Đỗ Ngọc Ngân - chưng cất con chữ trong từng ý thơ
Nguyễn Văn Tông
Não
chưng cất kỹ luyện thành thơ
Đem
gửi cung Hàn tim với óc
Yêu
nghề gọt chữ đến ngẩn ngơ”
Đọc
bốn câu thơ trên của Đỗ Ngọc Ngân viết làm lời tựa cho tập thơ “Trăng núi” đã
thấy sự chắt chiu, gạn lọc của anh trong thơ. Những cảm xúc đến với
anh chính là cái nhìn thiên nhiên và con người trong muôn nẻo cuộc sống vốn ăm
ắp suy tư của người thi sĩ. Thơ của anh được “chưng cất” kỹ bằng thứ “dụng cụ”
có tỉ tỉ nơ-ron thần kinh cùng với trái tim yêu thương tạo nên. Viết thơ, anh
ví như một nghề gọt giũa từng chữ, từng ý, từng lời để say mê đến “ngẩn ngơ”,
lúc nào cũng thấy như còn nợ, còn thiếu một cái gì đó mà chưa trả được cho đời.
Như con ong tìm mật cần mẫn bay đi tìm hương nhụy mới để luyện thành những tứ
thơ tinh khôi cho “cây đời mãi mãi xanh tươi”. Anh vốn là người thâm trầm ít
biểu hiện ra bên ngoài cảm xúc của mình nên thơ anh cũng rất kiệm lời mà vẫn đủ
đầy cho tứ thơ hoàn chỉnh. Tập thơ của anh rất khiêm tốn về số bài, số trang:
Bốn mươi sáu bài thơ trong năm mươi sáu trang ruột mà chỉ có tám bài có độ dài
từ hai mươi đến hai mươi bốn câu (5-6 khổ) để thấy anh “nhả” chữ và ý cho thơ
chắt chiu như thế nào. Anh không cho mình là thi sĩ, anh làm thơ “Chỉ mong chút
xíu gọi là có vui” góp cho đời thêm một nỗi lòng của một con người đã từng cầm
súng vượt qua những năm tháng của chiến tranh. Những gian khổ phải vượt qua và
tinh thần sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng đất nước của người lính đã
cho anh thể hiện cuộc sống với góc nhìn của thi ca. Yêu thơ, đến với thơ, vì
thơ luôn “kề sát bên tôi” mà lại rất xa “như cách mấy tầng trời bão dông” tạo
nên những trận “gió lòng” mong “giũ sạch” những kỳ vọng luôn đến rồi lại đi
“Những gì tưởng có, lại không có gì...!” trong lời tâm sự “Với thơ” của anh.
“...Một
gã đàn ông
Đam
mê
Nhiều
hệ lụy
Thật
thà đến ngu si...”
Chắc
chắn Đỗ Ngọc Ngân không tự ty đến thế. Đam mê là một bản tính ai
cũng có để mà vươn tới cái đích muốn đến và dĩ nhiên phải chịu nhiều hệ lụy, đó
mới chính là cuộc đời con người, còn “ngu si” thì không thể nào một người như
anh lại như vậy. Anh tự dày vò mình coi nó như một liều thuốc “kích cầu” để có
thêm những tác phẩm mới tặng bạn đọc. Anh có không ít những bài thơ, câu thơ
hay như ghim vào tâm trí những người yêu thơ, mỗi câu chữ của anh được ủ trong
thứ men tinh chất từ cuộc sống phong phú, đa dạng thường ngày để:
“...Chắt
lọc từ câu đồng dao
Những
lời khiêm nhường trân trọng
Tiếng
đàn rung vào nhịp sống
Khúc
ca có tự ngàn đời...”
(Uống
rượu ở Tả Phời)
để
rồi: “...Vấp phải câu quan họ
Thấy
lòng mình bâng khuâng...”
(Em
ở nơi đâu)
và: “...Bếp
lửa âm ỉ cháy từ ngàn đời
Câu
lượn, lời then nhập vào tiềm thức...”
(Đi
tìm câu hát giao duyên)
Chả
thế mà trong đêm thanh vắng tí tách mưa ngâu, Đỗ Ngọc Ngân buồn đến rơi nước
mắt trong chập chờn giấc ngủ chỉ vì hoài niệm nhận về mình cái “ngẩn ngơ”:
“Chập
chờn mượn gió chiêm bao
Gom
mây, góp sấm gõ vào vu vơ
Trời
rơi nước mắt vì thơ
Tôi
buồn nhận cái ngẩn ngơ cho mình”
(Đêm
ngâu)
Và
cũng trong đêm tĩnh mịch của xứ núi, gối đầu lên núi, anh mượn không gian cao
vút làm nền cho thơ mình bay lên, nhưng lại lo “gió lộng xô nghiêng đất trời”
sợ thơ bị vùi dập trong mưa bão:
“Dừng
chân xóm núi mùa đông
Bàn
thơ mượn chín tầng không làm nền
Đêm
nằm gối dải Hoàng Liên
Chỉ
lo gió lộng xô nghiêng đất trời.”
Lấy
cây cầu làm trung gian để bắc về miền sông nước những câu ca mênh mang theo
nhịp chèo đò đưa của vùng quê yên ả làm nao lòng người du khách:
“...Bắc
cầu sang câu hát đò đưa
Miền
sông nước nôn nao sóng vỗ...”
(Bắc
cầu)
và
sử dụng đặc trưng của bậc thang làm nền cho tứ thơ, Đỗ Ngọc Ngân cầu mong:
“...Xin
đừng nghe tiếng khèn xa
Xin
đừng vượt bậc thang qua cổng trời
Hãy
về với nhịp đàn môi
Dành
riêng anh một khoảng trời bậc thang.”
(Bậc
thang)
Thật
là mâu thuẫn khi anh tha thiết “xin đừng” nhưng lại khuyên nhủ “hãy về” và đòi
hỏi “dành riêng” cho mình cái gần hơn “tiếng khèn” là “nhịp đàn môi” và cái
rộng hơn, cao hơn “cổng trời’ là “khoảng trời bậc thang”. Anh nhờ hiện tượng
thiên nhiên, mượn nhã nhạc dân gian để nói hộ lòng mình “đam mê” theo từng nấc
thang của nghệ thuật dân ca, dân vũ, dân nhạc để đi vào thơ anh đến nồng nàn.
Tâm trạng canh cánh vì thơ, mới thấy anh yêu thơ, tôn trọng ngôn từ trong thơ
đến nhường nào.
Thơ
Đỗ Ngọc Ngân ít ào ạt ở ngay cả những bài cần sự dạt dào khí thế như “Tình yêu
xây dựng”, “Thành phố xuân về” anh cũng rất thận trọng từ ngữ. Lễ hội vui là
thế, náo nhiệt là thế mà Đỗ Ngọc Ngân vẫn cần kiệm:
“...Từng
giọt! Từng giọt! Tinh hoa ngũ cốc
Chảy
vào buôn vui
Dọc
ngang trời đất
Nhập
vào lễ hội
Giọt
đời, giọt đạo, giọt mưa sa.”
(Giọt)
Vì
vậy, Đỗ Ngọc Ngân nắn nót từng thi từ trong mỗi ý thơ. Với con người, anh tìm
những từ đắt nhất để khắc họa hình ảnh của họ trong từng hoàn cảnh. Với em yêu
hay người em nào đó nằm trên cánh võng đu đưa, Đỗ Ngọc Ngân lấp láy:
“Em
lên cánh võng
Đan
bằng đôi tay
Mắc
vào ngọn sóng
Của
tình đắm say...”
Tấm
lưới đã giăng chờ ngọn sóng tình ào ạt đến, ắt sẽ mắc vào khó mà thoát ra được.
Đỗ Ngọc Ngân đi từ cái không thể: lấy sóng nước làm điểm mắc võng đến cái cụ
thể: tình yêu lứa đôi say đắm, từ cái hiện hữu: ngọn sóng đến cái trừu tượng:
tình yêu, thật là điệu nghệ trong ý thơ.
Cũng
từ sóng nước lao xao, Đỗ Ngọc Ngân khéo léo vẽ ngọn gió bằng các cảm quan của
mình: “...Nước khéo vẽ hình hài của gió...” (Chiều thu bản núi), nhìn mặt nước
mà thấy được, mà tưởng tượng ra hình hài ngọn gió nhỏ to, hiu hiu hay dữ dội,
quả là xác đáng và tinh tế.
Anh
quan sát khá kỹ hình dáng của bà, của mẹ để anh có cái nhìn rất hình tượng
nhưng đầy thương yêu, kính trọng:
“...Lưng
bà - uốn cong dấu hỏi
Lưng
mẹ - gập hình vai trâu
Ôi
những cái lưng người mẹ
Có
còn còng nữa mai sau ?”
(Lưng
bà, lưng mẹ)
Một
câu hỏi, một nỗi lo thường trực trong lòng những đứa con hiếu thảo mỗi khi nhớ
thương những người mẹ như cái nợ đồng lần còng lưng gánh mọi vất vả cho cả cuộc
đời mình và con cháu. Thương bà, thương mẹ là vậy, còn đối với những người phụ
nữ lỡ làng, anh cảm thông day dứt:
“...Thương
em lận đận má hồng
Thương
mình, thương tháng năm không đợi chờ
Nhân gian nửa kiếp bơ vơ
Thuyền
tình có đến được bờ giăng không !?”
(Lỡ
làng)
Cũng vì thế, anh hiểu
được tâm sự của người nhọc nhằn leo núi cõng chữ cho các em thơ ở vùng cao xa
xôi, hẻo lánh phải chịu nhiều thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần, nhất là
câu chuyện hạnh phúc lứa đôi. Anh lên án mạnh mẽ tình yêu kiểu “Sở
Khanh” của những kẻ vô lương tâm lợi dụng hoàn cảnh để chiếm đoạt và hắt hủi:
“...Buồn
vì lối nọ, đằng kia
Nỗi nhân
cách trở, đường chia khó tìm
Tình yêu
không tự con tim
Để nơi đầu
lưỡi, gửi miền gió trăng...”
(Tâm
sự cô giáo vùng cao)
Với người lầm lỗi,
giận đấy nhưng anh vẫn thấy trong tâm hồn họ vẫn còn ẩn chứa lóe lên một khoảng
nào đó trong sâu thẳm tính cách của con người:
“...Xấu xa
như địa ngục
Cái đẹp
vẫn vượt vào
Thắp sáng
tâm hồn quỷ
Bằng tình
người thanh cao.”
(Chuyện
người tử tù)
Từ cái nhìn nhân văn
ấy, anh triết lý sâu xa trong cái mộc mạc, giản dị của những con người phải
gánh trên đôi vai những trĩu nặng của cuộc đời:
“...Những
người đi chân đất
Nào phải
không có giày
Đường xa
vai trĩu nặng
Vui buồn
trong trả vay.”
(Gặp
người đi chân đất)
và anh chua chát:
“...Một
thời đến, vạn thời đi
Ầu ơ tiếng
bấc, tiếng chì...ru nhau”
(Đời
và tiếng ru)
Anh thảng thốt nhận ra
rằng: Đời có cái đến, có cái đi, nhưng đi luôn nhiều hơn đến. Anh phát hiện
không phải tiếng ru ầu... ơ... nào cũng ngọt ngào dịu êm đưa trẻ thơ vào giấc
ngủ ngon lành mà trong cuộc đời còn có những lời ru nặng nhọc trong nhiều nỗi buồn
đau của nhân thế.
Đối với thiên nhiên,
Đỗ Ngọc Ngân khoáng đạt hẳn lên trong cách dùng từ diễn tả phong cảnh nhưng
cũng rất tằn tiện:
“... Chiều
thu dịu êm
Thơm
mùa trái chín
Ai hòa mực
tím
Nhuộm lên
ráng chiều.”
(Em
yêu mùa thu)
Ngắn gọn thế thôi
nhưng đã hiện lên một chiều thu đầy sắc màu, có khí hậu dịu êm mát mẻ, có hương
quả chín vàng rực, có hoàng hôn tím chuẩn bị vào đêm thơ mộng cùng trăng:
“Một
tháng đôi kỳ ai dám nỡ
Vạch vào
cung nguyệt một đường cưa!”
(Với
trăng)
Vầng trăng đẹp và hiền
hòa ai dám, dù chi một đường cưa vạch cong chị Hằng thành mảnh trăng thanh đầu
tháng và cuối tháng, dù không ai dám nhưng muôn thuở tự nhiên đã thế rồi, như
cây và mây cũng vậy, cây cứ lớn và mây cứ bay từ ngàn xưa đã thế:
“...Cây sẽ thành cổ
thụ
Mây
lại hóa thành mưa
Cây
bám vào xứ sở
Mây
lặn vào xa xưa.”
(Cây
và mây)
Thiên nhiên là một bản
tình ca muôn thuở, tạo hóa đã kiến tạo nên một Sa Pa với núi non
hùng vĩ do tự nhiên gọt giũa ban tặng:
“Nước
mưa - lưỡi cưa muôn thuở
Hóa
công gọt đẽo thiên hà
Gió núi
dũa mài chấm sửa
Cho đời có một Sa Pa...”
(Sa
Pa)
và
Sa Pa đã làm cho Đỗ Ngọc Ngân phải thốt lên ngỡ ngàng:
“...Ô
hay tạo hóa đa tình thế
Vương
vấn lòng người tự muôn nơi.”
(Vịnh
núi Hàm Rồng)
Thấu
hiểu quy luật tuần hoàn của vũ trụ, với góc nhìn lãng mạn của thi ca, Đỗ Ngọc
Ngân tích tụ quy luật đó giữa rừng và biển:
“...Nước
lên nguồn nước về lại biển khơi
Gió
đưa nước hóa hơi về xanh thẳm
Trời
cao rộng cho mây hồng, mây trắng
Rừng
đại ngàn gom nắng, gom mưa...”
(Tình
rừng với biển)
Cùng
nhịp với cảm xúc trên, Đỗ Ngọc Ngân tìm về cuộc sống bình dị để thưởng thức
hương vị của miền quê núi, cũng gió, mây và nước, nhưng tứ thơ của anh như níu
kéo, hòa quyện, ấp ủ trong thiên nhiên tràn ngập nắng gió:
“...Nước
đầu nguồn níu vạt mây qua
Ấm
đất nung treo đầu ngọn lửa...
...Và
những cây chè chắt lọc hương từ đá
Quyện
với gió ngàn ấp ủ trong mây...”
Ý
thơ đến với Đỗ Ngọc Ngân trong từng cảm xúc, mỗi một trạng thái cảm xúc anh
luôn tìm một tứ thơ hòa quyện với tình người để anh tìm con chữ có giá nhất của
mình để neo lại trong lòng người đọc:
“...Muốn
gọi ai nhưng chưa biết tên
Nên
khao khát giăng giăng miền cỏ ướt
Ở
phía ấy một con thuyền đang lướt
Bờ bãi neo thuyền, em
có neo tôi”
(Bên
hồ Phú Nhuận)
Chẳng
biết em gái nào “neo” được nhà thơ nhưng với cách tìm ý, tìm từ cho tứ thơ, Đỗ
Ngọc Ngân đã “neo” được rất nhiều người vào thơ anh, vì anh nhẹ nhàng “buông”
chiều vào nỗi nhớ để chính anh không phải ai khác “neo” tình vào muôn thuở. Thế
mới biết, Đỗ Ngọc Ngân thâm trầm mà cũng đa tình lắm lắm, anh buông cái không
cần giữ và cũng không giữ được để anh “níu” về mình, anh “neo” thật chặt, giữ
mãi cho mình tình thương yêu con người và cảnh vật những nơi anh đã đến để mà nhớ
một thời đã qua và bước vào chân trời mới của thơ đang giang rộng đón chào thi
nhân










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét