Thơ, thiền - Những đường bay
và những chân trời
Hôm Tết 2006, Nhà nghiên cứu
Đỗ Lai Thúy từ Hà Nội vào, ghé thăm Huyền Không Sơn Thượng và có tặng tôi một tập
sách. Nội dung, anh đã phác thảo chân dung học thuật của 17 nhà nghiên cứu.
Công trình thật là công phu, khoa học, nhiều thao tác tư duy, nhiều tầng bậc
chiêm nghiệm...
Hàm tàng một sở học nghiêm túc, đa diện và phong phú. Cái đặc thù ở đây là anh
đã đào xới những vỉa quặng ngầm, chưa có hoặc ít có người khám phá: Cái mặt
tĩnh của tư duy, cái lẩn khuất của nội tâm triết học... mà chúng thì thường lặn
chìm, vô tăm, khiêm hư trước mọi biến động của thời cuộc. Ít khi mà đọc được một
quyển sách hay. Tôi đọc giữa hai hàng chữ và cảm nhận được rằng: Có những con
người đã có những chân trời của tự do, của sáng tạọ, của khát vọng sự thật và họ
yêu mến cái đẹp đến vô bờ! Tuy thế, tôi lại thích cái tựa sách hơn: “Chân trời
có người bay”. Cái tựa này, anh Thúy lại lấy ý từ câu thơ cô đơn, hiu hắt, thấm
đẫm chất nhân văn của nhà thơ Trần Dần:
-“Tôi khóc những chân trời không có người bay
Lại khóc những người bay không có chân trời”
Và quả thật, đã có thời, có những chân trời không có người bay! Và quả thật, đã có thời, có những người bay nhưng không có chân trời!
Nghĩ về thơ, nghĩ về thiền - hốt nhiên, tôi cũng nghĩ đến những đường bay như Nhà thơ Trần Dần, như Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy - nhưng là những đường bay không biết có chân trời nào hay không?
-“Tôi khóc những chân trời không có người bay
Lại khóc những người bay không có chân trời”
Và quả thật, đã có thời, có những chân trời không có người bay! Và quả thật, đã có thời, có những người bay nhưng không có chân trời!
Nghĩ về thơ, nghĩ về thiền - hốt nhiên, tôi cũng nghĩ đến những đường bay như Nhà thơ Trần Dần, như Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy - nhưng là những đường bay không biết có chân trời nào hay không?
I.- Đường bay của thơ:
Thơ Việt Nam kể từ
thời Lý Trần, nhiều học giả đã xác định là đỉnh cao của văn học hoặc là ngọn đuốc
sáng mở đường cho thời đại tự chủ của dân tộc. Tự bản chất, nó là dòng hợp lưu:
Minh triết đông phương và bản sắc văn hóa Việt. Và suốt trong dòng chảy ấy, trải
qua hơn ngàn năm, Phật Khổng Lão và tình tự dân tộc đã hỗn dung và quyện lẫn
trong nhau. Và thế là có cái đúng, có cái sai; có cái bình dân hóa, có cái tan
hòa với tín ngưỡng dân gian. Thơ ca vào các thời kỳ này, tuy chỉ lập ngôn dị giản
như: “Văn dĩ tải đạo” hoặc “Thi ngôn kỳ chí”... nhưng chúng đã hướng đến những
giá trị phổ quát, đáp ứng được những khát vọng, những cảm xúc thăng hoa tâm hồn
cho nhiều thế hệ. Chúng ta không cần dài dòng nói đến những ích dụng đó như thế
nào, vì rõ ràng những nền tảng tư tưởng từ hình nhi thượng đến hình nhi hạ của
Phật Khổng Lão đã được chiết trung, tinh lọc, biến cải cho phù hợp với bản sắc
văn hóa Việt. Và như vậy chứng tỏ gì? Chứng tỏ thơ vào các thời kỳ này có định
hướng. Có định hướng tất có đường bay. Các giá trị tại thế, nhân văn, mỹ học...
theo đó, chẳng có gì phải bàn luận nhiều, nhất là thi ca.
Mãi cho đến khi tiếp thu nền
học thuật của phương Tây thì diện mạo thơ Việt mới bắt đầu đổi khác. Các trường
phái lãng mạn, ấn tượng, tượng trưng, siêu thực...như những ngọn gió lạ thổi
qua bình nguyên yên ả của tâm linh thơ Việt. Cổ súy cho phong trào thơ mới là
Phan Khôi với bài thơ “Tình già”, được coi là sớm nhất. Sau đó, các thanh niên
thi sĩ tân học, với sinh lực trẻ trung lần lượt xung trận như Lưu Trọng Lư,
Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Trương Tửu... đã trình diện thi đàn
những bài thơ đi ra ngoài truyền thống, thoát ly vóc dáng cổ điển. Vì mới thể
nghiệm nên không tránh khỏi “Tây quá” hoặc “hoa lẫn với rác” nhưng lại thích hợp
với xu thế tâm hồn lớp trẻ hãnh tiến của thời đại.
Đi theo phong trào cải cách,
canh tân này có thể lên đến con số 80 tác giả, trong đó, số nữ lưu anh kiệt như
Ngân Giang, Anh Thơ, Mộng Tuyết, Hằng Phương... có chừng trên dưới 10 người. (1)
Họ kết án thơ cũ với vần, đối,
niêm, luật gò bó, chật chội, không thể đáp ứng nổi những tư duy, tâm tình, cảm
xúc đa phức trước trào lưu mới. Một phần nào đó họ có lý. Họ có lý nên họ đã
thành công. Tuy nhiên, nếu “hiện đại chủ nghĩa” quá, nghĩa là tượng trưng và
siêu thực quá như nhóm “Xuân thu nhã tập” của Nguyễn Xuân Sanh... thì thất bại.
Phá bỏ vần luật, niêm đối để cho thơ chắp cánh tự do, phiêu bồng bay, thênh
thang bay trong không gian nghệ thuật với hình tượng, tu từ mới mẻ thì thơ sẽ
tăng trọng cảm xúc, lung linh nhiều vẻ đẹp, ẩn mật, đa tầng và đa nghĩa hơn thì
khả thủ. Nhưng chủ trương phá bỏ ý thức, phá bỏ cả quy tắc ngữ pháp, phá bỏ những
thông tin thường ngữ, thường nghĩa... thì chỉ còn cái vỏ âm thanh khô rỗng, ú ớ,
bập bẹ, phều phào... chẳng rõ trao gởi thông tin gì! Sự mã hóa ngôn ngữ ấy như
là ẩn số bí hiểm, mà đôi khi chính tác giả cũng quên, không biết mình nói gì!
May ra chỉ có Thượng đế mới hiểu. (2)
Những thi gia kiện tướng như
Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng... mãi cho đến tận bây giờ, công
phu tế bào não “rất nghiêm túc” của họ vẫn chưa đến được với tâm hồn người đọc,
nếu không muốn nói là tạo nên một không gian dị ứng . Như vậy, loại thơ “hiện đại
chủ nghĩa” này có chân trời nào để bay không? Hay là không có chân trời mà vẫn
bay? Và đường bay này cũng đã được mã hóa trong cơn mê man bội thực hoặc èo uột,
thiếu ăn của các con chữ? Cho nên, đã rất nhiều người phê phán loại thơ này một
cách gay gắt, không khoan nhượng tí nào. Ví như có người đã bực bội hạ bút: “Đó
chỉ là các chuỗi kết hợp từ gần như vô thức, thể hiện sự lao động thiếu nghiêm
túc của người cầm bút. Chẳng những nó là kết quả của sự nghèo nàn về vốn từ ngữ
dân tộc ở một số tác giả mà còn là những dấu hiệu của một bệnh trạng tư duy. Đọc
những câu thơ ấy, người đọc chỉ thấy đó là một mớ hổ lốn ngôn từ không có giá
trị biểu đạt tư tưởng- tức là sự nhận biết và khám phá bản chất của sự vật, hiện
tượng thuộc thế giới xung quanh. Bản chất của hiện tượng thơ này hoàn toàn xa lạ
với sáng tạo nghệ thuật đích thực. Nó chỉ tác hại và làm vẩn đục ngôn ngữ, làm
méo mó tư duy của người Việt hiện đại mà thôi. [1]”
Không biết nói như thế có
hơi quá hay không? Có hơi quy phạm, hàn lâm hoặc mẫu mực quá hay không? Ta hãy
chờ xem!
Sau Cách Mạng Tháng Tám, do
hoàn cảnh lịch sử, ở miền Bắc, đa phần các nhà thơ đều phải ra mặt trận bằng
cách này hay bằng cách khác, thơ mới vẫn âm thâm tồn tại bên lề dòng văn học
chính thống, còn thơ phục vụ chiến đấu thì có định hướng rõ ràng. Các thế hệ
trong thời chiến tranh Pháp, Mỹ đã xuất sinh một số lượng lớn các nhà thơ có
tên tuổi đã được định hình vững chắc, làm đà cho thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng
thành trong khói lửa, bước lên thi đàn một cách tự tin và đầy hào hứng. Vậy là
một thời gian không dài lắm, chỉ mới 30 năm (từ 45-75) thơ vẫn có đường bay,
bay theo cao trào của lịch sử. Những loại thơ trữ tình, lãng mạn hoặc của các
trường phái thơ mới khác dường như không có môi trường để góp mặt một cách
chính quy trên thi đàn, nhưng chúng vẫn an nhiên tồn tại như những tảng băng ngầm.
Ví như Giang Nam, Hữu Loan, Hoàng Cầm...
Cũng vào lúc này, nhất là
sau khi chia cắt đất nước, tình trạng thơ ở miền Nam vẫn tiếp tục đi
theo phong trào thơ mới, lại có vẻ muốn mới hơn cả thế hệ Lưu Trọng Lư, Thế Lữ,
Xuân Diệu... Chính nhóm “Sáng tạo” của Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa... đã cổ suý
cho phong trào nầy.
Tuy nhiên, đấy chỉ là bước
đi tiếp theo trên lộ trình có sẵn; dẫu với tuyên ngôn tự do, sáng tạo, hiện đại...
họ vẫn ảnh hưởng nặng nề các trường phái lạc hậu của Tây phương đã không còn thời
thượng nữa. Sự tìm kiếm khổ hạnh trên từng con chữ của họ là một nỗ lực đáng
khen ngợi, nhưng dường như cũng chỉ là sự dò đường, thử nghiệm theo những vết
chân đã cũ, sau đó là bị chìm khuất, vô tích...
Có những nhà thơ độc lập,
không có “tuyên ngôn chính quy” như nhóm Sáng tạo; họ không đi theo ai, vững
vàng trung thành với Nàng Thơ của mình; không nói cũ, không nói mới... như Bùi
Giáng, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương...; mỗi người mỗi dáng vẻ, mỗi phong cách, một
thế giới riêng không lẫn với ai được. Và kế tiếp sau đó, còn rất nhiều, rất nhiều
nữa, như Phạm Công Thiện, Phạm Thiên Thư... mỗi người là một cõi riêng, nếu ta
có dịp khám phá, thăm dò một cách khách quan và trung thực.
Nói tóm lại, tình trạng thơ ở
đây vẫn là cái trăn trở muôn thuở giữa hiện thực nhân sinh trần trụi và những
khát vọng bản thể siêu hình. Hoang mang giữa binh lửa, bất an trong lối thoát,
thơ như tiếng gọi kêu bỏng cháy trước sa mạc cằn khô và nhức đau của hiện tồn.
Và cũng có kẻ muốn vi vút rong chơi giữa cát bụi cuộc lữ, hoặc bi tráng, hoặc
đam mê tình lụy trước hố thăm trần mộng bất khả... Như vậy, ta có thể kết luận
mà không ngại võ đoán và vội vã, là thơ miền Nam chưa có đường bay rõ
ràng hoặc phiêu phất và tản mạn nhiều hướng. Cái gọi là “vị nghệ thuật hay vị
nhân sinh”, dầu sao, chỉ còn là “chuyện cổ tích” của một thời. Ai sao cũng được.
Hơi đâu mà xác định cho đường bay của thơ. Ngoại trừ một số thơ lai căng, nô lệ
cho thế lực nào đó hoặc thơ tối tăm, hiện sinh và hư vô; trên thi đàn vẫn có
nhiều nhà thơ định hình, sáng giá và sống lâu...Cái đẹp vẫn hiện hữu. Thơ vẫn
là món ăn tinh thần cao sang của xã hội, không chỉ là sản phẩm độc quyền của
nhóm “Trung tâm văn bút” do chính quyền bảo trợ.
Còn hiện nay? Quả thật là
khó nói. “Thơ”- trong ngoặc kép - xuất hiện như rác giữa chợ chiều. Nhan nhãn
thơ. Ngồn ngộn thơ. Phồn thực thơ... Dường như có một số nhà thơ trẻ muốn đánh
đố độc giả nên đã cố ý bí hiểm, thiếu nghiêm túc và thiếu kiến thức ngữ pháp
căn bản khi sử dụng con chữ, coi thường tinh hoa trong sáng của ngôn ngữ Việt.
Rất nhiều bài thơ với những vỏ âm thanh lắp ghép, biến tấu rối mù, thông tin ngữ
nghĩa được đóng bít, giấu kín... Do biến động của nền kinh tế thị trường và sự
giao lưu phồn tạp của các luồng văn hóa - kể cả phi văn hóa - thơ dường như được
tiếp thêm nhiên liệu và sức sống bản năng nên nó thay vỏ rất nhanh để bắt kịp với
các trào lưu hiện đại. Họ sợ bị tụt hậu. Thế là giữa đống thơ ngổn ngang, rời rạc
các con chữ là hình ảnh đứt khúc của cảm xúc, câu cú, ý tưởng... nhảy múa trong
một vũ điệu loạn cuồng; hời hợt, nông nổi, thiếu vắng chiều sâu văn hóa và thiếu
cả sự tỉnh táo trí thức nữa.
Tuy nhiên, nếu lớp trẻ thiếu
tỉnh táo thì người già phải tỉnh táo. Tỉnh táo để thấy rằng, hiện tượng khác với
bản chất. Sự tìm kiếm, dò đường ấy là cần thiết. Sự trở trăn, vật vã ấy là cần
thiết. Sự rối mù, loạn xà ngầu ấy là cần thiết. Sự thai nghén nào cũng quằn quại
tâm sinh lý. Sáng tạo không bao giở là cái tĩnh chỉ, bất động. Những hiện tượng
bất ổn, rối ren của “thơ mới” như hậu hiện đại hoặc tân hình thức trên một số
sách báo hiện nay – và cả nước ngoài - là dấu hiệu đáng mừng để chuẩn bị cho một
cuộc lột xác ngoạn mục. Vấn đề là thời gian. Các giá trị thẩm mỹ, trong bản chất,
chúng sẽ tự sàng lọc, tinh chế để đáp ứng cho nhu cầu mến yêu vốn rất quý phái
và thanh khiết của tâm linh thơ. Các nhà phê bình văn học phải có cái tâm mát mẻ
và rộng rãi, phải có cái trí nhìn xuyên qua hiện tượng để tiếp cận cái bản chất.
Nên hướng dẫn dư luận thẫm mỹ hơn là đả kích hiện tượng xã hội. Bởi dù sao nó
cũng chỉ là hiện tượng xã hội, luôn luôn nhấp nhô, chìm nổi, xáo trộn để tìm sự
quân bình. Rồi những cái “không phải thơ” sẽ tự động đào thải hoặc rút lui vô
điều kiện.
Tôi có đọc được một số tác
phẩm của một số nhà thơ trẻ, không nhiều lắm, được giải thưởng của Hội Nhà Văn
chừng hơn mươi năm về trước như Trương Nam Hương, Nguyễn Quang Thiều... Thơ họ
có dáng vẻ mới mẻ của ngôn ngữ, của cấu trúc, của tu từ và hình tượng nghệ thuật
nên đã phát lộ được nhiều tầng tư duy và cảm xúc. Trong chừng mực nào đó, họ đã
lao động nghiêm túc, có sở học và họ biết rõ mình trao gởi thông điệp gì. Cái mới
ở nơi họ chỉ là sự kế thừa, tiếp sinh lực cho truyền thống, cũng từ một dòng chảy
nhưng qua một khúc quanh khác gồ ghề, lồi lõm hơn mà thôi. Đẹp, hay, chưa dám
quyết nhưng còn tồn tại trong lòng độc giả. Lại có một số nhà thơ trẻ khác nữa
mà các tạp chí hay nhắc đến như Văn Cầm Hải, Ly Huyền Ly, Vi Thùy Linh, Phan
Huyền Thư... cũng được độc giả chú ý, khen chê bất đồng. Điều ấy có lẽ
đúng do diện mạo thẩm mỹ ở nơi thơ họ chưa được định hình, còn có đâu đó một số
sạn sỏi va động lạo xạo khó hiểu... nhưng dầu sao đã có nét riêng. Tuổi trẻ cố
tạo phong cách cho mình thường vấp váp điều đó. Tuy nhiên, ta hãy chịu khó đọc
lướt qua và nắm bắt cho được linh hồn của ký hiệu - những thông tin ở ngoài con
chữ - ta sẽ hiểu họ nói gì. Với điều kiện, tế bào não của ta cũng phải được trẻ
hóa hoặc thoát ly khỏi phạm trù của những hình tượng cũ, khái niệm cũ đã ám
khói quá lâu trong tâm thức của lớp thế hệ “ nhĩ thuận” trở lên.
Tuy nhiên, thời gian mới là
bậc thầy thẩm định uyên bác và chín chắn nhất. Sự khen chê hiện nay trên thi
đàn đa phần là do những nhận xét nóng vội, hấp tấp, thiếu sự chững chạc trí thức
hoặc do cảm tính bọt bèo của lớp trẻ đồng lứa; các nhà phê bình học thuật khôn
ngoan, già dặn họ chưa “phán” vội. Khó lắm! Tập thơ “Thư mùa đông” của Hữu Thỉnh
bị Tô Hoài chê là: “Một gánh đồng nát của các con chữ”; nhưng lại được Trần Mạnh
Hảo ca tụng hết lời. Tập thơ của Nguyễn Quang Thiều được giải nhưng lại bị Trần
Mạnh Hảo đập cho tả tơi! Thế đó.
Vậy thì hiện nay, thơ mới đã
có đường bay hay chưa? Rõ ràng là những cánh chim thơ đang bay luẩn quẩn loanh
quanh hoặc đang thăm dò trời cao bể rộng thế nào. Một thi pháp học cho thơ mới,
một chân trời mới cho thơ mới đang còn dưới dạng bản thảo. Chúng ta có thể ngồi
tĩnh tọa và an nhiên chờ đợi, chắc chắn sẽ uống được một chung trà ngon được ướp
sương mai và nắng sớm.
II- Đường bay của thơ, thiền
và thơ thiền:
Thơ bay vi vút trong không
gian thẫm mỹ ước lệ. Thiền bay thênh thang trong cõi tĩnh mặc, trong sáng và vô
duy. Thơ là tinh hoa của ngôn ngữ, làm cho con chữ lấp lánh nhiều sắc màu, ý tượng;
lung linh đa chiều tư duy và cảm xúc. Thiền là tinh hoa của minh triết đông
phương, của Phật; là đóa trăng soi giữa miền u tĩnh, đánh thức vô minh, vọng lầm
để tao ngộ với quê hương sơ thủy. Thơ là sự suy tưởng của triết lý thất bại, là
giấc mơ tại thế, là cánh chim ước vọng bay vào giấc mơ riêng tư, cô đơn nhưng lại
xa rộng khôn cùng. Nó còn muốn nhảy vào cả hố thẳm vô thức câm nín nữa. Thiền
là miền đất bên kia, thuộc lãnh địa của tâm năng trực giác, là chỗ mà lý trí
tuyệt lộ, là ngôn ngữ vô ngôn của cố quận thuở ý tưởng và khái niệm chưa sinh
ra đời. Thơ thuộc về những tế bào nhạy bén của tim và của óc. Thiền thuộc về
con mắt xanh của tâm và tuệ, là cõi thanh trong, vô nhiễm của kiến tri, không
lây uế bản năng lông lá thuở sơ khai...
Vậy xin ai đó đừng đánh đồng
giữa thơ và thiền. Giữa giấc mộng vừa miên man vừa đa sự của thơ và giữa ngôn
ngữ tỉnh thức, giác ngộ của thiền không liên hệ gì với nhau. Nó còn cách
nhau nhiều cánh cửa, đôi khi chỉ một sợi tóc cũng khó nhìn ra chân tướng. Tuy
nhiên, có điều thật kỳ lạ là có thơ của nhiều tác giả cũ và mới rất giống thiền.
Và trong những trường hợp như thế ta có thể coi là thơ thiền được không?
Ta có thể đọc một số câu rồi
lắng tâm mà nghe thử:
“- Với tay chạm khẽ vào hư ảo
Đánh thức hồn ta tiếng nguyệt vang”
(Ngọc Quế)
“- Thì xin hạt cát làm tâm ngọc
Đau đớn vo tròn một kiếp trai”
(Thạch Văn Thâu)
Đánh thức hồn ta tiếng nguyệt vang”
(Ngọc Quế)
“- Thì xin hạt cát làm tâm ngọc
Đau đớn vo tròn một kiếp trai”
(Thạch Văn Thâu)
Đấy, nó có khác gì thơ thiền
đâu? Phải nhìn thấy “khổ đế”của trần gian, phải lịch trải trong cuộc tồn sinh,
phải bị đoanh vây giữa muôn trùng hư vô và ảo ảnh... mới thai nghén được những
câu thơ rất gần với thiền như vậy.
Nếu chịu khó sưu tầm
trong kho tàng thi ca thơ Việt thì thơ giống thiền như thế có thể là cả một tập
sách dày. Vậy thì thơ giống thiền và thơ thiền thật sự khác nhau ra sao? Đây là
cả một công trình sưu khảo dài hơi và đầy tâm huyết của các nhà nghiên cứu
chuyên môn. Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, ta có thể phân chia thành
hai không gian: Không gian ở tầng bậc ý thức, lý tính và coi đây là
cõi miền của thơ có tư tưởng thiền; không gian thứ hai ở tầng bậc trực
giác, tức là cảm quan thấy ngay thực tại, chưa qua sự chế biến của các ý
niệm chủ quan – và đây chính là thực địa, là quê hương của thơ thiền.
Bây giờ ta hãy làm một cuộc
hành trình khám phá chân diện mục của chúng ra
sao!
1- Không gian có tư tưởng
thiền:
Không gian này thật là mênh
mông, vô lượng. Và dường như, khắp nơi, khi nói đến thơ thiền thì chúng đều ở
trong phạm vi hoạt dụng của ý thức, tức là thuộc không gian có tư tưởng thiền.
Đại lược, những bài thơ có tư tưởng thiền thường có những nội dung như sau:
- Có tư tưởng Phật học, thiền
học...
- Yêu cảnh vắng lặng, u
tĩnh, thanh bình, nhẹ nhàng, trong sáng, nhàn thoát...
- Yêu các giá trị xuất thế
như niết-bàn, vô vi, giải thoát nhưng diễn đạt chúng bằng lý trí, bằng tư
duy khái niệm...
- Yêu các giá trị tại
thế như từ bi hỷ xả nhưng thường sử dụng công cụ tư tưởng để tỏ bày, lý giải,
chứng minh...
- Kinh qua sự lịch trải,
chiêm nghiệm trên đường đời nên có những nhận thức, cảm xúc rất gần với Phật
giáo.
- Cái nhìn về sự thật, lẽ phải,
tình thương chung một dòng đạo lý Đông phương...
Từ cái thước đo ấy, hàm lượng
ấy, lạ lùng làm sao, những bài thơ của các vị thiền sư Lý, Trần đa phần chúng đều
thuộc về không gian này, tức là những bài thơ có tư tưởng thiền chứ - chưa xét
thơ thiền!
Giá trị của những bài thơ có
tư tưởng thiền này đã vượt không thời gian, đã bất tử. Cả ngàn năm nay, lịch sử
văn học thiền đã xem là đỉnh cao của trí tuệ (Đạo Hạnh), là cảm hứng siêu
thoát, buốt lạnh cả hư vô (Không Lộ), là thông điệp của mùa xuân vĩnh cửu (Mãn
Giác), là triết lý hành động giữa cõi vô thường, có không, sinh diệt (Vạn Hạnh)...
Đến đây, ta có thể thấy chúng tương cận với thơ của “người đời”dẫn lược ở trên
xiết bao? Chỉ có một chút khác biệt, là nhờ các vị thiền sự sống thiền nên tư
tưởng thơ thiền của họ lạc quan hơn, tiêu sái và an nhiên hơn.
Trong kho tàng văn học thiền
từ xưa đến nay đa phần là thơ có tư tưởng thiền, hiếm có thơ thiền. Rồi chúng
ta sẽ nói rõ về điều ấy.
2- Không gian thơ thiền:
Là không gian của trực giác,
là thế giới của tỉnh thức hiện tiền. Đây là miền đất thuộc thẩm quyền của tuệ
giác, với tâm thái vô duy để chụp bắt và nhìn ngắm rỗng rang cái-đang-là, chưa
qua sự chế biến của tình cảm, quan niệm, tư kiến chủ quan.
Hiện nay, không gian này rất
thưa vắng gót chân thơ. Chính những triết lý cao siêu, những lý giải bác học,
những ý tưởng thâm thúy, những hình tượng mỹ học diễm lệ... đã đóng bít cánh cửa
này. Vả chăng, không phải nhà thơ nào cũng có đủ kích thước tâm linh để dạo chơi
không gian này - là thế giới mà dường như cái lấp lánh của ngôn ngữ, cái lung
linh của những hình tượng nghệ thuật chẳng có đất dụng võ. Đây là thế giới của
khách quan, lạnh lùng, vô cảm... Nó chẳng hay, chẳng đẹp, chẳng nghệ thuật, chẳng
mỹ học, chẳng nhân bản, nhân văn, nhân tình gì cả! Ai cũng “tưởng” là vậy!
Xin giới thiệu một số bài
thơ ở không gian thiền này:
“- Cái ao xưa
Ếch nhảy vào
Tiếng nước xao”
(Basho)
Ếch nhảy vào
Tiếng nước xao”
(Basho)
Cái ao xưa là cái ao cũ, thế
thôi. Nó chẳng phải là cố quận, là quê hương sơ thủy, là bản lai diện mục gì cả.
Đừng khoác cho nó một ý nghĩa, một giá trị, một tư tưởng thâm thúy, ẩn mật nào.
Nhân sinh đã từng thông khổ, điêu đứng, lầm than bởi những ý nghĩa, giá trị ước
lệ, phù phiếm và rỗng không ấy quá nhiều rồi. Vả chăng, chúng là những nhãn hiệu
trá hình, tạo nên tương tranh và xung đột. Thiền chụp bắt trong sáng, vô duy,
trực đối thực tại, giải thoát toàn mãn mọi tri kiến. Đừng khoác cho nó một hào
quang, một vương miện quý phái nào. Con ếch nhảy và tiếng nước xao là hình ảnh,
là âm thanh nhân quả hiện tiền. Là cái đang là sống động, chân thực, hiện tồn
và mới mẻ.
Ta hãy đọc thêm bài khác:
“- Ta nhìn sâu xa
Dưa nằm trong cỏ
Dấu mấy nụ hoa”.
(Basho)
Dưa nằm trong cỏ
Dấu mấy nụ hoa”.
(Basho)
Nhìn sâu xa là cái nhìn của
thiền. Một cái nhìn lắng đọng, thông đạt, trong suốt, không mổ xẻ, phân tích,
suy diễn lung tung. Dưa nằm trong cỏ, dấu mấy nụ hoa. Thế thôi. Cái đẹp bình dị,
ẩn dật, khiêm tốn ấy chúng luôn có sẵn xung quanh ta, nhưng không phải ai cũng
thấy được. Thế gian thường nhìn thấy những hình danh, sắc tướng... những biến
hóa hư ảo cùng những đối tượng mê ly, hấp dẫn vị dục kia!
Một bài khác:
“- Gió lay bụi trúc vàng
Bên thềm hoa nắng vỡ
Ô kìa! Giàn phong lan
Một nụ hoa mới nở”
(Viên Minh)
Bên thềm hoa nắng vỡ
Ô kìa! Giàn phong lan
Một nụ hoa mới nở”
(Viên Minh)
Thiền là thấy ngay, chụp bắt
ngay cái thế giới đang là, sống động: Đang lay, đang vỡ, đang nở...
Mọi sự, mọi vật, mọi hiện tượng,
tâm hay cảnh... luôn đang trôi chảy, dịch hóa, không có gì có thể tĩnh chỉ, bất
động được. Tất cả đang chuyển động, biến đổi dù một sát-na, một hạt bụi. Chúng
luôn luôn “tương động”.
Lại có những câu thơ rất giản
dị, nhìn thấy như thế nào thì nói ra như thế ấy – cái chân, cái như thực- thuộc
về không gian thiền:
“- Xuân đi, đóa đóa hoa rơi
Xuân về, đóa đóa hoa tươi thắm màu
Việc đời trước mắt qua mau
Tuổi già chợt đến trên đầu thế a!”
(Mãn Giác)
Cho chí bài thơ “con cóc”cũng rất là thiền:
“- Con cóc trong hang
Con cóc nhảy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhảy đi”
Xuân về, đóa đóa hoa tươi thắm màu
Việc đời trước mắt qua mau
Tuổi già chợt đến trên đầu thế a!”
(Mãn Giác)
Cho chí bài thơ “con cóc”cũng rất là thiền:
“- Con cóc trong hang
Con cóc nhảy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhảy đi”
Tuy nhiên, nếu diễn đạt quá
khô khan, quá trần trụi như thế thì đâu còn là thi pháp, là mỹ học, là yếu tính
của thi ca nữa? Nó chỉ là bức tranh vô cảm. Là thông tin theo kiểu kết hợp từ của
thường ngữ, không phải là thơ. Cũng diễn tiến hình ảnh và sự việc như vậy,
nhưng thêm chút tình, chút hoàng hôn, chút hương trầm nữa thì nó lại khác:
“- Khách về trời chưa tối
Nhẹ tay khép cổng sài
Quay lưng hiên nắng nhạt
Hương trầm thoảng thư trai”
(MĐTTA)
Nhẹ tay khép cổng sài
Quay lưng hiên nắng nhạt
Hương trầm thoảng thư trai”
(MĐTTA)
Đấy là thiền, là cái hoạt dụng
tự tại đang trôi chảy trong không gian vắng lặng, thanh bình.
Vậy, thơ thiền thì chẳng có
gì phải bình giải, luận bàn, phân tích cả. Thơ thiền giản dị như: “Anh ăn cơm
chưa”, “Dạ rồi”, “Thì uống nước đi”. Thiền với đôi mắt xanh trong suốt, với đôi
bàn tay mở ra, với trái tim và hơi thở cùng nhịp đập và chuyển động với hiện tồn.
Chẳng có gì bí mật, ẩn khuất, đa sự... trong ngôn ngữ của bậc đạt ngộ. Ai muốn
đi tìm những lý giải cao thâm, những ý nghĩa huyền vi, những mật mã siêu hình,
những cảm-hứng-ngữ trầm hùng, siêu thoát thì hãy đến với những bài thơ có tư tưởng
thiền. Nhưng hãy dè chừng một điều: Những ý tưởng thâm trầm, hay ho, những luận
giải thâm uyên, bác học - như Thiền luận trác việt của học giả Suzuki chẳng hạn
- thì cũng chỉ như ngôn ngữ của người ngọng: “Ú ớ...u ơ” ở bên này mép rìa của
thực tại mà thôi. Nhà học giả Suzuki đã có tâm huyết và tấm lòng ban tặng cho
lý trí Tây phương những món ăn ngon béo bổ, nhưng đã giết chết mầm giống tâm
linh trực giác của thiền. Có lẽ trong tất cả chúng ta ở đây, ai ai cũng đã từng
nghe tuyên ngôn của thiền Đông độ: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực
chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”
Triết lý thất bại, thơ ca mới
xuất hiện. Lý trí thất bại, thiền mới mở đường. Thật khá thương cho ai cứ
cổ súy thơ ca phải hướng đến triết lý. Thật khá thương cho ai muốn dùng kiến thức,
lý trí và cả viện hàn lâm để hiểu thiền! Xin thưa, thiền có thể hiểu, có thể biết;
hiểu và biết ở những khái niệm khô rỗng chứ chưa bao giờ là thực tại. Thiền là
cái thấy, là phạm trù của tuệ giác, của chứng nghiêm tự thân. Ở đây là giọt nước
trong mát tự đầu nguồn.
Để
kết luận,
Thơ, khi đã định hình thì nó
có đường bay. Đường bay thấp, đường bay cao, đường bay la đà, đường bay ngất
ngưởng, đường bay phiêu hốt, đường bay yêu thương ngọt ngào trần lụy, đường bay
khinh linh hạc trắng ngàn sương... Có một vài đường bay ngẫu nhiên ngẫu nhĩ đâu
đó của thơ sẽ bắt gặp đường bay của thiền trong cuộc tao phùng hy hữu kỳ ngộ.
Còn chân trời? Mọi chân trời
đều thất bại. Có chân trời là có vọng cầu, toan tính, ước vọng. Có chân trời là
có lý tưởng, có sở dục tương lai. Mọi lý tưởng, mọi tương lai đều bất thực, nó
chính do bản ngã và vọng tưởng phóng hiện ra.
Không biết tôi có tự tin và
chủ quan quá không khi xác quyết rằng: Thơ thành tựu cho chính nó,
trong đường bay của chính nó, tự do và vô tận mà chẳng tuyên ngôn vị nghệ
thuật. Thiền thành tựu cho chính nó, trong đường bay của chính nó mà
không tuyên ngôn vị nhân sinh. Cả hai, chúng quên ý nghĩa và mục đích,
quên cả chính nó – nhưng mỹ học và nhân văn thì tồn tại.
Cả thơ và thiền đều như
trăng, chẳng soi chiếu cho ai mà làm sáng cho tất cả. Trăng, còn để dành cho
khách lãng tử và bạn tri âm. Đôi khi nó đối ẩm và tĩnh tại với cõi cô liêu xa
hút, cỏ hoa và cả trời đất nữa...
(Bài tham luận đọc trong
ngày FESTIVAL THƠ HUẾ tổ chức tại Tòa soạn Tạp chí SÔNG HƯƠNG, 5/6/2006).
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét