Tình cảm là yếu tố cơ bản của thơ, còn thơ là nhạc phẩm ngưng
đọng mà nhạc khúc được trổi từ cung đàn tâm, là người bạn tri âm của tâm hồn
biết thương cảm. Thơ xuất phát từ cái nhìn cô đọng sâu lắng của thi nhân về cuộc
đời. Thi ca luôn như bản hùng ca băng vượt không gian thời gian đi vào lòng người
chuỗi rung cảm chân tình. Cảm xúc sáng tạo trong thơ ca sóng đôi với tình cảm.
Tình cảm càng lớn mạnh, hồn thơ càng mãnh liệt trong sáng và cảm xúc càng xuất
thần. Nội dung nghệ thuật và tư tưởng thi ca là sự phúc đáp chính xác, là hình
chiếu là bản sao của tình cảm. Thế nên thơ là hồn thiêng của tâm, của núi sông
dịu vợi, là lẽ sống miên trường. Lê Quý Đôn cho rằng “thơ xuất phát từ trong
lòng người ta”. Còn Ngô Thì Nhậm thì nhấn mạnh “hãy xúc động hồn thơ cho ngọn
bút có thần”. Xuất phát ra như thế nào và sao lại xuất phát; xúc động thế nào để thần xuất
hiện trong thơ, là điều cần tìm hiểu. Ý kiến Lê Quý Ðôn vừa là lời nhận định,
cũng vừa là lời khuyến tấn thi ca và cuộc sống, là sự nhấn mạnh vai trò tình cảm
và thần khí trong thi ca.
Nói thơ xuất phát từ trong lòng người ta, là Lê Quý Ðôn chú ý
đến vai trò và ý thức chủ thể sáng tạo. Thơ văn là sản phẩm của con tim và khối
óc. Bản chất nghệ thuật trong thi văn không tách rời chủ thể sáng tạo. Thế nên
vai trò chủ thể sáng tạo là đầu mối tiền đề tạo nên giá trị nội dung và bản chất
nghệ thuật trong thi ca.
Khi rõ thơ là người bạn trung thành đồng hành với cuộc sống,
đã bao lần khắc đậm trên chiếc trống đồng muôn thuở thời gian, rung lên từng điệu
hoà nhịp trữ tình, thì Ngô Thì Nhậm nói: “Mây gió cỏ hoa xinh tươi kỳ diệu đến
đâu, hết thảy đều từ trong lòng mà nảy ra”. Có nghĩa đẹp xấu của hoa lá chỉ phụ
thuộc cảm nhận của con người mà thôi. Tách hồn thơ, rời tình cảm, thì đẹp xấu
xinh tươi của hoa lá đều vô nghĩa. Thế đó, tình cảm giữ vai trò quan trọng
trong thơ, nên nói đến thơ ca tức nói đến tình cảm và cảm xúc sâu lắng, nó là
linh hồn, là sinh mạng của nếp cảm nghĩ và lối suy tư của người nghệ sĩ. Cuối
cùng, thi văn bao giờ cũng là sản phẩm hiện thành nhào nặn rút tỉa từ cảm xúc,
từ ý tưởng và tư duy vừa lý tính vừa cảm tính về cuộc sống.
Sách nói rằng, “rung động là khởi điểm của sáng tạo, không có
rung động, thơ chỉ có phần xác mà không có hồn”. Đúng vậy, thi ca giản đơn mộc
mạc và có hồn nhất luôn có sự hòa điệu nhịp nhàng với nhịp đập cảm xúc. Nó biểu
hiện rõ nét tâm hồn để thơ trào ra đầu bút, cho ngọn bút tung hoành dọc ngang
mà vẫn gõ lên từng cung bậc nhân tính. Giá trị tình cảm trong thơ mang phong
cách và thái độ tình người của thi nhân trước mọi cảnh đời. Khi hồn thơ càng lắng
sâu thì tình cảm biểu hiện trong thơ càng trong sáng; và chính lúc tình cảm
trào dâng, là lúc thi nhân cho ra đời áng thơ quý giá. Một thi nhân nói: “Thơ
là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời, trước những
gì diễn ra xung quanh mình, là tiếng nói tâm hồn con người trước con người và đất
trời…thơ là đồng điệu”. Nghĩa là thơ đã được đồng hoá bởi những cảm xúc, hay
chính những cảm xúc chân thành đã chắp cánh cho hồn thơ; một phen hồn thơ được
bộc lộ tức là một lần cảm xúc được tháo tung bằng tình cảm đơn sơ thâm thiết, gắn
liền với con người và thế cuộc.
Bằng rung cảm chân thành, cảm xúc trào dâng, nhà thơ Tế Hanh
gởi gắm tình yêu quê hương đất nước, dòng sông, con đò, gốc đa..., có khi gắn
liền với tuổi thơ:
....Hỡi con sông tắm cả cuộc đời tôi
Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ
….Tôi giơ tay ôm nước vào lòng
Sông mở nước ôm tôi vào dạ
Vì tình yêu quê tha thiết, cuối cùng quê hương nơi chôn nhau
cắt rốn với thi nhân trở thành tổng thể hợp nhất. Bây giờ quê hương trong ông
là mía là đường, là bài ca, là hơi thở, khiến thi nhân cảm thấy quê hương là
hương thơm vị ngọt mãi đến vô cùng, nên dù xa quê thì tình Bắc Nam vẫn luôn trọn
vẹn sánh đôi, như rẽ nước hai ngã cùng về một cội nguồn xưa:
Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc
Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc
Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng miền Nam
…Tôi nhớ cả những người không quen biết.
Yêu quê sâu sắc nhưng nhẹ nhàng kín đáo của Tế Hanh đã bộc lộ
rõ qua hình ảnh “con sông quê hương”, hình ảnh gần gũi gắn liền với làng quê và
biểu tượng của nguồn sống thực. Thế đó, tình cảm là nòng cốt, là chủ đạo để thi
ca ra đời. Tình cảm ấy cố nhiên đóng vai trò quan trọng tiên quyết của thi ca,
là nguồn cảm hứng duy nhất, khởi đầu cho tài năng sáng tạo.
Còn thể hiện tình người, một thi nhân viết:
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời…
Thơ nếu chẳng bắt nguồn từ cảm xúc, tình cảm chân tình, thì
chỉ là sự chợt ngẫu hứng, là trò sắp chữ, cách gieo vần... và sao được mệnh
danh là thơ!. Những bài thơ nhiều tình cảm đòi hỏi một tâm hồn cảm xúc, một
tình thương khoáng đạt. Nếu không có tình cảm chân thành với quê hương, với con
người thì làm sao có thể “để tình trang trải với trăm nơi…”. Ta bắt gặp ở đây
thứ tình cảm trong sáng, lạc quan, phóng khoáng, một thứ tình cảm gợi mở trong
lòng độc giả sự cảm thông rộng lượng, xem tất cả là anh em mà không kỳ thị chia
rẽ, không “chia biệt người thành từng xứ cô đơn”.
Mọi cảm hứng và xúc cảm sáng tác trong thi ca đều bắt nguồn từ
yếu tố tình cảm. Cũng cần hiểu rằng chính nhờ tình cảm mà ý thơ đôi lúc tỏ ra dứt
khoát, cứng rắn, dõng dạc, khí thế và sôi nổi, nên Ngô Thì Nhậm nói: “Hãy xúc động
hồn thơ cho ngọn bút có thần”. Ngọn bút xuất thần của Phạm Ngũ Lão là:
Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh át sao ngưu…
Và Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo nói:
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Lời thơ phú tràn trề sức sống mãnh liệt, chí khí, nghị lực và
rất “thần”. Thái độ dứt khoát, quyết chiến đấu đến cùng với đôi vai vững chãi
vươn về phía trước, lèo lái chỉ hướng cho vận mệnh dân tộc. Tất cả nghĩa cử và
khí thế của người chiến sĩ ra trận đều bắt nguồn từ tình cảm trong sáng, lành mạnh,
biết “nhìn đời bằng ánh mắt chân tình”, biết rung lên từng hồi cảm xúc, biết
thương và bảo bọc giữ gìn chân quê. Cũng chính nhờ vì ý thức này mà Nguyễn Ðình
Chiểu trong Văn tế nghĩa sĩ bày tỏ thái độ đối với quân thù:
“Bửa thấy bòng bong che trắng đốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”.
Còn Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo thì lên án kẻ thù:“Nướng
dân đen trong ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ, dối trời lừa
dân đủ muôn nghìn kế, bại nhân nghĩa, nát cả trời đất…”.
Khi thơ hay văn tế đã có “thần” thì sẽ là bức thông điệp kêu
gọi bảo vệ hoà bình, là vũ khí tối tân giáp mặt quân thù. Thơ có “thần” cũng là
vần thơ tải đạo. “Văn dĩ tải đạo” là quan điểm, chủ trương nòng cốt của người
có trách nhiệm với vận mệnh đất nước. Xúc động hồn thơ của Nguyễn Trãi đặt trên
nền tảng nhân đạo sâu sắc. Ông chọn “dân đen” và “con đỏ” làm đối tượng chính
khi vạch trần tội ác quân thù. Qua đó cho thấy, “ngọn bút có thần” của Trần Quốc
Tuấn hay Nguyễn Trãi và Nguyễn Ðình Chiểu đều là ngọn bút hóa thân từ cảm xúc.
Cần chú ý, tình cảm chủ đạo trong sáng tác thơ văn không chỉ
thuần tuý ở mặt tình cảm, mà lý trí cũng đóng vai trò quan trọng bất khả phân.
Tình cảm và lý trí không thể tách rời nhau mà tồn tại. Thiếu một trong hai thứ
thì cuộc đời sẽ mù tối và khổ đau. Cả hai luôn quyện lẫn hòa hài nhau, là
nòng cốt khiến thơ hoàn thiện hơn về nghệ thuật, mạnh mẽ về chính khí, chân
thành về tình cảm, trong sáng về ngôn từ và hình ảnh…
Tuy rằng lý trí trong thi ca phải được sóng đôi với tình cảm,
cả hai đều là chất liệu bổ sung nhau để thơ văn thêm mãi phần giá trị. Thế
nhưng lý trí đây không phải để áp chế tình cảm, đối kháng với cảm xúc, mà lý
trí nhận định mức độ và xu hướng của cảm xúc. Còn tình cảm trong thi ca không
phải là tình cảm bế tắc không lối thoát, u sầu bi quan, mà có sự chiếu rọi của
lý trí. Vì thế tình cảm trong thơ văn không bị đóng khung trong bế tắc nhận thức
mà là tình cảm và thái độ sáng, vạch ra hướng đi mới. Kết hợp tình cảm và lý
trí, nhà thơ Chế Lan Viên nói:
….Ôi! Tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông.
Như vậy cũng chính nhờ ông từng thầm bảo “Ôi, Tổ quốc ta yêu
như máu thịt, như mẹ cha ta như vợ như chồng”. Cho nên chọn lấy cái chết mà tổ
quốc giang san khắc ghi mãi tên người. Chết để cho ngôi nhà tranh của mẹ
tươi sáng mãi những chiều thu, cho ngọn Trường Sơn mãi sừng sửng trầm hùng gào
thét giữa gió lộng mây ngàn, chết cho biển Thái Bình mãi uốn khúc, rạt rào
trong xanh giữa đôi bờ quê hương dịu ngọt. Chế Lan Viên đã xác định hướng của
cái chết nếu cần, không phải là chết tủi nhục, thất bại bi quan, chán đời vô
nghĩa, mà chết cho tình tự quê hương đi về vô chung, cho non sông thêm gấm lệ
kiêu hùng. Cho thấy nhờ tình yêu quê hương đầy ắp như sóng vỗ triều dâng, nên
thi nhân xem cái chết nhẹ tợ lông hồng. Và cũng nhờ thi nhân cảm thấy “nếu lịch
sử chọn tôi làm điểm tựa, vui gì hơn làm người lính đi đầu, trong đêm tối tim
tôi làm ngọn lửa…”.
Còn một thi nhân đương đại với nhiều bài thơ tuyệt tác, thì
chất “tình” và chất “thần” thể hiện ra làm sao. Trong Mai tôi đi rồi, Mặc
Giang thiết tha căn dặn:
Mai tôi chết, không cần thờ linh vị
Đem đốt đi, tro bụi rải quê hương
Tro bụi bay trên khắp mọi nẻo đường
Tại sao? Tại sao lại chọn cách an táng đặc biệt này cơ chứ?
Trong khi hầu hết người trên thế gian đều muốn có một bia tháp lăng mộ, một nơi
an nghỉ cuối cùng thật đẹp, có địa thế khả quan, lưu tên tuổi và dấu tích hiển
hách xông pha của một thời oanh liệt. Thế mà tại đây thi nhân hoàn toàn ngược lại,
chỉ cần máu thịt và linh hồn mình được đi khắp mọi nẻo đường quê hương, để ôm ấp
trọn vẹn từng mảnh đất, từng hơi thở quê hương cho thỏa lòng ước nguyện. Dệt
nên tâm nguyện này cũng chỉ vì thi nhân đối với quê hương thì “khi sống, đoạn
trường đeo không dứt”. Mỗi nét chữ thi nhân “hóa tâm hồn”. Chưa đủ, tác giả còn
đưa chúng ta đi xa hơn để thấy tình cảm trong thơ ông là một yếu tố tất yếu tồn
tại và xuất hiện song hành nếp suy tư, mạch xúc cảm. Người thơ Mặc Giang lại
thêm một lần nữa không ngần ngại:
Mai tôi chết, thả lên rừng gió lộng
Gió mang đi, thét núi khiếp oai linh
Dãy Trường Sơn ôm ấp trọn bóng hình
Sóng biển Đông vỗ điệp trùng non nước
Chẳng màng gì sau khi nhắm mắt xuôi tay, chỉ mong cứ theo mãi
với gió núi bao la và biển sông bạt ngàn để hát mãi khúc hát tự tình non sông bằng
lời ca thiên cổ vĩnh hằng. Cho nên “thét núi” theo tâm nguyện của thi nhân
chính là lời thệ nguyện kiên trinh, là sự bất tử của linh hồn, là sự sống mãi với
từng ngọn cỏ cây lau và cát đá núi sông của quê hương Lạc Hồng.
Sở dĩ chất tình được thể hiện sâu đậm hằng nguyên
và kiên trinh như thế, chính là nhờ sự cảm xúc về quê cha đất tổ trong thi nhân
luôn được thiết lập trên nền tảng tri ân và báo ân, nhờ đó tạo nên một nghĩa cử
của lòng son không ngừng băn khoăn lo nghĩ. Có lần Mặc Giang chân thành thốt
lên:
Nhìn qua hình ảnh quê mình
Đọc trang Sử Việt nặng tình nước non
Nơi đâu cũng có dấu son
Nơi đâu cũng có gợn hồn núi sông
Nhìn qua hình ảnh quê hương
Đọc trang Sử Việt vấn vương tự tình
(Đọc trang Sử Việt)
Trong mắt thi nhân, quê hương chốn nào cũng đẹp,
nơi nào cũng xinh, ở đâu cũng nặng tình. Tấm chân tình có được nhờ lòng tri ân
này mang lại cho thi nhân niềm tin yêu cuộc sống, mà ở đó hồn sông núi luôn là
nguồn giao cảm giữa quá khứ và hiện tại, giữa cái đã mất và cái đang còn, giữa
tổ tông và hậu duệ. Tự tình quê hương ở đây cho ta thấy rõ đó là một tâm hồn, một
khối óc, một nỗi lòng đong đầy một hướng sống chân tình, tha thiết, gợi mở và sẵn
lòng hy sinh. Điều này khiến thi nhân cảm thấy mỗi lần “đọc trang sử Việt” là mỗi
lần “vấn vương tự tình”. Tự tình giăng bủa khắp châu thân và kéo dài hun hút
thăm thẳm đến cả cuộc đời, cho đến sau khi thân tàn khí tuyệt, như thi nhân đã
nói “Mai tôi chết, thả lên rừng gió lộng. Gió mang đi, thét núi khiếp oai linh…”
Qua đó càng cho thấy rõ tình cảm là yếu tố nòng cốt, là linh
hồn , là mạch sống, là hơi thở của thi ca; chính nhờ nó mà lời thơ, tứ thơ,
hình tượng trong thơ trở thành biểu tượng của tư duy, tình và cảnh trở
nên hòa nhịp tự nhiên, sống động lâng lâng hồn xúc cảm. Ðể một hôm nào đó thi
nhân tự tình:
Anh về thăm lại tình quê
Nghe hồn sông núi vỗ về cảm giao
Mỗi bước đi, một tự hào
Mỗi bước chân, một rạt rào nhớ thương.
Chính nhờ tình cảm mà hồn thơ này rất lắm khi nổi trội yếu tố
“thần” và “khí”, là sự trung trinh, tiết liệt:
Lịch sử huy hoàng nước Việt Nam
Muôn năm rạng rỡ đất trời Nam
Hùng thiêng sông núi hồn dân tộc
Tọa thị phương đài đã định ban.
(Non nước Việt Nam)
Là sự khẳng định quyền tự chủ của đất nước, sự phân định ngay
từ thuở xa xưa. Ở đây rõ ràng còn ngầm sự thách đố ý đồ đen tối nếu có của ngoại
bang, nếu chúng bay còn lăm le dòm ngó thì đừng trách ta không khách sáo. Ta khẳng
quyết từ lâu rồi mà...Tổ quốc trời Nam thật vĩnh nhiên. ..Uy nghi lẫm liệt khí
hùng thiêng…/ …Tim sắt gan chì thanh sử kê. Thân tử khí hùng luôn bất tử/ …Đội
trời, đạp đất, sống hiên ngang, hay Cương quyết không tha bọn bá quyền.
Khí chất tựu thành từ nung sắt luyện thép, nếm mật nằm gai của
dân Việt khiến ngọn bút có thần của Mặc Giang lại như thêm Phù Đổng
vươn mây:
Dõng dạc tuyên ngôn Nước Việt Nam
Hùng anh lẫm liệt giống da vàng
Hiên ngang bất khuất không hề khiếp
Quật khởi quật cường chống ngoại xâm
Ðọc Mặc Giang, cho thấy chất tình và chất khí trong
thơ ông là chất men, là chất xúc tác của thi ca. Tình cảm và thần
khínhen nhúm lên ngọn lửa ấm nồng sưởi ấm hồn thi sĩ, đồng thời cũng là huyết mạch
luân lưu bồi đắp sinh khí cho hệ tim mạch cuộc đời và thi phẩm.
Qua đó cho ta thấy, khi thi ca xuất hiện cũng là
khi tiếng nói của tình và lý lên tiếng. Thế đó, thơ ca chân chính đúng nghĩa là
tặng phẩm của tim và óc, nên sẽ đi vào lòng người ấn tượng đẹp, những rung cảm
sâu hun hút giữa cõi sắc không. Ở đó mở ra một lối về, lối về của sự minh triết
chiếu rọi trên thi đàn và nguồn tâm.
Nói chung, thơ ca bắt nguồn từ tình cảm và sự khí khái đường
đường oanh liệt. Nói cách khác, tình và thần là chủ đạo, là nòng cốt của thơ
ca. Thơ đúng nghĩa là tiếng nói trung thực, là bạn tri âm của tâm hồn thi nhân
khí tiết. Tình cảm và rung động là khởi điểm của sáng tạo. Tình cảm không hạn
cuộc và đóng khung riêng tư mà là tình cảm của muôn người, muôn xứ. Đôi lúc hồn
thơ đặt trên lợi ích và cống hiến cho non nước, nên thơ trở nên rất có thần.
Tuy nhiên, tình được biểu hiện trong thi ca sóng đôi với lý trí. Lý trí để nhận
định, tình cảm để bày tỏ cảm xúc. Hồn thơ càng sáng, lý trí trong thơ càng rõ,
và tình cảm cũng không thua kém vậy.
Chúng ta và thế hệ tương lai cần biết gìn giữ và bảo lưu giá
trị văn hoá tinh thần của dân tộc. Ngay giờ nên xác định vai trò thơ ca trong nền
văn hoá nước nhà để có nhận định và hành động đúng trong việc chọn lựa những
giá trị thiêng liêng của văn học và văn hóa.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét