Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

Đỗ Ngọc Ngân - chưng cất con chữ trong từng ý thơ

Đỗ Ngọc Ngân - chưng cất con chữ trong từng ý thơ 

 Nguyễn Văn Tông 
“Chữ nạp trong đầu theo nẻo mắt
Não chưng cất kỹ luyện thành thơ
Đem gửi cung Hàn tim với óc
Yêu nghề gọt chữ đến ngẩn ngơ”
Đọc bốn câu thơ trên của Đỗ Ngọc Ngân viết làm lời tựa cho tập thơ “Trăng núi” đã thấy sự chắt chiu, gạn lọc của anh trong thơ. Những cảm xúc  đến với anh chính là cái nhìn thiên nhiên và con người trong muôn nẻo cuộc sống vốn ăm ắp suy tư của người thi sĩ. Thơ của anh được “chưng cất” kỹ bằng thứ “dụng cụ” có tỉ tỉ nơ-ron thần kinh cùng với trái tim yêu thương tạo nên. Viết thơ, anh ví như một nghề gọt giũa từng chữ, từng ý, từng lời để say mê đến “ngẩn ngơ”, lúc nào cũng thấy như còn nợ, còn thiếu một cái gì đó mà chưa trả được cho đời. Như con ong tìm mật cần mẫn bay đi tìm hương nhụy mới để luyện thành những tứ thơ tinh khôi cho “cây đời mãi mãi xanh tươi”. Anh vốn là người thâm trầm ít biểu hiện ra bên ngoài cảm xúc của mình nên thơ anh cũng rất kiệm lời mà vẫn đủ đầy cho tứ thơ hoàn chỉnh. Tập thơ của anh rất khiêm tốn về số bài, số trang: Bốn mươi sáu bài thơ trong năm mươi sáu trang ruột mà chỉ có tám bài có độ dài từ hai mươi đến hai mươi bốn câu (5-6 khổ) để thấy anh “nhả” chữ và ý cho thơ chắt chiu như thế nào. Anh không cho mình là thi sĩ, anh làm thơ “Chỉ mong chút xíu gọi là có vui” góp cho đời thêm một nỗi lòng của một con người đã từng cầm súng vượt qua những năm tháng của chiến tranh. Những gian khổ phải vượt qua và tinh thần sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng đất nước của người lính đã cho anh thể hiện cuộc sống với góc nhìn của thi ca. Yêu thơ, đến với thơ, vì thơ luôn “kề sát bên tôi” mà lại rất xa “như cách mấy tầng trời bão dông” tạo nên những trận “gió lòng” mong “giũ sạch” những kỳ vọng luôn đến rồi lại đi “Những gì tưởng có, lại không có gì...!” trong lời tâm sự “Với thơ” của anh.
 Đỗ Ngọc Ngân tự gán cho mình những tính sẵn có và không có, trong bài “Tự họa”, anh phác thảo chân dung mình:
“...Một gã đàn ông
     Đam mê
     Nhiều hệ lụy
     Thật thà đến ngu si...”
Chắc chắn Đỗ Ngọc Ngân không tự ty đến thế. Đam mê là một bản tính  ai cũng có để mà vươn tới cái đích muốn đến và dĩ nhiên phải chịu nhiều hệ lụy, đó mới chính là cuộc đời con người, còn “ngu si” thì không thể nào một người như anh lại như vậy. Anh tự dày vò mình coi nó như một liều thuốc “kích cầu” để có thêm những tác phẩm mới tặng bạn đọc. Anh có không ít những bài thơ, câu thơ hay như ghim vào tâm trí những người yêu thơ, mỗi câu chữ của anh được ủ trong thứ men tinh chất từ cuộc sống phong phú, đa dạng thường ngày để:
  “...Chắt lọc từ câu đồng dao
   Những lời khiêm nhường trân trọng
  Tiếng đàn rung vào nhịp sống
  Khúc ca có tự ngàn đời...”
                           (Uống rượu ở Tả Phời)
để rồi: “...Vấp phải câu quan họ
       Thấy lòng mình bâng khuâng...”
                                (Em ở nơi đâu)
và:          “...Bếp lửa âm ỉ cháy từ ngàn đời
  Câu lượn, lời then nhập vào tiềm thức...”
                              (Đi tìm câu hát giao duyên)
Chả thế mà trong đêm thanh vắng tí tách mưa ngâu, Đỗ Ngọc Ngân buồn đến rơi nước mắt trong chập chờn giấc ngủ chỉ vì hoài niệm nhận về mình cái “ngẩn ngơ”:
     “Chập chờn mượn gió chiêm bao
  Gom mây, góp sấm gõ vào vu vơ
  Trời rơi nước mắt vì thơ
  Tôi buồn nhận cái ngẩn ngơ cho mình”
                                      (Đêm ngâu)
Và cũng trong đêm tĩnh mịch của xứ núi, gối đầu lên núi, anh mượn không gian cao vút làm nền cho thơ mình bay lên, nhưng lại lo “gió lộng xô nghiêng đất trời” sợ thơ bị vùi dập trong mưa bão:                                       
   “Dừng chân xóm núi mùa đông
    Bàn thơ mượn chín tầng không làm nền
     Đêm nằm gối dải Hoàng Liên
    Chỉ lo gió lộng xô nghiêng đất trời.”
                              (Đêm núi)
Lấy cây cầu làm trung gian để bắc về miền sông nước những câu ca mênh mang theo nhịp chèo đò đưa của vùng quê yên ả làm nao lòng người du khách:
  “...Bắc cầu sang câu hát đò đưa
  Miền sông nước nôn nao sóng vỗ...”
                               (Bắc cầu)
và sử dụng đặc trưng của bậc thang làm nền cho tứ thơ, Đỗ Ngọc Ngân cầu mong:
  “...Xin đừng nghe tiếng khèn xa
  Xin đừng vượt bậc thang qua cổng trời
  Hãy về với nhịp đàn môi
  Dành riêng anh một khoảng trời bậc thang.”
                                      (Bậc thang)
Thật là mâu thuẫn khi anh tha thiết “xin đừng” nhưng lại khuyên nhủ “hãy về” và đòi hỏi “dành riêng” cho mình cái gần hơn “tiếng khèn” là “nhịp đàn môi” và cái rộng hơn, cao hơn “cổng trời’ là “khoảng trời bậc thang”. Anh nhờ hiện tượng thiên nhiên, mượn nhã nhạc dân gian để nói hộ lòng mình “đam mê” theo từng nấc thang của nghệ thuật dân ca, dân vũ, dân nhạc để đi vào thơ anh đến nồng nàn. Tâm trạng canh cánh vì thơ, mới thấy anh yêu thơ, tôn trọng ngôn từ trong thơ đến nhường nào.
Thơ Đỗ Ngọc Ngân ít ào ạt ở ngay cả những bài cần sự dạt dào khí thế như “Tình yêu xây dựng”, “Thành phố xuân về” anh cũng rất thận trọng từ ngữ. Lễ hội vui là thế, náo nhiệt là thế mà Đỗ Ngọc Ngân vẫn cần kiệm:
  “...Từng giọt! Từng giọt! Tinh hoa ngũ cốc
  Chảy vào buôn vui
   Dọc ngang trời đất
  Nhập vào lễ hội
  Giọt đời, giọt đạo, giọt mưa sa.”
                                (Giọt)
Vì vậy, Đỗ Ngọc Ngân nắn nót từng thi từ trong mỗi ý thơ. Với con người, anh tìm những từ đắt nhất để khắc họa hình ảnh của họ trong từng hoàn cảnh. Với em yêu hay người em nào đó nằm trên cánh võng đu đưa, Đỗ Ngọc Ngân lấp láy:
   “Em lên cánh võng
    Đan bằng đôi tay
    Mắc vào ngọn sóng
   Của tình đắm say...”
                (Cánh võng mùa xuân)
Tấm lưới đã giăng chờ ngọn sóng tình ào ạt đến, ắt sẽ mắc vào khó mà thoát ra được. Đỗ Ngọc Ngân đi từ cái không thể: lấy sóng nước làm điểm mắc võng đến cái cụ thể: tình yêu lứa đôi say đắm, từ cái hiện hữu: ngọn sóng đến cái trừu tượng: tình yêu, thật là điệu nghệ trong ý thơ.
Cũng từ sóng nước lao xao, Đỗ Ngọc Ngân khéo léo vẽ ngọn gió bằng các cảm quan của mình: “...Nước khéo vẽ hình hài của gió...” (Chiều thu bản núi), nhìn mặt nước mà thấy được, mà tưởng tượng ra hình hài ngọn gió nhỏ to, hiu hiu hay dữ dội, quả là xác đáng và tinh tế.
Anh quan sát khá kỹ hình dáng của bà, của mẹ để anh có cái nhìn rất hình tượng nhưng đầy thương yêu, kính trọng:
  “...Lưng bà - uốn cong dấu hỏi
   Lưng mẹ - gập hình vai trâu
  Ôi những cái lưng người mẹ
  Có còn còng nữa mai sau ?”
                          (Lưng bà, lưng mẹ)
Một câu hỏi, một nỗi lo thường trực trong lòng những đứa con hiếu thảo mỗi khi nhớ thương những người mẹ như cái nợ đồng lần còng lưng gánh mọi vất vả cho cả cuộc đời mình và con cháu. Thương bà, thương mẹ là vậy, còn đối với những người phụ nữ lỡ làng, anh cảm thông day dứt:
  “...Thương em lận đận má hồng
  Thương mình, thương tháng năm không đợi chờ
  Nhân gian nửa kiếp bơ vơ
  Thuyền tình có đến được bờ giăng không !?”
                                      (Lỡ làng)
Cũng vì thế, anh hiểu được tâm sự của người nhọc nhằn leo núi cõng chữ cho các em thơ ở vùng cao xa xôi, hẻo lánh phải chịu nhiều thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần, nhất là câu chuyện hạnh phúc lứa đôi. Anh lên án mạnh mẽ  tình yêu kiểu “Sở Khanh” của những kẻ vô lương tâm lợi dụng hoàn cảnh để chiếm đoạt và hắt hủi:
  “...Buồn vì lối nọ, đằng kia
  Nỗi nhân cách trở, đường chia khó tìm
  Tình yêu không tự con tim
  Để nơi đầu lưỡi, gửi miền gió trăng...”
                          (Tâm sự cô giáo vùng cao)
Với người lầm lỗi, giận đấy nhưng anh vẫn thấy trong tâm hồn họ vẫn còn ẩn chứa lóe lên một khoảng nào đó trong sâu thẳm tính cách của con người:
  “...Xấu xa như địa ngục
  Cái đẹp vẫn vượt vào
  Thắp sáng tâm hồn quỷ
  Bằng tình người thanh cao.”
                          (Chuyện người tử tù)
Từ cái nhìn nhân văn ấy, anh triết lý sâu xa trong cái mộc mạc, giản dị của những con người phải gánh trên đôi vai những trĩu nặng của cuộc đời:
  “...Những người đi chân đất
  Nào phải không có giày
  Đường xa vai trĩu nặng
  Vui buồn trong trả vay.”
                          (Gặp người đi chân đất)
và anh chua chát:
    “...Một thời đến, vạn thời đi
  Ầu ơ tiếng bấc, tiếng chì...ru nhau”
                          (Đời và tiếng ru)
Anh thảng thốt nhận ra rằng: Đời có cái đến, có cái đi, nhưng đi luôn nhiều hơn đến. Anh phát hiện không phải tiếng ru ầu... ơ... nào cũng ngọt ngào dịu êm đưa trẻ thơ vào giấc ngủ ngon lành mà trong cuộc đời còn có những lời ru nặng nhọc trong nhiều nỗi buồn đau của nhân thế.
Đối với thiên nhiên, Đỗ Ngọc Ngân khoáng đạt hẳn lên trong cách dùng từ diễn tả phong cảnh nhưng cũng rất tằn tiện:
  “... Chiều thu dịu êm
   Thơm mùa trái chín
  Ai hòa mực tím
  Nhuộm lên ráng chiều.”
                          (Em yêu mùa thu)
Ngắn gọn thế thôi nhưng đã hiện lên một chiều thu đầy sắc màu, có khí hậu dịu êm mát mẻ, có hương quả chín vàng rực, có hoàng hôn tím chuẩn bị vào đêm thơ mộng cùng trăng:
   “Một tháng đôi kỳ ai dám nỡ
  Vạch vào cung nguyệt một đường cưa!”
                                      (Với trăng)
Vầng trăng đẹp và hiền hòa ai dám, dù chi một đường cưa vạch cong chị Hằng thành mảnh trăng thanh đầu tháng và cuối tháng, dù không ai dám nhưng muôn thuở tự nhiên đã thế rồi, như cây và mây cũng vậy, cây cứ lớn và mây cứ bay từ ngàn xưa đã thế:
“...Cây sẽ thành cổ thụ
     Mây lại hóa thành mưa
     Cây bám vào xứ sở
     Mây lặn vào xa xưa.”
                        (Cây và mây)
Thiên nhiên là một bản tình ca muôn thuở, tạo hóa đã kiến tạo nên một Sa Pa với núi non hùng vĩ do tự nhiên gọt giũa ban tặng:
   “Nước mưa - lưỡi cưa muôn thuở
   Hóa công gọt đẽo thiên hà
  Gió núi dũa mài chấm sửa
  Cho đời có một Sa Pa...”
                          (Sa Pa)
và Sa Pa đã làm cho Đỗ Ngọc Ngân phải thốt lên ngỡ ngàng:
  “...Ô hay tạo hóa đa tình thế
  Vương vấn lòng người tự muôn nơi.”
                          (Vịnh núi Hàm Rồng)
Thấu hiểu quy luật tuần hoàn của vũ trụ, với góc nhìn lãng mạn của thi ca, Đỗ Ngọc Ngân tích tụ quy luật đó giữa rừng và biển:
  “...Nước lên nguồn nước về lại biển khơi
   Gió đưa nước hóa hơi về xanh thẳm
  Trời cao rộng cho mây hồng, mây trắng
  Rừng đại ngàn gom nắng, gom mưa...”
                          (Tình rừng với biển)
  Cùng nhịp với cảm xúc trên, Đỗ Ngọc Ngân tìm về cuộc sống bình dị để thưởng thức hương vị của miền quê núi, cũng gió, mây và nước, nhưng tứ thơ của anh như níu kéo, hòa quyện, ấp ủ trong thiên nhiên tràn ngập nắng gió:
  “...Nước đầu nguồn níu vạt mây qua
  Ấm đất nung treo đầu ngọn lửa...
   ...Và những cây chè chắt lọc hương từ đá
  Quyện với gió ngàn ấp ủ trong mây...”
                                      (Uống trà ở A Lù)
Ý thơ đến với Đỗ Ngọc Ngân trong từng cảm xúc, mỗi một trạng thái cảm xúc anh luôn tìm một tứ thơ hòa quyện với tình người để anh tìm con chữ có giá nhất của mình để neo lại trong lòng người đọc:
  “...Muốn gọi ai nhưng chưa biết tên
  Nên khao khát giăng giăng miền cỏ ướt
  Ở phía ấy một con thuyền đang lướt
  Bờ bãi neo thuyền, em có neo tôi”
                              (Bên hồ Phú Nhuận)
Chẳng biết em gái nào “neo” được nhà thơ nhưng với cách tìm ý, tìm từ cho tứ thơ, Đỗ Ngọc Ngân đã “neo” được rất nhiều người vào thơ anh, vì anh nhẹ nhàng “buông” chiều vào nỗi nhớ để chính anh không phải ai khác “neo” tình vào muôn thuở. Thế mới biết, Đỗ Ngọc Ngân thâm trầm mà cũng đa tình lắm lắm, anh buông cái không cần giữ và cũng không giữ được để anh “níu” về mình, anh “neo” thật chặt, giữ mãi cho mình tình thương yêu con người và cảnh vật những nơi anh đã đến để mà nhớ một thời đã qua và bước vào chân trời mới của thơ đang giang rộng đón chào thi nhân



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nhà văn Lê Lựu - Đại thụ không còn trổ lá XXXXX

Nhà văn Lê Lựu Đại thụ không còn trổ lá Từ năm 1986, cùng với trào lưu đổi mới trong văn học Việt Nam, Lê Lựu là một trong những cây bút d...