Cuộc cách mạng ngôn ngữ
trong thơ tượng trưng Việt Nam
Thơ tượng trưng Việt Nam đã làm nên một cuộc cách mạng ngôn
ngữ. Xuất phát từ quan niệm sáng tạo thơ là sáng tạo chữ nghĩa và làm hiển lộ vẻ
đẹp chữ nghĩa, các nhà thơ tượng trưng đã tạo ra một lối thơ - chữ vô cùng độc
đáo. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử thi ca Việt Nam, ngôn ngữ thơ được
giải thoát khỏi sự kìm kẹp của lý trí, kinh nghiệm, thực tại. Các nhà thơ tượng
trưng một mặt chế tác ra những ngôn ngữ biểu tượng, tương hợp, tiềm thức, bí
nhiệm; mặt khác, khai thác triệt để sức mạnh tự trị của ngôn ngữ để nó tự tạo
sinh nghĩa. Do đó, ngôn ngữ thơ tượng trưng có khả năng giải mã những góc khuất
của tâm hồn và làm hiển lộ vẻ đẹp huyền vi, thống nhất sâu xa của vũ trụ.
1. Đặt vấn đề:
Không có ngôn ngữ sẽ không có văn học vì ngôn
ngữ là yếu tố tiên quyết của văn học. Ở mỗi thể loại văn học, ngôn ngữ có chức
năng, đặc trưng riêng; nếu văn xuôi lấy ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt ý
nghĩa, thì thơ lấy ngôn ngữ làm cứu cánh tự tại. Sáng tạo thơ trước hết là sáng
tạo chữ nghĩa, làm hiển lộ vẻ đẹp chữ nghĩa, hay nói như Jacobson: “Thơ là chức
năng thẩm mỹ của ngôn ngữ” [8, Tr. 469]. Thơ không chỉ làm đẹp mà còn làm giàu
cho ngôn ngữ, gắn kết với ngôn ngữ như thể xác với linh hồn. Thơ tượng trưng đã
làm tốt thiên chức này, tạo nên một cuộc cách mạng cho ngôn ngữ khi chế tác ra
lối thơ - chữ vô cùng độc đáo. Và chữ/ ngôn ngữ thơ tượng trưng là thứ chữ/
ngôn ngữ biểu tượng, tương hợp, tiềm thức, bí nhiệm. Các nhà thơ tượng trưng
khai thác triệt để sức mạnh tự trị của chữ/ ngôn ngữ, và cho nó tự tạo sinh
nghĩa, từ đó thám mã những góc khuất của tâm hồn, làm hiển lộ vẻ đẹp huyền vi,
thống nhất sâu xa của vũ trụ.
2. Thơ tượng trưng Việt Nam - Cuộc cách mạng ngôn
ngữ:
2.1. Ngôn ngữ biểu tượng, tương hợp
Khởi đi từ quan niệm thơ khải thị thế
giới thông qua biểu tượng, các nhà thơ tượng trưng Việt Nam đã tạo tác nên một
“rừng biểu tượng” chắt lọc từ đời sống, văn hóa, tôn giáo, tâm linh, rồi chuyển hóa thành biểu tượng thi ca qua kênh ngôn
ngữ. Vì thế, ngôn ngữ thơ tượng trưng có tính biểu tượng cao. Không một thi sĩ
tượng trưng nào không tích lũy cho mình một lưng vốn ngôn ngữ này bởi nó phù hợp
với triết lý thơ và có nhiệm vụ khám phá sự thống nhất, huyền vi của vũ trụ, và
thơ chỉ gợi chứ không tả của họ.
Thực ra, ngôn ngữ biểu tượng đã xuất hiện từ
lâu trong văn học dân gian lẫn Thánh Kinh. Trong ca dao Việt Nam, người xưa đã
sử dụng thành công ngôn ngữ này để biểu đạt những điều khó nói: “Cái cò mày mổ
cái trai/ Cái trai quặp lại, lại nhai cái cò”, “Ai đem con sáo sang sông/ Để
cho con sáo sổ lồng nó bay”… Trong Kinh Phật, những lời thuyết giáo của đấng
Thích Ca Mâu Ni thường bằng ngôn ngữ biểu tượng vì nó là phương tiện khả dĩ
giúp Đức Phật truyền đạt hữu hiệu bức thông điệp vô thượng của Ngài, cũng như
làm hiển lộ cảnh giới Duy tâm Tịnh độ cho chúng sinh. Tuy nhiên, sang thơ lãng
mạn, ngôn ngữ biểu tượng không còn đắc dụng bởi không phù hợp cho việc phơi trải
lòng mình theo kiểu lộn trái bên trong ra ngoài. Tuy nhiên, đến thơ tượng
trưng, ngôn ngữ biểu tượng lại hồi sinh trong một diện mạo lạ mà quen. Các nhà
thơ tượng trưng một mặt kế thừa ngôn ngữ biểu tượng truyền thống, mặt khác chế
tác ra những ngôn ngữ biểu tượng mới nhằm khải thị thế giới, tâm linh; đồng thời,
trả lại sự thuần khiết cho thi ca vốn xuất phát từ những gì được cho là phi
logic, tính chất bất hợp lý của bản thân ngôn ngữ:
Nền giấy trắng như xương
trong bãi chém,
Bỗng run lên kinh hãi, dưới tay điên.
Tiếng búa đưa rợn mình
như tiếng kiếm,
Nạo những thành sọ trắng của ma thiêng.
(Trinh tiết - Chế Lan
Viên)
Trinh tiết ám thị độc giả không bằng xúc cảm mà bằng những thi ảnh lạ lẫm,
ma quái. Trong bảng từ vựng của thi sĩ Chế Lan Viên nói riêng và các nhà thơ tượng
trưng Việt Nam nói chung, lớp ngôn ngữ biểu tượng xuất hiện khá dày đặc. Nó như
chiếc hộp đen lưu trữ muôn vàn tiếng nói và hình ảnh của thế giới tiềm thức và
trực giác. Và một khi được giải mã, chúng sẽ phát lộ ra nhiều bí mật ẩn dấu bên
trong:
Lặn nhanh, lặn nhanh
Hỡi mặt trời, cơn đau đớn của lửa
Những lá buồm lóe
lên ánh sáng thủy thần
Ta nghe tiếng dây buộc chèo xiết rên tóe máu
Những tấm
lưới bùng ra như đám cháy
Và bao cuộc chia ly của lũ cá dại khờ
(Xô-nát hoàng
hôn biển - Nguyễn Quang Thiều)
Bản Xô-nát hoàng hôn biển được viết bằng “con mắt
ba” nên khắc phục được tính chất giãi bày của thơ lãng mạn, tạo ra những ảnh tượng
độc đáo. Từ một biểu tượng văn hóa - mặt trời lặn - tượng trưng cho cái chết, sự hủy diệt: “Mặt trời bất tử mọc lên
mỗi buổi sáng và lặn mỗi buổi tối xuống vương quốc của những người chết; do đó,
nó có thể kéo những con người theo mình và giết chết họ khi lặn” [2, Tr. 576].
Nguyễn Quang Thiều đã vay mượn nó, rồi ký thác vào ngôn ngữ thi ca, làm cho thơ
ông chở nặng bao ý nghĩa. Khi ánh mặt trời chìm đáy biển sâu là thời khắc báo sự
hủy diệt bắt đầu; trước hết, với đời sống thiên nhiên, “những tấm lưới bùng ra
như đám cháy” gây nên “bao cuộc chia ly của lũ cá dại khờ”; sau nữa, với con
người, họ phải trả cái giá đắt cho cuộc mưu sinh nơi muôn trùng sóng dữ: “những
phận người rơi vào đáy biển/ Rơi như một buổi chiều đang ngủ” (Xô-nát hoàng hôn
biển). Bản Xô-nát hoàng hôn biển vọng lên giai điệu buồn ngơ ngẩn, tê buốt của
"cơn đau" tắt lửa mặt trời: “Trong hoàng hôn nước màu huyết dụ/ Có một
bài ca lưu lạc tìm về” (Xô-nát hoàng hôn biển).
Maud Bodkin cho rằng các biểu
tượng văn hóa, tâm linh là các mẫu gốc của thơ ca. Với thơ tượng trưng lấy ngôn
ngữ làm cứu cánh tự tại thì ngôn ngữ chính là kênh trung chuyển tối ưu cho biểu
tượng; trong quá trình đó, thường xảy ra hiện tượng biểu tượng gốc có sự biến đổi
nghĩa, tức là khi thực hiện chức năng thẩm mỹ, biểu tượng ngôn ngữ được cấu tạo,
tổ chức lại sao cho phù hợp với các yếu tố cấu thành nên tác phẩm văn học cũng
như tư duy nghệ thuật của chủ thể sáng tạo. Chẳng hạn, biểu tượng trăng trong
văn hóa, theo Chevalier, có ý tượng trưng cho “nhịp điệu sinh học”, “thời gian
trôi đi”, “cái chết đầu tiên”, “tri thức gián tiếp, suy lý, tiệm tiến, lạnh
lùng”, “sức sinh sản”… [2, Tr. 936, 937]; nhưng khi đi vào thơ Hàn Mặc Tử qua
con đường “máu cuồng và hồn điên”, trăng được cài những tầng nghĩa mới, gắn với
trải nghiệm đau thương của nhà thơ. Trăng không còn là một thực thể tĩnh, tồn tại
khách quan, độc lập với con người mà trăng - thi nhân có mối ràng rịt, thôn
tính lẫn nhau, trở thành vật sở hữu của nhau. Thế nên, người thơ có thể “chơi
trên trăng”, “rượt trăng”, “say trăng”, rồi “ngủ với trăng”. Trăng - thi nhân
tan hòa vào nhau: “Không gian dày đặc toàn trăng cả/ Tôi cũng trăng mà nàng
cũng trăng” (Huyền ảo). Thêm nữa, trăng trong thơ Hàn Mặc Tử còn bị nổ vỡ thành
muôn mảnh tâm trạng, mỗi vầng trăng là mỗi chứng nghiệm đau thương, ám thị ghê
gớm nhà thơ: “Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa,/ Vỡ tan thành vũng đọng vàng
khô./ Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy,/ Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra” (Say
trăng). Trăng còn là biến thể của máu và hồn. Chúng có mối liên hệ khăng khít,
tồn tại trong một nhất thể Đau thương. Trăng được nhà thơ linh thị là nguồn cảm
hứng, nguồn năng lượng thắp lên sự sống cho hồn - thế giới tinh thần siêu việt:
“Tôi nhập hồn tôi trong khúc hát,/ Để nhờ không khí đẩy lên trăng” (Chơi trên
trăng). Hồn hòa vào trăng, trăng tiêu tán trong hồn cho đến khi “hồn đã cấu, đã
cào, nhai ngấu nghiến” (Hồn là ai) là lúc tích tụ mọi thương đau, tinh túy để
chuẩn bị cho thời khắc tuôn trào của máu, trái tinh hoa của thơ: “Ta muốn hồn
trào ra đầu ngọn bút;/ Mỗi lời thơ đều dính não cân ta./ Bao nét chữ quay cuồng
như máu vọt,/ Như mê man chết điếng cả làn da” (Rướm máu). Trăng, hồn, máu là
“đau thương” thăng hoa thành nghệ thuật, là con đường sáng tạo, là một kiểu
ngôn ngữ của Thơ điên.
Ngôn ngữ thơ tượng trưng còn chịu sự chi phối bởi kiểu
tư duy tương ứng giác quan của Baudelaire. Kiểu tư duy này giúp các nhà thơ tượng
trưng sáng chế ra một thứ ngôn ngữ khác biệt
với các trường phái khác: “Với chủ nghĩa lãng mạn, ngôn từ thơ là ngôn từ diễn
cảm, với chủ nghĩa tượng trưng, ngôn từ thơ là ngôn từ của sự tượng hợp” [1,
Tr. 6]. Bằng cái nhìn thấu thị, năng lực liên tưởng tinh nhạy, các nhà thơ tượng
trưng đã xác lập được mối liên hệ ngầm ẩn cho chữ. Đó là sự tương hợp giữa
hương sắc và âm thanh thể hiện qua cách sắp đặt những tính từ chỉ màu sắc, mùi
vị bên cạnh những danh từ chỉ thanh âm: “Này lắng nghe em khúc nhạc thơm(...)/ Hãy
tự buông cho khúc nhạc hường” (Huyền diệu–Xuân Diệu), “Chiều qua mây vỡ ráng/
đem vàng rắc lối mọc canh sao/ Đàn lên dây sáng/ chẳng tiếc huy hoàng, ca lung
linh” (Hòa âm XI - Đoàn Thêm). Đó là sự tương hợp giữa vô hình và hữu hình.
Trong trường hợp này, nhà thơ kết hợp từ chỉ cái trừu tượng với cái cụ thể, tạo
cho cái trừu tượng một hình hài; nói khác đi, nhà thơ hữu hình hóa cái vô hình.
Ngôn ngữ này xuất hiện phổ biến trong thơ tượng trưng: “Mộng rất xanh, mộng rất
xanh, rất xanh/ Choáng thời gian vây môn đầu thục nữ” (Sắc đẹp– Bích Khê),
“Lòng tím ngàn năm nặng nợ/ Lạc loài vất vưởng cô liêu” (Nostalgic Blue - Quách
Thoại).
Tuy nhiên, nếu hiểu ngôn ngữ tượng hợp như thế vẫn chưa thấy hết hiệu
năng của nó. Ngôn ngữ tương hợp không đơn thuần là sự kết hợp “bằng trăm tiếng
vẽ ra trăm màu sắc” (Đàn ngọc - Hàn Mặc Tử), mà còn gắn với quan niệm về thế giới,
về thơ của thi phái tượng trưng. Họ không hài lòng với lối thơ khép kín trong mấy
dây tâm tư của con người và phản ánh sự vật một cách hời hợt, bề ngoài. Các nhà
thơ tượng trưng cho rằng thế giới là một thể thống nhất âm u, ẩn chứa muôn vàn
bí mật; thơ có nhiệm vụ minh giải nó, và ngôn ngữ tương hợp chính là công cụ hữu
hiệu giúp nhà thơ thâm nhập thế giới đó. Trước thơ tượng trưng, mấy ai thâu tóm
được thời gian vào đôi mắt, khứu giác của mình; nhờ ngôn ngữ tương hợp, Đoàn
Phú Tứ đã làm được một việc thần tình:
Màu thời gian không xanh
Màu thời gian
tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh
(Màu thời gian -
Đoàn Phú Tứ)
Vẻ đẹp, chất thơ của Màu thời gian lắng kết trong lớp ngôn ngữ
tương hợp. Thời gian vốn vô hình, nhưng qua sự ma thuật của thi sĩ họ Đoàn trở
nên hữu sắc, hữu hương, đồng thời, dẫn dụ bao nhiêu thiên tình sử xa xăm hiện về
lung linh, diễm ảo: “Tóc mây một món chiếc dao vàng/ Nghìn trùng e lệ phụng
Quân vương/ Trăm năm tình cũ lìa không hẹn/ Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng”
(Màu thời gian).
Sự tương hợp gợi lên trong ngôn ngữ là sự phóng chiếu của thế
giới thống nhất, tương giao được cảm niệm trong quá trình thăng hoa cùng ngôn
ngữ. Ngôn ngữ sinh ra thế giới, sinh ra thi sĩ, hay nói như Joseph Brodsky, nhà
thơ là phương tiện để ngôn ngữ kéo dài sự tồn tại của mình. Mỗi khi bị xơ cứng,
chai bạc, ngôn ngữ sẽ còn rất ít công năng tác động đến tư duy và mỹ cảm của
con người.
2.2. Ngôn ngữ tiềm thức, bí
nhiệm
Mallarmé tuyên bố thơ phải mãi mãi là một câu đố, tức là ông nhấn mạnh đến
tính chất thần bí, diệu kỳ của thi ca khởi đi từ ngôn ngữ vì thơ là nghệ thuật
của ngôn từ. Bằng cả lý thuyết lẫn thực tiễn sáng tác, các nhà thơ tượng trưng
đã làm nên một cuộc cách mạng cho ngôn ngữ thơ. Họ trả lại cho nó sự thuần khiết,
và biến mỗi từ thành một tượng trưng ghi dấu phút linh sáng tạo, lưu trữ những
rung động của chủ thể trữ tình, đưa thơ ca đạt tới quyền lực siêu nhiên; đồng
thời, bắt độc giả phải nhẩm đoán từng điểm một và đọc lên nghe như thần chú:
Khối
yên tĩnh nơi thế gian này bị rớt ngã từ một tai ương tối tăm, Mà ít ra phiến đá
hoa cương kia cũng đã vĩnh viễn phô bày giới hạn của nó
Trước những đường bay
đen của lời báng bổ rải rác trong tương lai.
(Ngôi mộ của Edgar Poe - Mallarmé)
Vẻ đẹp bí nhiệm và hiện đại của ngôn ngữ thơ tượng trưng đã tạo ra một lực hấp
dẫn đặc biệt cho nhiều thế hệ thi sĩ Việt Nam. Ngay từ Thơ mới, nhất là các thi
sĩ thuộc nhóm Trường thơ Loạn, Xuân Thu, Dạ Đài tỏ rõ sự thích thú với ngôn ngữ
này. Họ không chỉ đưa ra những phát ngôn mang tính nổi loạn về ngôn ngữ thơ, mà
còn sáng tạo những thi phẩm “của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong” (Duy tân - Bích Khê). Có thể khẳng định, trong các nhà thơ Loạn, Bích Khê là người ý thức
sâu sắc và thực hiện thành công việc đổi mới ngôn ngữ thơ. Ông chủ trương đưa
thơ trở về cội nguồn, bản thể của nó; tức là sáng tạo ra một thứ thơ thuần túy
từ chất liệu ngôn ngữ nguyên sơ, bí nhiệm, “chứa ngầm bao chất nổ”:
Lời truyền
sóng đánh điện khắp muôn trời
Chữ bí mật chứa ngầm bao chất nổ
(Nàng bước tới -
Bích Khê)
“Chữ bí mật” mà Bích Khê muốn chinh phục là thứ chữ được tạo ra trên
cơ sở cưỡng bức, lắp ghép ngôn từ. Nhà thơ sắp xếp các chữ vốn không liên quan
về nghĩa đứng cạnh nhau theo nguyên tắc tư duy liên tưởng, gián đoạn; từ đó,
làm xuất hiện những từ mới, nghĩa mới, thậm chí không có trong từ điển và ẩn chứa
nguồn năng lượng siêu việt có khả năng đánh thức đồng thời mọi giác quan, đưa
người đọc vào vùng siêu cảm:
Ôi sắc đẹp! Anh hoa hồn vũ trụ!
Phẩm tràng sinh!
Tinh chất khí âm dương!
Mi làm long phí lòng muôn trinh nữ;
Muôn tài hoa
nghiêng trước vẻ thiên hương.
(Đồ mi hoa - Bích Khê)
Ngôn ngữ thơ Bích Khê là tiếng
nói của tiềm thức, trực giác. Thi nhân sáng tạo trong trạng thái siêu thăng, mộng
ảo. Vì thế, quá trình xử lý chất liệu ngôn ngữ của ông cũng chính là quá trình
mơ mộng ngôn ngữ. Chữ Bích Khê tự nhiên bay nhảy, phát huy sức mạnh tự thân, không chấp nhận sự can thiệp của lý trí, cũng
như không tìm cách khoanh vòng thực tại. Nhiều thi phẩm như Tỳ bà, Nhạc, Hoàng
hoa, Nghê thường, Hiện hình, Tranh lõa thể, Sắc đẹp, Nàng bước tới, Đồ mi hoa,
Duy tân... quả là những “lời ca man dại”. Câu thơ cấu trúc lỏng lẻo, không theo
logic thông thường, bị tỉnh lược nghiệt ngã; những hư từ, liên từ giảm thiểu tối
đa, có những câu thơ chỉ toàn thực từ sáp vào nhau một cách ngẫu nhiên (“Trăng
gây vàng, vàng gây lên sắc trắng” - Mộng cầm ca, “Buồn sang cây tùng thăm đông
quân” - Tỳ bà, “Gió đi chới với trong khung trắng” - Hiện hình, “Gương phép tắc
suốt soi ngàn mộng ảnh” - Tranh lõa thể, “Một hỗn độn đẹp xô bồ say dậy” - Duy
Tân...). Chính sự kết hợp từ táo bạo này biến cái không thành có, cái vô hình
thành hữu hình, mở ra một thế giới miên viễn như ông tự ý thức là một cõi trời ở
ngoài trời; nó dễ làm mê hoặc người ta, khiến họ không còn bận tâm truy tìm ý
nghĩa. Có chăng, hãy để hồn mình hòa điệu cùng những kiến trúc đầy âm vang của
“thi sĩ thần linh”, chúng ta sẽ có tất cả.
Sau Bích Khê, nhóm Xuân Thu tiếp tục
đẩy ngôn ngữ thơ đi về phía bí nhiệm tượng trưng, thậm chí chạm tới siêu thực;
song tuyệt nhiên không “kín mít” như ai đó từng nói. Mặc dù họ từng tuyên bố
thơ không cần hiểu, nhưng không có nghĩa chặn mọi con đường đến với thơ. Độc giả
muốn khám phá thi giới Xuân Thu, thay vì đi đường thẳng/ cách đọc tuyến tính,
thì phải đi đường vòng/ cách đọc phi tuyến tính. Bởi lầu thơ của họ được kiến
trúc với nhiều vỉa tầng bí mật nhằm vươn tới tính chất thuần túy, hàm xúc, tiềm
thức; nên không thích giải thích mà chỉ cảm được thôi nhờ vào nhịp điệu ngôn từ
“lưu trữ cả thời gian (âm thanh) lẫn không gian (hình ảnh) trong một phút giao
hòa vĩnh viễn, thiên khải” [11]: “Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi/ Hồn xanh
ngát chở dấu xiêm y/ Rượu hát bầu vàng cung ướp hương/ Ngón hường say tóc nhạc
trầm mi. Lẵng xuân/ Bờ giũ trái xuân xa/ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà/ Nhài đàn
rót nguyệt vú đôi thơm/ Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa” (Buồn xưa - Nguyễn Xuân
Sanh). Đã có không ít lời bình giá cho thi phẩm này, nhưng xem ra chưa ai giải
mã thấu đáo được nó. Tuy nhiên, nhiều người thừa nhận: Buồn xưa đã đạt tới tính
hiện đại. Đỗ Lai Thúy viết: “Trong nhóm Xuân Thu nhã tập hoạt động trước năm
1945, người bắt nhịp cầu đầu tiên từ Thơ mới sang thơ hiện đại chủ nghĩa không
ai khác là Nguyễn Xuân Sanh” [9] và “Buồn xưa có sự tham gia của tiềm thức hoặc
vô thức (...), một đặc tính khác của thơ hiện đại” [9]. Thụy Khuê cũng khẳng định:
“Sự xuất hiện của những “rượu hát”, “nhạc trầm mi”... hẳn là trái khoáy, nghịch
dĩ, bí hiểm và không logic. Nhưng chính cái “không logic” ấy là một trong những
yếu tố nền tảng của thơ hiện đại” [7]… Tính hiện đại của Buồn xưa nói riêng,
thơ Nguyễn Xuân Sanh nói chung thể hiện ở lối viết phi lý tính, phóng chiếu qua
trò chơi ngôn ngữ. So với Bích Khê, Nguyễn Xuân Sanh có ngôn ngữ thơ tân kỳ
hơn. Ông coi trọng con chữ và khai thác triệt để sức mạnh tự thân, hòng xác lập
một lối thơ ngự trị thuần túy của ngôn từ:
Bình tàn thu vai phấn nghiêng rơi
Chén vàng dâng ướp nhạc lòng đời
Sương mùa lệ héo dặm đường hương
(Bình tàn thu - Nguyễn Xuân Sanh)
Sen
tưởng cầu thơm nguôi tiếng van
Rừng ngàn mùa e ấp Dung Nhan
Đền xanh cửa ngát lạc
hoa thương
(Rừng ngàn mùa - Nguyễn Xuân Sanh)
Rõ ràng, ngôn ngữ thơ Nguyễn Xuân
Sanh kiến tạo trên nền tảng trò chơi lắp ghép ngôn ngữ. “Người ta có cảm giác rằng
tác giả đã viết rất nhiều “chữ một” vào một mảnh giấy, gập lại để vào trong một
cái mũ trắng rồi rút ra từng tờ, đặt những chữ tìm thấy chữ nọ ở bên cạnh chữ kia,
đủ bảy chữ lại xuống dòng” [4, Tr. 519]. Vì thế, quan hệ ngữ nghĩa giữa các chữ
đã bị triệt tiêu, chữ nọ đứng cạnh chữ kia một cách ngẫu nhiên, quan hệ cú pháp
của câu thơ cũng bị phá vỡ hoàn toàn. Mối dây liên hệ còn lại duy nhất giữa các
chữ trong câu, giữa các câu trong bài là nhạc điệu, một thứ được tạo ra không dựa
vào luật bằng trắc cổ điển (dù các bài Buồn xưa, Bình tàn thu, Ngàn mùa đều viết
theo thể thơ bảy chữ), mà dựa vào âm thanh, hình ảnh của con chữ. Âm thanh níu
kéo âm thanh, hình ảnh níu kéo hình ảnh do sự thúc đẩy của tư duy liên tưởng bất
định, tạo nên thứ nhịp điệu hình ảnh. Do đó, thơ Nguyễn Xuân Sanh, rộng ra là
thơ nhóm Xuân Thu, cần một cách đọc khác: “Hãy nằm trong thơ, dầm trong nhạc, đừng
vội muốn “hiểu” trước khi xúc cảm. Rồi ta sẽ hiểu, nhất là sẽ biết, cái biết đầy
đủ, trong trẻo, trọn vẹn, nhịp nhàng" [11]. Vì vậy, đừng vội quy kết thơ họ
khó hiểu khi ta chưa đủ tâm thế đón nhận; ngược lại, độc giả sẽ thấy nó gợi ra
trong trí não một vũ trụ lung linh, huyền diệu. Có thể nói, trò chơi ngôn ngữ của
nhóm Xuân Thu không phải là trò chơi vô nghĩa lý, ùm bà lằng, mà bằng vô số chữ
ngẫu hợp “chắt ra giọt sương Lý Tưởng cho ta ngưỡng vọng ngàn đời” [11].
Cuộc nổi
loạn ngôn từ của nhóm Xuân Thu tuy không tạo thành một phong trào rộng lớn,
nhưng nó làm tiền đề cho các thi sĩ về sau tiếp tục đi vào con đường thơ - chữ,
nhất là Lê Đạt, Trần Dần, Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng.
2.3. Ngôn ngữ
tự trị, tạo sinh nghĩa
Tiếp nối lớp thi sĩ đàn anh, các nhà thơ “dòng chữ” (Lê
Đạt, Trần Dần, Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng…) đã nhận thức lại vai
trò, đặc trưng và vị trí của ngôn ngữ trong thơ. Với nhóm “dòng chữ”, ngôn ngữ
là điểm khởi đầu, đồng thời là đích đến của thi ca. Trần Dần tuyên bố: “Thơ cổ
lai đặt ở tứ lạ, lời hay, hình ảnh đẹp, âm điệu ru hồn. Tôi giản dị đồng nhất
thơ vào chữ” [6]. “Chữ” ở đây được hiểu như thế nào? Lê Đạt, trong tiểu luận
Vân Chữ, đã có những kiến giải thú vị và được những [nhà thơ/người] cùng chí hướng
đồng tình chia sẻ. Theo Lê Đạt: “chữ gồm hai phần: phần âm thanh (son) và phần
nghĩa (sens)” [3, Tr. 504]; thêm nữa, chữ có hai nhiệm vụ “gần như dị ứng với
nhau”: biểu thị (signifier) và hình dung (représenter). Khi thực hiện nhiệm vụ
biểu thị, chữ giữ chức năng như một ký hiệu nên cần đơn giản, minh bạch, loại bỏ
phần “máu thịt, sống động” để thuận tiện cho việc giao tiếp; nhưng khi thực hiện nhiệm vụ hình dung, chữ có một đời sống
phức tạp, luôn ở trong trạng thái vận động, và có “diện mạo, giới tính, âm hưởng,
độ vang vọng, sức gợi cảm” [3, Tr. 507]. Thơ ca phải khai thác phần “hình dung”
đó. Đây cũng là chủ trương của Dương Tường, trong một lần trả lời phỏng vấn cho
đài RFI, ông nói: “Chúng tôi muốn lấy con chữ, con âm làm vật liệu chính cho
thơ, đặt ngữ nghĩa xuống hàng thứ yếu” [10, Tr. 45]. Còn Trần Dần khẳng định để
con chữ tự mình làm nghĩa. Thực ra, quan niệm làm thơ là làm chữ và chữ tạo
sinh nghĩa của nhóm “dòng chữ” không phải mới trên thế giới. Trước đó, Rimbaud
đã sáng chế ra màu sắc các nguyên âm, điều chỉnh hình thức và sự vận động của mỗi
phụ âm; ông tin tưởng ngôn ngữ ấy có khả năng phù hợp cho tất cả các giác quan.
Còn Mallarmé thì kêu gọi trả lại tính chủ động, tự trị cho chữ. Mallarmé cho rằng
nếu bài thơ có nghĩa thì nó được tạo ra từ “ảo ảnh” của chữ: “Nghĩa của nó (bài
Sonnet), nếu có, là được gợi lên bởi một ảo ảnh nội tại của bản thân chữ” [10,
Tr. 45]. Tiếp sau các bậc thầy ngôn ngữ này, Valéry yêu cầu nhà thơ phải có bổn
phận sáng tạo chữ bằng cách phát huy những đặc tính độc đáo của ngôn ngữ như
âm, nhịp, điệu... và coi đó là mục đích của thi ca. Ông gọi thơ là một ngôn ngữ
trong ngôn ngữ.
Tiếp biến quan niệm của các nhà thơ tượng trưng Pháp, mỗi nhà
thơ “dòng chữ” có những thể nghiệm riêng: “Lê Đạt lượm, chăn dắt, nâng niu Bóng
chữ; Đặng Đình Hưng tạo cho chữ tự hành (người ta gọi là écriture automatique);
Trần Dần dân chủ hóa chữ, hoán cải tương quan chữ, tìm những tương quan mới cho
chữ cũ” [10, Tr. 46]; Dương Tường “làm ngôn ngữ trên chiều đang – nghĩa (…) là
mặt chữ nhìn nghiêng (de profil)” [10, Tr. 47]. Ông nói: “Tôi nghĩ sức gợi của
thơ tôi là nằm trên cái mặt chênh đó. Nó nảy lên một cái gì giống như âm bồi
trong âm nhạc (son harmonique)” [10, Tr. 47]:
Chiều se sẽ hương
Vườn se sẽ
sương
Đường se sẽ quạnh
Trời se sẽ lạnh
Người se sẽ buồn
(Chợt thu 2 - Dương Tường)
Đề tài và thi ảnh trong Chợt thu 2 tuy cũ kỹ, sáo mòn (“chiều”, “vườn”,
“sương”, “đường”, “trời”, “người”), nhưng nó vẫn ám ảnh người đọc nhờ giai điệu
gợi lên từ hai âm chủ “se sẽ”, nghe như lời bùa chú, và có khả năng hoán cải các
danh từ (“hương”, “sương”), tính từ (“quạnh”, “lạnh”, “buồn”) thành những động
từ, nhạc hóa bài thơ, đồng thời trong sự kết hợp các “con âm” sẽ làm bật nảy ý
nghĩa. Dương Tường đã đánh thức được “con âm” - sự sống nguyên thủy của từ - bằng
cách tự do biến âm, chấp nhận phi chính tả, để tạo nghĩa trong cái vô nghĩa:
“Nôel/ Nô-em/ Nô-elle/ leng beng/ lang beng/ ma lem/ Mariem/ x-em x-em/ hem em/
đồng trinh/ Amen" (Nôel II). Trò chơi “con âm” càng giá trị khi nhà thơ
khéo kết hợp nó với hình ảnh thơ. Đọc thi phẩm Chợt thu 2, ta như chìm vào không gian âm nhạc thính phòng, lắng nghe
từng âm giai của tiếng dương cầm nhẹ nhàng, chậm rãi, du dương, đưa tới ảo giác
như được thụ hưởng cái không khí Hà Nội chớm thu. Có thể nói, Dương Tường đã tạo
được cho thơ mình một “vân chữ” riêng. Tuy nhiên, đôi khi quá đà, thi sĩ đã biến
thơ thành trò chơi ngôn ngữ thuần túy hình thức, một thứ “thơ khó”.
Trong các
nhà thơ “dòng chữ”, Lê Đạt là người chịu ảnh hưởng của Mallarmé rõ nét hơn cả
khi chủ trương kiến tạo những bài thơ giống như câu đố. Ông đã giấu nghĩa thơ để
thiên hạ đi tìm bằng cách “chăn dắt” Bóng chữ. Nhà thơ loại bỏ nghĩa tự vị,
tiêu dùng, khả năng biểu vật, biểu thị, biểu niệm của thực từ; đồng thời, tập
trung khai thác phần “hình dung”, phát huy tối đa cái “năng biểu” của chữ (âm
thanh, hình dạng, màu sắc, nhịp điệu, cách thức bày bố...) để tạo sinh nghĩa và
biến ngôn ngữ “tiêu dùng” thành thứ ngôn ngữ “trò chơi”. Lê Đạt cho rằng: “Người
làm thơ thực hiện một trò chơi chữ nghiêm túc, sử dụng những phép tu từ học (ám
dụ, hoán dụ, lược tỉnh, ghép âm, nói lái, nói lối...) như một đứa trẻ chơi với
những đồ vật chung quanh” [3, Tr. 627]. Và vì “chơi chữ nghiêm túc” nên nhà thơ
vạch được những Đường chữ cho riêng mình. Hai thi tập Bóng chữ, Ngó lời là những
minh chứng tiêu biểu. Chúng là kết quả của một quá trình thi nhân miệt mài trên
cánh đồng chữ, và không ngừng “sinh sự với ngữ nghĩa và ngữ pháp để tạo ra một
sự sinh mới cho thơ” [3, Tr. 627]. Lê Đạt đã làm chữ cho thơ, và chữ của ông
không gắn với nghĩa ứng trước mà tạo sinh nghĩa. Nhà thơ nắm bắt cái phần vang
lên của chữ/ âm, dò thông số ý nghĩa từ những tín hiệu đó. Nói cách khác, Lê Đạt
tìm mối quan hệ ngầm ẩn ở mặt sau của nghĩa tự vị, nghĩa từ điển, rồi chộp lấy
"bóng chữ”, tổ hợp chúng lại theo một cấu trúc mới gây “chập nổ”, trượt
nghĩa: “Đường nắng cánh sen đèn hội má/ Vườn màu hoa con gái/ bướm phù dâu"
(Vườn màu). Nhìn bề ngoài, các chữ hiện lên rời rạc, bị gián cách về cú pháp,
nhưng bên trong chúng có khả năng kết hợp ngầm ẩn nhờ cái bóng của chữ trước đổ
sang chữ sau. Nhà thơ ảo hóa thực từ bằng cách xóa bỏ những con chữ chết, chữ
thừa để con chữ động cựa; đồng thời, đẩy nó vào những kết hợp mới, bắt thực từ
sống luôn đời sống của hư từ, liên từ, trợ từ, và trong từng kiểu kết hợp,
nghĩa sẽ phát sinh: “Tuổi lũ trắng mộng mấy mùa hoạn nạn/ Quỹ tạm tình vay ngắn
hạn bốc bay” (Bốc bay). Bài thơ không một từ quan hệ nên rất khó xác định nó gồm
bao nhiêu từ, hình ảnh, chính sự mơ hồ đó khiến cho việc ngắt nhịp trở nên đa dạng,
và mỗi cách ngắt nhịp sẽ tạo ra những ý nghĩa khác nhau. Có thể nói, chữ của Lê
Đạt thường tạo sinh nghĩa trong cú pháp hơn là từ vựng, nó có khả năng vẫy gọi
những tiền giả định trong ký ức con người. Từ Bóng chữ đến Ngó lời, Lê Đạt
không ngừng giải phóng con chữ, con âm ra khỏi những thiết chế cú pháp - ngữ
nghĩa thông thường, cho chúng tự do hoạt động. Thi nhân tựa như một nông phu cần
mẫn, lực điền để đập chữ tìm vân, bẻ lời tìm ngó nhằm lay tĩnh linh thị của con
người đã ngủ quên từ lâu trong các thói quen.
“Sự sinh mới” của thơ Lê Đạt còn
thể hiện trong loại hình câu thơ. Nó là bước phát triển từ những thể nghiệm của
nhóm Xuân Thu, cụ thể là Nguyễn Xuân Sanh. Điểm nổi bật của câu thơ Lê Đạt là
tính phi logic, kết quả từ việc “làm chữ” của nhà thơ. Ông đã thủ tiêu kiểu cú pháp thông thường, xây dựng trên các mối
quan hệ và diễn trình theo thời gian, tạo ra kiểu cú pháp độc lập, phi tuyến
tính, thể hiện qua ba hình thức.
Một là, kiểu câu thơ gián đoạn, “cóc nhảy”. Nó
được tạo ra do sự sắp xếp các danh từ, cụm danh từ đứng cạnh nhau: “Điện tắt
thu tàn trăng cuối tháng” (Lời hương), “Mây tóc gió ngây chiều kỳ ngộ” (Nhớ),
“Trưa nhiệt đới Bãi Ngà em ẩn nắng” (Bãi Ngà), “Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải”
(Phả lại), “Tuổi hoài sim chín má ngọt môi phai” (Sim chín)...
Hai là, kiểu câu
thơ kết hợp tự do. Nó xuất phát từ chỗ không thể xác tín cách ngắt nhịp nào là
hợp lý: “Ngực dự hương thơm đêm mùi tuổi chín/ Mắt lá tre đằng ngâm mộng ba
giăng” (Tuổi chín), “Tóc gió lay trắng tà bay nắng hạt/ Áo mây phiêu lòng nặng
hạt mưa chiều” (Nặng hạt)... Tám con chữ trong một câu thơ được Lê Đạt thả tự
do để chúng tha hồ kết hợp, “hoán vị giai thừa” tạo thành vô số những câu thơ
mang những nghĩa khác nhau.
Ba là, kiểu câu thơ đảo lộn trật tự, “đặt sai”. Nhà
thơ cố tình tạo ra sự lộn xộn, kéo các chữ ra khỏi những cấu trúc cố hữu, đặt
chúng vào những vị trí bất thường, từ đó, gợi mở những khả năng phát sinh
nghĩa: “Lửa gạo thắp hoa đèn soi cỏ lạ” (Trung du), “Hè thon cong thân nắng cựa
mình” (Nụ xuân), “Máy nhắn chim tin tìm về lộ phố” (Máy nhắn tin).
Việc “làm chữ”
và tổ chức loại hình câu thơ của Lê Đạt đã đi xa hơn Nguyễn Xuân Sanh trong cả
ý thức nghệ thuật lẫn thực tiễn sáng tạo. Thi nhân tôn trọng chữ như những sinh
vật có hồn, lắng nghe, chuyện trò, ăn nằm với nó; từ đó, cho ra đời những đứa
con tinh thần mang dáng vóc thơ - chữ. Lê Đạt tự nhận là “phu chữ” quả không
sai. Và ông đã chơi đẹp với chữ bằng luật riêng của mình, vừa tự do, phóng
túng, vừa nghiêm túc, chặt chẽ. Nhà thơ kiểm soát chữ trên mọi hình thái hiện
diện và cài ghép có chủ ý vào chữ các mã của ý tình, khiến cho việc đọc thơ như
là quá trình giải đố, tái tạo cấu trúc của kinh nghiệm ngôn ngữ, thẩm mỹ.
3. Kết
luận:
Thơ tượng trưng chính thức xuất hiện ở nước ta vào thập niên 40 của thế kỷ
XX, hình thành nên một khuynh hướng thi ca trong nền thơ Việt Nam. Trong sự vận
động và phát triển, thơ tượng trưng đã trải qua những bước thăng trầm; tuy
nhiên, không thể phủ nhận, nó có những đóng góp to lớn cho nền thơ dân tộc trên
nhiều phương diện, trong đó có ngôn ngữ. Các nhà thơ tượng trưng Việt Nam đã có
một cuộc chơi ngôn ngữ ngoạn mục, nhưng tuyệt nhiên “không phải là một lạc thú
vớ vẩn mà là cả một hội hè trí tuệ vì có ngôn ngữ mới, ta có những tri thức mới”
[5, Tr. 50]. Quả vậy, với việc chế tác những “vân chữ” độc đáo, mới lạ (ngôn ngữ
biểu tượng và tương hợp, tiềm thức và bí nhiệm, tự trị để tạo sinh nghĩa), các
nhà thơ tượng trưng Việt Nam đã tạo nên một thế giới khác thật hơn đời thực,
làm thay đổi hệ hình tư duy thơ không chỉ ở người cầm bút mà cả ở người đọc, biến
độc giả thành người chơi trong cuộc “ú tìm” chữ nghĩa.
Tài liệu tham khảo:
1. Baudelaire C. (1995), Thơ, Vũ Đình
Liên (dịch), Nxb. Văn học, Hà Nội.
2. Chevalier J. Gheerbrant. A (2002), Từ điển
biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb. Đà Nẵng.
3. Lê Đạt (2009), Đường chữ, Nxb. Hội
Nhà văn, Hà Nội.
4. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX,
Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
5. Đặng Thị Hạnh (chủ biên) (2005), Lịch sử văn học Pháp
thể kỷ XX, tập 3, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Trần Ngọc Hiếu, “Tìm hiểu một
quan niệm nghệ thuật về ngôn từ trong thơ Việt đương đại”,
http://www.talawas.org/
7. Thụy Khuê, “Cấu trúc thơ”,
http://thuykhue.free.fr/
8.
Lajos N. (2004), Trường phái hình thức Nga, Trương Đăng Dung dịch, Tác phẩm văn
học như là quá trình, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
9. Đỗ Lai Thúy, “Cách đọc
bài thơ Buồn xưa”, https://baomoi.com/
10. Dương Tường (2009), Chỉ tại con chích chòe, Nxb. Hội
Nhà văn, Hà Nội.
11. “Xuân Thu Nhã Tập”,
http://bookhunterclub.com/.
Tháng 8/2018 Hồ Văn Quốc
Tháng 8/2018


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét