Tập nhạc Những tình khúc tiền
chiến tiêu biểu, Khai Phóng in năm 1970 tại Sài Gòn, trong đó bao gồm những
sáng tác trước và sau năm 1945 cho đến trước năm 1954.
Nhạc tiền chiến [1] (tiếng
Anh: Vietnamese pre-war music) là dòng nhạc đầu tiên của tân nhạc Việt Nam mang âm hưởng trữ tình lãng mạn
xuất hiện vào cuối thập niên 1930. Các ca khúc tiền
chiến thường có giai điệu trữ tình và lời ca giàu chất văn học. Ban đầu khái niệm nhạc tiền chiến (nhạc trước thời kỳ chiến tranh) dùng để
chỉ dòng nhạc mới tiếng Việt theo âm luật Tây phương trước khi nổ ra chiến tranh Việt – Pháp, sau này, vì lý do
chính trị, khái niệm này mở rộng, bao gồm một số sáng tác trong chiến tranh (1946–1954) cùng phong cách
trữ tình lãng mạn, nhưDư âm của Nguyễn Văn Tý, Trăng Mờ Bên Suối của Lê Mộng Nguyên… và cả sau 1954 đối với một số
nhạc sĩ ở miền Nam như Phạm Đình Chương, Cung Tiến…
Một số ca khúc nhạc
đỏ và trữ tình cách mạng trong chiến tranh Việt – Pháp như Lời
người ra đi,Sơn nữ ca của Trần
Hoàn khi lưu hành ở miền Nam cũng bị gọi là “nhạc tiền chiến”.
Những nhạc sĩ tiêu biểu của
dòng nhạc tiền chiến:Đặng Thế Phong, Văn Cao, Phạm Duy, Lê
Thương, Dương Thiệu Tước, Hoàng
Quý, Hoàng Giác… Các ca khúc như Giọt mưa thu, Con thuyền không bến, Thiên Thai, Trương Chi, Cây đàn bỏ quên, Tình kỵ nữ, Đêm tàn bến Ngự, Hòn vọng phu.
Bối cảnh ra đời của nhạc tiền chiến cũng chính là bối cảnh ra đời của tân nhạc Việt Nam. Đó là Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, xuất hiện sau phong trào thơ mới và dòng văn học lãng mạn vài năm.
Bối cảnh ra đời của nhạc tiền chiến cũng chính là bối cảnh ra đời của tân nhạc Việt Nam. Đó là Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, xuất hiện sau phong trào thơ mới và dòng văn học lãng mạn vài năm.
Sau Thế chiến thứ nhất, ở Việt Nam xuất
hiện một giai cấp mới, đó là giai cấp tư sản. Chủ nghĩa tư bản của người Pháp cùng với nền văn
hóa phương Tây vào Việt Nam gây nên những thay đổi lớn. Nhiều giá trị tư tưởng
cổ hũ mấy ngàn năm trước đó lại bị giới trẻ có tây học xem thường, thậm chí trở
thành đối tượng để mỉa mai của nhiều người. Một tầng lớp tiểu tư sản ở thành thị
hình thành.
Giai cấp tư sản và một bộ phận
tiểu tư sản lớp trên (trí thức, viên chức cao cấp) đã có một lối sinh hoạt
thành thị mới với nhiều tiện nghị theo văn minh Tây phương. Họ ở nhà lầu, đi ô tô, dùng
quạt điện, đi nghe hòa nhạc. Sinh hoạt của tư sản và tiểu tư sản thành thị cũng
thể hiện ngay cả trong cách ăn mặc của thanh niên, mốt quần áo thay đổi mỗi
năm. Những đổi thay về sinh hoạt cũng đồng thời với sự thay đổi về ý nghĩ và cảm
xúc. Những thay đổi đó cũng do sự tiếp xúc với văn hóa lãng mạn Pháp.
Nếu như những nhà văn lãng mạn,
thi sĩ của phong trào thơ mới chịu ảnh hưởng bởi văn học lãng mạn Pháp thì
những nhạc sĩ tiền chiến cũng chịu ảnh hưởng bởi âm nhạc phương Tây.
Tino Rossi
Đầu thế
kỷ 20, những bài hát Âu Mỹ được phổ biến
mạnh mẽ tại Việt Nam dưới hình thức đĩa hát loại 78 tours (vòng), hoặc trên màn
ảnh những phim nói. Các thanh niên thời đó không còn thích đàn
tranh, đàn bầu, đàn
nhị, đàn nguyệt nữa mà thay vào đó là mandoline, guitare hơn nữa
là violon, piano để có thể làm quen với những bài hát nước
ngòai mà họ ưa thích. Rồi họ bắt đầu soạn lời Việt cho những ca khúc nước
ngoài, chủ yếu để hát trong bạn bè cho nhau nghe.
Nhưng người thành công nhất
trong việc sử dụng nhạc điệu Âu Mỹ để đưa ra những bài hát mới, chính là nghệ
sĩ Huỳnh Thủ Trung tức Tư Chơi. Ông vừa là diễn viên, vừa
là soạn giả và còn muốn là người soạn nhạc nữa cho nên ông đã sáng tác những ca
khúc ngắn mà ông gọi là “bài ta theo điệu tây” và soạn ra những tiểu ca kịch (opérette)
mà ông đặt tên là “hoạt kê hài hước” (opérette comique) trình diễn trên sân khấu
các đoàn hát xuất xứ từ miền Nam là Trần Đắt và Phước
Cương (gánh hát của Bạch Công Tử) vào khoảng 1933–1934.
Trên sân khấu các đoàn Trần
Đắt và Phước Cương, ngoài việc soạn ra những tích tuồng mới phản ảnh xã hội Việt
Nam vào lúc đó, nghệ sĩ Tư Chơi còn muốn cải cách cả phần âm nhạc. Ông không muốn
dùng các bài bản có tính chất cổ truyền như Lưu Thủy, Hành Vân trong
opérette của mình. Với sự phổ biến của máy hát chạy bằng lò xo, những “bài hát
theo thời” (chansons à la mode) Âu Mỹ đã bắt đầu thịnh hành trong xã hội đô thị
Việt Nam. Những bài Pháp như J’ai Deux Amours, Quand On Est Matelot… đã được
nhiều người biết đến.
Có thể nói việc làm của nghệ
sĩ Tư Chơi đã thành công. Một số bài dù khởi đầu phóng tác từ một điệu Tây, về
sau được coi là điệu Việt Nam hoàn toàn. Ví dụ bài Hoà duyên nằm
trong nhạc mục của ngành ca kịch cải lương, ít người biết nó khởi sự là một bài ta theo điệu
Tây của Tư Chơi, Huỳnh Thủ Trung.
Cùng một lúc với việc Tư
Chơi tung ra trên sân khấu những “bài ta theo điệu tây”, thì trong giới yêu nhạc
cũng có phong trào chuyển ngữ các bài hát Tây do các ca sĩ thời thượng như Tino Rossi, Rina Ketty, Albert
Préjean, Georges Milton… hát vào đĩa hát 78 tours (vòng). Các nghệ sĩ sân khấu
Việt Nam như Ái Liên, Kim Thoa, lại được các hãng đĩa của
người Pháp Odéon, Béka mời thu thanh các bài ta theo điệu tây.
Trong năm từ 1935 cho tới 1938, rất nhiều các bài
hát của Pháp như Marinella, C’est à capri, Tant qu’il y aura des étoiles,
Un jour loin de toi, Celle que j’aime éperdument, Les gars de la marine,
L’Oncle de Pékin, Guitare d’amour, Créola, Signorina, Sous les ponts de Paris,
Le plus beau tango du monde, Colombella… (phần lớn là sáng tác của nhạc sĩ người
Pháp Vincent Scotto) và của Mỹ như Good
bye Hawaii, South of the border… đã được phổ biến mạnh mẽ với lời ca tiếng Việt, soạn bởi một nhà báo trẻ
tên là Mai
Lâm và bởi những tác giả vô danh khác.
Đã có những hội “Ái Tino” được
thành lập ở Hà Nội, ở Hải
Phòng… Một thanh niên có giọng hát tốt, sau này là một nhạc sĩ được nhiều
người biết tới, nhạc sĩ Canh Thân, bắt đầu cuộc đời ca hát của anh bằng
cái tên Tino Thân.
Phạm Duy gọi
giai đoạn từ 1935 cho
tới 1938 là
Thời kỳ chuẩn bị của Tân nhạc Việt Nam
Tân nhạc hình thành 1938
Năm 1938 được coi là
điểm mốc đánh dấu sự hình thành của tân nhạc Việt Nam với những buổi biểu diễn
và thuyết trình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên tại Hà Nội.
Cuối thập niên 1930, nhiều
nhạc sĩ khác bắt đầu sáng tác ca khúc như Bẽ bàng (1935), Nghệ
sĩ hành khúc (1936) của Lê Yên, Tiếng
sáo chăn trâu (1935), Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937)
của Văn
Chung, Xuân năm xưa (1936) của Lê
Thương. Nhưng các nhạc sĩ đó sáng tác và trình bày những ca khúc của mình
chỉ trong phạm vi bạn bè. Nguyễn Văn Tuyên là người đầu tiên trình bày ca khúc
nhạc cải cách trước công chúng và sau đó những bài hát này được phổ biến rộng
rãi trên báo chí.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên khi
đó ở Sài Gòn, là người Việt duy nhất tham gia hội
Ái Nhạc (Philharmonique). Ông bắt đầu hát nhạc Tây và đạt được cảm tình của báo chí và radio. Năm 1937 Nguyễn Văn
Tuyên phổ một bài thơ của một người bạn và viết thành ca khúc đầu tiên của ông.
Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn, khi đó làm việc cho đài Radio
Indochine, có đưa thơ cho Nguyễn Văn Tuyên và giúp ông soạn lời ca. Nguyễn Văn
Cổn còn giới thiệu ông với thống đốc của Nam Kỳ (Cochinechina) khi đó là Pagès
(có tài liệu ghi Rivoal). Thống đốc Nam Kỳ nghe Nguyễn Văn Tuyên hát và đã mời
ông du lịch tới Pháp để tiếp tục học nhạc, nhưng Nguyễn Văn Tuyên từ chối
vì lý do gia đình. Thay vì vậy ông lại đề nghị và được thống đốc Pagès tài trợ
đi một vòng Việt Nam tới các thành phố Huế, Hà Nội, Hải
Phòng, Nam Định để quảng bá những bài nhạc mới này. Chính
Nguyễn Văn Cổn là người đặt tên cho loại nhạc mới là “âm nhạc cải cách” (musique
renovée).
Tới Hà Nội vào tháng 3 năm 1938, Nguyễn Văn Tuyên
có nói chuyện tại hội Trí Tri. Nhưng trong cuộc vận động cải cách, ông đã gặp một
cử tọa đông đảo, ồn ào không trật tự. Một phần thất bại buổi đó do giọng nói địa
phương của ông được ít người hiểu. Hơn nữa, có thể nhiều thanh niên Hà Nội lúc
đó cho rằng việc hô hào của ông là thừa, vì bài hát cải cách đã có sẵn tại đó.
Tại hội Tri Tri Hải Phòng,
Nguyễn Văn Tuyên đã may mắn hơn. Tuy số khán giả chỉ độ 20 người, nhưng ông đã
có người thông cảm. Trong buổi nói chuyện này, một vài nhạc sĩ của Hải Phòng
cũng trình một bản nhạc mới của miền Bắc. Sau đó nhân kỳ hội của trường Nữ Học
Hoài Đức, Nguyễn Văn Tuyên còn trình bày tại rạp chiếu bóng Palace một lần nữa.
Và lần này cử tọa rất tán thưởng giọng hát của ông trong bài Bông cúc vàng.
Tờ Ngày Nay của Nhất Linh, một tờ báo uy tín bấy giờ, số 121 ra
ngày 31 tháng 7 năm 1938 đã đăng bài hát đầu tiên, bài Bình minh của Nguyễn Xuân Khoátlời ca của Thế Lữ, và sau đó là các
bản Một kiếp hoacủa Nguyễn Văn Tuyên, Bản đàn xuân của Lê
Thương, Khúc yêu đương của Thẩm
Oánh, Đám mây hàng, Cám dỗ của Phạm Đăng Hinh, Đường
trường của Trần Quang Ngọc… ở các số tiếp theo.
Nhiều ca khúc sáng tác từ
trước được các nhạc sĩ phát hành. Đầu 1939, nhiều bản nhạc của
các nhóm, nhạc sĩ được bày bán tại các hiệu sách. Tân nhạc Việt Nam chính thức
hình thành.
Đặng Thế Phong
Nguyễn Xuân Khoát
Được xem như người anh cả
trong tân nhạc Việt Nam. Nguyễn Xuân Khoát tuy sáng tác không nhiều vào thời kỳ
tiền chiến nhưng những sáng tác của ông lại làm nên những mốc giá trị. Trước
khi tác phẩm đầu tay là Bình minh ra đời, ông đã có nhiều bài khảo cứu
hay thuyết trình cho sự cải cách nhạc Việt, được đăng nhiều kỳ trên báo Ngày nay của Tự Lực Văn Đoàn. Tác phẩm Màu thời gian của
ông phổ thơ Đoàn Phú Tứ, vừa ra đời đã được hoan nghênh lớn.
Lê
Thương
Nhạc sĩ Lê
Thương khi đó dạy học ở Hải
Phòng. Ông là một trong những người có sáng tác sớm nhất. Lê Thương cùng Hoàng
Quý, Hoàng Phú (tức nhạc sĩ Tô Vũ), Phạm Ngữ, Canh Thân tụ họp thành một nhóm ca nhạc sĩ
trẻ để bắt đầu sáng tác và hát phụ diễn cho những buổi diễn kịch nói của nhóm kịch Thế Lữ.
Ông đã để lại nhiều ca khúc, đặc biệt là những bài truyện ca bất hủ như Bản
đàn xuân, Nàng Hà Tiên, Một ngày xanh, Thu trên đảo Kinh Châu vàHòn vọng
phu.
Văn Cao
Văn Cao cũng ở Hải Phòng.
Ban đầu ông thuộc nhóm Đồng Vọng của Hoàng
Quý và có những sáng tác đầu tay như Buồn tàn thu, Vui lên
đường. Năm 1941,
Văn Cao lên Hà Nội, ông đã viết những nhạc phẩm giá trị vượt thời gian như Trương
Chi, Thiên Thai, Suối mơ, Bến xuân… Sau đó Văn Cao tham gia Việt
Minh và viết Tiến
quân ca năm 1944 và Trường ca Sông Lô năm 1947.
Đặng Thế Phong
Đặng Thế Phong thuộc nhóm Nam
Định, nhưng ông sớm rời bỏ thành phố để lên Hà Nội. Đầu 1941 Đặng Thế
Phong vào Sài Gòn rồi sang Campuchia. Cuối
1941 ông trở lại Hà Nội và mất vào năm 1942 bởi bệnh lao. Đặng Thế Phong
chỉ để lại ba nhạc phẩm Đêm thu, Con thuyền không bến và Giọt mưa thu. Các sáng tác của ông được xem là tiêu biểu
cho dòng nhạc tiến chiến và có ảnh hưởng đến những nhạc sĩ sau đó.
Phạm Duy
Ban đầu là ca sĩ của gánh hát Đức Huy, nên Phạm
Duy còn được xem như một trong những người đầu tiên đem thể loại nhạc này đi phổ
biến khắp mọi miền đất nước. Phạm Duy gia nhập làng nhạc sĩ năm 1942 với bài Cô
hái mơ, phổ thơ Nguyễn
Bính, tiếp đó là những bản nhạc lãng mạn như Cây đàn bỏ quên, Tình kỵ
nữ, Tiếng bước trên đường khuya hay đậm chất dân ca như Em bé quê, Tình ca, Bà mẹ quê, Gánh
lúa…Phạm Duy và Văn Cao là hai người bạn thân nên thường giúp đỡ nhau trong nghề,
họ từng sáng tác chung các ca khúc Bến xuân, Suối mơ.
Phạm Duy là người có công đầu
trong việc đem chất dân ca vào tân nhạc, điều này khiến nhạc cải cách xích
lại gần với tầng lớp nông
dân, dân nghèo.
Nhóm
Myosotis
Myosotis có nghĩa là hoa lưu ly, nhóm nhạc này gồm các
nhạc sĩ Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Phạm Văn Nhượng, Trần Dư, Vũ
Khánh… trong đó hai thành viên quan trọng nhất là Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước.
Hai xu hướng chính của nhóm là:
Sáng tác nhạc mới nhưng có
âm hưởng nhạc dân tộc do Thẩm Oánh chủ trương.
Sáng tác hoàn toàn theo nhạc
ngữ Tây phương do Dương Thiệu Tước chủ trương.
Từ 1938 cho tới 1942, nhóm Myosotis với
hai nhạc sĩ chính Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước đã để lại nhiều nhạc phẩm giá
trị, phần lớn theo phong cách trữ tình lãng mạn.
Nhóm
Tricéa
Nhóm Tricéa gồm ba thành
viên Văn Chung, Lê Yên và Doãn
Mẫn. Tên nhóm Tricéa có nghĩa: 3 chữ C và 3 chữ A được viết tắt từ tiếng
Pháp: Collection Des Chants Composés Par Des Artistes Annamites Associés:
“Tuyển chọn các tác phẩm âm nhạc của nhóm người viết nhạc Annam”.
Những năm khoảng 1939, nhiều ca khúc của
nhóm được quần chúng yêu thích như: Ca khúc ban chiều, Trên thuyền hoa,
Bóng ai qua thềm của Văn Chung; Biệt ly, Sao hoa chóng tàn, Tiếng hát đêm
thu của Doãn Mẫn; Bẽ bàng, Xuân nghệ sĩ hành khúc, Ngựa phi đường xa,
Vườn xuân của Lê Yên. Cả ba nhạc sĩ của Tricéa đều thành công, trong đó
hơn cả là Doãn Mẫn. Họ đã để lại nhiều nhạc phẩm giá trị, một số trong đó được
đánh giá vượt thời gian
Nhóm Đồng Vọng
Nhóm Đồng Vọng được thành lập
năm 1939 bởi
nhạc sĩ Hoàng Quý, xuất phát từ những tráng sinh biết âm nhạc của
phong trào Hướng đạo. Xuất hiện ngay từ những năm đầu, gồm
nhiều nhạc sĩ tên tuổi Phạm Ngữ, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Canh Thân và Hoàng Phú (tức Tô Vũ), Đồng Vọng mở ra dòng nhạc hùng trong tân nhạc
Việt Nam.
Ngoài những bản hùng ca viết
cho thanh niên, phong trào khỏe và hướng đạo, nhóm Đồng Vọng còn để lại nhiều bản
tình ca khác. Cùng với nhóm Nhóm Tổng Hội Sinh Viên của Lưu Hữu Phước, Đồng Vọng đã có những ảnh hướng lớn tới
tân nhạc Việt Nam.
Nhóm Tổng Hội Sinh Viên
Tổng Hội Sinh Viên được
thành lập bởi nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Cùng với nhóm Đồng Vọng, Tổng Hội Sinh Viên mở ra dòng nhạc
hùng trong tân nhạc Việt Nam, nhưng so với Đồng Vọng thì Tổng
Hội Sinh Viên manh tính chính trị nhiều hơn.
Tổng Hội Sinh Viên được khởi
đầu trong nhóm sinh viên ở Hà Nội trong
đó nhiều sinh viên miền Nam tỏ ra có khả năng văn
nghệ. Tổng Hội Sinh Viên chú trọng đặc biệt đến việc dùng Tân nhạc trong việc đấu
tranh chính trị chống Pháp và Nhật.
Lưu Hữu Phước cùng với nhóm sinh viên trong Tổng Hội đã tung ra nhiều ca khúc
giá trị khơi dậy lòng yêu nước trong dân chúng, đặc biệt là những học sinh,
sinh viên. Những ca khúc như Tiếng gọi sinh viên, Hồn tử sĩ, Bạch Đằng giang, Ải Chi Lăng, Hội nghị Diên Hồng,
Hờn Sông Gianh… đã để lại dấu ấn trong lịch sử tân nhạc Việt Nam.
Giai đoạn 1945-1954
Từ năm 1946, nhiều nhạc sĩ lên chiến khu và viết ca khúc
kháng chiến của Việt Minh chống Pháp. Nhưng nhiều
người trong số họ vẫn có những sáng tác lãng mạn như Nguyễn Văn Tý với Dư âm, Trần
Hoàn với Sơn nữ ca, Lê Mộng Nguyên với Trăng Mờ Bên Suối, Tô Hải với Nụ
cười sơn cước, Phạm Duy với Cây đàn bỏ quên, Bên cầu biên giới, Tình kỵ nữ, Việt
Lang vớiTình quê hương, Tô Vũ với Em đến thăm anh một chiều
mưa…
Trong vùng đô thị Pháp tạm
chiếm, cả hai dòng nhạc yêu nước và lãng mạn tiếp tục được trình diễn trên đài phát thanh, trong vũ trường và các quán rượu. Năm 1950, tạp chí Việt Nhạc
của đài phát thanh Hà Nội đã
xuất bản một danh mục hơn 300 ca khúc Việt Nam họ đã phát thanh gồm cả những
bài hát lãng mạn và những bài hát mới được sáng tác dành cho những người lính
kháng chiến trong rừng núi. Cho tới lúc chấm dứt hoạt động vào năm 1954, họ đã phát thanh
được hơn 2000 bài của hơn 300 tác giả.
Sau 1954 ở miền Nam
Sau năm 1954, Việt Nam chia làm
hai miền với chế độ khác nhau. Những nhạc sĩ tiền chiến ở lại miền Bắc không còn sáng tác, hoặc không phổ
biến những ca khúc trữ tình lãng mạn. Những nhạc phẩm tiền chiến cũng giống như
các tác phẩm văn học lãng mạn (ví dụ tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn) không được phép lưu hành. Những
bài hát ở miền Bắc khi đó thường để cổ vũ chiến đấu, xây dựng đất nước, đấu
tranh cách mạng… và được xếp vào dòng nhạc
đỏ.
Một số nhạc sĩ khác di cư vào miền Nam năm 1954 như Hoàng
Trọng, Văn Phụng… hoặc từ trước đó nhưLê
Thương, Phạm Duy… và những nhạc sĩ trẻ hơn như Phạm Đình Chương, Cung Tiến…
đã tiếp tục dòng nhạc tiền chiến tại miền Nam.
Những nhạc sĩ này trong khoảng 1954 đến 1975 có những sáng
tác đa dạng, trong đó nhiều ca khúc của họ vẫn được xếp chung vào dòng nhạc tiền
chiến, có thể kể đến là Mộng dưới hoa, Trường ca Hội trùng dương, Đôi mắt
người Sơn Tây của Phạm Đình Chương, Hương xưa, Thu vàng của Cung
Tiến. Những nhạc phẩm tiền chiến thường xuyên được trình diễn và thu âm bởi những
tiếng hát hàng đầu như Thái
Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác, Sĩ Phú, Hà Thanh, Hoàng
Oanh (Bài Thơ Huế, Nhớ Huế… của Lê Mộng Nguyên)
Số phận nhạc tiền chiến sau
1975
Tại Việt Nam sau 1975, phần lớn những ca
khúc tiền chiến vẫn không được lưu hành. Cho tới năm 1987, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đưa ra quyết định “cởi
trói văn nghệ“, một số bản nhạc tiền chiến mới được trình diễn trở lại. Từ đó,
những nhạc phẩm của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Đặng Thế Phong, Lê Mộng Nguyên… được các ca sĩ trình diễn nhiều nơi,
trong đó phải kể đến những nỗ lực của ca sĩ Ánh
Tuyết.
Những năm đầu thế
kỷ 21, những ca khúc đầu tiên của dòng tân nhạc ấy vẫn thường xuyên được
các ca sĩ trẻ trình diễn và thu âm. Và một vài người trong số đó đã thanh danh
nhờ dòng nhạc này.
Ở hải ngoại
Sau sự kiện 30 tháng 4 1975, nhiều ca sĩ và
nhạc sĩ của miền Nam rời Việt Nam định cư tại nhiều nước
trên thế giới, tập trung nhất ở Hoa Kỳ. Tại
hải ngoại, các nhạc sĩ như Phạm Đình Chương, Văn
Phụng, Hoàng Trọng, Cung Tiến…
ít sáng tác. Có thể nói không nhạc phẩm nào ra đời ở hải ngoại được xếp vào
dòng nhạc tiền chiến.
Nhưng dòng nhạc đó vẫn được
yêu thích, những ca sĩ đã thành danh trước 1975 như Khánh Ly, Lệ Thu, Thái
Thanh, Hà Thanh, Mai
Hương, Quỳnh Giao, Tuấn
Ngọc, Khánh Hà, Hoàng
Oanh… hay những ca sĩ trẻ như Trần Thái Hòa, Ngọc
Hạ… thường xuyên trình diễn những nhạc phẩm này.
Tham khảo
^ Dòng nhạc tiền chiến
Tân nhạc
những năm đầu – Phạm Duy
Nhạc tiền
chiến: khởi đầu của ca khúc phổ thông Việt Nam - Jason Gibbs.
Nhạc
tiền chiến trên trang Hội Nhạc sĩ Việt Nam http://vi.wikipedia.org/.
NHẠC TIỀN CHIẾN CHỌN LỌC
HAY NHẤT – THU ÂM TRƯỚC 1975
Nhạc tiền chiến là dòng nhạc đầu tiên của tân nhạc Việt Nam
mang âm hưởng trữ tình lãng mạn xuất hiện vào cuối thập niên 1930. Các ca khúc
tiền chiến thường có giai điệu trữ tình và lời ca giàu chất văn học. Ban đầu
khái niệm nhạc tiền chiến (nhạc trước thời kỳ chiến tranh 1945) dùng để chỉ
dòng nhạc mới tiếng Việt theo âm luật Tây phương trước khi nổ ra chiến tranh Việt
– Pháp, sau này, vì lý do chính trị, khái niệm này mở rộng, bao gồm một số sáng
tác trong chiến tranh (1946–1954) cùng phong cách trữ tình lãng mạn, như Dư âm
của Nguyễn Văn Tý,
Trăng Mờ Bên Suối của Lê Mộng Nguyên… và cả sau 1954 đối với
một số nhạc sĩ ở miền Nam như Phạm Đình Chương, Cung Tiến…
Nhạc tiền chiến
Hòa tấu Guitar Vô Thường








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét