi các em. Ông ở trong khu
lao động tối tăm, hàng ngày làm thuê, làm mướn tất cả các nghề để có tiền đi
học và gửi về cho mẹ. Đây cũng chính là thời điểm Lam Phương phát hiện mình có
một đam mê, tình yêu mãnh liệt và nhạc cảm tuyệt vời. Ông tự mua sách vở chong
đèn mày mò học nhạc sau giờ đi làm. Rồi được hai nhạc sĩ Hoàng Lan và Lê Thương
truyền nghề.
Bút hiệu Lam Phương được ông sử dụng cho sáng tác ca khúc đầu
tayChiều thu ấy (khi ông 15 tuổi) cho tới những nhạc phẩm cuối cùng
trong đời. Theo cách lý giải của ông, nó rất giản dị và bắt nguồn từ chính tên
thật của mình. Lâm Đình Phùng gần như chỉ lấy họ và tên của mình để ghép thành
hai từ: Lam Phương. Chính từ cái tên gợi sự nhẹ nhàng ấy, Tân nhạc Việt Nam có
một tên tuổi gắn với 217 nhạc khúc (theo thống kê của Thờibáo Canada)
với nhiều chủ đề, đồng hành cùng nhiều thăng trầm của dân tộc và thời cuộc.
Nói về ca khúc Chiều thu ấy, Lam Phương coi nó như một hộp âm kỷ
niệm suốt đời không thể nào quên. Ít ai có thể tượng tượng một cậu bé 15 tuổi,
độ tuổi còn đầy mộng mơ, hồn nhiên và rất con trẻ lại có thể khắc khoải và nặng
nợ với duyên phận tình yêu đến vậy. Một tình khúc với lời ca khúc triết, đầy
suy tư. Sau đó, nó đã được những ca sỹ nổi tiếng nhất của Tân nhạc Việt Nam
thời kỳ đó thể hiện như Bích Thủy, Túy Hồng. Lúc này, Lam Phương đã có một
quyết định- theo ông là liều lĩnh nhất trong cuộc đời thanh niên đó là vay mượn
bạn bè khắp nơi được 600 đồng (khi đó rất lớn) để tự in bản nhạc rồi thuê xe
lam chở đi giao ở các quầy hàng bán lẻ khắp Sài Gòn. Tuy cũng gỡ gạc được vốn
nhưng Chiều thu ấy vẫn chưa phải là cú nổ đột phá để đưa Lam Phương chính thức
có một tấm vé bước chân vào thiên đường Tân nhạc.
Nhạc sĩ Lam Phương
Những bản nhạc tựa nửa hồn thương đau
1955, sau ba năm âm thầm và tự mình làm dày kiến thức âm nhạc,
Lam Phương mới bắt đầu trở lại và lần này là sự trở lại đầy mạnh mẽ với một sức
sáng tạo thần kỳ. Ông tung ra một số ca khúc làm nổ tung các sân khấu dành cho
sinh viên, học sinh và nổi đình nổi đám tại khắp các hang cùng ngõ hẻm Sài
thành. Kiếp nghèo, Chuyến đò vĩ tuyến, Nhạc rừng khuya, Trăng thanh bình, Nắng
đẹp miền Nam, Khúc ca ngày mưa…lần lượt được háo hức đón nhận và tung hô như
một hiện tượng độc đáo trên bầu trời Tân nhạc khi ấy.
Đặc biệt với ca khúc Kiếp nghèo tựa tiếng lòng Lam Phương mà
ngân vang đồng điệu với hàng triệu trái tim sống cảnh túng quẫn, thiếu thốn khi
đó “Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh”. Ca khúc này được ông coi như một phiên
bản tâm trạng, tham chiếu mọi ngõ ngách sâu kín nhất trong trạng thái cô đơn,
bất lực trước đời sống hiện thực
của ông khi đó: “Tôi sáng tác Kiếp nghèo trong hoàn cảnh thật. Đó là một đêm
mưa rất to, tôi đạp xe đi lang thang trong đêm, đi mãi mà không nhìn thấy bất
cứ một ngôi nhà nào để chạy vào xin nhờ trú mưa. Lúc đó, tôi thấy mình thật cô
đơn, thấy mình bé nhỏ và hình như bị đời ruồng rẫy đến vô tình. Tôi đi mãi cho
tới khi về nhà, không kịp thay quần áo, ôm cây đàn và cứ thế viết về Kiếp
nghèo, về phận bạc của mình”.
17 tuổi với Kiếp nghèo, Lam Phương thấm thía mọi cay đắng và
những cơ cực mà mình và gia đình đang phải chịu đựng. Dường như, đời ông lúc
nào cũng nằm sẵn trong vòng lẩn quẩn tối đen, niềm vui thì ít mà nỗi buồn thì
nhiều. Nói như Lam Phương nó cũng gần tương tự ngọn đèn khuya thỉnh thoảng lóe
lên trong tim rồi lại tắt và mịt mùng trong màn đêm vô tận
Thứ âm nhạc bình dân, mộc mạc được viết từ trải nghiệm cá nhân
và hòa vào với bộn bề của không khí thời đại đã trở thành tiếng ca mãnh liệt
đến với đông đảo trái tim mọi người yêu nhạc. Nhạc của Lam Phương có độ phủ
rộng rãi, là lời đầu môi của nhiều bạn trẻ theo suốt dọc dài đất nước. Ở đâu,
nhất là trong các trường học, người ta cũng cho học sinh, sinh viên hát nhạc
Lam Phương. Những bài đồng ca tươi vui, lành mạnh, đầy hào sảng như Nắng đẹp
miền Nam hay Khúc ca ngày mưa có thể coi là những sáng tác cởi mở của ông.
Ở giai đoạn đầu trong cuộc đời Lam Phương dù không ít hơi thở bi
ai thì vẫn như một lời tuyên thệ có giá trị về vẻ đẹp quê hương và niềm tin
chiến thắng vào một ngày đất nước được toàn vẹn thanh bình. Trong dáng hình của
những ca khúc ngập tràn hơi thở thời đại ấy, người ta vẫn phác họa được chân
dung của một kẻ sĩ nhìn đời bằng nửa hồn thương đau, nửa hồn lạc quan, trong
sáng
Hồn nhạc là thứ trời cho
Chính cuộc đời đầy bóng tối không có nhiều
tia sáng ấy lại trở thành một động lực sống mãnh liệt thôi thúc Lam Phương
viết nhạc. Giữa lúc phong trào phản chiến, lối sống Hippie và dòng nghệ thuật
hiện sinh phát triển như vũ bão với nhiều tác phẩm đầy ắp tiếng thở than, chỉ
toàn một màu tro bụi thì âm nhạc Lam Phương lại đi trở ngược những nguyên tắc
và giá trị đầy khinh bạc cuộc đời ấy. Buồn lượm vào đời từ nhỏ, nhưng nếu
nghe kỹ các tác phẩm mà ông viết vẫn thấy một tin yêu, một dấu vết của những
khao khát hồi sinh trong đời.
Sau này, nhắc đến kỷ niệm đi học nhạc của
mình, Lam Phương vẫn bùi ngùi: “Tôi vẫn không bao giờ
quên câu mà ông thầy Lê Thương nói với mình khi buổi đầu tiên bước vào lớp
học nhạc: “Anh có thể dạy cho em tất cả kỹ thuật nhưng hồn nhạc thứ trời cho
thì anh không dạy được. Cái này chỉ phụ thuộc vào em” . “Buồn vì trời mưa hay
vì bão trong tim?”- Câu hát trong nhạc khúc của ông từng được đông đảo thanh
niên Sài Gòn trước 1975 yêu thích cũng là một câu hỏi lớn mà suốt đời Lam
Phương tìm kiếm nhưng vô vọng. Có lẽ trời đã đày một thiên tài rớt xuống nhân
gian, đã khiến một tâm hồn yếu đuối suốt đời phải rơi lệ, thống thiết và nức
nở mà chỉ biết gói gọn giãi bày trong những thang âm trầm bổng của cung đàn.
|






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét