Đọc
lại Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính
Có hai lý do khiến chúng tôi
phải làm công việc “đọc lại” phần viết về Phật giáo nơi tác phẩm Việt Nam phong
tục (VNPT) của Phan Kế Bính (PKB).
Thứ nhất: Chúng tôi ghi nhận những
đóng góp của chư vị tiền bối, đặc biệt là trong hoàn cảnh đất nước còn bị ngoại
xâm, tư liệu tham khảo rất hạn chế.
Thứ hai: Bên cạnh những thành tựu đáng ghi
nhận, vẫn còn có những nhầm lẫn, sai lạc, tạo ảnh hưởng không tốt trong học thuật.
Một số người nghiên cứu đi sau do không tham khảo thêm, hoặc vì những dụng ý cá
nhân, đã bằng lòng với những nhầm lẫn của người đi trước. Ví như trường hợp ông
Toan Ánh trong bộ sách: Nếp cũ; con người Việt Nam, 2 tập, NXB Văn Nghệ TP.
HCM, nay tái bản đổi tên là Tín ngưỡng Việt Nam (mới đây đài Truyền hình Việt
Nam có giới thiệu trong chương trình thời sự), đã “tham khảo kỹ”những trang viết
sai lạc của ông PKB về Phật giáo nơi sách VNPT. Gọi là “tham khảo kỹ” vì có đoạn
ông Toan Ánh sửa đổi, thêm bớt, chép nguyên văn những sai lạc của sách VNPT, kể
cả những sai lạc về thuật ngữ và tên người…Và như vậy, công việc” đọc lại” của
chúng tôi, ở một số trường hợp là mang tính chất biện chính, làm sáng tỏ thêm sự
thật.
Trong cuốn VNPT, PKB đã dành
hơn 12 trang để viết về Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo (VNPT, NXB TP. HCM,
1999, tr 164-175). Đây là những trang được xem là đầu tiên thuộc mảng nghiên cứu
của văn học chữ Quốc ngữ, viết về 3 học thuyết lớn của phương Đông, đã có ảnh
hưởng lớn đối với văn hóa Việt Nam.
Sau khi đọc VNPT, chúng tôi
xin nêu mấy ghi nhận:
*Thứ nhất: Vấn đề tài liệu
tham khảo
Ông PKB đã không hề nêu dẫn
tài liệu tham khảo (Phần viết về Phật giáo ở sau cũng thế) và chỉ bằng lòng với
lối mô tả, giải thích theo kiểu “tương truyền”, “tục truyền”, “bảo rằng”, “kể rằng” v.v…Xin
nói ngay, đây không phải là lối nghiên cứu, biên khảo đúng nghĩa và đúng đắn,
nhất là khi tìm hiểu về các học thuyết, các tôn giáo lớn, ví như Phật giáo, một
tôn giáo không chỉ có mặt, có ảnh hưởng lớn ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước thuộc
châu Á. Và vào thời điểm ông PKB sinh ra và trưởng thành, Phật giáo cũng đã bước
đầu có ảnh hưởng đáng kể đối với châu Âu (tác phẩm The Light of Asia – Ánh sáng
Á chậu – của S. Edwin Arnold 1832-1904, ra đời năm 1879). Tác phẩm Phật sở hành
tán của Bồ tát Mã Minh được dịch sang tiếng Anh và xuất bản năm 1894 với nhan đề
The Buddhacarita of Asvaghos)….
Chính vì không nêu dẫn tư liệu,
nên nhiều chỗ, cách giải thích của ông PKB rất dễ dãi, dẫn tới những sai lầm
không thể bỏ qua. Chẳng han, mục Chùa chiền, tác giả viết:”Gian giữa, từng trên
nhất thờ 3 vị Thế Tôn…kế đến là Mụ Thiện 12 tay, rồi đến bà Di Lặc béo phục phịch,
tục truyền bà ấy nhịn mặc mà ăn cho nên béo…(sđd, tr.86).
Tài liệu Phật học nào nói Phật
Di Lặc, Bồ tát Di Lặc là bà? Do nhịn mặc mà ăn cho nên béo? Ông PKB cho là
“theo tục truyền”!
Toàn bộ những mục, những phần
về phong tục, tập tục có liên quan tới Phật giáo nơi sách VNPT, chúng tôi đã
nêu ra ở trước, đều chỉ có tính chất địa phương. Rõ nhất là ở mục Cầu tự (sđd,
tr.56-57) và mục Chùa chiền (sđd,tr86-87). Xin đọc tiếp đoạn chúng tôi vừa dẫn:”Kế
đến tượng Quan Âm có Kim đồng, Ngọc nữ kèm hầu đôi bên, một bên cưỡi con bạch
tượng, một bên cưỡi con thanh sư. Rồi đến tượng Ngọc Hoàng, một bên là Nam Tào,
một bên là Bắc Đẩu. Ngoài cùng thì là tượng Cửu Long bằng đồng có Phật Thích Ca
đứng giữa”(sđd, tr.86).
Lối thờ cúng nơi chánh điện
chùa được mô tả như vậy là chỉ đúng cho một số chùa nào đó của miền Bắc vào thời
ấy mà thôi, không thể khái quát cho lối thờ cúng chung trong chùa chiền ở Việt
Nam. Lẽ ra, trong phần đó, tác giả nên viết rõ:”ở miền Bắc…”
*Thứ 3: Tính chất thiếu
công bằng, thiếu thiện cảm
Ông PKB đã nhìn Phật giáo và
Phật giáo Việt Nam với con mắt không công bằng, thiếu thiện cảm. Điều này có thể
thấy qua một số nhận xét, phê phán nhỏ nơi các trang 57, 63, 86,89,144, nhất là
ở trang 89, ông PKB viết:”Phật giáo cũng là một tôn giáo riêng, chũ nghĩa trọng
sự hư vô tịch diệt, nhất thiết cho sự đời là không không, cũng có lý tưởng, dễ
dã bài bác (sic) được”.
Viết như vậy tức ông PKB đã
xem Phật giáo chỉ là một tôn giáo ngoại lai, hoàn toàn không dính dáng gì tới
dòng chảy lịch sử của dân tộc. Rõ ràng, ông PKB đã không thấy được sự gắn bó và
đóng góp rất lớn của Phật giáo đối với quá trình giữ nước và xây dựng đất nước
Việt Nam.
Có thể phải đợi đến 50, 60
năm sau, giới trí thức Việt Nam hiện đại mới đánh giá đúng và công bằng về tính
chất “Bản địa hóa” của Phật giáo ở Việt Nam, vế vai trò của Phật giáo trong buổi
bình minh của lịch sử dân tộc. Nhưng ở thế hệ Hán học, ngay từ thế kỷ XVIII, Lê
Quý Đôn (1726-1784) trong sách Kiến văn tiểu lục đã đánh giá rất đúng về tính
chất xuất thế-nhập thế của Phật giáo, đã biện chính rất xác đáng về một số vấn
đề liên hệ của Phật học. Nơi trang 10 sách VNPT, ông PKB có nhắc qua sách Vân
đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, nhưng dường như ông không đọc đến.
Chính vì thiếu thiện cảm với
đạo Phật, nên đối với một số tập tục có liên quan tới Phật giáo, ông PKB đều chỉ
nhìn thấy và khoét sâu khía cạnh tiêu cực. Rõ nhất là ở phần Hội Chư Bà (sđd,
tr.143-144). Hoặc đối với tập tục”Đóng góp cho nhà chùa”, ông PKB viết:”Lại rất
đỗi bọn đàn bà ngu xuẩn mê tín về lời họa phúc, động thấy nói về việc chùa, việc
Phật thì bỏ bao nhiêu tiền ra cúng cũng không tiếc. Thậm chí có người quanh năm
chịu thương chịu khó, làm ăn vất vả mà không dám ăn của ngon mặc của tốt, chỉ để
dành cúng vào việc nhà chùa…”(sđd,tr. 89).
Ngay từ giữa thế kỷ XIV, Lê
Quát, nơi Văn bia chùa Thiệu Phúc đãnói: ”Nhà Phật lấy chuyện họa phúc tác động
tới lòng người, sao mà cảm phục được người ta sâu và bền vậy”(Tuấn Nghi dịch,
Thơ văn Lý, Trần tập 3, NXB KHXH, 1978, tr.145) tức là đã nhìn nhận sự việc
theo hướng tích cực. Điều đáng nói thêm là, loại ngôn ngữ:”bọn ngu phu, ngu phụ”,
“Bọn ăn bơ làm biếng”, “Bọn hạ lưu xã hội mê tín sự báo ứng”, “bọn ngu xuẩn”…lại
được ông PKB tiếp tục sử dụng ở phần sau để phê phán Phật giáo Việt Nam thời bấy
giờ (tr.173).
Ông PKB đã dành 5 trang sách
để viết về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam, (VNPT, sđd,tr.168-173). Ông PKB đã
viết về Tam tạng kinh điển của Phật giáo như sau:”Ngài (chỉ Đức Phật) mất rồi,
các học trò soạn nhặt các lời di ngôn, tập lại thành sách, cả thảy bốn mươi hai
chương, chia làm 3 quyển gọi là kinh Tam tạng…”(sđd, tr.109).
Viết như thế tức là không hiểu
biết gì về Tam tạng kinh điển của Phật giáo. Hai trang rưỡi sách viết tổng quát
về Phật giáo (tr. 168-171) đã cho thấy quá rõ điều ấy:
Cho “Phật giáo do ở đạo Bà
la môn mà ra”(tr. 168) là hoàn toàn sai.
Cho “Sinh lão bệnh tử là bốn
cái kiếp khốn nạn”(tr. 168) tức là không hiểu gì về tư tưởng cơ bản của Phật
giáo.
Cho Đức Phật Thích Ca:”Vì thế
chán đời, mà cầu một phép để giải thoát…”(tr.168), “Năm 29 tuổi…xảy thấy một
người già yếu tàn tật vào xin ăn, mới suy nghĩ ra đời người toàn là cảnh khổ, lập
tức đêm ấy bỏ nhà vào rừng đi tu” là không hiểu rõ ý nghĩa xuất gia tầm đạo của
Thái tử Tất Đạt Đa, không tham khảo kinh Phật, sách Phật.
Về sự kiện nhập Niết Bàn của
Đức Phật lại viết:” Tục truyền ông ấy (chỉ Đức Phật) về sau ăn mỡ lợn, phát tướng
mà mất ở nơi Câu Thi. Lúc gần mất, ông ấy nói rằng:”Nay ta đã lên cõi Niết Bàn
nghĩa là lên đến chỗ Cực Lạc thế giới” (tr.169). Không một kinh điển thuộc Hán
tạng nào ghi lại những lời dạy sau cùng của Đức Phật như vậy, kể cả kinh điển
Nam truyền cũng không nói thế. Viết như vậy chứng tỏ ông PKB không hiểu biết gì
về thuật ngữ Niết Bàn của Phật giáo.
Giải thích kinh tạng:”Là những
lời luân thường đạo lý”(tr. 170), đấy là chỉ dựa theo sách Nho để võ đoán chứ
chưa hề tiếp cận đến kinh Phật.
Viết:”đạo Phật chia trong cơ
thể, gọi là Lục côn (Sáu cái gốc) là Nhân…”(tr.170). Chữ”căn” theo Từ điển Từ Hải
(Tối Tân Tăng đính bản, tập trung, tr.23224) ghi, đọc là Cân, ta quen đọc là
Căn, Lục căn (không ai đọc là côn cả). Giải thích Lục căn là sáu cái gốc là
không đúng. Từ Hải đã giải thích:”Sách Phật dùng với nghĩa là có khả năng sinh
khởi, do có thể đối nơi cảnh, sinh thức.”
Giải thích: ”Lục trần là sáu
cái bụi” (tr.170) là không chính xác.
Cho:”Mục đích đạo Phật chỉ
có 2 chữ Hư vô là kiêm hết” (tr.170) là sai lầm, không hiểu gì hết về chữ Không
trong Phật giáo.
Giải thích về Tứ Thiền:”Sơ
thiền:không lo lắng. Nhị thiền: không khổ não. Tam thiền: rất vui sướng. Tứ thiền:
không phải chịu vòng luân hồi nữa”(tr. 170). Không rõ ông PKB căn cứ vào đâu mà
giải thích như thế? (Xem thêm: Đức Phật lịch sử, sđd, tr. 141-142).
Giải thích luân hồi:”Là kiếp
trước làm những điều tội ác…”(tr. 170) là không đúng.
Giải thích về giải
thoát: ”Ra được ngoài vòng luân hồi, rồi mới lên được cõi Niết Bàn, nghĩa là
lên cõi không không, là nơi Cực lạc thế giới” (tr. 170-171) là quá sai, là
không hiểu gì về giải thoát, về Niết Bàn, về thế giới Cực lạc của Phật giáo
v.v…
Trên đây chúng tôi chỉ góp ý
vắn tắt, vì đây là những sai lầm ở mức cơ bản.Không thể ngờ rằng đấy lại là kiến
thức về”Phật học” của một nhà Nho trí thức khoa bảng như PKB, từng là một “bỉnh
bút” của Tạp chí Đông Dương nổi tiếng một thời, đã từng biên soạn, dịch thuật
có đến hàng chục tác phẩm!
Ngoài ra, từ đầu trang 171 đến
đầu trang 173, ông PKB dựa theo sách Việt sử yếu của Quận Hoàng(?) để dịch ra
và đã sử dụng một số thuật ngữ, nhân danh, địa danh chưa thật chính xác, chẳng
hạn như: Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất, lần thứ hai gọi là “lần thứ nhất
Phật giáo hội tụ”, “lần thứ hai Phật giáo hội tụ” (tr.171): Chúng tôi không rõ
nguyên văn nơi sách Việt sử lược kia, nhưng hai lần ấy phải viết là: Lần kết tập
kinh điển thứ nhất, lần kết tập kinh điển thứ hai, chứ không phải là Phật giáo
hội tụ; hay Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan lại viết là Nghiệp Ma Đằng, Chúc
Pháp Lan…
Đáng buồn hơn khi ông PKB
cho rằng: “Đạo Phật bày ra lắm điều kỳ ảo: nào luân hồi, nào siêu thoát, nào họa
phúc, nào nhân quả, nói toàn những mối dị đoan, làm cho lòng người mê tín mà
không ích cho sự thật, cho nên đạo Nho phải bác đi không cho là chính đạo
(tr.172)”. Đến đây thì chúng tôi đã hiểu được cái nghi vấn nêu trên: vì sao ông
PKB lại có một hiểu biết sai lạc về Phật học, và vì sau người đi sau lại tiếp tục
sai lầm đến như thế?…
Trên đây chỉ là một vài điểm
lệch lạc được nêu sơ lược, vì khuôn khổ bài có hạn, nhưng cũng đủ để chúng ta
nhìn lại các tác phẩm của người đi trước, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu văn
hóa, để có đánh giá đúng hơn, tránh sự hỗn độn mà chúng ta thấy qua việc giới
thiệu sách mới trên các cơ quan thông tin báo chí đang diễn ra.
Đào Nguyên





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét