Cụ Nguyễn Du viết
Truyện Kiều lúc nào và ở đâu

Tôi được
duyên may làm quen với Truyện Kiều rất sớm như đã trình bày ở bài “Đọc Kiều
thương khách viễn phương”
Qua một số tài liệu văn bản tôi được đọc từ mấy chục năm nay
về cuộc đời, về thân thế và sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du và bằng ba ngàn
hai trăm năm mươi bốn (3254) câu thơ lục bát đã đeo đuổi, đã ám ảnh trong lòng
tôi suốt bao năm tháng và tôi muốn làm một điều gì để biểu tỏ lòng ngưỡng mộ
kính yêu đối với tác phẩm, và với người đã tái sinh lại các nhân vật bất tử, điển
hình là người con gái, người phụ nữ tài sắc và bất hạnh Thúy Kiều.
Trong các bài khảo luận nghiên cứu của các học giả cận đại và
hiện đại đều đặt nghi vấn là Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi Thế tổ Cao
hoàng đế Gia Long thống nhất sơn hà, hay sau khi ra làm quan với Nguyễn Triều,
và viết trước khi đi sứ sang Trung Hoa hay sau khi đi sứ về, các nhà nghiên cứu
vẫn chưa tìm ra đáp án chính xác và điều này vẫn còn tồn nghi trong nền văn học
cổ điển thời trung đại.
Có một vấn đề mà kẻ hậu học này cố tìm nhưng không thấy trong
các bài viết là không ai đặt câu hỏi Nguyễn Du viết “Đoạn Trường Tân Thanh” ở địa
điểm nào, chỉ đặt nặng thời gian mà không nhắc đến không gian, địa điểm tạo cảm
hứng sáng tác cho nhà thơ.
Nhà công quán hay công vụ của Kinh thành Huế nơi dành cho chức
sắc quan viên từ các nơi về lưu trú trong thời gian đương nhiệm, các tòa nhà ấy
nằm rải rác xung quanh đường dẫn vào Đại Nội, nơi bộ máy quân chủ đang ngự trị
- Từ vòng ngoài Tử Cấm Thành cho đến các vùng lân cận như Vỹ Dạ, Nguyệt Biểu,
Kim Long, Xuân Hòa, An Ninh Thượng, An Ninh Hạ, đều có các dinh thự, các tòa nhà
xanh mát để phục vụ bá quan văn võ tùy theo phẩm trật (cửu phẩm quan giai), một
trong những ngôi nhà ấy là nơi cư ngụ của quan Đông các học sĩ tước Du Đức Hầu
và sau này là Hữu Tham Tri bộ lễ, tức nhà thơ Nguyễn Du vào thập niên những năm
1882 của thế kỷ XIX.
Ra làm quan và dưới sự chỉ dụ của Vua Gia Long, Nguyễn Du đã
đảm nhận nhiều chức vụ như Tri phủ Thường tín ở tỉnh Hà Đông rồi đến năm 1806
làm Đông Các học sĩ, năm 1809 làm Cai bạ ở tỉnh Quảng Bình, ông là một vị quan
mẫn cán thanh liêm. Về Kinh đô Huế, vào năm 1813 ông được tấn phong chức Cần
Chánh điện học sĩ và được Vua Gia Long cử làm chánh sứ đưa cống lễ sang triều đại
nhà Thanh ở Trung Hoa.
Kẻ hậu học này có suy nghĩ và suy đoán là trong thời gian
công cán ở Trung Hoa, ông đã gặp được quyển tiểu thuyết “Kim Vân Kiều Truyện” của
Thanh Tâm tài nhân, năm 1814 về lại Kinh đô Huế ông đã đọc, đã nghiền ngẫm và
trong khung cảnh hữu tình với buổi sáng sương lam, buổi chiều tím sẫm, màn đêm
về giữa: “Hương Giang nhất phiến nguyệt, Kim cổ hứa đa sầu” để cảnh mộng mị biến
thành tình và tình tạo nên tứ để Nguyễn Du tái sinh lại các nhân vật của “Kim
Vân Kiều Truyện” thành “Đoạn Trường Tân Thanh” với ba ngàn hai trăm năm mươi bốn
(3254) câu lục bát suốt thời gian rảnh rỗi việc quan nha.
Tôi cũng nghĩ rằng trước năm 1802 ông cụ đã vân du suốt dải
sông Lam và chín mươi chín ngọn Hồng Lĩnh ở góc trời quê kiểng thì ở tại đất
kinh đô văn vật có núi Ngự sông Hương - gót phiêu bồng lãng tử của người thơ đa
cảm đa sầu, đa đoan đa hệ lụy này cũng đã lang thang khắp vùng miền “Nghêu ngao
vui thú yên hà”, chắc đã từng xuôi về Vỹ Dạ để ngắm vi lô san sát và vườn cau
xanh ngát một màu, lên Nguyệt Biểu để thấy một bầu trăng mát lạnh, “long lanh
đáy nước in trời”, đứng trên cầu Bạch Hổ nhìn cồn bắp Giả Viên để thấy trời mây
màu nguyệt bạch đang lững lơ trôi vào cõi vô cùng; tôi cũng nghĩ rằng nhà công
vụ ông đang lưu trú thuộc miệt Kim Long. Kim Long với bao phủ đệ huy hoàng, với
bao trai thanh gái lịch, với tình với cảnh đẹp mơ màng như sương khói buổi đầu
thu, ở đây ông có thể thả chiếc thuyền con trôi nhẹ trên con sông thơm mùi thạch
xương bồ huyền hoặc, đến bến đá chùa Thiên Mụ, neo thuyền thả bộ vào chùa bước
lên Đại hùng bửu điện, đảnh lễ Tam bảo với tất cả lòng thành rồi men theo hậu
liêu ra đồi Hà Khê nhìn lên núi Triệu Linh với ngổn ngang gò đống; nơi yên nghỉ
của bao lớp con dân các làng lân cận, từ đồi Hà Khê muốn lên núi Triệu Linh
cũng phải băng qua một dòng Tiểu Khê, tất cả các bức tranh sống động ấy đã được
đưa vào phần đầu tác phẩm với “… Ngổn ngang gò đống kéo lên”, với “… Nao nao dòng
nước uốn quanh”.
Trong không gian trong lành của tháng ba: “Thiều quang chín
chục đã ngoài sáu mươi…”. Một mùa xuân của năm nào sau 1814, Nguyễn Du đã chấp
bút dọc dài cuộc sáng tác cho đến câu cuối cùng của tuyệt phẩm “Đoạn Trường Tân
Thanh” trên mảnh đất vừa khắc khe lễ giáo vừa lãng mạn ân tình vào tháng nào,
năm nào. Chúng ta khó biết được, nhưng nhà văn Thanh Lãng trong tác phẩm “Bảng
lược đồ văn học Việt Nam” trang 679 dòng thứ 6 - cho rằng: “Nguyễn Du viết Kiều
vào khoảng vài ba năm trước khi chết, tức vào hồi 49 đến 53 tuổi, nghĩa là khi
ông ta đã nhìn và cảm tất cả…”
Có lẽ chúng tôi đồng ý với suy nghĩ của nhà văn Thanh Lãng.
Trải qua những cuộc bể dâu như cụ Phạm Đình Hổ đã đặc tả
trong “Tang Thương Ngẫu Lục” Tố Như tiên sinh đã thấy bằng mắt, đã nghe bằng
tai, đã thấu cảm mọi sự, mọi việc bằng trái tim đã bị nhiều lần thương tổn, tất
cả, tất cả đã được cụ chuyển tải bằng những câu thơ lục bát đầy máu lệ khóc cho
người và khóc cho mình, khóc cho một xã hội mà vua chỉ là một bù nhìn chúa thì
hoang dâm vô đạo, quan quân thì dựa hơi chủ nhũng nhiễu dân tình, dân chúng đói
rách trong khi chủ tớ loạn thần tiệc tùng ngập ngụa thức uống đồ ăn…
Khóc cho thân phận mình - thuở ấu thơ đã thiếu tình thương
cha mẹ, lớn lên tới tuổi yêu đương đã bị thất tình rồi thất chí phải sống đời
du mục lang thang mất mười năm săn bắn nhì nhằng ở sông Lam núi Lĩnh, bệnh hoạn
nghèo khổ; tinh thần suy yếu thể chất gầy gò, đến lúc được Vua Gia Long trọng dụng
mời về hợp tác với triều đình, những tưởng vinh thê ấm tử, phu quý phụ vinh, ai
ngờ cũng nghèo xác nghèo xơ - nghèo vì tấm lòng thanh sạch thanh liêm, nghèo đến
nỗi vợ con thiếu cơm thiếu áo bụng đói thân lạnh ở quê nhà, còn ông thì đau ốm
liên miên, cộng thêm đói lạnh, suy nghĩ bao cuộc hý trường mà tóc bạc trước tuổi,
ông đã từng than: “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc. Nhất thân ngọa bệnh Đế Thành
đông”
Vào giai đoạn cuối đời, ông được vinh thăng nhiều chức vụ,
nhưng chỉ nhận chức Lễ bộ Hữu tham tri và ở tại Kinh đô cho đến ngày từ trần là
ngày 16 tháng 9 năm 1820 tức là ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn niên hiệu Minh Mệnh
hưởng dương 56 tuổi.
Ngày từ biệt cõi đời không có vợ con bên cạnh, chỉ có một người
em và một người cháu vì họ cũng đang làm quan tại Kinh đô, thi hài được an táng
tại đồng Bàu Đá cạnh hồ Bầu Đá thuộc làng An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên (bây giờ là làng An Ninh Thượng, thuộc phường Hương Long, thành phố
Huế)
“… Theo gia phả mộ Nguyễn Du cải táng 2 lần, lần thứ nhất vào
tháng 5 năm Kiến Phúc nguyên niên (1884) người con thứ hai của cụ là Nguyễn Ngũ
rước di hài từ An Ninh Thượng về yên táng tại chỗ đất cạnh Từ đường, còn chỗ mới
là mới dời tới vào năm Bảo Đại nguyên niên (1926)…”.
(Theo Nguyễn Đức Tánh, Tạp chí Nam Phong số 135 tháng XI-XII
năm 1925)
Thể phách Nguyễn Du đã trả về cho cát bụi nhưng tinh anh cụ vẫn
bất tử với thời gian.
11/11/2020
Ninh Giang Thu Cúc
Nguồn: Trích từ “Đọc Kiều
thương khách viễn phương” - Xuất bản năm
2019
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét