Cái bóng trăm năm luôn ám ảnh trong suy tưởng và trong cảm
xúc của Trịnh Công Sơn. Nói theo giọng phân tâm học, ông có lẽ thuộc về kiểu
nghệ sĩ mà bản năng chết (thanatos) mạnh hơn bản năng sống (eros). "Cái
nhìn", và tất nhiên, cả "cái nghe" của ông, chịu lực hút chủ đạo
không phải từ sự sinh trưởng- khoẻ khoắn - ấm áp - tươi vui, mà là từ những gì
tàn lụi - héo úa - mòn mỏi - u sầu - lạnh lẽo.
Trong chuyên luận "Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và những ám
ảnh nghệ thuật" (NXB Văn hóa Sài Gòn, 2008), nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc đã
xác quyết: "Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ, điều đó đã hẳn. Nhưng, trên và
trước hết, người nhạc sĩ đó lại chính là một thi sĩ tự trong bản chất và trong
cách thế sai sử ngôn ngữ của mình".
Diễn đạt theo cách khác, nhận định trên đã chạm tới một điều
mà hầu hết những người đã từng (hoặc sẽ) viết về người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh
đều chia sẻ: đặt giai điệu sang một bên, thì phần ca từ trong các tác phẩm của
Trịnh Công Sơn chính là những thi phẩm đích thực. Cái thế giới thi ca mang đậm
tính siêu hình của ông mở ra trước mắt chúng ta một hồn người, và qua đó, cả một
thời đại đầy biến động.
Bước vào thế giới thi ca ấy, ta sẽ có dịp nhìn trở lại thực tại
bằng chính cái nhìn mà thi nhân đã hướng về thực tại. Và thêm nữa, ta sẽ có thể
nắm được thực tại bằng chính những âm vọng mà thi nhân đã nghe ra từ thực tại,
theo một cách thật đặc biệt của riêng ông.
Giai đoạn sáng tác sung sức nhất và nhiều thành tựu nhất của
Trịnh Công Sơn, không hồ nghi gì nữa, là những năm tháng chiến tranh. Sống
trong lòng cuộc chiến, dẫu có căm ghét và chối bỏ nó đến đâu, ông vẫn phải chịu
đựng sự hiện hữu của nó. Những tập "Ca khúc da vàng", "Phụ
khúc da vàng", "Kinh Việt Nam", "Ta phải thấy mặt trời"
chính là những trải nghiệm đau thương mà chiến tranh đã in hằn trên cuộc đời và
trong tâm hồn ông.
Tiếng súng nổ, tiếng đại bác gầm, tiếng mẹ khóc con tử nạn,
tiếng người hấp hối... đó là những âm thanh thảm khốc mà không một người Việt
Nam nào sống ở thời ấy không nghe ra. Chúng cũng ngập đầy trong các ca khúc về
đề tài này của Trịnh Công Sơn. Nhưng, đôi khi chúng vang lên thật lạ lùng: "Đại
bác đêm đêm dội về thành phố/ Người phu quét đường/ Dừng chổi đứng nghe/ Đại
bác đêm đêm tương lai rụng vàng/ Đại bác như kinh không mang lời nguyện/ Trẻ
thơ quên sống/ Từng đêm nghe ngóng... Đại bác đêm đêm ru da thịt vàng/ Đại bác
nghe quen như câu dạo buồn/ Trẻ con chưa lớn để thấy quê hương" (Đại
bác ru đêm).
Tiếng đại bác trong thính trường của Trịnh Công Sơn - ít ra
là ở ca khúc này - không hề mang vẻ hăm dọa khủng bố. Trái lại, nó có giai điệu,
nó du dương, nó gần gụi và quen thuộc, nó gắn liền với đời sống và tạo thành nhịp
sống của con người! Nhạc sĩ - thi sĩ họ Trịnh định làm lạ hóa cảm nhận của công
chúng bằng cách nói ngược chăng? Không phải.
Bằng "cái nghe" riêng có của mình, ông đã bộc lộ một
sự thật tàn nhẫn: chiến tranh làm mòn mỏi, làm đờ đẫn, làm mụ mị, làm tê liệt
con người; con người bị đẩy vượt lên trên nỗi sợ, con người đánh mất cảm giác sợ
hãi trước tiếng gầm của đại bác, con người chỉ còn là những tấm bia thịt vô tri
mà đạn pháo có thể “viếng thăm” bất cứ lúc nào!
Chiến tranh, chết chóc, thịt nát xương tan đã để lại vết tích
trong ca từ của Trịnh Công Sơn với những hình ảnh đau đớn: "Một chiếc xe
tang/ trái mìn nổ chậm/ người chết hai lần/ thịt da nát tan" (Ngụ ngôn mùa
đông), "một buổi sáng mùa xuân/ một đứa bé ra đồng/ đạp trái mìn nổ
chậm/ xác không còn đôi chân", "người con gái chợt ôm tim mình/ trên
da thơm vết máu loang dần" (Người con gái Việt Nam da vàng) v.v...
Sự sống trở nên quá đỗi mong manh trong guồng máy chiến
tranh. Lằn ranh giữa sinh và tử của đời người trở nên vô nghĩa như một tiếng cười
nhạo. Thực tại ấy, được thêm sức đẩy của ngọn triều tư tưởng về cái phi lý từ Âu
- Mỹ tràn sang, đã đưa Trịnh Công Sơn tới rất gần quan niệm về sự hư ảo của
nhân sinh và những nỗi đau khổ khôn cùng của phận người - như nó từng được thể
hiện đậm đặc trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều ở thế kỷ
XVIII.
Ông luôn nghe thấy những âm thanh của một thứ định mệnh tàn nhẫn đè nặng lên thân phận con người: "Nghe xót xa hằn lên tuổi trời/ Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi/ Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người"(Gọi tên bốn mùa). Ông đặc biệt nhạy cảm với những tiếng gọi của trăm năm - hư vô - cái chết: "Đêm ta nằm bóng tối che ngang/ Đêm ta nằm nghe tiếng trăm năm/ Gọi thì thầm, gọi thì thầm, gọi thì thầm/ Đêm nghe trời như hú như than/ Ta nghe đời như có như không/ Còn lại mình, đời bồng bềnh, đời buồn tênh" (Còn có bao ngày).
Ông luôn nghe thấy những âm thanh của một thứ định mệnh tàn nhẫn đè nặng lên thân phận con người: "Nghe xót xa hằn lên tuổi trời/ Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi/ Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người"(Gọi tên bốn mùa). Ông đặc biệt nhạy cảm với những tiếng gọi của trăm năm - hư vô - cái chết: "Đêm ta nằm bóng tối che ngang/ Đêm ta nằm nghe tiếng trăm năm/ Gọi thì thầm, gọi thì thầm, gọi thì thầm/ Đêm nghe trời như hú như than/ Ta nghe đời như có như không/ Còn lại mình, đời bồng bềnh, đời buồn tênh" (Còn có bao ngày).
Khi hắt cái nhìn từ Kinh Thánh lên hạt bụi - người, ông nghe
thấy: "Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi" (Cát bụi). Tiếng động
không được gọi tên, song nó chẳng hề mơ hồ: đó là tiếng thời gian cầm canh đưa
người từ bờ sống sang bờ chết, đó là tiếng chuông gọi hồn đều đều nhẫn nại! Bởi
thế, không khó hiểu khi chợt bắt được một âm thanh rất đỗi bình thường của đời
sống thực - tiếng ru - ảo giác về cái chết của chính mình đã ập đến với ông:
"Về trong phố xưa tôi nằm/ Có lần nghe tiếng ru bên vườn/ Chợt như xác
thân không còn/ Và cạnh tôi là đồng vắng" (Lời thiên thu gọi). Cái bóng
trăm năm luôn ám ảnh trong suy tưởng và trong cảm xúc của Trịnh Công Sơn. Nói
theo giọng phân tâm học, ông có lẽ thuộc về kiểu nghệ sĩ mà bản năng chết
(thanatos) mạnh hơn bản năng sống (eros). "Cái nhìn", và tất nhiên, cả
"cái nghe" của ông, chịu lực hút chủ đạo không phải từ sự sinh trưởng-
khoẻ khoắn - ấm áp - tươi vui, mà là từ những gì tàn lụi - héo úa - mòn mỏi - u
sầu - lạnh lẽo.
Chắc chắn rằng không có mấy nhạc sĩ, thi sĩ Việt nghe được tiếng
của thời gian theo cách mà ông đã nghe: "Từng lời tà dương là lời mộ địa"
(Một cõi đi về) - đó là tiếng hấp hối của một ngày; "Người chia tay
nhau cuối đường/ Ngày đi đêm tới/ Nghe tiếng hư không" (Nghe những tàn
phai) - đó là âm thanh vô vị và "rỗng nghĩa" của sự chuyển tiếp thời
gian.
Và, nếu mùa thu với sắc nắng vàng đã làm say đắm bao tâm hồn
nghệ sĩ khác, họ chờ đón "những mùa thu tới", thì Trịnh Công Sơn lại
chỉ thấy "những mùa thu đi", ông nghe ra ở sự đi của những mùa thu ấy
cái chết của thời gian và sự chết dần của đời người: "Nhìn những mùa thu
đi/ Em nghe sầu lên trong nắng/ Và lá rụng ngoài song/ Nghe tên mình vào quên
lãng/ Nghe tháng ngày chết trong thu vàng" (Nhìn những mùa thu đi).
Một cách tất yếu, như là định mệnh, con người hướng theo tiếng
gọi của cái bản năng chết ấy sẽ phải là một con người cô đơn, tuyệt đối cô đơn,
bất chấp ý chí muốn nối kết với đời sống, với tha nhân của chính anh ta. Mỗi
thanh âm của thế giới khi lọt vào thính trường của con người ấy đều trở thành một
vọng âm nói về sự cô đơn, gợi đến sự cô đơn hoặc bắt anh ta phải nhận ra sự cô
đơn. Đó là tiếng hát:"Chiều chủ nhật buồn/ Nằm trong căn gác đìu hiu/ Ôi
tiếng hát xanh xao của một buổi chiều/ Trời mưa trời mưa không dứt/ Ô hay mình
vẫn cô liêu" (Lời buồn thánh). Đó là tiếng gà trưa: "Về trên phố
cao nguyên ngồi/ Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi/ Chợt như phố kia không người/
Còn lại tôi bước hoài" (Lời thiên thu gọi). Đó là tiếng lục lạc bò: "Đàn
bò vào thành phố/ Reo buồn tiếng hạt chuông/ Một người vào thành phố/ Nghe hồn
lạnh giá băng" (Du mục). Đó là tiếng mưa như "lời ru miệt mài/
ngàn năm ngàn năm" trong ca khúc Tuổi đá buồn, tiếng mưa khiến câu hỏi
"còn ai còn ai?" bật ra não nuột như một tiếng thở dài của thi nhân
trước nỗi cô đơn trên nhân thế.
Đến đây, tôi muốn nói thêm một cảm nhận chủ quan của mình: giữa
trùng trùng âm thanh của thế giới, cùng với lời ru, dường như Trịnh Công Sơn
yêu nhất tiếng mưa. Không phải chỉ vì mưa đã giăng mịt mùng trong các ca khúc của
ông, mà còn vì tiếng mưa nhiều khi được ông dùng như một âm chuẩn để
"đo" các thanh âm khác, tiếng lá chẳng hạn. Dùng tiếng mưa
"đo" tiếng lá, ông có những ca từ tuyệt hay: "Nghe lá thu mưa
reo mòn gót nhỏ" (Diễm xưa), "Lá hát như mưa suốt con đường đi" (Em
còn nhớ hay em đã quên) v.v...
Đi tới cùng của cô đơn, Trịnh Công Sơn rút gọn toàn bộ thế giới
vào chính bản thân mình, ông nghe từ chính mình những âm vọng bi thiết của nhân
sinh: "Đôi khi ta lắng nghe ta/ Nghe sóng âm u/ Dội vào đời buốt giá/ Hồn
ta gió cát phù du bay về/ Đôi khi trên mái tình ta/ Nghe những giọt mưa/ Tình
réo tình âm thầm/ Sầu réo sầu bên bờ vực sâu" (Tình xa). Ông nghe được cả
những sóng cồn bão dông trong im lặng:"Tôi đã lắng nghe trái tim lạc loài/
Bao đêm đã qua/ Im lặng của người tôi đã lắng nghe/ Im lặng của tôi... Tôi đã lắng
nghe im lặng thở dài/ Sau cơn bão qua/ Im lặng mặt người/ Nghe bao nỗi đau trên
một bàn tay" (Tôi đang lắng nghe).
Và đây nữa, một âm thanh - âm thanh zero - mà Trịnh Công Sơn
đã nghe ra từ nhịp đập của chính trái tim mình, trái tim của một người Việt Nam
biết thổn thức biết xót xa trước những biến cố đau thương đang diễn ra hàng
ngày trên đất đai xứ sở, trên cuộc đời người Việt: "Giọt nước mắt quê
hương/ Ôi còn chảy miên man/ Ôi dòng nước mắt chảy hoài/ Dòng nước mắt đời đời/
Dòng nước mắt thương ai/ Ôi dòng nước mắt trong tim/ Chảy lai láng vào hồn/ Nửa
đêm gọi đến mình"(Giọt nước mắt cho quê hương).
Tận hiến cuộc đời mình cho nghệ thuật, Trịnh Công Sơn và các
ca khúc của ông đã tạo nên một bộ phận đầy giá trị, không thể tách rời trong
dòng chảy ca khúc trữ tình Việt Nam thế kỷ XX. Những ca khúc mang giai điệu buồn.
Buồn, đó cũng là chủ âm trong ca từ của ông. Bởi lẽ, ở một phương diện nào đó,
dường như cái tạng sẵn có của Trịnh Công Sơn không hợp với những vui vẻ hời hợt.
Thượng đế đã bắt (hay đã ban?) cho ông sứ mệnh của kẻ có thể lắng trong mình những
âm thanh u uất, những tiếng nói tang thương từ cõi người và cõi đời rồi chưng cất
chúng thành những ca từ buồn và đẹp.
Bằng những ca từ ấy, nhạc sĩ - thi sĩ tài hoa họ Trịnh đã cho
ta thêm một cách thế để nghe sâu hơn tiếng vọng nhân sinh, để tự mở rộng biên độ
của suy tưởng và cảm xúc, và từ đó, để gắn bó thân thiết hơn với cuộc đời mà mỗi
người đang sống - như chính ông từng kêu gọi: "Hãy yêu ngày tới dù quá mệt
kiếp người/ Còn cuộc đời ta cứ vui" (Để gió cuốn đi). Một điều mà chúng ta
có thể khẳng định chắc chắn: đó sẽ là di sản không bao giờ bị mất giá của Trịnh
Công Sơn.
Nguồn ANTG






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét