Tào Tháo: Chân dung lịch sử
và hình tượng văn học
Tào Tháo là nhân vật lịch sử Trung quốc thời tam quốc. Xung
quanh nhân vật này có không biết bao nhiêu câu chuyện bàn cãi. Nổi lên từ nhiều
trăm năm, Tào Tháo là hiện diện của những gì nham hiểm, đa nghi quỷ quyệt. Tào
Tháo, đồng thời cũng là một hình tượng văn học trên sân khấu, điện ảnh và tác
phẩm “Tam quốc chí”,”Tam quốc diễn nghĩa”…đánh giá về vai trò của ông có quá
nhiều công trình với những tác giả nổi tiếng. Dưới đây chúng tôi tổ chức lựa chọn
và biên tập hiệu đính, nhuận sắc thêm, nhằm liên kết những nhận định đánh giá ấy
thành bài viết với mục tiêu giới thiệu về con người nhân vật này với tư cách
chân dung lịch sử và hình tượng văn học.
1- Tóm lược bối cảnh thời kỳ Tam quốc.
Trung Quốc thời kỳ từ năm 190 đến năm 220,
được đánh dấu bởi sự hỗn loạn của các cuộc giao tranh giữa các phe phái trong rất
nhiều khu vực trên lãnh thổ Trung Quốc. Phần giữa của giai đoạn này, từ năm 220 đến
năm 263, được đánh dấu bằng sự giao tranh quân sự và ngoại giao của ba quốc gia
thù nghịch còn lại là Nguỵ, Thục và Ngô. Phần cuối cùng của thời
kỳ này được đánh dấu bằng việc Ngụy tiêu diệt Thục (năm263), nhà Tây Tấn thay
thế Ngụy (năm 265), và Tấn tiêu diệt Ngô (280).
Thời kỳ Tam quốc này cũng là một trong những thời kỳ đẫm máu
nhất trong lịch sử Trung Quốc. Điều tra dân số cuối thời kỳ nhà Đông Hán cho
con số là khoảng 56 triệu người, trong khi đó điều tra dân số trong thời kỳ đầu nhà
Tây Tấn (sau khi Tấn thống nhất Trung Quốc) chỉ còn khoảng 16 triệu người.
Cho dù con số thống kê có thể có sai số lớn nhưng hoàn toàn đủ cơ sở để nói rằng
phần lớn dân số đã chết trong thời kỳ này vì các cuộc chiến tranh liên
miên.
2.1. Những nhận định đánh giá của các sử gia và các nhà chính
trị Trung Quốc
Tào Tháo sinh vào năm Đông Hán Vĩnh Thọ nguyên niên (155), mất
vào năm Kiến An thứ 25 (năm 220 SCN. Tào Tháo là nhân vật lớn có vai trò quan
trọng trong lịch sử Trung quốc cổ đại. Trong “Tam quốc chí”- Tác giả Trần
Thọ đánh giá Tào Tháo là “con người phi thường, kiệt nhân xuất thế”. Thiên đầu
tiên là “Vũ Đế kỷ” dài khoảng hơn một vạn ba ngàn chữ thuật lại một cách khách
quan những đóng góp của Tào Tháo trong mấy chục năm chinh chiến thống nhất
Trung Hoa rối ren chiến trận. Con người ấy đến khi chết vẫn chỉ là “Nguỵ Vương”
chứ chưa bao giờ xưng đế. Sau khi Tào Tháo qua đời, con là Tào Phi lên kế
ngôi Nguỵ Vương. Tào Phi ép Hán Hiến Đế Lưu Hiệp nhường ngôi, Tào
Phi trở thành hoàng đế đầu tiên của vương triều Nguỵ ( Nguỵ Văn Đế). Chính Tào
Phi truy phong cha mình Tào Tháo là Nguỵ Vũ Đế.
Khách quan nhìn nhận, Tào Tháo là một chính trị gia lỗi lạc,
một nhà lãnh đạo giỏi, nhà quân sự có tài. Ông là người luôn hoạt động, dám nói
dám làm. Nhà lãnh đạo ĐCS Trung Quốc Mao Trạch Đông khâm phục Tào Tháo nhất
trong các đế vương Trung Quốc và gọi ông là “vua của các vua”.
Tư trị thông giám (Tzuchih T’ungchien) là một cuốn biên niên
sử quan trọng của Trung Quốc, với tổng cộng 294 thiên và khoảng 3 triệu chữ. Bộ
sách đã được đóng vào 10 chiếc hòm được trang trí chạm trổ lộng lẫy
và các tác giả đã thân chinh áp tải từ Lạc Dương đến Biện Kinh, dâng lên Tống Thần Tông. Tác giả chính của cuốn sử này
là Tư Mã Quang – nhà sử học thời Tống. Bộ sách là kết
quả lao động cật lực của các tác giả sau 19 năm. Lưu Ban soạn về giai đoạn Lưỡng
Hán, Lưu Thứ soạn giai đoạn Lưỡng Tấn, Nam Bắc triều Phạm
Tổ Vũ soạn giai đoạn Tuỳ
Đường, Ngũ đại. Khi đọc cuốn sách phần viết về thời kỳ Tam quốc, Mao Trạch
Đông đã viết, “Tào Tháo thống trị miền Bắc Trung Quốc, sáng lập nước Nguỵ,
ông đã cải cách nhiều hủ hoá trong triều Đông Hán, áp chế cường hào, phát triển
sản xuất, thực hiện chế độ tuân điền, còn đôn đốc khai hoang, cho thực thi pháp
chế, đề xướng tằn tiện, biến một xã hội đã bị phá vỡ nghiêm trọng bắt đầu đi
vào ổn định, khôi phục, phát triển. Ngần ấy chẳng lẽ không đủ để khẳng định, chẳng
lẽ không phải là tài cán phi thường hay sao?
Nói Tào Tháo là gian thần mặt trắng ấy là bản án oan mà quan
niệm chính thống của nền chính trị phong kiến đã tạo tác nên, bản án này cần phải
được lật lại.”
Tào Tháo đã vận dụng linh hoạt các phép tắc quân sự của Trung
Hoa cổ đại. Trong thời gian 25 năm (196-220), Tào Tháo đã bình định hết các lộ
chư hầu phương bắc, xây dựng chính quyền Tào Ngụy. Để có được như vậy, ông đã
sáng suốt chọn người tài, rộng lượng không tính đến thù riêng.
Trong hoạt động chính trị, Tào Tháo đã vận dụng khá nhiều tư
tưởng Pháp gia, đề cao tài trí, coi trọng năng lực mà không quá quan tâm đến đạo
đức phẩm chất của người được sử dụng. Đây là một liều thuốc rất công hiệu, có
hiệu quả vô cùng lớn trong việc cai quản, sửa đổi cục diện lỏng lẻo từ cuối thời
Đông Hán trở lại. Đây chính là một điểm khác biệt giữa Tào Tháo và Khổng Minh.
Khổng Minh tuyển tướng phải vẹn toàn tài đức mới dùng làm cho nhiều nhân tài
chưa vẹn toàn chạy sang Tào Tháo. Những trường hợp bất đắc dĩ phải dùng
nhưng hỏng việc ông đều chém cả (Mã Tốc), hoặc phòng thủ sẵn mưu kế diệt trừ mầm
hoạ từ nhiều năm trước (Nguỵ Diên) Ông cũng quá cẩn thận khi dùng người, làm
cho các tướng giảm thiểu khả năng linh hoạt và bị lệ thuộc vào các mưu kế của
ông.
Ngoài đóng góp về chính trị và quân sự, phải kể tới đóng góp
trong khôi phục nông nghiệp thời loạn lạc của Tào Tháo. Thời chiến loạn, nhiều
chư hầu không nghĩ tới sự sống chết của nông dân: khi cần lương thực thì lùng sục
để giành lấy, nhưng sau khi có được lại phung phí, đến nỗi khi không còn lương
thực để cướp đoạt thì tự suy yếu tan rã, điển hình trong số đó là Viên Thuật.
Trong khi nhiều phe quân phiệt chỉ dùng chính sách cướp đoạt của nông dân thì
chính sách đồn điền của Tào Tháo đã góp phần khôi phục nông nghiệp bị tàn phá,
vừa giải quyết đời sống nông dân, vừa đảm bảo lương thực cho quân đội của ông.
Chính điều đó là một trong những yếu tố quan trọng làm nên chiến thắng của Tào
Tháo ở trung nguyên. Đông Ngô, Thục Hán sở dĩ cũng có đủ thực lực, giữ được thế
cân bằng với Tào Tháo và con cháu ông sau này nhờ sớm học tập chính sách phát
triển đồn điền với mô hình tương tự của Tào Tháo trong khu vực mà họ quản lý..
“Nhân dân nhật báo”- Cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản
Trung Quốc trong số ra ngày 23 tháng 3 năm 1959, tải bài viết của viện trưởng
Viện khoa học Trung Quốc với đầu đề “Thay Tào Tháo lật lại hồ sơ”. Quách Mạt
Nhược, tác giả bài báo đã phân tích chỉ ra những đóng góp to lớn của Tào Tháo
trong thống nhất Trung Quốc chấm dứt một thời kỳ nội chiến đẫm máu. Ông cho rằng:
“Tào Tháo đã phải làm tấm gương của kẻ phản diện hơn một ngàn năm đầy oan uổng”.
Nhà lịch sử nổi tiếng Tiễn Bách Tán, trên tạp chí “Sử học” lúc bấy giờ cũng viết
phải khổi phục lại danh dự cho Tào Tháo.
2.2. Nhìn nhận vai trò của Tào Tháo ngay trong chính
“Tam quốc diễn nghĩa”
* Tào Tháo là một vị tướng kiệt xuất trong cuộc chiến Tam Quốc.
Tào khác biệt hẳn với các tướng trong giai đoạn đầu Tam quốc
là mưu lanh, năng động, quyền biến. Nuôi lòng hận thù với Đổng Trác, giết hụt
y, nhưng vẫn quyền biến để rồi chạy thoát. Mưu sự từ tay trắng, nhưng nhanh
chóng thành công thống trị đại cục. Đối với tài quân sự của ông, Mao Tôn Cương, nhà phê
bình tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa, thừa nhận rằng:
Việc binh của Tôn Quyền do Đại đô đốc quyết đoán. Việc quân của
Lưu Huyền Đức do quân sư quyết đoán. Chỉ có Tào Tháo là tự tay nắm quyền hành
quân, một mình quyết đoán. Tuy rằng có các mưu sĩ giúp mưu, nhưng phần quyết định
cuối cùng bao giờ cũng do Tháo. Tháo rỏ ra xuất sắc hơn hẳn bề tôi. Thế thì Lưu
Bị, Tôn Quyền không thể ví được với Tháo vậy. Cứ xem mỗi lần Tháo dự định mật kế,
ban đầu các tướng đều không hiểu, sau khi thành công, các tướng mới thán phục.
Đường Thái Tông có đề trên mộ Tháo rằng: “Nhất tướng chi trí hữu dư. Lương
nhiên! Lương nhiên”
Trong thủ thuật cầm quân Tháo khéo léo trong vận dụng phép tắc
nhà binh với kế thu nhận lòng người, nên những chuyện về Ông có người khen chê,
nhưng tính hiệu quả là vô cùng cao. Có thể điẻm một số viẹc làm như vậy của Tào
Tháo.
Dùng tóc thay thủ cấp là một thủ đoạn tự kiểm điểm, tự
trừng phạt công minh, dù hàm ẩn sự dối lừa. Do phải hành quân qua một ruộng
lúa nên Tào Tháo căn dặn không ai được làm tổn hại dù chỉ là một nhành lúa trên
cánh đồng. Nhưng con ngựa của Tào Tháo sau đó lại bị bầy chim đang ăn trên ruộng
lúa chợt bay vút lên khiến nó hoảng sợ giẫm đạt nát một góc ruộng, Tào Tháo rút
gươm kề cổ mình trong tư thế chuẩn bị tự sát thì quan quân xúm lại can ngăn,
ông bèn cắt chỏm tóc trên đầu và nói “ta tạm tha tội cho mình, nhưng dùng tóc để
thay đầu”. Đây cũng là một trong những kỹ xảo chính trị của Tào Tháo. Thực
tế, Tháo biết không ai để mình chết cả, bởi chết thì coi như tàn cuộc. Thủ đoạn
này giống như Lưu Bị quẳng A Đẩu thu phục anh hùng vậy. Nhưng xét về góc quản
lý đây là hành động mẫu mực ,tự xử nghiêm với mình để thu về kết quả muôn người
noi theo, nhờ đó mà luật hành quân được thực hiện.
Thủ đoạn dối lừa nhất thời của Tào, mang tính “Bá đạo” nhưng
đem lại hiệu quả cao ví như chuyện mượn thủ cấp để mua lòng quân. Trong một lần
đánh chiếm thành trì, do không đủ lương thực nên ông đã sai người cấp phát
lương thực làm cái đấu đong gạo nhỏ lại để đong ít số gạo kéo dài thời gian,
sau đó ông đổ tội cho viên quan trông coi việc cấp phát là Vương Hậu rồi đổ tội
cho Hậu, chém đầu để trấn an lòng quân. Vì việc làm trên Tào Tháo đã trả công
cho sự hy sinh oan uổng của viên quan ngày đó bằng cách nhận phụng dưỡng suốt đời
gia đình của ông ta. Tương tự như câu chuyện hành quân dưới trời nóng khô
khát, Tháo đã trỏ roi mà nói, “trước mặt có một rừng mơ!” xảo trá này trong
dùng binh đã nuôi một hy vọng gần cho binh sĩ phấn chấn tinh thần. Về mặt khoa
học, mơ chua tác động vào trung ương thần kinh tạo phản xạ có điều kiện tứa nước
miếng làm dịu phần nào cơn khát.
Việc Tào bỏ qua những nỗi lầm của thuộc hạ được xem xét như
hành động cao thượng có tác động tâm lý kính sợ rất mạnh.Trong Trận Quan Độ,
Tào Tháo phá tan đại quân Viên Thiệu. Thiệu thu tàn quân bỏ chạy qua sông Hoàng
Hà, trong lúc vội vã hoảng sợ, công văn giấy tờ bỏ lại hết. Tào Tháo kéo tới, bắt
được đống công văn đó. Nghe báo cáo của cấp dưới, ông biết trong đống công văn
có nhiều thư từ của những người cấp dưới mình từng tư thông với Viên Thiệu. Các
thuộc hạ của ông đề nghị nên đối chiếu tên từng người để về Hứa Xương sẽ bắt trị
tội. Nhưng Tào Tháo xua tay, ra lệnh hãy đốt cả đi. Mọi người ngạc nhiên hỏi vì
sao, ông bảo:Khi Viên Thiệu mạnh, ta yếu, ngay cả ta lo giữ mình còn không
xong, huống chi là người khác? Sự độ lượng của Tào Tháo khiến những người
cấp dưới vô cùng khâm phục, những người từng manh tâm phản ông cũng hết sức cảm
kích. Về điểm này, nhiều chính trị gia đương thời và sau ông chưa thể so sánh
được.
Một trong những ưu điểm của Tào Tháo là biết nhìn người và rất
biết cách dùng người. Trong quá trình chinh chiến, Tào Tháo đã thu phục được
nhiều hào kiệt cả văn lẫn võ làm người hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển cơ nghiệp
của mình. Sở dĩ như vậy vì ông khéo lấy lòng họ. So với Tôn Quyền và Lưu
Bị, hàng ngũ tướng sĩ của Tào Tháo đông và mạnh hơn… Lực lượng hùng hậu đó giúp
Tào Tháo luôn ở thế mạnh hơn trong những trận giao tranh với phe Lưu Bị và Tôn
Quyền.Trong bài Tam Quốc diễn ca cuối tác phẩm, La Quán Trung viết về ông:
Tào Tháo mới gian hùng quỷ quyệt
Khéo dùng người, thu hết anh hào
Đường đường tướng phủ ngôi cao,
Uy quyền hống hách ai nào dám đương?
Một việc điển hình là trong trận Uyển Thành, Tào Tháo mất con
cả Tào Ngang, cháu Tào An Dân và tướng Điển Vi; nhưng tới khi nhớ tới trận này,
ông khóc Điển Vi nhiều hơn cả. Trongtrận quan độ, khi Hứa Du bỏ Viên Thiệu sang
theo hàng, ông không kịp xỏ giày mà đi chân đất ra đón.
*Tào Tháo có một vai trò lịch sử quan trọng thời Tam quốc.
Trong tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa, nhà văn La
Quán Trung ca ngợi Lưu Bị, và xem Tào Tháo là vai phản diện. Trong tiểu
thuyết, Tào Tháo được mô tả có hình dáng “cao 7 thước”, “mắt nhỏ râu dài”. Tam
Quốc Diễn Nghĩa mô tả Tào Tháo có những cá tính khá nổi bật: gian xảo, đa
nghi, tàn bạo nhưng cũng rất thông minh, nhiều mưu mẹo quyền biến. Dù không ủng
hộ Tào Tháo, coi ông là “giặc nhà Hán” nhưng La Quán Trung – qua nhận
xét của những nhân vật trong truyện – không phủ nhận vai trò của ông đối với
giai đoạn lịch sử loạn lạc, thậm chí thừa nhận ông được nhân dân coi là ứng với
“thiên mệnh”. Dưới đây, chúng tôi xin trích dẫn những tình tiết truyện, trong
đó các nhân vật của “Tam quốc diễn nghĩa” tự nói về Tào Tháo.
Hứa Thiệu – một người giỏi tướng số nhận định Tào Tháo: Thời
trị, ông là bầy tôi giỏi; Thời loạn, ông là kẻ gian hùng. Tào Hồng liều mạng
hộ vệ cho Tào Tháo rút lui khi bị thua Đổng Trác, trong lúc nguy cấp nói với
ông: “Thiên hạ có thể không có tôi nhưng không thể không có ông!”
Tào Tháo bình định Hà Bắc của Viên Thiệu, các bô lão ra đón
xưng tụng rằng: “Thời vua (Hán) Hoàn Đế có người giỏi xem thiên văn là Ân Quỳ
đoán rằng: sau 50 năm sẽ có vị chân nhân nổi lên ở vùng Lương Bái, cứu giúp
thiên hạ, tính thời gian đến nay thì người đó chính ứng với thừa tướng. Từ nay
thiên hạ thái bình rồi”…
Đánh giá về tài năng chính trị của Tào Tháo, nhà nghiên cứu
Tào Hồng Toại viết:“Tào Tháo là nhà chính trị kiệt xuất thời phong kiến, xứng
đáng được gọi bằng hai chữ “anh hùng”, mà tính cách nhiều mặt thể hiện ra bằng
sự tàn nhẫn thiếu tính nhân ái, đó chính là sự bổ sung hiệu quả cho thuộc tính
gian hùng của ông”.
Chọn điểm dừng thích hợp, cũng là một yếu tố khẳng định
Tào giỏi về mặt chính trị. Năm 216, Tào Tháo gần như lùi hẳn về Bắc củng cố
thế lực rồi dâng biểu ép vua phải phong mình là Ngụy Vương để có đủ uy quyền mà
trấn áp quân Đông Ngô. Có tướng hỏi sao ông “không lập quốc và xưng đế”? Tào
Tháo chỉ nói: Trải qua bao năm chiến chinh hy vọng giữ vững giang sơn bờ
cõi nhà Hán. Nay được làm đến chức Ngụy Vương, đã mãn nguyện lắm rồi, nếu có
thì chỉ mong được như Chu Văn Vương ngày xưa thôi chứ nào ham gì chức vị đế
vương?. Chu Văn Vương (1090 – 1050 TCN), họ Cơ Tên Xương, người đất U
(nay thuộc Thiểm Tây), là người xây nền móng triều đại nhà Chu. Việc Tào
Tháo so mình với Tây Bá Hầu Cơ Xương đời nhà Chu vì ông không muốn mang tiếng
soán ngôi nhà Hán, nhưng đã sắp đặt cho con cháu mình sẽ là người kế tục sự
nghiệp đế vương sau này.Làm việc này Tháo chọn cho mình một uy tín chính trị an
toàn. Bỏ cái danh hão, nhận cái lợi thực mà không hề mang tiếng. Cách nhìn này
sâu rộng cho đến đời sau cũng khó mà phê phán được.
3. Vi sao Tào Tháo bị nhìn nhận oan uổng.
Khi nhìn nhận đánh giá một chân dung chính trị rất khó khăn bởi
có nhiều yếu tố chi phối. Đầu tiên là nội bộ của giai cấp thống trị có những
xung đột quan điểm với nhau; hoặc do cách nhìn phiến diện, cách đánh giá thiên
lệch căn cứ vào những phạm trù đạo đức cố hữu nào đó; có khi là do âm mưu lợi dụng
hình ảnh này để xây biểu tượng hoặc để răn đe… nhưng điều ấy làm cho chân dung
bị méo mó đi. Hầu hết các vĩ nhân đương thời ít được ngợi ca mà thời gian và lịch
sử phán xét công bằng hơn. Nhân vật Tào Tháo cũng vậy. Sau thời kỳ phong kiến,
những nhà chính trị đỏ Trung hoa, những nhà nghiên cứu lịch sử đã có cái nhìn
khách quan hơn về nhân vật này.
*Về con người Tào Tháo : Tào Tháo hùng tài đại lược,
dũng cảm mưu trí hơn người nhưng cũng là người đa nghi, nham hiểm và tàn nhẫn…
Ông đã dung hợp được 3 loại Pháp – Thuật – Thế trong tranh giành quyền lực, đồng
thời có thể vận dụng linh hoạt, hay thay đổi. Đây là một tính cách đặc trưng…
Chính vì tính cách con người Tào Tháo rất nhiều mặt nên đời sau cũng có những
đánh giá về ông rất khác nhau.Tuy nhiên, cũng bởi Tào Tháo đi theo con đường bá
đạo, trọng lợi hơn trọng đức; dùng người cốt hiệu quả không tính đến phẩm chất
đã gây ra những “tác dụng phụ” có liên hệ mật thiết đến sự suy vong nhanh chóng
của triều đại Tào Ngụy sau này. Mầm quyền lực của cha con họ Tư Mã nhen nhóm,
không lâu sau đã lấy ngôi của con cháu Tào Tháo như cách ông đã dần dần lấy
ngôi của nhà Hán. Nhà Tấn thống nhất được toàn thiên hạ sau này, phần lớn
là thụ hưởng cơ nghiệp mà Tào Tháo đã xây dựng.
*Tào Tháo vi phạm tư tưởng nho giáo “trung quân” nên bị các
triều đại vùi dập. Kìm kẹp Thiên tử, dùng danh nghĩa mà hạ lệnh cho kẻ dưới:
bậc đế vương thời hậu thế khó xét cho xuôi. Có thể nói, tài trí của Tào Tháo vượt
xa Tôn Quyền, Lưu Bị và Gia Cát Lượng, không hổ danh là nhất đại anh hùng giữa
thời loạn thế. Những thành tựu trác việt của ông trong tất cả các mặt chính trị,
ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn học có công lao không thể phủ nhận. Đặc
biệt trong chính sách tôn trọng trí thức và trọng dụng nhân tài, những cống hiến
của ông xứng đáng được học hỏi, mang ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa hiện thực sâu sắc.
Lại nhờ sức hút tỏa ra từ nhân vật này mới có thể khiến hàng trăm văn nhân võ
tướng biết tên biết mặt của thời bấy giờ đều tới quy tụ dưới trướng ông, chúng
ta sẽ cùng phân tích cách đối nhân xử thế của Ông.
Trong xã hội phong kiến mấy ngàn năm, đối nhân xử thế khó xử
lý nhất là quan hệ quân thần. Cái lẽ làm bạn vua như cưỡi trên lưng hổ, vua muốn
bề tôi phải chết, bề tôi không thể không chết, ấy là quan niệm luân lý thời
phong kiến. Dù có công phò trợ lập quốc, một khi bị vua có ý hoài nghi hay mang
hận thì chỉ nội trong một đêm, thì hoạ chu di cửu tộc ập đến. Danh tướng Ngũ Tử
Tư và Hàn Tín bị chém đầu, thậm chí bị diệt đến cả ba họ sau những công trạng
hiển hách đó thôi. Vậy nên, sử sách đã viết nên câu bất hủ thế này: “tóm được
thỏ rồi chó săn cũng bị làm thịt, thiên hạ đã định xong công thần không còn đường
sống; chim bay hết thì cung nỏ cũng chẳng còn tác dụng; kẻ địch bại,mưu thần tất
vong”. Đó là lời sấm truyền về quan hệ quân thần.
Đứng trước cảnh nước nguy nan, Tào Tháo cảm nhận rõ thiên tử
là một nhân vật nguy hiểm, nhưng cũng lại là nhân vật trọng yếu mà một quốc gia
thống nhất cần phải có. Do vậy thoạt tiên ông đem vị tiểu hoàng đế mới vỏn vẹn
có 16 tuổi Lưu Hiệp (sử gọi là Hán Hiến Đế) đưa đến căn cứ địa của mình là Hứa
Xương, thực hiện chính sách “phụng mệnh Thiên tử để ra lệnh”, đây chính là điều
mà hậu thế cho rằng đó là cách Tháo: “kìm kẹp thiên tử, dùng danh nghĩa mà phát
lệnh cho kẻ dưới”. Cách hành xử chính trị này của ông biến Thiên tử thành biểu
trưng hình tượng của quốc gia, bản thân mình thì nắm đại quyền chính trị quân sự
của triều đình, khó tránh khỏi điều tiếng mà lịch sử gán cho. Trong khi ấy thì,
một đời Lưu Hiệp sống cảnh Thiên tử an bình, sống cho tới tận 15 năm sau khi
Tào Tháo chết, Ngũ trượng nguyên quân mới già lão mà tạ thế.Nhà sử học nổi tiếng
của Đài Loan – Trung Quốc là Bách Dương mới gọi ông ta là “Hoàng đế cuối triều
may mắn nhất trong lịch sử Trung Quốc”.
Nhưng cách hành xử ấy của Tào Tháo đã uy hiếp nền chính trị của
vương triều phong kiến. Do vậy từ triều Tống trở về sau, các hoàng đế trong lịch
sử ít khi khen ngợi Tào Tháo, ngược lại, Quan Vũ được xem là hoá thân của con
người trung nghĩa, được đưa lên tôn sùng tột bực. Vua Càn Long đời Thanh thậm
chí còn phong Quan Vũ làm Quan Đế, lập đền thờ cúng ở khắp nơi. Có thể nói, việc
này mang nhiều ý tứ tuyên truyền cho cương thường luân lý phong kiến. Đặc biệt
là tới hoàng đế Càn Long triều Thanh, khi đặt cho Tào Tháo cái danh “thoán nghịch”,
mặt khác lại xây Miếu Quan Đế cho Quan Vũ. Cách nhận định đánh giá kiểu
quan phương chính thức này từ đó đã trở thành một giới luật chính trị vô hình của
triều Thanh.
*Vi phạm tư tưởng nho giáo “Dân vi quý”. Tào Tháo có
quan điểm: Thà ta phụ người chứ không để người phụ ta. Quan điểm này
hoàn toàn trái ngược với chủ trương của Lưu Bị: “thà chết chứ không làm điều bất
nghĩa”, chính vì vậy Tào Tháo luôn e dè và xem Lưu Bị là kẻ thù nguy hiểm nhất
của mình. Với quan niệm này, sau khi giết nhầm người nhà Lã Bá Sa vì thấy
họ mài dao giết lợn thì tưởng họ định giết mình, ông đã nhẫn tâm giết nốt Bá Sa
vì sợ Bá Sa đi tố cáo. Trong nhiều bộ sách binh pháp tư tưởng “Dân làm gốc”,
không phải lúc nào cũng thực hiện triệt để. Có lúc chọn “Quân làm gốc”, vì nếu
không có quân thì mất nước lập tức. Tào Tháo đã “hoạt” khi sử dụng những chiêu
pháp tàn độc để giữ quân và giữ thân. Về mặt lâu dài là sai lầm, nhưng về mặt
thời điểm tình thế thì vẫn có những tác dụng. Theo dõi quá trình hoạt động
chính trị và trận mạc của Tào, nhiều lần thấy xuất hiện những cách ứng sử độc
như vậy của Ông, nhưng tất cả đều là tình huống. Thực tế trên đại cục Tháo vẫn
lo cho dân chúng. Cũng có thể trong một khía cạnh nào đó, Tháo ảnh hưởng của lý
thuyết “Chăn dân” của Nho giáo. Bản chất từ “Chăn”, bộc lộ quan niệm của giai cấp
thống trị coi dân như gia súc vậy. Khi ăn lo thì lười nhác,cho học nhiều
thì tạo phản, ăn đói thì nổi loạn… Bởi vậy, sinh mạng một người dân không phải
là điều gì quá ghê gớm. Trần Khánh Dư (Thời Trần) của Việt Nam đã nói “ Tướng
như hổ báo, quân như gà vịt. Giết một vài con gà vịt cho hổ ăn thì đã sao”. Điều
quan trọng là việc làm ấy của Tháo làm tổn hại đến dân, và dân là số đông nên
không chỉ dư luận lan truyền trong không gian thời gian ,mà ông đã tựđối
lập vớiq uyền lợi của một giai cấp đông đảo. Bởi vậy cái ông đạt được ít
được công nhận và cái ông vi phạm dễ bị xuyên tạc thêm và lan truyền.
*Tác phẩm với vai trò truyền bá định hướng thông tin,
nên Tào Tháo chịu sự ảnh hưởng lớn trong cách nhìn nhận của nhân dân các thời kỳ
lịch sử.
Kinh kịch là quốc tuý của Trung Quốc, có thanh thế lớn cả ở
trong và ngoài nước, vô số khách nước ngoài cũng chỉ vì kinh kịch mà tới Trung
Quốc để tìm hiểu. Những vở trong Kinh kịch như “Xúc phóng Tào”, “Kích cổ giá Tào”
và “Từ mẫu giá Tào”, trong vở “Thăm nhà” có vai ông cụ bà cụ, hát giọng hào sảng
sôi nổi, uyển chuyển cảm động, làm cho người mê kịch nghe như ngây như dại,
nhưng những tình tiết hư cấu này không chỉ vu hại Tào Tháo mà còn hạ thấp Tào
Tháo cả về tài trí lẫn năng lực, dựng nên một hình tượng nghệ thuật đa nghi giảo
quyệt, giết người không nương tay, ngang ngược bạo hành và tự tư một cách cực
đoan. Chính hình ảnh bị bóp méo ấy được tái diễn trên sân khấu nhiều lần, trở
thành ấn tượng truyền đời cho các thế hệ người dân Trung Hoa, tạo nên nhận thức
sai lầm, phiến diện về Tào Tháo.
“Tam Quốc Diễn Nghĩa” (bản dịch của Phan Kế Bính) có lối hành
văn theo chủ nghĩa “ủng Lưu phản Tào”, tức Lưu Bị là tốt – còn Tào Tháo là giặc,
ngày nay người ta nhìn Tào Tháo với cái nhìn khách quan hơn và có rất nhiều nhận
định về ông:
Tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa bản đầy đủ từ đời nhà
Minh trở đi (bản của Mao Tôn Cương) có xu hướng ủng hộ Lưu Bị và nước Thục
cũng như quá đề cao Gia Cát Lượng mà quên đi vai trò chính của Tào Tháo trong
việc ngăn chặn cục diện đại loạn cuối thời Đông Hán. Tào Tháo đã dồn nhiều tâm
huyết vào đó, ông tuyển chọn nhân tài, chiêu đãi kẻ hiền, thậm chí làm nhiều việc
tàn bạo như “chèn ép vua Hiến Đế”, “giết thái y Cát Bình”, “treo cổ Đổng Quý
Phi đang mang long thai”, “đánh Phục Hoàng Hậu đến chết”,… tuy tàn ác nhưng đứng
về góc độ chính trị thì những việc này không thể tránh khỏi đối với Tào Tháo
khi ông muốn củng cố quyền lực của mình.
“Nhắc Tào Tháo, Tào Tháo đến liền” là câu tục ngữ trong dân
gian Trung Quốc. Câu nói này có thể hiểu rằng ông Tào Tháo này khắp cùng nam phụ
lão ấu người Trung Quốc đều thuộc nằm lòng cả. Nhưng nhận thức dân gian đối với
Tào Tháo lại chỉ gói gọn trong một đại từ “gian hùng một thời”. Nhận thức này
chủ yếu đến từ “Tam quốc diễn nghĩa”. Trong đó có viết lại một câu bất hủ của
Tào Tháo: “Thà ta phụ người trong thiên hạ, còn hơn để người trong thiên hạ phụ
ta”. Như đổ thêm dầu vào lửa, hết lượt hý kịch, bình thư, điển nghệ suốt trong
lịch sử đều dốc sức dặm mắm thêm muối, trên sân khẩu hý kịch Tào Tháo đã mang một
bộ mặt trắng toát mắt kẻ chỉ, tượng trưng cho hình ảnh tên gian thần vạn phần
gian ác.
Bản chất quản lý xã hội theo quan niệm của phương Đông có 2
xu thế cơ bản. Vương đạo: Quản lý bằng con đường công chính khoan dung nhân từ.
Bá đạo: quản lí bất chấp thủ đoạn để đạt mục tiêu. Tào Tháo thuộc trường phái
thứ 2. Tuy nhiên nếu xem kết quả quản lý làm trọng thì cách thức của Tào
Tháo mang lại những hiệu quả vô cùng lớn lao, thời gian thành công nhanh.
Đương nhiên bản chất thế giới luôn có hai mặt mâu thuẫn, nên việc đánh giá rất
khó khăn. Kết luận về Tào Tháo còn phụ thuộc vào người phán xét là người đại diện
cho ai?.
Nguyễn Đình Minh









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét