Chiến lược tâm công của đức
Hưng Đạo Vương
Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Gandhi,
bà Aung San Suu
Kyi, và đức Dalai Lama
-- ‘Bệ-hạ nói câu ấy
thì thật là lời nhân đức, nhưng mà Tôn-miếu Xã-tắc thì sao? Nếu Bệ-hạ muốn
hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng!’
-- ...‘Cách ấy cốt phải
tự lúc bình thì khoan sức cho dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ
nước hay hơn cả.’ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1232-1300)
-- ‘Đem đại nghĩa để thắng
hung tàn,
Lấy chí nhân mà thay cường bạo.
Ta mưu phạt tâm công,
Không đánh mà người phải khuất'.
Nguyễn Trãi (1380 - 1442)
-- ‘Tâm là chủ của
thân. Thân là dụng của Tâm. Tất cả mọi việc lành, việc dữ đều do Tâm mình tạo
ra. Tâm mình tu thiện thì thân mình an vui. Tâm mình làm ác thì thân mình khốn
khổ. Đạo do Tâm học, Đức do Tâm chứa, Công do Tâm tu, Phưóc do Tâm tạo, Họa do
Tâm làm. Tất cả công đức đều do Tâm của mình tự tu lấy, chứ không phải
ngoài mình ra mà tìm kiếm được. Tất cả Đạo vô thượng đều từ trong Tâm mình phát
xuất ra. Tâm ấy vô cùng tận, không thể phá hoại, không thể tạp nhiễm.’ (tài liệu
tham khảo số 1)
-- Muốn thực hiện được
Chiến lược Tâm Công, chúng ta phải có Tâm thành thật, Tâm bình đẳng (thương yêu
đồng loại, kẻ thù hay người thân như nhau), Tâm thương người, vật và tôn trọng
sự sống (Tâm Từ Bi), Tâm sáng suốt hành động (Tâm Trí Tuệ) và Tâm dũng cảm tự tồn,
không còn sự sợ hãi (Tâm Dũng Lực).
-- Những bậc thánh nhân
đầy đủ Tâm từ Bi, Trí tuệ, Dũng lực, Tâm Thành Thật và Tâm Bình Đẳng đã dùng
Chiến lược Tâm Công như chiến lược lấy sức mạnh của Tâm (Tâm lực, heart-force)
để kết hợp lòng người, thay đổi lòng dạ độc ác và hung tàn của con người, hoán chuyển
nghịch cảnh thành thuận cảnh và đi đến mục đích cuối cùng để chấm dứt bạo lực,
chiến tranh và hận thù hầu đem lại hạnh phúc cho sinh dân.
A. Chiến lược tâm công của đức
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Vào thế kỷ thứ 13, đời nhà
Trần nước Việt Nam chúng ta đã phải đương đầu với ba lần xâm lăng của đạo quân
hùng mạnh và thiện chiến Mông Cổ nhưng quân dân nước ta đã đánh bại cả ba lần
xâm lăng vào những năm 1257, 1284, 1287 (theo tài liệu sử sách tham khảo số 5
và 6) trong khi đế quốc Mông Cổ (hoàn thành năm 1280) đã thôn tính 40 quốc gia
(kể cả Trung Hoa) từ Đông sang Tây tạo dựng một đế quốc trải dài từ Á sang Âu
châu. (6)
Khi học lại những trang sử
oai hùng của công cuộc chiến tranh kỳ vĩ do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lãnh
đạo để chống quân Nguyên (Mông Cổ), người viết xin được ghi chép lại và đóng
góp những nhận định hết sức tổng quát và đơn giản về chiến lược Tâm Công đời
nhà Trần. Đây chính là quốc bảo để giữ nước và dựng nước mà tất cả người Việt đều
có quyền hãnh diện thừa hưởng, học hỏi và áp dụng.
A.1 Tương quan lực lượng của
quân Việt Nam và quân Mông Cổ
Dân số nước ta vào thế kỷ 13
(1284) có thể ước lượng là vài triệu người nhưng theo sử chép thì tổng số quân
lực dưới quyền lãnh đạo của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ có 20 vạn quân
(5), (6).
Với 200,000 quân số như vậy
mà nước ta phải đương đầu với 500,000 quân của đoàn quân xâm lược thiện chiến
Mông Cổ thì quả là một sự chênh lệch quá lớn trong tương quan lực lượng của
quân ta và quân Mông Cổ.
A.2 Chiến lược tâm công của
Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Trần Hưng Đạo là một thiên
tài quân sự đã nghiên cứu chiến lược, chiến thuật và binh pháp của tất cả những
nhà quân sự thời bấy giờ (2 & 3) và Vương đã viết Hịch Tướng Sĩ (2), hai
quyển Vạn Kiếp Bí Truyền (5),(6) và Binh Thư Yếu Lược (3) để huấn luyện và thao
dượt quân sĩ. Sau này theo Phan Huy Chú trong sách Lịch Triều Hiến Chương Văn Tịch
Chí thì Vạn Kiếp Bí Truyền, Binh Thư Yếu Lược cùng bao nhiêu sách vở của nước
Nam từ nhà Trần về trước đều bị quan quân nhà Minh thu lấy cả rồi đem về Kim
Lăng trong thời kỳ nhà Minh đô hộ nước ta (1414-1427). (5)
Dựa vào những dữ kiện lịch sử
, chúng ta có thể đi đến kết luận là những chiến lược sau đây đã do chính Trần
Hưng Đạo dâng lên để Vua Trần Nhân Tông và triều đình xử dụng:
Hội nghị Bình Than (tháng 10
năm Nhâm Ngọ 1282): ‘Trần triều trước tình thế cấp bách và nghiêm trọng, triệu
tập các vương hầu và bá quan văn võ bên sông Bình Than. Nơi họp có tính cách bí
mật vì cần tránh tai mắt của bọn gián điệp đối phương. Hội nghị này là hội nghị
để thăm dò ý kiến của các vương hầu, tướng lĩnh. Các quan có người bàn không
nên nghịch ý Mông Cổ nghĩa là cho mượn đường và giúp lương. Có người bàn nên
đem quý vật sang cống để hoãn binh. Duy chỉ có Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư
chủ chiến và xin đem quân giữ các nơi hiểm yếu.’ (6)
Hội nghị Diên Hồng (tháng chạp
năm Giáp Thân 1284) hay chiến lược Đồng Tâm Trước thế giặc Nguyên hết sức mạnh,
Thượng Hoàng (Vua Trần Thánh Tông) đã cho triệu tập các bô lão về họp ở điện
Diên Hồng để trưng cầu dân ý cùng tham khảo chiến lược trước cơn quốc nạn (Tâm
Trí). Các bô lão đều đồng thanh xin đánh. Qua hai hội nghị Bình Than và Diên Hồng,
quyết định chung của toàn dân và toàn quân là quyết chiến và hy sinh để bảo vệ
đất nước và nền độc lập, tự chủ. (Tâm Trí và Tâm Dũng) Lời bài ca Hội Nghị Diên
Hồng còn vang lên hùng khí của tiền nhân : ‘Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
Quyết chiến! Quyết chiến! Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh? Hy sinh! Hy
sinh!’
Hội nghị Diên Hồng có thể được
xem như là hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước ta để biết ý dân vì các
bô lão thực sự là những đại biểu của dân, đã sống cả cuộc đời gắn bó với quê
hương và dân tộc, đã hiểu được cái Đạo Sống của dân tộc, luôn được dân chúng
kính trọng và nghe lời dạy bảo. Thượng Hoàng (Vua Trần Thánh Tông) đã không cho
triệu tập các thành phần sĩ, nông, công, thương trong xã hội nước ta vào thời
đó vì lý do này. ( Tâm Trí )
Hội nghị Diên Hồng đã mở ra
chiến lược Đồng Tâm, áp dụng chiến lược ‘Tâm truyền Tâm’ để kết hợp toàn dân
trong tình thế hết sức nguy khó khi đất nước có thể rơi vào trong tình trạng bị
đô hộ bởi ngoại bang và có thể mất nền độc lập, tự chủ vừa mới giành lại được từ
thời Ngô Quyền năm 939.
Khi các bô lão trở về làng của
mình đã truyền giảng thông điệp quyết chiến và hy sinh của hội nghị Diên Hồng
và đã hoàn thành chiến lược Đồng Tâm để kết hợp và điều động toàn dân bảo vệ bờ
cõi chống xâm lăng. (Tâm Trí và Tâm Dũng)
Chiến lược này đã giúp cho
nước ta đương đầu với cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ mặc dù trong những giai đoạn
đầu quân ta không thể chận được những cuộc tấn công của quân Mông Cổ và đã thua
ở nhiều mặt trận kể cả kinh thành Thăng Long cũng đã bị thất thủ và Trần Hưng Đạo
đã phải rước xa giá và bảo vệ nhà Vua dời đi nơi khác. (5), (6)
Sau khi tham dự Hội nghị
Diên Hồng, các bô lão đã giải quyết được vấn nạn truyền thông đại chúng cho triều
đình nhà Trần để đưa thông điệp quyết chiến và hy sinh đến toàn dân và đã hoàn
thành chiến lược Đồng Tâm vì vào thế kỷ 13 đây là một vấn đề rất khó giải quyết
khi chưa có các phương tiện truyền thông đại chúng (như báo chí, hệ thống truyền
thanh, truyền hình,...) và tất cả nguồn nhân lực, tài nguyên quốc gia đều phải
đổ vào cuộc chiến tranh tự vệ.
Khi nghe tin Hưng Đạo Vương
lui quân khỏi Lạng Sơn và chạy về Vạn Kiếp, Vua Trần Nhân Tông liền xuống chiến
thuyền nhỏ ra Hải Đông (tức là Hải Dương), rồi cho vời Hưng Đạo Vương đến bàn
quốc sự. Vua Nhân Tông nói: ‘Thế giặc to như vậy, mà chống với nó thì dân sự
tàn hại, hay là Trẫm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân.’ ( Tâm Từ Bi)
Hưng Đạo Vương tâu rằng: ‘Bệ-hạ
nói câu ấy thì thật là lời nhân đức, nhưng mà Tôn-miếu Xã-tắc thì sao? Nếu Bệ-hạ
muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng!’ (Tâm Dũng). Vua
nghe lời nói trung liệt như vậy, trong bụng mới yên. (5) (Tâm an Tâm)
Sau đó Hội Nghị Quân Sự ở Vạn
Kiếp được nhóm họp để chỉnh bị lại hàng ngũ, duyệt xét lại toàn bộ các mặt trận
cùng chiến lược, chiến thuật sẽ được xử dụng sau những kinh nghiệm về các trận
đánh cùng quân Nguyên ở mặt trận Lạng Sơn. (6) (Tâm Trí)
Hịch Tướng Sĩ hay là Chiến
Lược Toàn Quân
Sau hội nghị Bình Than
(tháng 10 năm Nhâm Ngọ 1282), ‘Vua Trần Nhân Tông thân chinh đốc xuất các vương
hầu huy động toàn thể quân đội thủy lục được tất cả 20 vạn mở cuộc tập trận. Trần
Quốc Tuấn được tấn phong làm Quốc Công Tiết Chế thống lĩnh lực lượng quân sự
toàn quốc, sau đó Vương đã viết và cho truyền ra Hịch Tướng Sĩ, lời hịch đầu
tiên kêu gọi tinh thần ái quốc và kỷ luật của các tướng sĩ và toàn quân vào
tháng 8 năm Giáp Thân 1284 trước cơn quốc nạn. (6) (Tâm Trí).
Mặc dù bản văn Hịch tướng Sĩ
đã được viết hơn 7 thế kỷ trước để hiệu triệu tướng sĩ và toàn quân thế mà đến
ngày nay người đọc vẫn cảm nhận được hùng khí của tiền nhân gói trọn trong những
nét hay và vẻ đẹp của văn chương.
Qua Hịch tướng Sĩ, Trần Hưng
Đạo đã đưa ra một Chiến Lược Toàn Quân vì Vương đã dùng hịch này để hiệu triệu
toàn quân phải hết lòng chiến đấu để dẹp tan quân giặc (Tâm truyền Tâm , Tâm
Dũng). Vương đã dạy cho quân sĩ chiến thuật và chiến lược chống xâm lăng qua việc
học hỏi và thao luyện những điều mà Vương đã tổng hợp các sách quân sự đương thời
trong quyển Binh Thư Yếu Lược (Tâm Trí):
‘Nay ta soạn hết các binh
pháp của các nhà danh gia hợp lại làm một quyển gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu
các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo, thì mới phải đạo thần tử;
nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo, thì tức là kẻ nghịch thù.’ (2)
Trần Hưng Đạo cũng là một
nhà chính trị lỗi lạc và chính trị của Vương luôn đặt tinh thần yêu nước và sự
an vui, hạnh phúc của toàn dân làm đầu: ‘Hưng Đạo Vương là một người danh tướng
đệ nhất nước Nam, đánh giặc Nguyên có công to với nước, được phong làm Thái Sư,
Thượng Phụ, Thượng Qưốc Công, Bình Bắc Đại Nguyên Súy, Hưng Đạo Đại Vương. ...
Khi Vương sắp mất, Vua Anh Tông có ngự giá đến thăm, nhận thấy Vương bệnh nặng,
mới hỏi rằng:‘Thượng Phụ một mai khuất núi, phỏng có quân Bắc lại sang thì làm
thế nào?’ Hưng Đạo Vương tâu rằng:
‘Nước ta thuở xưa, Triệu Võ
Vương dựng nghiệp, Hán Đế đem binh đến đánh. Võ Vương sai dân đốt sạch đồng
áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm,
châu Liêm, đánh quận Tràng Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời. Đến
đời Đinh, Lê, nhiều người hiền lương giúp đỡ, bấy giờ nước Nam đang cường, vua
tôi đồng lòng, bụng dân phấn chấn; mà bên Tàu đang lúc suy nhược, cho nên ta đắp
thành Bình Lỗ (thuộc Thái Nguyên) phá được quân nhà Tống, đó là một thời. Đến đời
nhà Lý, quân Tống sang xâm, Lý Đế sai Lý Thường Kiệt đánh mặt Khâm, Liêm, dồn đến
Mai Lĩnh, quân hùng, tướng dũng, đó là có thế đánh được. Kế đến bản triều, giặc
Nguyên kéo đến vây bọc bốn mặt, may được vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả
nước đấu sức lại mà đánh, mới bắt được tướng kia, cũng là lòng trời giúp ta mới
được thế. Đại để, kẻ kia cậy có tràng trận, mà ta thì cậy có đoản binh; lấy đoản
chống nhau với tràng, phép dùng binh thường vẫn phải thế. Còn như khi nào quân
giặc kéo đến ầm ầm, như gió, như lửa, thế ấy lại dễ chống. Nếu nó dùng cách dần
dà, như tằm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy
mới khó trị; thì ta nên dùng tướng giỏi, liệu xem quyền biến, ví như đánh cờ,
phải tùy cơ mà ứng biến, dùng binh phải đồng lòng như cha con một nhà, thì mới
có thể đánh được. (Tâm Trí) ‘Cách ấy cốt phải tự lúc bình thì khoan sức cho
dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ nước hay hơn cả.’ (5) (Tâm Từ
Bi)
Vua Anh Tông chịu lời ấy là
rất phải. Được mấy hôm thì Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mất vào ngày 20 tháng
8 năm Canh Tý (1300). Từ nhà Vua cho đến dân chúng ai cũng thương tiếc. Nhân
dân nhiều nơi lập đền thờ phụng để ghi nhớ công đức của Ngài. (5)
Thực hiện chiến lược Tâm
Công để kết hợp toàn dân và toàn quân, Thượng Hoàng (Vua Trần Thánh Tông), Vua
Trần Nhân Tông và triều đình đời Trần đã giao trọng trách điều khiển lực lượng
quân sự toàn quốc cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Lịch sử đã ghi chép vào thế
kỷ 13, Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới đã đánh bại quân xâm lăng
Mông Cổ ba lần để giữ vững nền tự chủ và bờ cõi.
B. Chiến lược tâm công của đức
Lê Lợi và Nguyễn Trãi
Khi học lại những trang sử
oai hùng của công cuộc kháng chiến kỳ vĩ để lật đổ chế độ đô hộ của nhà Minh
(1414 - 1427) do Bình Định Vương Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo (1418 - 1427),
người viết xin được ghi chép lại và đóng góp những nhận định hết sức tổng quát
và đơn giản về chiến lược Tâm Công do Nguyễn Trãi dâng lên cho Lê Lợi, người
anh hùng áo vải ở đất Lam Sơn, để thực hiện công cuộc kháng chiến 10 năm đầy
gian khổ và chưa từng có trong lịch sử xưa nay. Đây chính là quốc bảo để lấy lại
nước, giữ nước và dựng nước mà tất cả người Việt đều có quyền hãnh diện thừa hưởng,
học hỏi và áp dụng.
B.1 Bình Định Vương Lê Lợi:
‘người ở làng Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đã mấy
đời làm nghề canh nông, nhà vẫn giàu có, lại hay giúp đỡ cho kẻ nghèo khó, cho
nên mọi người đều phục,... Ông Lê Lợi khảng khái, có chí lớn, quan nhà Minh
nghe tiếng, đã dỗ cho làm quan, nhưng ông không chịu khuất, thường nói rằng:
‘Làm trai sinh ở trên đời, nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời,
chứ sao lại chịu bo bo làm đầy tớ người!’ (5) (Tâm Trí)
B.2 ‘Bèn giấu tiếng ở chỗ
sơn lâm, đón mời những kẻ hào kiệt, chiêu tập những kẻ lưu vong. Đến mùa xuân
năm mậu tuất (1418), ông Lê Lợi cùng với tướng là Lê Thạch và Lê Liễu khởi binh
ở núi Lam Sơn tự xưng là Bình Định Vương, rồi truyền hịch đi gần xa kể tội nhà
Minh để rõ cái mụch đích của mình khởi nghĩa đánh kẻ thù của nước.’ (5) (Tâm
truyền Tâm)
B.3 Bình Định Vương Lê Lợi
là bậc anh hùng hội đủ tất cả những đức tính cần thiết để thực hiện chiến lược
Tâm Công giải phóng đất nước ra khỏi ách đô hộ của nhà Minh do Nguyễn Trãi dâng
lên cho Vương trong ‘Bình Ngô Sách’.
B.4 Trước khi đi gặp Lê Lợi,
Nguyễn Trãi đã hoàn tất chiến lược cứu nước qua tác phẩm Bình Ngô Sách. (Tâm
Trí)
Tiếc thay, bản chiến lược
Bình Ngô Sách này đã thất lạc. Tuy không biết Bình Ngô Sách trình bày những nhận
định gì về con đường cứu nước và về tình hình ta và địch. Nhưng điều may mắn nhất
của chúng ta là vẫn còn biết được yếu chỉ hành động của Bình Ngô Sách nhờ bài tựa
của Ngô Thế Vinh (viết năm 1833) trong Ức Trai Di Tập (quyển 1): ‘Bình Ngô Sách
hiến mưu chước lớn, không nói đến việc đánh thành, mà lại khéo nói đến việc
đánh vào lòng người, cuối cùng nhân dân và đất nước của 15 đạo nước ta đều đem
về cho ta cả.’ (7) (Chiến lược Tâm Công)
B.5 Sau khi Bình Định Vương
Lê Lợi đã dẹp xong giặc Minh năm 1427, Người đã ra lệnh cho Nguyễn Trãi soạn thảo
bài tuyên cáo cho toàn dân biết và Nguyễn Trãi đã minh định chiến lược này qua
bản Bình Ngô Đại Cáo (1427):
...‘Đem đại nghĩa để thắng
hung tàn,
‘Lấy chí nhân mà thay cường
bạo. ...
‘Ta mưu phạt tâm công ,
không đánh mà người phải khuất. ...(Tâm Công)
‘Tướng giặc bắt tù, xin
thương hại vẫy đuôi cầu sống,
‘Uy thần chẳng giết, lấy
khoan hồng thể bụng hiếu sinh. ... (Tâm Từ Bi)
‘Chúng đã sợ chết xin hòa,
thực thà cầu sống,
‘Ta muốn toàn quân làm cốt,
ngơi nghỉ cùng dân.
‘Chẳng những mưu kế cực sâu
xa,
‘Cũng là cổ kim chưa nghe thấy.
...’ (4) (Tâm Trí, Tâm Từ Bi )
B.6 Trong Bình Ngô Đại Cáo,
Tâm Từ Bi đã thể hiện hết sức mạnh mẽ trong Chiến lược Tâm Công qua sự bừng nở
của Tâm Trí Tuệ áp dụng trong chiến tranh chưa từng nghe thấy từ xưa đến nay để
bảo toàn lực lượng khởi nghĩa, giữ đúng lệnh khoan hồng cho các trấn thành cùng
quan quân đối phương đầu hàng, giảm thiểu những tổn thất về sinh mạng cho cả
hai bên đang trong cuộc chiến, chấm dứt chiến tranh, đi đến chiến thắng sau
cùng và mang lại hạnh phúc cho toàn dân.
B.7 ‘Tới giai đoạn này viện
quân của Minh triều bị đại bại, tinh thần của đối phương ở nhiều trấn thành sa
xuống rất mạnh. Nhiều tướng lĩnh Minh xin quy phục, chỉ còn 4 thành: Tây Đô, Cổ
Lộng (nền cũ của thành này còn ở làng Bình Cách, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định),
Đông Quan và Chí Linh vẫn chưa xao xuyến lắm. Đáng lẽ quân ta tổng tấn công các
thành đó trong lúc quân dân của chúng ta đang thừa hăng hái, Bình Định Vương
sai viên thông sự Đặng Hiếu Lộc dẫn Thôi Tụ, Hoàng Phúc và một số lớn tù binh
cùng quả ấn song hổ và cờ kiếm, sổ sách đưa vào thành Đông Quan....’ (6) ‘Mưu
thuật này đạt được đúng kết quả mong muốn là đánh một đòn nặng vào tâm lý địch
giữa lúc họ đang khủng hoảng tinh thần. Biết tình thế hoàn toàn đổ vỡ, Vương
Thông, Sơn Thọ cử phái viên là Thiên Hộ họ Hà đến đại bản doanh của Bình Định
Vương đề nghị thành thực cầu hòa và xin mở đường cho chúng lui binh về nước.’
(6) (Tâm Trí)
B.8 ‘Tướng sĩ và nhân dân tỏ
ý không tán thành cuộc hòa giải vì lòng người còn căm giận sự tàn bạo trước đây
của giặc Minh. Dư luận còn đang phân vân, Nguyễn Trãi bàn: ‘- Giặc Minh tàn bạo
nhân dịp này giết hết chúng đi là phải, nhưng phải nghĩ nước mình nhỏ, nước
chúng lớn gấp mấy chục lần thì xung đột với chúng chỉ là sự bất đắc dĩ. Nếu mối
thù ngày một thêm sâu, giặc mất thể diện lại kéo binh sang nữa thì cuộc chiến
tranh biết bao giờ mới dứt được. (Tâm Trí). Sao bằng chấp thuận cuộc hòa hiếu để
tạo phúc cho sinh linh hai nước. (Tâm Từ Bi).
B.9 ‘Tha Vương Thông và đồng
bọn về, hẳn chúng không còn lòng nào trở sang nữa. Xem như bài biểu dấu trong
thỏi sáp của y gửi về Minh triều có câu: ‘ Xin thôi đừng vì miếng đất ‘hẻo lánh
một phương mà làm nhọc nhằn quân lính đi xa muôn dặm. Bấy giờ muốn đánh lại phải
huy động đại quân như buổi ra đi, đại tướng phải sáu bẩy người vào hạng Trương
Phụ. Nhưng dù lấy lại được thì sự giữ sau này cũng vẫn khó lòng...’ (6) Bình Định
Vương Lê Lợi gật đầu khen phải, nói: ‘Phục thù báo oán là cái thường tình của mọi
người, nhưng bản tâm người nhân không muốn có việc giết người bao giờ, huống hồ
người ta đã hàng mà giết thì không hay. Thỏa cái giận một lúc mà đeo cái tiếng
muôn đời giết kẻ đầu hàng, sao bằng cho muôn vạn người cùng sống để tránh cuộc
chiến tranh cho đời sau, lại còn được tiếng thơm lưu truyền sử xanh mãi mãi.’
(6) (Tâm Từ Bi và Trí Tuệ)
C. Chiến Lược Tâm Công trong
thế kỷ 20
C.1 Mahatma Gandhi đấu tranh
bất bạo động ở Ấn Độ
Mahatma Gandhi tên thật là
Mohandas Karamchand Gandhi, sinh ngày 2 tháng 10, 1869 ở Porbandar, Ấn Độ,
nhưng nhà thơ Tagore (giải thưởng Nobel Văn Chương về Thi Ca năm 1913) đã dùng
hai chữ Maha (nghĩa là lớn) và Atma (tâm hồn) và nối nhau thành Mahatma (Great
Saint, bậc Thánh) như một danh hiệu để vinh danh Người. (8)
Tháng Giêng năm 1915, sau
khi cuộc đấu tranh thành công về quyền làm người cho những người dân da đen và
các chủng tộc khác kể cả người di dân Ấn Độ ở vùng Transvaal, Nam Phi Châu bị
người da trắng kỳ thị và đàn áp, Mahatma Gandhi đã được đảng Quốc Đại Ấn Độ
(Indian National Congress) mời trở về Ấn Độ để tham gia vào công cuộc đấu tranh
giành độc lập. (8)
Trong cùng thời điểm với cuộc
khởi nghĩa ngày 10 tháng 2,1930 của Việt Nam Quốc Dân Đảng mà sau đó thất bại
và bị bắt, đảng trưởng Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí đã hiên ngang hô to câu
"Việt Nam vạn tuế" khi lên đoạn đầu đài ở Yên Báy vào ngày 17 tháng
6,1930 và hàng ngàn đảng viên bị đày đi Côn Đảo,Sơn La và Lao Bảo. (6)
Tháng 3 năm 1930,Mahatma
Gandhi đã khởi sự cuộc đấu tranh áp dụng tinh thần Bất bạo động (AHIMSA, non-violence)
và Người cũng đã xử dụng chiến lược tâm công:
- ngày 12 tháng 3, 1930
Mahatma Gandhi cùng 78 nam thành viên trong ngôi làng (ashram), mà tên tuổi được
công bố trên báo Young India, bắt đầu cuộc đi bộ 241 dặm (miles = 386 cây số)
trong 24 ngày để đi xuống bờ Ấn Độ Dương và đến bờ biển ở vùng Dandi ngày 5
tháng 4 để làm muối cùng với các nhà lãnh đạo của đảng Quốc Đại Ấn và mấy ngàn
người dân Ấn Độ từ hơn ba trăm ngôi làng mà phái đoàn Người đã đi qua, năm đó
Người 61 tuổi;
những hạt muối Ấn Độ Dương
đã là điểm tựa cho đòn bẩy là dân tộc Ấn Độ trang bị bằng chiến lược tâm công và tinh thần Bất bạo động để đánh bật tảng đá là chế độ đô hộ và thuộc địa của
Anh Quốc; Cuộc đấu tranh đã xử dụng ưu điểm của dân tộc Ấn Độ là Sức mạnh tâm linh (mà tiếng Ấn Độ là SATYAGRAHA, SATYA (gốc là chữ SAT) có nghĩa là sự thật,
lẽ phải, GRAHA có nghĩa là quyết tâm; chuyển sang tiếng Anh là SOUL FORCE, Sức mạnh tâm linh).
Cuộc tranh đấu đã áp dụng
chiến lược Dân Chúng không khuất phục, Dân Chúng Bất Cộng Tác (civil disobedience,
civil non-cooperation) bằng những cuộc đình công, bãi thị toàn diện (general
strike) để làm tê liệt guồng máy cai trị của chế độ đô hộ của người Anh. Chiến
lược Dân Chúng Bất Cộng Tác áp dụng song song với sức mạnh của Bất bạo động, lẽ
phải và sự thật khiến cho dân tộc Ấn Độ không còn mang mặc cảm bị đô hộ, bị đàn
áp và đã hiên ngang đứng lên đòi độc lập và tự do;
Gandhi đã muốn có một nước Ấn
Độ mới ngay vào thời điểm lúc đó, chứ không phải chỉ một nước Ấn Độ tự do trong
tương lai. Người tin rằng tự do thật sự cho Ấn Độ phải chính là những người dân
Ấn Độ với tinh thần hoàn toàn mới và tự do.
Người đồng ý với nhà thơ
Tagore là gông cùm đeo nặng lên dân tộc Ấn Độ là do chính tự mình làm ra.
Tagore viết: ‘Người tù hỡi, ai là người đã đem đến xích xiềng không thể phá vỡ
này? Chính tôi, người tù nói, đã trui rèn (tôi luyện) xiềng xích này rất kỹ lưỡng.’
(Prisoner, tell me who was it that brought this unbreakable chain? It was I,
said the prisoner, who forged this chain very carefully.) (8)
Ngày 15 tháng 8,1947, dân tộc
Ấn Độ đã thành công trong việc giải phóng đất nước ra khỏi ách đô hộ của người
Anh và đạt được nền độc lập, tự chủ mặc dù Ấn Độ bị chia cắt ra thành hai quốc
gia: Ấn Độ và Pakistan.
Gandhi chủ trương hoà giải với
Pakistan theo Hồi Giáo và Người đã bị bắn chết ngày 30 tháng 1, 1948 bởi những
thành phần quá khích.
C. 2 Bà Aung San Suu Kyi đấu
tranh cho tự do và dân chủ ở Miến Điện
Năm 1989, chế độ độc tài
quân phiệt Miến Điện, Hội Đồng Phục hồi Luật Pháp và và Trật Tự Quốc Gia (State
Law and Order Restoration Council, SLORC), củng cố quyền lực bằng việc bắt giam
Bà Aung San Suu Kyi, ái nữ của Aung San vị anh hùng quốc gia của Miến Điện, và
lúc đó Bà là Tổng Thư Ký của Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ (National League for
Democracy, NLD). Bà đã bị quản thúc tại gia từ tháng 7,1989 và không được vận động
tranh cử trong cuộc bầu cử năm 1990. (11)
Mặc dù bị ngăn cản không được
vận động tranh cử nhưng Bà Aung San Suu Kyi đã áp dụng chiến lược tâm công và
được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của dân chúng Miến Điện và nhiều chính phủ trên thế
giới. NLD đã toàn thắng trong cuộc bầu cử ngày 27 tháng 5,1990. Sau đó chế độ độc
tài quân phiệt (SLORC) hứa hẹn mơ hồ là sẽ trao quyền sau khi hiến pháp mới được
soạn thảo. (11)
Sau cuộc bầu cử, SLORC bắt
giam phần lớn các lãnh tụ đối lập và Bà Aung San Suu Kyi tiếp tục bị quản thúc
tại nhà.
Tháng 7,1991, chính phủ Úc,
Gia Nã Đại và Cộng Đồng Âu Châu đã ủng hộ lời kêu gọi của Hoa Kỳ đến sáu quốc
gia thành viên của Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á Châu (ASEAN), khối giao thương
chính của Miến Điện, phải làm áp lực với SLORC để chấm dứt nạn cai trị độc tài.
Trong cùng tháng 7,1991 SLORC ban hành đạo luật tước bỏ chức vụ dân biểu trong
quốc hội của các thành viên đối lập và không cho họ được ứng cử.
Tháng 10,1991 Bà Aung San Suu
Kyi, lúc đó đã bị quản thúc tại nhà hơn hai năm, được trao giải Nobel Hòa Bình.
SLORC từ chối không cho Bà đi Na Uy để nhận giải, và đã bắt giam nhiều người ủng
hộ Bà ở Rangoon khi con trai Bà là Alexander Aris đã đại diện Bà để nhận giải
Nobel Hòa Bình. (12)
Khác với Thánh Gandhi và Đức
Dalai Lama đã và đang phải đấu tranh với hai chế độ ngoại xâm, khác chủng tộc
và khác văn hóa là chế độ thuộc địa của Anh Quốc và Trung Quốc, Bà Aung San Suu
Kyi đã và đang phải đấu tranh với chế độ độc tài quân phiệt Miến Điện cùng chủng
tộc, ngôn ngữ, và văn hóa.
C.3 Đức Dalai Lama đấu tranh
ở hải ngoại để giải phóng dân tộc Tây Tạng ra khỏi ách thống trị của Trung Quốc
Đức Dalai Lama, His Holiness
Tenzin Gyatso, sinh năm 1935, và lúc hai tuổi đã được xác nhận là Đức Dalai
Lama tái sinh, Người đã phải thương thảo với Mao Trạch Đông năm Người mới 19 tuổi
đời về tương lai của đất nước Tây Tạng, sau khi Trung Quốc đã xâm lăng và chiếm
đóng Tây Tạng từ năm 1950 cho đến ngày nay. (9)
Năm 1959, sau khi những cuộc
đàm phán thất bại, Trung Quốc đàn áp đẫm máu những cuộc nổi dậy của dân tộc Tây
Tạng mà hàng chục ngàn người đã hy sinh, Đức Dalai Lama đã phải rời bỏ Tây Tạng
và sang sống lưu vong ở Dharamsala, Ấn Độ vì Người sợ rằng dân Tây Tạng sẽ phải
bạo động trong tuyệt vọng nếu Trung Quốc bắt và giam giữ Người. (9)
Đức Dalai Lama, vị lãnh đạo
tinh thần của hơn 6 triệu người Tây Tạng, nhận giải Nobel Hòa Bình năm 1989 cho
những nỗ lực tranh đấu không ngừng cho quyền làm người trên toàn thế giới, và
nhất là cho nền tự chủ của dân tộc Tây Tạng thoát ra khỏi ách thống trị của
Trung Quốc.
Đức Dalai Lama luôn luôn chủ
trương áp dụng tinh thần Bất Bạo Động (non-violence) trong công cuộc đấu tranh
cho nền tự chủ (self-rule) để quốc gia Tây Tạng và nền văn hóa truyền thống Phật
Giáo khỏi bị diệt vong. (9) Người cho rằng sức mạnh của dân tộc Tây Tạng là Lẽ
Phải, là Sự Thật (truth) trong tinh thần Bất Bạo Động. (10)
Mặc dù cuộc đấu tranh của Đức
Dalai Lama và dân tộc Tây Tạng chưa đạt được nền tự chủ nhưng đã và đang đem lại
nhiều thành quả đáng kể nhờ Người luôn luôn áp dụng chiến lược tâm công để nêu
cao chính nghĩa luôn sáng ngời và được toàn thể thế giới kính phục . Gần đây,
có nhiều dấu hiệu cho thấy chính quyền Trung Quốc muốn thương thảo với Đức
Dalai Lama để đi đến một giải pháp cho Tây Tạng.
(. . .)
-- Bắt đầu viết vào những
đêm cuối mùa Đông 1998, viết xong bản thảo vào những đêm đầu mùa Xuân, tháng 9
năm 1998.
-- Tiếp tục sửa chữa, bổ túc
xong vào ngày Phật Đản 2643, ngày 15 tháng 4, năm Kỷ Mão, (29 tháng 5, 1999),
mùa Thu ở Sydney.
-- Sửa đổi, bổ túc và hoàn tất
ngày Tết Nguyên Đán, Xuân Canh Thìn (5 tháng 2, 2000), mùa Hạ ở Sydney, Úc Đại
Lợi, Nam Bán Cầu.
Tài liệu học hỏi và tham khảo
-- Thích Viên Giác dịch, Đại
thừa Kim Cang Kinh Luận, Chùa Đức Viên, Hoa kỳ.
-- Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn, Hịch Tướng Sĩ, 1284.
-- Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn, Binh Thư Yếu Lược, 1284, Quê Mẹ, Paris.
-- Nguyễn Trãi, Ức Trai
Di Tập, Quân Trung Từ Mệnh Tập, Bình Ngô Đại Cáo,1427.
-- Trần Trọng Kim, Việt
Nam Sử Lược (quyển 1&2), Bộ Giáo Dục, Sài Gòn,1971.
-- Phạm Văn Sơn, Việt Sử
Toàn Thư, Thư Lâm Ấn Thư Quán, Sài Gòn, 1960.
-- Louis Fisher, Gandhi:
His Life and Message for the World, Mentor Book, 1954.
-- Giáo Sư Robert A. F. Thurman, Bài
phỏng vấn Đức Dalai Lama, Columbia University.
-- The Dalai Lama His
Holiness Tenzin Gyatso, A Human Approach to World Peace, Tibet House,
Wisdom Publications, London 1996.
-- Burmar (Myanmar), SBS
World Guide 1996.
-- Mark Baker, The
invisible man of the fight for Burma, báo Sydney Morning Herald, 11 September
1998, (bài viết nói về Cố Giáo Sư Michael Aris, phu quân của Bà Aung San Suu
Kyi, khi Ông sang Úc Châu để nhận bằng Tiến Sĩ Danh Dự về Luật Pháp được viện đại
học Melbourne trao tặng cho Bà).
Phan Quang Việt









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét