Mùi hương trầm - Tây Tạng huyền bí 2

"CON TRÂU ĐIÊN"
"Con trâu điên" (The crazy Yak) là tên một
quán ăn thuần túy Tây Tạng. Buổi tối chúng tôi ngồi trong một tiệm ăn tự chọn của
người Tây Tạng. Có lẽ tiệm này chủ yếu dành cho khách du lịch và người nước
ngoài, nội cái tên bằng Anh ngữ cũng nói lên điều đó. Chúng tôi ngồi thở sau
khi lên một cầu thang hẹp để đến một gian phòng lớn theo đầy Thangka [11].
Không khí loãng trên cao nguyên làm người ta rất mau mệt, nhất là sau khi đi
tham quan các tu viện trên núi. Vì thế không có gì sung sướng hơn buổi chiều tối
được ngồi nghỉ, ăn uống và suy ngẫm những gì mình đã thấy trong ngày.
Chúng tôi ngồi nghỉ trước khi đến bàn ăn tự chọn xem thử
trong đó có những món gì. Chắc là không thể có thịt trâu Yak, "con trâu
điên" chắc chỉ là tên gọi lạ tai. Yak là sinh vật đặc trưng của Tây Tạng,
chẳng thế mà tại một ngã tư lớn của Lhasa có một tượng đồng rất sinh động của
hai con trâu. Người ta không thể làm thịt trâu, Yak là con vật có ích nhất cho
dân Tây Tạng. Đối với họ con trâu là cả một gia tài.
Trâu Yak không giống trâu Việt Nam. Trâu Việt Nam đã chậm chạp
mà nó còn chậm hơn. Điều khác nhất là lông nó rất dài, có lẽ để chống lạnh.
Trên cao nguyên Tây Tạng tôi không thấy bò, chỉ trâu Yak lo chuyện đồng áng. Sữa
trâu để dùng làm trà bơ, một chất bổ dưỡng mà tôi có dịp nếm ngay hôm nay. Mỡ
trâu dùng để thắp đèn mà mùi của nó ngai ngái hết sức khó quên. Nhưng trâu cho
người cái quan trọng nhất, đó là phân trâu. Ở đây tôi không nói chuyện tiếu
lâm, thật sự phân trâu là thứ quí nhất, nó là chất đốt chủ yếu. Đi ngang làng mạc
Tây Tạng ta thấy mỗi nhà đều đắp trên tường hay phơi ngoài ngõ những bánh tròn
tròn mới nhìn qua tưởng như bánh chưng. Thế nhưng nó không phải thứ để ăn mà để
đốt, đó chính là phân trâu Yak. Phân trâu Yak khi đốt cho một ngọn lửa không
mùi và rất nóng. Trên một xứ cao nguyên lạnh giá, hiếm gỗ thì phân trâu Yak là
nguồn nhiên liệu quý giá.
Trên tường, đức Phật A-di-đà trong một bức Thangka thật lớn mỉm
cười nhìn chúng tôi đến bàn lấy thức ăn. Chắc Ngài từ bi chấp nhận kẻ ăn mặn
như tôi trong xứ của Phật pháp này. Quả nhiên như tôi đoán, không có thịt trâu
Yak, nếu có tôi cũng chẳng ăn. Xung quanh tôi có những nhóm du lịch khác, lác
đác có kẻ nói tiếng Đức xen lẫn tiếng Anh và lạ thay, trong số họ có nhiều người
ăn chay, họ hỏi nhau món nào không có thịt. Cuối cùng tất cả chúng tôi đều vui
lòng vì các món chay mặn đều có, tôi sớm tìm ra một món thịt, đó là thịt trừu.
Tôi phải ăn thịt để lấy sức leo núi, phải uống bia để tiêu món thịt, đó là lý
luận của những kẻ còn tham ăn tục uống như tôi. Thế nên dưới nụ cười của đức Phật
từ bi, tôi ăn thịt trừu chăn trên sườn Hy-mã lạp sơn và uống bia Lhasa lấy nước
từ những suối nguồn tinh khiết đó.
Tôi không phải là kẻ duy nhất ăn thịt trên cao nguyên Tây Tạng
này. Nơi đây khí hậu quá lạnh nên không có bao nhiêu rau cải, rất nhiều người
Tây Tạng phải ăn thịt để sống, kể cả nhiều tăng sĩ. Đã có nhiều cuộc tranh luận
về việc ăn thịt hay không ăn thịt trong giới tăng sĩ, nhưng nói chung chỉ tăng
sĩ của phái Cách-lỗ mới tuyệt đối ăn chay, tăng sĩ mũ đỏ có nhiều người ăn thịt,
tăng sĩ miền bắc ăn thịt nhiều hơn người miền nam. Lý do đơn giản là miền bắc Tây
Tạng quá lạnh, thực vật cũng không mấy thứ sống nổi.
Tôi đã vào trong nhà bếp của tu viện Drepung xem thử. Ngày
nay đó không còn là nơi nấu cho hàng trăm hàng ngàn người ăn nữa nhưng những
chiếc nồi to tướng nhắc tôi đây đã một thời náo nhiệt. Tôi bỗng nhớ câu chuyện
của vị "đầu bếp giác ngộ" [12] và
tự hỏi không biết vị đầu bếp nào đã nấu nướng nơi đây và "năng lực tâm
linh" của người đó còn vương trong căn nhà đầy mồ hóng này hay không. Đầu
bếp của các tu viện không phải là người thường, họ là những lạt-ma không kém phần
cao trọng. Người Tây Tạng cho rằng thức ăn của những đầu bếp giác ngộ mới mang
lại phước lành cho người ăn, tất cả sản phẩm do tay người làm ra, dù là sản phẩm
gì, đều mang dấu ấn tâm linh của người đó. Tôi đọc lại câu chuyện nói trên và để
ý thấy câu "lạt-ma đầu bếp này hàng năm trời đứng dưới thịt trâu xông
khói". Thì ra người ta vẫn ăn thịt trâu Yak. Thế thì tăng sĩ và cư sĩ đâu
còn gì khác nhau?
Quan niệm về đời sống tu sĩ tại Tây Tạng có nhiều điều khác
biệt so với tăng sĩ của các nước khác. Nếu tại các nước theo Thượng tọa bộ người
ta tin rằng chỉ tăng sĩ mới đạt quả A-la-hán thì đại thừa Phật giáo cho rằng cư
sĩ cũng như tăng sĩ đều mang Phật tính trong tâm, ai cũng có thể đạt giác ngộ.
Dù thế, nhưng tại Ấn Độ và Trung Quốc người ta còn phân biệt cư sĩ, tăng sĩ
cũng như giới luật dành cho hai hạng người đó. Còn tại Tây Tạng sự phân biệt đó
không còn rõ nét, có nhiều lạt-ma sống cuộc đời thế tục, có gia đình nhưng vẫn
hành lễ như tu sĩ và được tín đồ trọng vọng. Nếu tại Ấn Độ vị cư sĩ nổi tiếng
nhất là Cấp Cô Độc thì tại Tây Tạng, người đó là Marpa, "nhà đại phiên dịch".
Theo nhiều tài liệu, Marpa sinh năm 1012 tại nam Tây Tạng. Từ
hồi trẻ ông đã học tiếng Phạn và bán toàn bộ sản nghiệp để dành tiền đi Ấn Độ.
Ngày xưa người Tây Tạng đi Ấn Độ là dấn thân vào một chuyến phiêu lưu gian khổ,
mười người đi bỏ mạng đến bảy tám người. Lý do là khí hậu Tây Tạng thì lạnh và
khô, Ấn Độ thì nóng và ẩm, rất nhiều người đau ốm dọc đường. Ai đi Ấn Độ trở về
đã là một kỳ công được nhiều người nể trọng.
Marpa đi Ấn Độ tổng cộng ba lần. Lần đầu ông gặp Naropa, đó
là một vị đại thành tựu giả [13] và
học đạo với vị này suốt 16 năm. Naropa là một vị hành giả tiêu biểu của đại thừa
mật giáo của Ấn Độ, là người đồng thời của A-đề-sa và là một trong những nhân vật
quan trọng của viện Phật học Na-lan-đà tại Patna. Ông là người truyền lại cho Marpa
phép Đại Thủ Ấn [14] và
bộ "Du già lục pháp" [15] với
nhiều phép khổ luyện hết sức huyền bí. Marpa đem nhiều kinh sách, đặc biệt là của
đại thừa của thời kỳ cuối, về Tây Tạng. Ông sống một cuộc đời nông phu, lấy vợ
sinh con và đem hết sức mình ra dịch thuật kinh sách. Sau đó ông lại đi Ấn Độ lần
thứ hai, học thêm nhiều phép bí truyền. Về lại Tây Tạng, ông gặp một người xuất
chúng của Tây Tạng và thâu nhận làm học trò. Người đó không ai khác hơn là
Milarepa (người khổ hạnh áo vải). Milarepa bị Marpa hành hạ gần muốn tự tử chẳng
qua là Marpa muốn giải ác nghiệp cho ông. Về sau, Milarepa đắc đạo và thành lập
phái Ca-nhĩ-cư (Kagyupa), một trong bốn tông phái của Phật Giáo Tây Tạng và cư
sĩ Marpa được xem là tổ thứ ba [16] của
phái này. Lần thứ ba lúc tuổi đã cao, Marpa lại đi Ấn Độ một lần nữa vì một
phép bí truyền, đó là giáo pháp "đoạn giáo". Nơi đây ông gặp lại vị
thầy Naropa lần cuối. Người cư sĩ Marpa có nhiều điều giống với tăng sĩ Huyền
Trang, kẻ sống trước ông ba thế kỷ. Hai vị đều là người đi Ấn Độ thỉnh kinh
sách về nước mình và được tôn là "đại dịch sư".
Tôi ngẫm nghĩ điều đó trong "Con trâu điên" trong
lúc có người mang lại một tách trà bơ cho tôi. Tôi vui mừng được uống thử trà
bơ nổi danh mà tất cả các sách về Tây Tạng đều nhắc tới. Đó là thứ trà mà người
ta uống rất nóng và tiếc thay, nó có mùi ngai ngái của mỡ trâu. Tôi đặt tách
trà xuống và thành thực mà nói tôi thấy bia Lhasa ngon hơn và có lẽ sẽ chỉ uống
trà này nếu không có gì để uống nữa và nhất là nếu cần nó để có chút hơi ấm khi
sắp chết cóng vì lạnh. Sau đó tôi hết sức ngưỡng mộ khi người ta đem bánh Tsampa ra.
Đó là thứ bánh làm bằng bột mì mà các tăng sĩ Tây Tạng hay tự tay làm để cúng
dường các vị nữ thần Không hành nữ [17]. Tsampa,
có ngày ta được nếm thử ngươi, được ăn thứ mà nữ thần cũng ăn, tôi sung sướng tự
nhủ. Thế nhưng, Tsampa quá ngọt và vẫn không tránh được mùi mỡ trâu,
tôi ăn không nổi.
Tôi sắp điên vì mỡ trâu chứ không có con trâu nào điên cả, đó
là kết luận của tôi ngày hôm đó.
TRÊN CAO NGUYÊN
Mặc dù nằm trên độ cao 3700m nhưng Lhasa chỉ là một thung
lũng hiền hòa. Ngoài thung lũng Yarlung Tsangpo, Tây Tạng chỉ toàn là núi non
hiểm trở. Miền bắc của Tây Tạng giáp giới với dãy núi Côn Luân, đó là một vùng
lạnh lẽo quanh năm, dân Tây Tạng cũng không ai muốn lên đó. Miền nam Tây Tạng
chính là dãy Hy-mã lạp sơn mà cách Lhasa khoảng chừng 800km đường trường về
phía tây nam là đỉnh Everest cao nhất thế giới với độ cao 8848m.
Như ta biết, cao nguyên Tây Tạng được sinh ra cách đây khoảng
40 triệu năm, lúc bán đảo Ấn Độ di chuyển đụng phải đại lục châu Á. Sự va chạm
đó không nhẹ nhàng cho lắm, nó đội lên thành hàng chục ngọn núi cao và đồng thời
sinh ra những khe núi sâu khủng khiếp mà tiếng Anh gọi là "Canyon".
Thế nên tại Tây Tạng có sáu ngọn núi cao trên 8000m, 50 ngọn trên 7000m. Chúng
được tuyết trắng quanh năm che phủ, sườn của chúng chứa đầy băng vạn niên dày
hàng chục mét. Dưới chân núi là những hẻm sâu thăm thẳm và lạ thay trong những
hẻm đó có những nơi vô cùng ấm áp, hoa lá xinh tươi. Dưới chân những ngọn núi
đó hồ, có cả hồ nước mặn, mặt nước của chúng len lỏi vào trong những rảnh sâu của
chân núi để sinh ra những bờ hồ khúc khủy với một sắc đẹp vô song.
Tuyết tan trên núi vào những ngày hè tích tụ từ bao nhiêu triệu
năm chảy xuống hồ Manasarova dưới chân Ngân Sơn để sinh ra con sông Yarlung
Tsanpo mà ta đã biết. Con sông này chảy từ trên cao nguyên với độ cao gần 7000
mét về biển nên ta có thể hình dung nó vượt qua bao nhiêu hẻm núi sâu để về đồng
bằng. Tại phía đông Tây Tạng nó chảy qua một loạt thác với một đoạn sông chỉ
dài có 45km mà mất 3000m độ cao. Đó là một trong những hẻm núi nổi danh nhất thế
giới, tính từ trên đỉnh núi xuống mặt nước cao trung bình trên 5000m. Từ trên
núi nhìn xuống sông mà tưởng như từ trên máy bay nhìn xuống đất. Cảnh quan của
hẻm núi này vượt qua cả hẻm Colca ở Peru, của sông Colorado của Mỹ.
Xe chúng tôi chạy nhằm hướng nam, trở lại thung lũng sông
Yarlung Tsangpo. Đường này là đường đi sân bay nhưng cũng chính là trục đường
đi Kathmandu. Thế nhưng từ đây đến Kathmandu còn 850km và đường còn vượt nhiều
ngọn đèo của Hy-mã lạp sơn nên nếu có ai đi thì phải tính mất ba ngày đường.
Hôm nay chúng tôi chỉ đến Gyantse và ngày đó tôi đã biết thế nào là đường núi
và sự nhọc nhằn.
Xe chúng tôi đi là một chiếc bus nhỏ hiệu Toyota.
Trên đường đi tôi sớm biết là chiếc xe này không phải là loại xe thông dụng tại
Tây Tạng mà nơi đây người ta hay chở du khách đi bằng loại xe đường núi với
4500cc phân khối, thùng xe cao và động cơ vận hành cả bốn bánh. May thay chiếc
Toyota đã đi đến nơi mặc dù có khi nó phải lội nước vì đường bị ngập vì suối
tràn.
Không bao lâu sau khi vượt sông Yarlung Tsangpo chúng tôi lấy
một con đường nhỏ đến Gyantse, thành phố lớn thứ ba của Tây Tạng. Gyantse là
thành phố được xây dựng năm 1365, là nơi giao dịch buôn bán với các nước miền
nam như Nepal, Ấn Độ, nơi bán trâu Yak và lông trừu. Như thế là đường từ Lhasa
đi đến Gyantse phải rộng rãi lắm, tôi tự nghĩ và sau đó thấy mình sai lầm. Đây
là con đường nguy hiểm nhất mà đời tôi đã đi qua, nhưng là con đường tuyệt diệu
nhất.
Đó là con đường đi về Hy-mã lạp sơn nằm ở phía nam. Trước mặt
tôi là những ngọn núi tuyết bạc trắng xóa. Xe càng lúc càng lên cao, đường càng
ngày càng khúc khủy. Những ngọn núi khi trước mặt khi bên trái, bên mặt, khi ẩn
khi hiện nhưng mỗi lần được thấy chúng, nỗi kính sợ lại trở về với tôi. Tôi nhớ
mười năm về trước, tại Simla mình được thấy những ngọn này và lòng mình chấn động
dữ dội. Đó là buổi bắt đầu, hôm nay hầu như là những ngày cuối cùng, ai biết được
đời mình có cho phép mình đi du hành nữa, nhất là trên cao nguyên Tây Tạng này.
Mười năm qua tôi đi trọn một vòng hành hương, từ tứ động tâm ở Ấn Độ đến tứ đại
danh sơn ở Trung Quốc để cuối cùng đảnh lễ vị Đức hạnh cao quí tại Jokhang. Đó
là một vòng học hỏi với kinh sách tiểu thừa tại Ấn Độ đến các khái niệm rộng lớn
của đại thừa của Trung Quốc và cuối cùng là những quan niệm kỳ bí của kim cương
thừa tại Tây Tạng.
Những gì tôi được thấy của mười năm qua bỗng nhiên trở lại
khi những ngọn núi đầy tuyết xuất hiện trước mặt tôi. Tôi quên nỗi bực dọc về
những gì đã thấy trên đường phố Lhasa, về sự hiện diện của lính tráng Trung Quốc.
Tôi nhớ lại tại Simla chính mình đã tự nhủ, núi non đâu phải để con người quản
lý. Trung Quốc hay Tây Tạng không có ai "quản lý" được núi non, những
ngọn núi này chỉ là đỉnh của những băng sơn ẩn mật, hiện ra một chút cho người
đời thấy diện mục của mình. Những ngọn núi hôm nay tôi thấy không phải là những
ngọn mà tôi thấy tại Simla vì chúng cách nhau quá xa, dễ chừng cả ngàn cây số.
Nhưng hề gì, tất cả những ngọn Hy-mã lạp sơn đều cao quí như nhau, đến đây là
đi trọn một vòng của đời tôi.
Đường xe chạy không hề là con đường tráng nhựa như tôi nghĩ,
nó chỉ là đường đất. Tôi tự hỏi không biết mùa đông con đường này sẽ ra sao.
Nhưng điều đó không làm tôi lo ngại mà những con đường đèo này không hề có gì
che chắn tại những khúc quanh. Tôi ngồi cạnh cửa sổ, lạnh người nhìn xuống thấy
những hẻm núi sâu hun hút, xe rớt xuống đó thì khỏi có ai sống sót. Anh lái xe cũng
tay mang găng trắng, đó là thói quen của tài xế tại Trung Quốc, Tây Tạng. Thế
nhưng sao không thấy anh treo hình thần bảo hộ như tài xế Ấn Độ?
Tôi sớm tìm những chuyện khác mà nhìn để quên cơn sợ. Trên
các sườn núi nhiều đàn trâu Yak xuất hiện, chúng mang trên cổ những vòng vải
vàng đỏ và chậm chạp nhai cỏ. Tiếng chuông treo cổ trâu vang xa trong tiếng động
cơ của xe, thế nhưng tôi nhận ra một sự tĩnh lặng vô cùng trên cao nguyên này.
Cái bao la của không gian, màu sắc rực rỡ của trời đất và sự tĩnh lặng mênh
mông này phải là điều kiện tuyệt vời để con người thiền định và để mở rộng ý thức
quán chiếu. Đây là chỗ con người gần trời hơn, chỗ ý thức vươn tới những tầm cảm
nhận cao hơn mà thông thường ta không đạt tới.
"Khampa", người hướng dẫn du lịch nói ngắn. Chúng
tôi sớm thấy các lá phướn phất phới và những đụn đá từ từ hiện ra. Đây là đỉnh
đèo đầu tiên mà chúng tôi đã vượt qua, đó là đèo Khampa, nó có cao độ 4794m.
Tôi nhảy xuống xe và thấy rõ, sức mình đã yếu đi thêm vì độ cao. Đỉnh đèo này
cao hơn Lhasa khoảng 1100m. Nắng sáng rực trong không khí trong vắt và gió thổi
phất phới những lá phướn. Nhờ nắng nên gió không làm tôi lạnh. Những lá phướn
mang lời kinh đã thổi vào không gian vô số phước lành, có lẽ đó là lý do mà tài
xế không cần treo hình các vị thần bảo hộ.
Tôi đi thêm vài bước và đứng sững lại trước một cảnh quan tuyệt
diệu. Trước mắt tôi là hồ Yamdrok. Hồ xuất hiện trước mặt tôi như một lớp ngọc
thạch, màu của nó là màu xanh lục sáng turquoise, nó như màu của lá chuối
non sáng rực dưới ánh sáng mặt trời. Tôi đã thấy nhiều hồ nhưng các nơi đó, màu
nước thường xanh dương đậm nhạt tùy chỗ. Còn màu xanh lục sáng rực này của một
hồ nước thì tôi chưa hề thấy. Hồ nằm dưới chân của ngọn Nojin Kangsa cao 7223m,
mặt nước xanh lục của nó mới nhìn có vẻ không thật vì màu của nó quá kỳ lạ và rực
rỡ. Màu nước nổi bật lên, hầu như gần với mắt hơn còn xung quanh là núi màu
xanh thẫm lại chìm xuống, rút ra xa. Cảnh quan này dường như một bức họa siêu
thực hay một bức tranh của trẻ con vẽ với những màu sắc và đường nét không có
thật trong thiên nhiên.
Tôi ném một viên đá vào đụn đá theo cách chúc lành của người
Tây Tạng và lên xe xuống đèo. Sung sướng thay cho tôi, sau đó xe chạy 50km nữa
theo con đường sát theo bờ hồ. Mặt dù đã mệt nhưng tôi nhất định không nhắm mắt
ngủ. Ai nỡ ngủ khi chạy bên cạnh hồ Yamdrok này. Đường dọc theo bờ hồ cũng là một
con đường quanh co, nước hồ len lỏi vào những góc nhỏ nhất của các chân núi để
đi đến đâu ta lại có một cảnh quan mới về hồ và núi, lại có một bức tranh siêu
thực trước mắt.
Hồ Yamdrok là hồ lớn thứ ba của Tây Tạng, diện tích mặt nước
của nó khoảng 638 cây số vuông, nằm ở độ cao 4441m, được xem là hồ thiêng của
Tây Tạng. Hồ lớn nhất là một hồ nằm ở phía bắc tên là Namtso, nước mặn, nằm ở độ
cao 4718m, nằm cao nhất trên thế giới, đó cũng là một hồ thiêng. Từ Lhasa đến
đó chỉ khoảng chừng 150km nhưng cả đi lẫn về cũng phải mất đến ba ngày. Tôi
chưa được đến đó nhưng người ta nói đó là một trong những nơi để lại ấn tượng
sâu nhất khi đi Tây Tạng. Đó là một chiếc hồ với sự tĩnh lặng "không thể tả
xiết", nằm trên cao nguyên hoang dã mà sát xung quanh bờ là những ngọn núi
cao sáu ngàn mét.
Đi dọc bờ hồ Yamdrok được khoảng 50km chúng tôi đi về hướng
tây và lên đèo Karo, vượt núi Nojin Kangsa. Con đường chạy sát ngọn núi hùng vĩ
này đưa chúng tôi lên tới độ cao 5010m. Tới đỉnh đèo tôi xuống xe và cảm hơi thở
buốt giá của ngọn núi. Trên trời, nơi đây không còn chim chóc bay lượn. Nhìn
lên sườn núi, tôi khám phá những tảng băng vạn niên đã lan tới gần sát đường xe
chạy. Vào đúng mùa hè nên một ít băng tan, sinh ra những dòng thác nhỏ trắng bạc
chảy dọc trên sườn núi, nhìn xa như một dải lụa tinh khiết.
Độ cao này làm tôi khó thở thực sự. Trong kính chiếu hậu của
chiếc xe bus, môi tôi đã tím bầm. Tôi lê những bước mệt nhọc xung quanh chỗ
xe đậu, cố hít hơi thật dài và thấy nao lòng. Đây là chốn cao nhất trên địa cầu
mà tôi đã tới và có lẽ sẽ không bao giờ trở lại. Xung quanh tôi là nhiều người
Tây Tạng đang tìm cách bán đồ lưu niệm cho khách du lịch, cho thuê trâu Yak để
khách cỡi chơi cho biết. Tội nghiệp thay cho họ, làng của họ ở dưới chân đèo,
nhưng dắt bộ trâu lên đỉnh vì du khách chỉ dừng ở đỉnh đèo. Tôi đi ra xa, chân
tránh phân trâu và mắt tìm vài viên đá. Tôi bỏ được một viên đá của ngọn đèo
cao nhất này vào ba-lô. Một viên khác tôi mang lại đụn đá cầu nguyện ở trên đèo,
đổi lấy một viên đã nằm lâu tại đó. Cuối cùng, tôi mang được về nhà hai viên đá
của núi Nojin Kangsa, trú xứ của vị thần Nojin, đó là kỷ vật của tôi từ Hy-mã lạp
sơn.
GYANTSE, ĐÔ THỊ TÀN TẠ
Sau khi qua thêm một ngọn đèo nữa, đèo Zhimi cao 4370m, chúng
tôi đến Gyantse. Ngày trước nó là đô thị nối giữa Lhasa và Shigatse, ngày nay
không còn đóng vai trò quan trọng sau khi một con đường khác mới được xây, chạy
dọc theo thung lũng Yarlung Tsanpo, nối liền hai đô thị nói trên. Thế nhưng
Gyantse là thủ phủ một thời thịnh trị, số phận của nó liên hệ mật thiết đến
phái Tát-ca(Sakyapa). Gyantse một thời lại là một trung tâm thương mại của Tây
Tạng và cũng vì thế mà Gyantse bị người Anh tiến hành một cuộc xâm lược đổ máu
vào năm 1904.
Ngày nay Gyantse là một đô thị buồn tẻ và đầy bụi bặm. Khách
đến đây là để đi thăm tu viện Palkhor và ngôi đền Kumbum, man-đa-la vĩ đại ba
chiều.
Palkhor là một đại tu viện nằm trên sườn một ngọn đồi mà chạy
dọc trên đỉnh đồi là một bức tường thành chạy dài bao bọc xung quanh. Tôi nhớ đến
Vương Xá tại Ấn Độ và biết rằng người xây dựng Palkhor ngày xưa có ý định biến
đây là một đô thị riêng biệt của tu viện. Quả thật như thế, ngày xưa đây là một
tổng thể gồm 16 tu viện. Cách mạng văn hóa đã đưa những hồng vệ binh trẻ tuổi
lên đây và phá hủy hầu hết các công trình. Ngày nay đến đây du khách khó mà ngờ
ngày xưa đây là chỗ tập hợp của rất nhiều tăng sĩ, và quan trọng nhất đây là chỗ
mà ba giáo phái Tây Tạng cùng nhau tu học. Đã đến lúc tôi phải xem lại lịch sử
của bốn giáo phái lớn của Tây Tạng, đó là Ca-nhĩ-cư, Ninh-mã, Tát-ca và Cách-lỗ.
Như trong một chương trước đã nhắc tới, giáo phái Ca-nhĩ-cư
được Marpa truyền qua Tây Tạng khoảng thế kỷ thứ 11. Giáo pháp này bắt nguồn từ
Phổ Hiền. Phổ Hiền trong Ca-nhĩ-cư không phải là bồ tát Phổ Hiền trong Phật
giáo Trung Quốc mà là hóa thân của Pháp thân. Phổ Hiền truyền cho Tilopa và
Tilopa truyền cho Naropa. Marpa, học trò của Naropa, lĩnh hội phép Đại thủ ấn
và Du-già lục pháp tại vùng đất thiêng Bihar Ấn Độ. Giáo pháp này chú trọng đến
phép truyền tâm, trực tiếp từ đạo sư đến học trò. Ngày nay phái Ca-nhĩ-cư vẫn
còn tồn tại với tên Drukpa-Kagyu và Drigung-Kagyu.
Phái thứ hai là Ninh-mã (Nyingmapa), được xem là phái cổ nhất
Tây Tạng. Phái này thống nhất truyền thống tu tập của Liên Hoa Sinh và của các
tăng sĩ có tiếng khác như Vimalamitra và Vairocana. Phái Ninh-mã có những bí
pháp quan trọng như Đại Du-già (Maha-Yoga), A-nậu du-già (Anu-Yoga) và A-tì
du-già (Ati-Yoga), Đại cứu kính (Dzogchen). Hiện nay phép Đại cứu kính được một
số lạt-ma truyền bá tại phương tây.
Phái thứ ba là Tát-ca mà tên Tây Tạng là Sakya. Sakya nghe ra
gần giống với Sakyamuni (Thích-ca mâu ni) nhưng thực ra không liên quan gì cả.
Sakya trong Tạng ngữ có nghĩa "đất xám", đất chưa được cày bừa canh
tác. Phái này được thành lập từ năm 1073, đó là năm mà đền Sakya nổi tiếng được
xây dựng, theo khải thị của A-đề-sa. Phái này nổi tiếng là nghiên cứu kinh sách
nghiêm túc, biện luận xuất sắc. Người luận giải quan trọng nhất có lẽ là Buton
(1290-1364), kẻ đã xếp đặt hệ thống kinh điển của Tây Tạng lại có thứ tự trong
hai đại tạng Kanjur và Tanjur. Kanjur và Tanjur được tất cả các giáo phái của
Tây Tạng thừa nhận là chính qui và có thẩm quyền chung. Buton lập ra hẳn một bộ
phái tên là Shalupa. Phái Tát-ca lại có thêm một yếu tố nữa là liên hệ đến
chính trị và triều đình Mông Cổ. Như ta đã biết, nhà vua Mông Cổ Hốt Tất Liệt hậu
đãi một vị tăng sĩ Tây Tạng như thần tiên, đó chính là Phát-tư-ba (Phagpa, 1235-1280), một vị sư trưởng của phái Tát-ca. Hốt Tất Liệt phong cho trường
phái Tát-ca là kẻ nắm quyền Tây Tạng, điều đó xảy ra khoảng cuối thế kỷ thứ 13,
đầu 14. Chế độ tăng lữ có thể được xem bắt đầu từ đây và đó là thời gian mà
Gyantse được xây dựng, nó được xem là thủ phủ của Tây Tạng suốt một thời gian
khoảng 80 năm. Tát-ca đóng vai trò quan trọng trong các thế kỷ sau và ảnh hưởng
lên cả Tông-khách-ba, người ra đời năm 1357 và cũng là người sáng lập ra phái
thứ tư, phái Cách-lỗ.
Đại sư Tông-khách-ba được gọi là "nhà cải cách" vì
là người soát xét lại toàn bộ kinh điển và tổng kết thành quả của mình trong
hai bộ luận chính: Bồ-đề đạo thứ đệ (Lamrim Chenmo) và Chân ngôn
đạo thứ đệ (Ngagrim Chenmo). Phái Cách-lỗ do Tông-khách-ba sáng lập sau này và
vì thế mà có tên "tân phái" trong lúc ba phái kia được gọi là "cựu
phái". Tăng sĩ phái Cách-lỗ đội mũ vàng như Tông-khách-ba, chú trọng đến
Luật tạng và giữ giới luật nghiêm minh. Phép tu quan trọng của Cách-lỗ là cân đối
giữa Chỉ và Quán để đạt Định, phát triển trí huệ và bồ-đề tâm. Như ta biết các
vị tăng sĩ trong dòng Đạt-lai và Ban-thiền đều thuộc phái Cách-lỗ và kể từ cuối
thế kỷ thứ 16, các vị Đạt-lai nắm quyền chính trị trong tay, tương tự như các vị
Tát-ca trong cuối thế kỷ 13.
Bốn tông phái nói trên của Tây Tạng thật ra rất gần nhau về mặt
lý thuyết cơ bản, họ tôn trọng và học hỏi lẫn nhau. Cái khác của họ phần lớn là
xuất phát từ những dòng truyền tâm, từ những quan hệ riêng biệt giữa thầy trò,
rất đặc trưng của Kim Cương thừa. Thật ra tính đa nguyên tôn giáo đã có truyền
thống lâu dài tại Tây Tạng. Cụ thể là khi Hốt Tất Liệt đề nghị với Phát-tư-ba
hãy cấm các tông phái khác hoạt động thì Phát-tư-ba đã từ chối yêu cầu độc đoán
đó, cho rằng điều đó không phù hợp với "Pháp". Bản thân Tông-khách-ba
cũng học tập với các vị sư trưởng của phái Tát-ca. Vị Đạt-lai thứ năm, thuộc
dòng Cách-lỗ nhưng rất gần với phái Ninh-mã. Đó là những biểu hiện sinh động của
lòng kính trọng lẫn nhau của các giáo phái.
Vì thế tại Gyantse, trong tổng thể Palkhor ta có ba tu viện của
Shalupa, bốn của Tát-ca và chín của Cách-lỗ. Đặc biệt ta tìm thấy chính điện rất
lớn dành chung cho tất cả các môn phái với rất nhiều khám thờ, được xây dựng
năm 1418.
Tôi vào chính điện, đi ngang trước những ngọn đèn mỡ trâu.
Trên bàn thờ là từng nhóm bảy chén nước theo cách cúng dường của người Tây Tạng,
được xếp chỉnh tề. Một người phụ nữ còn trẻ đang châm dầu vào đèn để ánh sáng
không bao giờ tắt, đó là loại mỡ trâu do họ tự mình chọn lựa và đi bộ đường xa
đem tới tu viện. Đó là điều duy nhất mà những người nghèo khổ Tây Tạng có thể
cúng dường các bậc giác ngộ. Lòng ân cần của họ đối với "Pháp" được
thể hiện giản đơn như thế nhưng nó quí hơn hành động của những kẻ bố thí hàng
trăm lần nhiều hơn về vật chất nhưng tâm thiếu tỉnh giác, lòng không rộng mở.
Ra khỏi Lhasa, tôi càng mới thấy rõ nước Tây Tạng rất nghèo, người dân không có
gì hơn ngoài một niềm tin tôn giáo mãnh liệt, một sự tự dâng hiến trọn vẹn. Ở
trong mọi tu viện, nơi đâu tôi cũng thấy những người tự nguyện đi châm dầu cho
đèn được sáng mãi, thay nước cho bàn thờ luôn luôn được thanh tịnh. Tại đô thị
Gyantse đang tàn tạ này, trong tu viện Palkhor đã bị cách mạng văn hóa phá hoại
nặng nề này, vẫn không bao giờ thiếu niềm tin đó.
KUMBUM, MAN-ĐA-LA VĨ ĐẠI
Gyantse còn có một công trình mà không nơi nào trong cao
nguyên mênh mông Tây Tạng có được, đó là đền Kumbum, man-đa-la ba chiều vĩ đại.
Đền Kumbum nằm bên cạnh Palkhor, có lẽ đây chính là công trình xây dựng thu hút
được một ít du khách đến Gyantse. Liệu họ có biết ý nghĩa của ngôi đền Kumbum
này không?
Đền này được xây dựng năm 1436 gồm có 9 tầng, 108 cửa và 77
khám thờ. Toàn bộ đền có khoảng 100.000 hình tượng Phật, Bồ-tát, hộ pháp...,
nên nó được mệnh danh là "đền thập vạn Phật". Đền được nghệ nhân Tây
Tạng và Nepal xây dựng, nhìn từ xa người ta thấy cặp mắt Phật, vẽ theo kiểu
Nepal. Sở dĩ đền này được gọi là man-đa-la ba chiều vì nó biểu diễn quan niệm về
vũ trụ của Phật Giáo Tây Tạng. Theo Govinda [18],
các đền thờ Tây Tạng đều có năm phần, tượng trưng cho năm yếu tố xây dựng nên
vũ trụ. Phần dưới của đền hình khối, tượng trưng cho yếu tố "đất", bền
vững, ổn định. Đó là yếu tố của các chất đặc, nặng, là nền móng của mọi sắc hình.
Trên hình khối là hình cầu, có khi hình bán cầu. Hình cầu tượng trưng cho yếu tố
"nước", sự luân chuyển, sự di động. Ngược lại với đất, nước có tính bất
định và trôi chảy. Trên hình cầu là một hình nón cụt. Hình nón cụt tượng trưng
cho "lửa", dáng của nó giống ngọn lửa hướng về phía trên. Trên hình
nón cụt là những dĩa, mặt dĩa ngửa về phía trên, nhìn ngang giống như hình bán
cầu. Những dĩa tròn này tượng trưng cho "gió" hay không gian. Cuối
cùng nằm trên tất cả là một chấm tròn hình nhọn như lửa tượng trưng cho
"thức".
Thức chỉ là một chấm, khác với bốn yếu tố khác, nó không có
kích thước. Thức chứa đựng tất cả mà không bị hạn chế trong dạng hình nào cả.
Thức được biểu diễn bởi một chấm không có kích thước vì nó là giao điểm giữa tầng
mức vật chất với một mức độ khác mà ta gọi là tâm linh.Từ xa đền Kumbum cho thấy nó được xây dựng theo kiến trúc nói
trên. Hình khối phía dưới có năm tầng sơn trắng. Phần hình cầu tượng trưng cho
yếu tố nước được xây bằng hình ống tròn với bốn cửa sổ. Phần trên là mái điện
thếp vàng với bốn cặp mắt Phật nhìn ra bốn phía. Tôi đi vào đền và biết trước
mình sẽ không đủ dức tham bái hết 77 khám thờ, mà bản thân mỗi khám thờ lại là
một man-đa-la.
Người nước ngoài vào thăm đền hẳn sẽ lạc lối với hàng chục
ngàn tranh tượng Phật, mỗi vị có một chút khác biệt. Đối với họ chỉ có một vị
Phật lịch sử Thích-ca mâu-ni. Phật tử tiểu thừa hay cả đại thừa, trong số đó có
tôi, cũng không dễ hiểu tất cả tranh tượng ở đây. Thế nhưng nếu ta hiểu rằng, hệ
thống "ba thân" - Pháp thân, Báo thân và Ứng thân - trong Kim cương
thừa đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong triết lý về vũ trụ của Phật Giáo
Tây Tạng, ta có thể hiểu các tranh tượng và man-đa-la trong đền Kumbum đều được
xếp đặt có thứ tự. Cho nên, bên cạnh quan niệm "năm yếu tố" trong công
trình Kumbum đã nói ở trên, ta cần hiểu đền này diễn tả thêm ba dạng xuất hiện
của Phật tính trong ba thân, Ứng thân, Báo thân và Pháp thân. Đó là lý do mà
các sách vở ghi rằng, đi một vòng Kumbum từ dưới lên trên là đi một vòng, từ
vòng tử sinh luân hồi đến Niết-bàn.
Các tầng dưới cùng của điện Kumbum diễn tả hình tướng các vị
Phật và Bồ-tát trong dạng Ứng Thân, đó là các vị đã sống thật trên trái đất này
như Thích-ca mâu-ni và các đệ tử của Ngài. Người ta có thể nhận ra điều đó qua
áo quần, bình bát, cây bồ-đề... Các bức bích họa diễn tả đời sống của Ngài cách
đây 2500 năm. Kể cả các tiền kiếp của Phật cũng được xếp vài loại Ứng thân.Trên những tầng cao hơn là dạng Báo thân của Phật. Đó là những
hình tượng diễn tả các vị giác ngộ trong một thế giới khác, trong các cõi Tịnh
độ. Đó là hình ảnh của Phật trong kinh Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa với vô
số hào quang và bảo vật. Quan trọng nhất, trong dạng Báo thân, các vị Phật xuất
hiện thông qua những "mẫu hình cơ bản" [19] của
vũ trụ. Đó là năm dạng cơ bản của tâm thức. Vũ trụ quan của Kim cương thừa quan
niệm mọi hiện tượng tâm vật trong thế gian đều được xếp thành năm "họ"
mà đứng đầu năm họ đó là năm vị Ngũ phương Phật. Nơi đây ta gặp hình tướng năm
vị Phật mà đại thừa ít nhắc tới, đó là các vị Đại Nhật, Bất Động, Bảo Sinh,
A-di-đà và Bất Không Thành Tựu. Các dạng này cần được hiểu như năm khía cạnh của
Phật tính, năm dạng này cũng như những màu của ánh sáng mặt trời bị tách ra khi
đi qua một lăng kính. Năm vị Ngũ phương Phật đó vì thế cũng có năm màu sắc khác
nhau. Lý do là màu sắc cũng như các loại hình cơ bản khác như năm hướng, ngũ uẩn,
năm trí, năm yếu tố (nói trong chương trước) đều được xếp trong các họ đó. Quan
niệm về các mẫu hình cơ bản là hết sức sâu sắc và đóng vai trò quan trọng trong
nền tâm lý học hiện đại.
Trên tầng cao hơn của Báo thân là dạng Pháp thân với các hình
tượng các vị A-đề Phật (Adibuddha) hay Bản sơ Phật. Pháp thân thường được hình
dung như một cái gì vô hình vô tướng, không biến hoại. Thế nhưng đối với Kim
cương thừa, Pháp thân có thể hóa hiện thành các vị A-đề Phật để giáo hóa mà
phái Ninh-mã gọi là Phổ Hiền, phái Cam-đan gọi là Kim cương tát-đỏa (Vajrasattva), phái Cách-lỗ gọi là Kim cương trì (Vajradhara). Trên tầng cao nhất của
Kumbum ta thấy một bức tranh trình bày Kim cương trì.
Đi từ dưới lên trên là đi xuyên qua tất cả mọi dạng của đời sống,
từ thực tại lịch sử trên mặt địa cầu mà ai cũng thừa nhận, đến các tầng Báo
thân mà chỉ có "cặp mắt thiện nghiệp hi hữu" [20] mới thấy được và cuối cùng là Pháp thân, thực tại tuyệt đối tối hậu vượt lên thực
tại quy ước, nằm ngoài mọi tri chứng.
Tôi thở nặng nề leo lên những cấp bậc cuối cùng của Pháp
thân, bước ra ngoài bao lơn và đứng trên chóp đỉnh của Kumbum nhìn ra bốn phía.
Gyantse nằm trên độ cao gần 4000m, cao hơn Lhasa khoảng hơn 300m. Gyantse đã
cao mà từ chân đền lên đây ta phải leo 32m nữa. Khoảng cách đó là đoạn đường vô
tận từ đời làm người cho đến Niết-bàn mà ngay cả đức Thích-ca cũng tu học qua
"vô lượng kiếp". Từ trên đỉnh Kumbum ta lại thấy xung quanh là mênh
mông những ngọn núi mà bản thân Gyantse lại chỉ là thung lũng của sông Nyang
Chu. Phía dưới chân tôi là đời làm người với bụi và cát. Từ trên này tôi có thể
thấy xe của du khách đang đậu chờ chúng tôi và nhiều người Tây Tạng đang vây
quanh bán đồ lưu niệm và xin tiền. Tôi nhìn quanh và chợt thấy mình có lẽ là những
người ít ỏi trong đoàn lên tới đỉnh của Pháp thân, những người khác xem ra
không ai muốn leo vì quá nhọc mệt.
Tôi không thể ở lâu trong dạng Pháp thân. Chờ cho hơi thở trở
lại bình thường, tôi lại leo xuống, thế nhân đang chờ tôi.
SHIGATSE VÀ DÒNG BAN-THIỀN LẠT-MA
Nhìn bản đồ, ta thấy Gyantse quả thật là ngã tư của nhiều con
đường lữ khách. Cách Gyantse khoảng 300km về phía nam là Gangtok, thủ đô nước
Sikkim. Từ Gyantse ta chỉ đi về phía tây thêm 100km là đến Shigatse, đô thị lớn
thứ hai của Tây Tạng. Từ Shigatse mà đi về hướng tây nam thêm khoảng 500km là đến
Kathmandu, thủ đô Nepal. Mấy năm về trước tại Kathmandu tôi đã ngắm đường đi
Tây Tạng, nào ngờ hôm nay tôi đứng trên đất Tây Tạng nhìn về Nepal.
Thế nhưng hướng về miền tây Tây Tạng, lòng tôi rộn rã không
vì gì khác mà chỉ vì Ngân sơn [21],
nó còn cách Gyantse chỗ tôi đang đứng đến hơn 850km, chỗ đó là niềm mơ ước nhiều
năm nay của tôi. Tôi mơ ngày đến Ngân sơn lúc đứng tại cao nguyên Simla tại Ấn
Độ mười năm về trước. Đến Ngân sơn là đến núi Tu-di trên địa cầu. Đến Ngân sơn
là thăm trú xứ của thánh thần, là đến nơi sinh ra các sông thiêng như sông Hằng
của Ấn Độ, như sông Yarlung Tsangpo của Tây Tạng. Nếu đến được đó tôi sẽ đi
thêm khoảng 200km nữa là đến Tsaparang, kinh đô tàn tạ của vương quốc Guge. Người
ta không thể được tất cả, phải chăng phải còn một chỗ chưa đạt tới để lòng còn
mơ ước, tôi tự nhủ.
Đường từ Gyantse tới Shigatse là một con đường đi qua một cao
nguyên xanh tươi nằm trên độ cao 4000m, chạy dọc theo con sông Nyang Chu. Nyang
Chu chỉ là một con sông nhỏ, nước trong xanh. Tây Tạng là xứ thưa dân, xe chạy
cứ cả vài chục cây số mới thấy xuất hiện làng mạc ruộng đồng. Thỉnh thoảng vài
tu viện đổ nát hay phế tích nằm cao trên đỉnh đồi hiện ra như một tiếng gọi trầm
mặc vang vọng từ quá khứ. Đâu phải chỉ vương quốc Guge, tất cả các triều đại của
Tây Tạng đều đang tàn tạ.
Khoảng 20km trước khi đến Shigatse ta có thể thấy tu viện
Shalu. Tu viện này mới đầu được xây năm 1040, có kiến trúc hỗn hợp của người
Hán và Tây Tạng. Ngày nay ta còn thấy mái của tu viện được lợp bằng một thứ
ngói có tráng men xanh của đời nhà Nguyên, đó loại ngói ta hay thấy tại các
chùa của Trung Quốc. Ngói này cũng là loại ngói tráng men của các cung điện xứ
Huế. Dưới mái ngói này của tu viện Shalu thuộc phái Tát-ca, Buton đã tu học và
kết tập kinh điển thành các bộ Kanjur và Tanjur. Trong tu viện Shalu này Buton
cũng đã lấy tên của tu viện mà sáng lập ra bộ phái Shalupa.
Xe đến Shigatse lúc trời đã tối. Đây là đô thị lớn thứ hai
sau Lhasa và bộ mặt của nó đang dần dần biến thành một thành phố nhỏ của Trung
Quốc với các sạp hàng với cửa cuốn bằng kim loại. Lại những cơ quan nhà nước với
hai người lính bồng súng trước cửa. Cách đó không xa là các tiệm ăn, trước mỗi
tiệm cũng có hai người Hán, nhưng là hai cô gái đứng trước cửa mời chào chúng
tôi.
Shigatse đã được xây dựng trên một độ cao 3900m khoảng trong
thế kỷ thứ 13. Shigatse có một tu viện nổi tiếng, đó là Tashilhunpo, nó được kiến
lập năm 1447. Tu viện này do các đệ tử của Tông-khách-ba trụ trì. Nó nổi tiếng ở
chỗ các sư trưởng đầu tiên của nó chính là vị Đạt-lai thứ nhất và thứ hai và
các vị sư trưởng thừa kế được gọi là Ban-thiền lạt-ma. Khi vị Đạt-lai thứ năm
lên ngôi thì vị thầy của ông tên là Choki Gyeltshen (1475-1542) được phong
làm Ban-thiền đời thứ tư. Vì Đạt-lai là hiện thân của Quán Thế Âm nên Ban-thiền,
thầy của Đạt-lai được xem là hiện thân của A-di-đà. Các vị Đạt-lai và Ban-thiền
được xem là đời đời làm thầy trò của nhau, vị này ấn chứng cho vị kia khi một vị
được khám phá là mới tái sinh. Potala là cung điện của dòng Đạt-lai và
Tashilhunpo là tu viện của dòng Ban-thiền. Hai dòng đều có trách nhiệm giáo hóa
của mình nhưng công việc chính sự chỉ do các vị Đạt-lai nắm giữ. Thế nhưng
trong thế kỷ hai mươi, với sự có mặt của Trung Quốc, vấn đề không còn đơn giản
như thế.
Tôi đến tu viện Tashilhunpo, từ xa đã thấy mái điện mạ vàng
sáng rực. Điện có nhiều công trình, được bao bọc xung quanh bởi một lớp tường
thành mà tín đồ Tây Tạng nào cũng đi một vòng trước khi bước vào. Toàn thể công
trình của điện chiếm một diện tích 150.000 mét vuông. Điện được xây dựng để thờ
Di-lặc, vị Phật tương lai và vì thế trong chính điện ta thấy ngay bức tượng vĩ
đại của Ngài với chiều cao 27m, đúc toàn bằng đồng. Tôi yêu tượng Di-lặc của
Tây Tạng hơn cách trình bày Ngài của Trung Quốc. Mỗi lần đến đảnh lễ tượng Di-lặc
của Tây Tạng tôi đều nhìn lên để thấy cặp mắt xanh biếc đầy trí tuệ của Ngài.
Tôi nhớ Ung Hòa cung tại Bắc Kinh với bức tượng Di-lặc cao 18m đẽo từ một cây gỗ
trầm hương. Nơi đó Ngài đã nhắc tôi "không có gì được thành tựu hết".
Đó là cách nói của Ngài mà ngày nay ta sẽ nói một cách hiện đại là "không
có gì tồn tại trên cơ sở tự tính cả" [22]. Bức tượng tại Tashilhunpo cao hơn tại Ung Hòa cung, cặp mắt Ngài vẫn xanh biếc,
hình như nhìn ngắm những gì diễn ra tại Shigatse lịch sử này một cách bí ẩn và
hóm hỉnh. Vì rằng những gì xảy ra tại Shigatse cũng chẳng có tự tính, tất cả đều
dựa lên nhau mà thành.
Điều gì đã xảy ra tại Shigatse và Tashilhungpo? Đã từ lâu
Trung Quốc tìm cách chia rẻ hai dòng Đạt-lai và Ban-thiền. Khoảng năm 1924 Đạt-lai
thứ 13 và Ban-thiền thứ 9 có mâu thuẫn với nhau, kể từ khoảng thời gian đó ta
có thể nói Ban-thiền chủ trương thân Trung Quốc, còn quan điểm của Đạt-lai là
duy trì và phục hồi nền độc lập chính trị của Tây Tạng. Khi Trung Quốc tiến
quân vào Tây Tạng và Đạt-lai thứ 14 lưu vong đi Ấn Độ năm 1959 thì sau đó vị
Ban-thiền thứ 10 cũng bị giam lỏng tại Bắc Kinh. Đến năm 1978 Bắc Kinh bỗng
nhiên tôn vị Ban-thiền lên làm phó chủ tịch Quốc hội. Mưu kế đó không mới mẻ
cho lắm, chẳng qua là một biện pháp chính trị để giữ "mặt trận đoàn kết
dân tộc". Tháng giêng năm 1989, Ban-thiền được về lại Shigatse, đến tu viện
Tashilhunpo để làm lễ tế tự cho tháp mới xây của các vị Ban-thiền từ thứ 5 đến
thứ 9. Trong buổi lễ đó, bỗng nhiên Ban-thiền thứ 10 chết, lúc đó ông mới 51 tuổi.
Ông ít khi được về lại Tashilhunpo, nay về lại tu viện của mình sau khi bị giam
lỏng và chết ngay tại lúc tế tự các tiền thân của chính mình. Bí ẩn thay cái chết
của ông. Về mặt chính thức thì ông chết vì bịnh tim, nhưng ai biết được điều gì
đã xảy ra.
Ngày nay tại Tashilhunpo khách có thể đi thăm tháp thờ di cốt
hai vị Đạt-lai thứ nhất và thứ hai, tháp của các vị Ban-thiền thứ 5 đến thứ 9.
Và kể từ khoảng 10 năm nay có thêm tháp của vị Ban-thiền thứ 10 mà hình chụp của
ông cho thấy là một người thông thái và khỏe mạnh. Dưới chân Di-lặc bao nhiêu
điều đã xảy ra, hẳn chỉ có Ngài mới biết rõ. Đối với Di-lặc, cái chết hiển
nhiên không phải là sự chấm dứt. Còn đối với tôi, cái chết bí ẩn của Ban-thiền
chỉ lập lại thêm một lần nữa, là Phật giáo hãy xa rời triều đình và quyền lực,
hãy bỏ lại đằng sau "tám bận tâm thế gian" [23].
Sau khi Ban-thiền thứ 10 chết, dĩ nhiên người ta đi tìm thân
tái sinh của ông. Theo nguồn tin chưa chính xác, vị Đại-lai hiện nay đã xác định
một thiếu niên sinh đầu những năm 90 là hậu thân của ông. Thế nhưng không ai tiết
lộ thiếu niên này hiện đang ở đâu vì lý do an ninh. Còn những người lãnh đạo Bắc
Kinh cũng tuyên bố đã tìm ra hậu thân của Ban-thiền thứ 10. Buồn cười thay, họ
đâu tin có sự tái sinh mà phải cất công đi tìm và ngày ngày phải lo cung dưỡng
vị đó tại Bắc Kinh. Ngày nay tại Tashilhunpo hình của thiếu niên đó do Bắc Kinh
"ấn chứng" được thờ như Ban-thiền thứ 11. Hỡi Di-lặc, cái nhìn của
Ngài có gì bí ẩn và hóm hỉnh?
DỌC SÔNG YARLUNG TSANGPO
Tôi hiểu tâm trạng của nhiều người Tây Tạng khi họ không muốn
rời miền cao nguyên của họ để xuống đồng bằng. Và tôi cũng thể hiểu tại sao bà
Alexandra David-Néel lúc tuổi đã 75 mà vẫn còn đi Tây Tạng lần thứ ba. Vì lẽ gì
mà xứ Tây Tạng quyến rũ con người đến thế?
Xe chạy dọc theo Yarlung Tsangpo, từ Shigatse về lại Lhasa.
Đây là con đường mới, được gọi là "new road", tôi đang từ giã hướng
tây để trở lại phương đông. Tôi ngoái nhìn lại lần cuối hướng tây, nơi Ngân sơn
đang ngự trị, nơi vương quốc Guge đang chờ tôi.
Tôi đã biết đoạn sông Tsangpo miền đông nam Lhasa, nơi mà các
nhà vua Tây Tạng đã một thời xây dựng. Giờ đây tôi sẽ chạy khoảng trên 350km
theo Tsangpo và xem con sông này sẽ biến dạng thế nào trên cao nguyên trùng điệp
những đá này. Tôi sẽ không thể đi hết mấy ngàn cây số dọc Tsangpo được vì con
sông này hiểm trở thế nào ta đã biết, nhưng cũng vì Tây Tạng đất rộng người
thưa, người đi trên đường còn không có, làm gì có thuyền đi trên sông. Thật vậy,
tôi không thấy một bóng thuyền nào cả trên con sông này, kể cả trong những đoạn
sông hết sức hiền hòa. Tôi nhớ đến Trường Giang của Trung Quốc và chợt thấy
mình so sánh sai lầm. Người Trung Quốc đông đến mức họ phải sống trên sông hồ,
còn tại Tây Tạng, thiên nhiên quá hào phóng, đất đai quá bát ngát, con người lẫn
dê trừu chỉ là một chấm nhỏ trong cảnh quan vô tận. Đó là chưa kể thung lũng
Yarlung Tsangpo tương đối đông dân, còn những nơi khác như miền bắc, miền đông
Tây Tạng thì sự tĩnh lặng là âm thanh ngự trị thế giới. Cảnh quan vô tận, màu sắc
rực rỡ trong một sự tĩnh lặng đến nao lòng, không có nơi nào trên thế giới ta
có thể tìm thấy sự tương tự. Đó phải là ấn tượng ai ai cũng có khi đến Tây Tạng.
Có người dừng lại ở những ấn tượng đó và vội tìm những cảm
giác quen thuộc để tâm tư bớt hoảng sợ vì sự xa lạ. Nhưng cũng có người sớm thấy
rằng cảnh quan thiên nhiên bao la đó không làm ta lo sợ hay bơ vơ mà dường như
trời đất đến gần với ta hơn, thân tình hơn. Đi thêm một bước, cảnh quan, màu sắc
và sự tĩnh lặng, đó là con đường dẫn ta đến một cánh cửa. Con đường đó không hề
giản đơn và ngắn ngủi, nó có thể rất dài và vì ta chưa đến nơi để mở cửa nên
không mấy ai biết nó dài bao nhiêu. Đó là cánh cửa của tâm linh, của ý thức được
nâng lên và mở rộng. Tôi đoán như thế thôi vì mình chưa hề đi được xa. Thế
nhưng tôi biết, thiên nhiên rộng mở làm ý thức ta lan tỏa. Màu sắc rực rỡ và
thuần tịnh cho ta sớm biết, màu sắc chính là những "mẫu hình nguyên thủy",
những cánh cửa trực tiếp dẫn vào sự chứng nghiệm. Sự tĩnh lặng đang ngự trị chỉ
kéo ta về với nhận thức rằng tất cả âm thanh đều là sự nhảy múa vô thường trên
nền tảng bất di bất dịch này.
Thế nên cảnh quan thiên nhiên tuyệt diệu của Tây Tạng không
chỉ làm hứng khởi tầm nghe nhìn của chúng ta vốn thường bị mây mù, khói đục và
tiếng ồn che phủ. Nó tích cực hơn, nó dẫn đường mở lối cho nhận thức và ý niệm
về cái miên viễn đang hiện hình trước mắt ta. Tâm ta biết rằng cái miên viễn
không phải đi tìm đâu xa, nó nằm ngay trước mắt, nó hiện diện ngay trong lòng,
chỉ mắt vướng bụi nên không thấy nó, chỉ lòng chưa tỉnh nên không nhận ra nó.
Nhưng cái miên viễn cũng không phải trần trụi sờ sờ ra đó để ai cũng có thể ngắm
nghía mà muốn tới với nó phải đi hết đoạn đường phi hữu phi không, phải tự tay
mở cánh cửa vô môn, phải nghe được thứ tiếng không lời, phải vào chốn ẩn mật chỉ
dành cho những người biết dâng hết tâm ý, biết buông rơi chính mình. Cảnh quan
Tây Tạng là bước khởi đầu, không phải là đoạn kết thúc.
Con đường gọi là "new road" này nhìn trên bản đồ tưởng
như xa lộ nhưng thực ra chỉ là một con đường nhỏ chạy dọc theo thung lũng
Yarlung. Xe chạy khi gần khi xa mặt sông. Có khi xe phải lội nước vì có một con
suối nào do băng tan sinh ra, chảy từ sườn Hy-mã ngang nhiên băng qua đường lộ
để xuống sông Yarlung Tsangpo. Có đoạn thung lũng hẹp lại, đường phải chạy trên
sườn núi, dưới là sông. Và cũng có khi đường chạy trên núi cao và dưới kia là hẻm
núi, sông Yarlung Tsangpo bây giờ nằm xa tít phía dưới như một giải lụa màu ngọc
thạch. Dưới kia chính là những "hiệp", chúng đẹp hơn, sâu hơn, hiểm yếu
hơn cả Trường Giang tam hiệp mà tôi từng biết. Thế nhưng tại sao những hẻm núi
này không hề nổi tiếng? Có lẽ vì con người ít tới đây quá, so gì được với dân
Trung Quốc ở Trường Giang. Những "hiệp" này thật ra là rất đẹp nhưng
cảnh quan ở Tây Tạng ở đâu cũng vô song, đó là lý do chúng không nổi tiếng.
Nhưng tại sao chúng phải nổi tiếng, cảnh quan thiên nhiên đâu phải để con người
thừa nhận và khen tặng. Thiên nhiên quá cao quý và con người bé nhỏ biết bao.
Xe dừng ở một thị trấn nhỏ tên là Tadruka, chúng tôi xuống ăn
trưa. Tadruka làm tôi nhớ những thị trấn trên quốc lộ số 1 của Việt Nam, nó là
chỗ ăn uống dọc đường cho lữ khách. Thị trấn nằm bên sông Yarlung Tsangpo, phía
trên là đường xe chạy, phía dưới là bến phà qua bên bờ bắc của sông. Chủ quán
rõ là một phụ nữ trẻ người Hán, chị có nước da sáng trắng khác hẳn người Tây Tạng.
Chị mừng quýnh khi thấy khách vô cả loạt và thú thật với chúng tôi là phải chạy
đi mua thức ăn. Chúng tôi có thì giờ, người hướng dẫn đoàn nói. Chồng chị là một
người Tây Tạng, anh lo làm bếp. Chúng tôi tự nhiên vào bếp xem anh nấu nướng.
Anh là người Tây Tạng nhưng lại nấu theo kiểu Trung Quốc, chắc học cách làm bếp
của vợ. Chỉ với một cái nồi đáy tròn mà anh diệt gọn tất cả các món, chay mặn đều
có, rau thịt không thiếu. Từ chiếc nồi đó mà anh đem thức ăn bốc khói ngùn ngụt
thẳng lên bàn, trưa hôm đó chúng tôi có một bữa ăn ngon lành hiếm có. Những người
dân giã chân chất biết bao, người dân Hán hay Tạng có bao giờ chống nhau, họ là
những hình ảnh đẹp của con người sống thân ái và hạnh phúc. Ở đâu cũng thế, thời
nào cũng thế, những xung đột giữa các quốc gia, giữa các bộ tộc, giữa các giáo
phái đều do tham vọng quyền lực của những người lãnh đạo.
Từ tiệm ăn này mà nhìn qua sông tôi lại thấy thăm thẳm những
cao nguyên và núi đá, không có một bóng người, dưới sông không thấy ai qua phà.
Mặc dù tiệm ăn ồn ào tiếng cười nói nhưng sự tĩnh lặng vẫn trùm khắp, hầu như
tiếng ồn vội tắt ngay trong không gian bao la này.
Không gian bao la và tĩnh lặng nhưng không hề là sự chết vì
màu sắc nơi đây quá sống động. Những màu sắc rực rỡ này làm ta nghĩ đến màu các
vị Phật trong dạng Báo thân. Tôi chợt nhớ tại Tây Tạng, màu sắc là phương tiện
để tạo linh ảnh, là cách để đi vào những tầng tâm thức ẩn mật. Sắc đỏ là tượng
trưng lòng từ bi. Sắc lục tượng trưng cho sự an lạc, lòng vô úy, sự xả bỏ. Sắc
vàng là màu của ánh mặt trời, là sự tăng trưởng, lớn mạnh, sự già giặn sung
mãn. Sắc xanh là màu của tri kiến, của đại trí, của không gian mênh mông. Những
màu sắc thuần tịnh này hầu như nhấc ta khỏi thế giới của Ứng thân để đi vào Báo
thân.
Vì những lẽ đó mà Phật giáo Tây Tạng hay vận dụng phép tạo
linh ảnh. Đối với người Tây Tạng, việc vận dụng linh ảnh để biết trước những
chuyện xảy ra trong tương lai, để biết chuyện cách xa vạn dặm xem ra bình thường,
họ không cho đó là cái gì huyền bí. Cảnh quan và màu sắc trên cao nguyên này hầu
như nằm giữa dạng Ứng thân và Báo thân, con người sống trên đây hầu như thường
xuyên qua lại giữa những tầng tâm thức.
Cái miên viễn tuyệt diệu mà người thường như tôi cảm thấy tại
Tây Tạng phải chăng là mùi vị đầu của một cái mà ta nói chữ là "Pháp
thân"? Tôi thì không bao giờ nghĩ mình sẽ chứng được cái đó, thật ra tôi
cũng chưa bao giờ muốn. Thế nhưng nếu người-đồng-bằng tại Trung Quốc hay Việt
Nam hình dung về Pháp thân một cách hết sức xa xôi và trừu tượng thì xem ra Phật
Giáo Tây Tạng nói về nó một cách khá cụ thể. Họ xem Pháp thân là một điều có thể
thực chứng được, có thể "thấy" được nó, miễn là tu học đúng cách, miễn
là có thầy hướng dẫn.
Báo thân và Pháp thân là những điều quá xa vời đối với Phật tử
thông thường. Nhưng tại Tây Tạng, nhiều người cho rằng các đạo sư có trình độ
có thể truyền linh ảnh cho những ai muốn thấy Báo thân. Còn con người thì trong
một đời làm người có thể chứng Pháp thân. Đó là lý do tại sao Phật Giáo Tây Tạng
có nhiều phép tu huyền bí, có khi xa lạ đối với chúng ta.
Liệu bà Alexandra David-Néel trở lại Tây Tạng lúc tuổi đã cao
để chứng thực điều gì hay không thì tôi không biết. Nhưng cảm nhận của tôi tại
cao nguyên Tây Tạng là hết sức rõ. Đó là một miền đất có một không hai trên địa
cầu, nơi đó con người có đầy đủ những yếu tố để sống một đời sống viễn ly, để
nhìn vào bên trong, để mở rộng những biên giới của ý thức và để vươn lên một mức
độ tâm linh cao hơn. Liệu những yếu tố đó chỉ do những tính chất địa lý vô song
của Tây Tạng sinh ra hay vì phần đất này nằm trong vòng ảnh hưởng tâm linh vĩ đại
của những ngọn núi ẩn mật, của những dòng sông thiêng liêng, của những vị giác
ngộ đã sống nơi đây, của những con người đang thiền định đâu đó trong khe núi
vách rừng, điều đó tôi không rõ.
Xe đã rời sông Yarlung Tsangpo để ngược về phía bắc hướng về
Lhasa. Tôi sắp rời Tây Tạng để trở về đồng bằng. Nơi đó sẽ có một bầu khí quyển
dễ thở hơn cho tôi nhưng phố phường chật hẹp, mây mù và tiếng huyên náo của cuộc
đời sẽ chờ đón tôi.
GIÃ TỪ TÂY TẠNG
Rồi cũng có ngày tôi rời Lhasa, lên máy bay về lại Tứ Xuyên.
Tôi nhớ G.Tucci, nhà Phật học và Tây Tạng học người. Ông viết: "Từ
Lhasa ra đi không giống như từ giã một thành phố nào đó. Dễ trở lại một nơi nào
bất kỳ, nhưng Lhasa là không thể đạt tới, hầu như nó nằm ngoài thế giới này. Từ
đó ra đi cũng như tan một giấc mơ mà không biết rằng nó có trở lại không".
Lhasa ngày nay còn mong manh hơn thế vì nó đang chết dần chết
mòn. Những bước chân rầm rập của lính tráng đang chôn vùi một nền văn minh độc
đáo. Và không phải chỉ Lhasa thôi, Shigatse, Gyantse cũng đang thay đổi, những
đô thị khác mà tôi chưa tới được hẳn cũng dần dần mất đi gia tài văn hóa của
mình. Toàn cả nước Tây Tạng đang từng ngày đáng mất quá khứ của mình, đang trở
thành một "khu tự trị" vô danh.
Ngắm nhìn điện Potala lần cuối, tôi nhớ lại một lời tiên tri.
Lời đó nói rằng vị Đạt-lai lạt-ma thứ 14 hiện nay là vị cuối cùng, sẽ không còn
vị tái sinh nữa. Đạt-lai là rường cột tinh thần của dân Tây Tạng mà nếu vị hiện
nay đã trên 65, không còn vị nào tái sinh nữa thì số phận Tây Tạng coi như an
bài. Mà cũng đúng thay, làm sao có ai lật ngược được tình thế của dân tộc Tây Tạng.
Ngày nay Trung Quốc đang ngự trị Tây Tạng, họ ra sức xây dựng
miền cao nguyên lạnh lẽo này để dễ đồng hóa. Công bằng mà nói, người Trung Quốc
xây đường sá rất giỏi. Tại Trung Quốc, những nơi hẻo lánh và hầu như chỉ có
khách Phật tử hành hương như Ngũ Đài sơn, Cửu Hoa sơn đều được xây dựng cầu đường
hết sức nghiêm túc. Tôi tới đảnh lễ được những nơi đó là cũng nhờ họ và không
quên, xây đường đắp cầu cũng là một công đức lớn, theo quan điểm đạo Phật. Tại
Tây Tạng, Trung Quốc xây dựng nhiều công trình hạ tầng như đường xá, bệnh viện,
trường học..., đó là điều tôi không thể không nhắc tới.
Điều khách quan hiện nay là Tây Tạng đã đi qua một hướng mới,
người dân không thể trở lại đời sống cũ. Tôi từng thấy tu sĩ Tây Tạng mang cả
điện thoại di động thì làm sao quay lại bánh xe lịch sử, nếu có ai muốn. Tôi
nghĩ rằng nếu Đạt-lai có trở lại Tây Tạng thì ông cũng không hề muốn dân mình sống
một cuộc sống lạc hậu. Và nếu ông trở về thì liệu ông và những người Tây Tạng
theo ông có đủ trình độ chính trị và kinh tế để đưa một dân tộc đi lên?
Tôi không muốn lạc lối vào những giả định vô bổ và cũng chẳng
có "giải pháp" nào cho dân Tây Tạng. Tâm tư của tôi có lẽ cũng giống
như những người đã đi Tây Tạng, đó là tiếc thương một nền văn minh thật sự độc
đáo đang suy tàn. Hơn nữa đối với tôi, đó không phải là một nền văn minh bất kỳ
mà nó là kim cương thừa Phật giáo, nó là bước phát triển tiếp của đạo Phật, sau
tiểu thừa Ấn Độ và đại thừa Trung Quốc. Và nếu đại thừa Trung Quốc thu liễm
trong mình cả tiểu thừa Ấn Độ thì kim cương thừa Tây Tạng dung chứa cả tiểu thừa
lẫn đại thừa. Phật Giáo Tây Tạng nói có lý rằng, tiểu thừa, đại thừa hay kim
cương thừa đều là từng bước phát triển cho mỗi cá thể. Phật giáo Tây Tạng là hiện
thân đích thực của Kinh Pháp Hoa mà Phật thuyết tại đỉnh Linh Thứu, tất cả các
"thừa" đều là phương tiện, là "lấy lá giả vàng" để dẫn độ
chúng sinh.
Vì thế mà nền văn minh Tây Tạng chết đi thì đối với tôi là Phật
giáo đang suy tàn trên toàn thế giới. Tại Ấn Độ như đã nói, Phật giáo đã diệt
vong từ thế kỷ thứ 11, 12. Tại Trung Quốc thời hoàng kim của Thiền Tông cũng
bùng lên và tắt lụi cách đây đã nhiều thế kỷ. Và tại Tây Tạng, có lẽ tôi đồng ý
với Sangharakshita [24],
ông cho rằng đạo Phật sẽ diệt vong trong vài thế hệ nữa.
Nhưng, đức Thế Tôn cũng chẳng đã nói, giáo pháp của Ngài cũng
sẽ diệt vong như mọi chuyện trên đời. Cái gì có sinh, cái đó có diệt, đó là quy
luật. Còn cái vô sinh, cái miên viễn mà trên cao nguyên này mà có lẽ tôi đã nếm
chút mùi vị thì đâu cần còn đạo Phật mới có nó. Nó đâu cần tên gọi, ta có gọi
nó là Pháp thân, Phật tính hay Thượng đế, Đại ngã hay bất cứ từ gì khác cũng được.
Đạo Phật có thể diệt vong nhưng triết lý nhận thức và hành động
của nó vẫn tồn tại, có thể dưới một tên gọi khác, nó "được khám phá lại một
cách mới mẻ" [25].
Nhận thức luận của nó vẫn tồn tại vì triết lý Tính Không của nó là ưu việt để
nói về cái miên viễn đó, không có nhận thức nào hơn. Triết lý hành động của nó
cũng còn tồn tại vì Bồ-tát đạo của Phật giáo là con đường không thể không đi
cho những ai có lương tâm. Vì thế nếu trong tương lai xa, nếu Phật giáo có diệt
vong thực, ta sẽ không ngạc nhiên nếu triết lý nhận thức và hành động đó vẫn
còn lưu truyền, dù người đi trình bày cho nó không hề biết mình là Phật tử,
không hề biết có một nhân vật lịch sử tên gọi là Thích-ca mâu-ni.
Ngày đó, người giảng pháp Phật không hề mặc áo tu sĩ mà có thể
là một nhà vật lý học hay sinh vật học. Ngày đó người ta sẽ nói về "sắc"
và minh họa nó bằng những hạt cơ bản trong ngành vật lý hay bằng nhiễm sắc thể
và Genom trong ngành sinh vật. Cũng trong những ngày đó người ta sẽ
thấy "không" một cách gần gũi cụ thể như người Tây Tạng thấy Pháp
thân và cũng có thể họ sẽ nói "sắc chính là không, không chính là sắc" [26].
Lời kinh của Đức Thích-ca đã làm tôi bớt băn khoăn với tương
lai đạo Phật và Tây Tạng. Đó phải là lý do mà Di-lặc có cái nhìn bí ẩn và hóm hỉnh
về những gì xảy ra dưới chân Ngài. Và tôi nhớ lại, tại Bonn, Đạt-lai thứ 14
cũng cho thấy một đầu óc hài hước tinh tế. Tất cả các vị đạo sư xưa nay đều
nhìn cuộc đời với cặp mắt xanh biếc của Di-lặc, bí ẩn và hóm hỉnh và hầu như
nói, những gì ta đang có rồi cũng sẽ mất nhưng những gì quí nhất thì vô thủy vô
chung không bao giờ rời ta.
Máy bay lướt về hướng đông, sau lưng tôi là Lhasa, là Ngân
sơn, là Yarlung Tsangpo, ngày càng xa. Tôi đang rời xa man-đa-la Ngân sơn mà
tôi chưa được tới, đang xa man-đa-la Kumbum mà tôi đã từng lên tận đỉnh Pháp
thân. Có hề gì, ở đâu cũng có "nó" nếu ta biết nhận thức, đó là bài học
tôi mang về từ Tây Tạng.
Trước mặt tôi là Thành Đô của tỉnh Tứ Xuyên. Tại nơi đó có một
đỉnh núi mà tôi đã tới chiêm bái, đó là Nga Mi sơn, trú xứ của bồ-tát Phổ Hiền.
Tôi bất giác cảm tạ hành nguyện bao la của Phổ Hiền, sẵn sàng cho bất cứ ai thực
hiện nguyện ước của mình. Có thể nhờ Phổ Hiền mà tôi đã đi được Tây Tạng.
Máy bay hạ cánh ở Thành Đô, tôi thở một hơi dài nhẹ nhõm. Tiếng
ồn ào tràn ngập sân bay và vô số con người xuôi ngược trên đường. Tôi nhanh
chóng về khách sạn. Trong gương soi mặt, môi tôi đã bớt tím. Từ trong chiếc
va-li rơi ra chai dầu gội đầu, bây giờ nó đã xẹp lép vì áp lực không khí nơi
đây quá cao.
Đoạn kết
THAY LỜI KẾT: MÙI HƯƠNG TRẦM
Tôi vẫn mơ một ngày Tết Nguyên đán được về thăm quê, đi lại
trên sườn núi Ngự Bình, giữa khí trời se lạnh và nắng mới lên, tôi sẽ được ngửi
mùi hương trầm bay phảng phất trong gió.
Sau hơn nửa đời người tôi đã nhận ra một điều là mùi,
cái mà ta cảm nhận bằng mũi, là cái để lại trong lòng sâu đậm nhất, hơn hẳn những
gì ta nghe hay thấy. Hình như những cảm quan càng khó nắm bắt bao nhiêu, chúng
càng đậm đà bấy nhiêu mà mùi hương hẳn phải thuộc vào loại đó. Và đối với tôi,
mùi hương là thứ cảm quan theo tôi suốt gần cả đời!
Hồi còn nhỏ gần nhà tôi có một bà già bị điên. Hồi trước bà
là người làm hương đem bán. Nhiều người kể bà ta bị điên vì lấy chân chà xát bột
hương. Tôi rùng mình ghi nhớ. Về sau khi lớn lên tôi nghe ai kể, mùi hương trầm
là thức ăn của quỷ thần, thắp hương là mời các vị ấy đến, tôi nghe càng thấy sợ.
Lớn lên, được biết rằng nếu quỉ thần mà có thật thì tâm lý của họ cũng như con
người, cũng muốn được mời mọc tôn kính, tôi hết sự và thấy nơi cây hương là
phương tiện tỏ lòng kính mộ. Chỗ nào có thắp hương là chỗ đó có lòng trọng vọng.
"Nguyện đem lòng thành kính, Gửi theo vầng mây hương".
Hương nhang làm bằng gì tôi không rõ nhưng nó rất khác nhau,
nội màu cây hương đã khác, chưa nói đến mùi thơm. Hương ở Huế có màu vàng sáng,
của nơi khác trong nước màu đậm hơn. Ở Ấn Độ hương hầu như màu đen. Tại Trung
Quốc hương có mùi giống hương Việt Nam, nhưng lạ thay, cây nào cây nấy to như
que củi. Tôi vẫn hâm mộ hương của người tàu, nghĩ hương họ làm phải rất thanh
nhã, từng vòng nhang nằm như một cái đĩa, xếp từng khoanh tròn. Hay loại hương
trong đại lục Trung Quốc ngày nay đã khác? Tại Lhasa Tây Tạng, hương có màu hơi
đỏ nhưng không có chân, đốt nó lên là cháy từ ngọn đến gốc. Mùi hương thì lại
càng khác nhau, có mùi thơm thoang thoảng thoát tục, có mùi đậm hơn, có mùi
khác đầy hương thơm trần tục. Thế nhưng tôi không dám chê, đâu phải dành cho
mình mà phê bình, tôi tự nhủ. Cả khi gặp những nơi người ta thắp hương quá nhiều,
ai cũng than ngộp, tôi cũng thấy không sao, đây đâu phải chỗ chơi đùa thoải
mái, đây là chỗ giao tiếp giữa thần và vật mà.
Do hay quí trọng hương, tôi bất mãn khi mới đến Ấn Độ trong
những dịp đầu tiên. Nơi đó người ta xem ra ghiền mùi hương như bên ta có người
ghiền dầu gió. Vào ngồi chiếc taxi cũ kỹ của họ tôi đã thấy ngay cây hương. Có
lúc tài xế biết ý, họ dập hương nhưng mùi hương nặng nề này vẫn còn. Quỉ thần
đâu đi taxi, tôi tự nhủ. Thế nhưng khi thấy họ treo hình các vị thần Ấn Độ
giáo, tôi sực nhớ tài xế xe đò của ta cũng hay thắp hương cầu tai qua nạn khỏi,
tôi lại thấy lòng trân trọng, họ cũng cầu cho mình bình yên đó thôi.
Tôi nhớ bước đường lữ hành đã đưa mình lên núi Linh Thứu ở Ấn
Độ. Nơi đây không chỉ có quỉ thần tầm thường thôi mà còn các vị đại Bồ-tát đã tụ
tập nghe Phật giảng pháp và theo nhiều người nói thì "hội Linh sơn"
này còn đang tiếp diễn, người thường như tôi không nghe thấy được. Tại buổi chiều
đầy gió hôm đó, trên đỉnh núi không cao hơn núi Ngự Bình bao nhiêu, tôi tiếc
sao mình không có cây hương để tỏ lòng thành kính với chỗ Phật Thích-ca đã từng
sống sáu năm, chỗ mà mười ba thế kỷ trước, Pháp Hiển, Huyền Trang lặn lội từ
Trung Quốc đến đây, chỗ mà các tăng sĩ Việt Nam cũng đã đến tham bái từ thế kỷ
thứ tám. May thay vài sị sư Thái Lan đang có mặt tặng tôi vài cây hương. Hương
của họ không khác hương ta bao nhiêu, hôm đó vầng mây hương bay tạt trong gió
chiều, quả nhiên tôi không nghe thấy được hội Linh sơn, chỉ nhận ra lòng xúc động
của mình.
Lần sau đến Ấn Độ tôi đi thăm Lâm-tì-ni, chỗ Phật sinh, lần
này tôi có hương Việt Nam trong ba lô. Đi vòng quanh đền thờ chỗ sinh Phật ngày
nay chỉ còn nền gạch, tôi tìm cách cắm hương và khám phá ra nền móng với các
viên gạch đỏ thẫm đó không hề có một kẽ hở để nhét chân hương vào. Về mặt xây dựng,
các công trình này không phải tầm thường, tôi tự nhủ, vì thế mà nó còn tồn tại
tới ngày nay. Còn về tính chất thiêng liêng thì chỗ này là thánh địa, quỉ thần
tầm thường chắc không dám tới. Tôi cắm hương trên thân cây gần đó, lòng thấy an
lạc.
Vài ngày sau tôi đến vườn Lộc Uyển, chỗ Phật "chuyển
pháp luân". Đây là nơi gần thành phố Varanasi quốc tế nên du khách rất
đông. Một đoàn người Nhật đi chiêm bái đang tụng kinh nhưng lạ thay họ không thắp
hương. Tôi rút hương Việt Nam ra. Kinh tiếng Việt tôi còn không thuộc nói chi
tiếng Nhật nên chỉ biết đứng nghe tiếng tụng du dương. Tôi đoán họ tụng
kinh Vô ngã tướng, kinh mà Phật thuyết đúng chỗ này. Tiếng tụng kinh tiếng
Nhật hòa với khói hương Việt Nam bay trong nắng sớm.
Đi Trung Quốc có chỗ nào mà tôi không thắp hương. Từ Vân
Cương thạch động miền tây bắc hiểm trở đến Phổ Đà sơn nằm ngoài hải đảo phía
đông nam xa xôi, tất cả đều là những công trình to lớn của tiền nhân sống trước
chúng ta hàng ngàn năm. Từ chùa Linh Ấn ở Hàng Châu đầy người cho đến đỉnh Nga
Mi không khí loãng, ở đâu cũng đã có ai xây dựng những bức tượng từ bi nhìn khói
hương bay trong gió. Trên bước đường đó tôi vái lạy tất cả, từ các vị Phật Bồ-tát
cho đến các vị thánh nhân như Lão Tử trên núi Thanh Thành hay Khổng Tử, vị vạn
thế sư biểu. Xúc động biết bao được thắp hương nơi Lưu Bị từ trần tại thành Bạch
Đế hay trong đền Vũ Hầu tại Tứ Xuyên, nơi thờ Khổng Minh, Lưu Bị, Quan Công,
Trương Phi, những con người trung liệt cổ kim ít có.
Đến Tây Tạng, tại Jokhang, tôi lại không có chỗ cắm hương trước
tượng "Đức hạnh cao quý", chỉ biết nhét cả bó vào một hông cửa sắt
bên cạnh khám thờ. Tôi không đành đặt hương trên mặt đất nhơm nhớp mỡ trâu Yak
của điện thờ đức Thế Tôn. Quả nhiên nền đất không sạch, sau khi đảnh lễ Ngài, đầu
gối quần tôi có hai vết đen khó giặt.
Có dịp đi nhiều vùng của đất nước ta, tìm hiểu nơi chốn và lịch
sử, có nơi nào mà tôi không thành kính và vì thế hầu như chỗ nào tôi cũng thắp
hương. Thắp hương ở Chùa Thầy để tỏ lòng hâm mộ Từ Đạo Hạnh, người trong một đời
mà từ bỏ hắc đạo để thành Phật thành Tiên, nghe giống đời Milarepa của Tây Tạng.
Thắp hương ở chùa Tây Sơn để tưởng nhớ các vị Phật thời chiến tranh cũng phải
đi sơ tán. Tại Tam Cốc, thắp nhang trong một đền nhỏ thờ các nhà vua đời Trần,
các nhà vua phi thường của dân tộc đã để lại cho con cháu một bờ cõi xinh đẹp
và một nền văn hóa thâm hậu.
Nhưng không phải chỉ những danh tài xuất chúng của dân tộc mới
đáng kính trọng. Làm nên sự nghiệp đó các vị cần vô số những con người khuyết
danh. Một ngày nọ tôi đi cùng với một người bạn từ Hà Bắc về Hà Nội, chúng tôi
rẽ qua một con đường ít người đi. Người bạn đến thăm mồ người em vốn là chiến
sĩ hy sinh được cải táng trong một nghĩa trang liệt sĩ nơi đây. Vì cải táng anh
không biết chính xác đâu là mồ em mình. Vì thế chúng tôi thắp hương cho mấy chục
cái mồ khuyết danh, không bỏ sót ai, ai cũng là anh em cả. Đó là một chiều mưa,
trong bóng tối, hương đỏ rực cả một triền núi, mùi thơm lan tỏa mười phương.
Tôi nghe người anh ngậm ngùi kể về em mình và bỗng thấy rằng mùi hương không chỉ
chuyển lòng thành kính của người đến quỉ thần mà đó là chiếc cầu nối làm bằng
tình thương và tình thương mới là cái chủ yếu. Đối với tôi thì chiến sĩ tử trận,
dù trong chiến tuyến nào, họ cũng đều đáng kính trọng cả. Trên cương vị và hoàn
cảnh của mình, họ đã chiến đấu quên mình và anh dũng cho niềm tin và lý tưởng của
họ.
Nhưng tại sao chỉ loài người mới là anh em. Trong những chuyến
đi dài, nếu có dịp thì am miếu sơn thần thủy quái cũng được tôi gửi lời chào hỏi.
Lần nọ tại vịnh Hạ Long, đi thuyền thúng vào một chiếc hồ con, tôi lên bờ vái
chào một chiếc miếu hiu quạnh. Lần đó có hai người nước ngoài đi theo, thấy
chúng tôi làm thế họ cũng bắt chước xá chào thành kính. Quỉ thần nước Nam thấy
người Âu tôn kính mình chắc cũng không khỏi lấy làm thú vị.
Vừa qua đến lại lăng Tự Đức xứ Huế, tôi thấy gần đó người ta
sản xuất và phơi hương đầy ngõ, màu sắc rực rỡ. Hương được hong từng bó lớn,
chân bị buộc chặt, thân xòe ra phơi nắng. Màu vàng sáng của hương xứ Huế làm ta
thoạt nhìn tưởng như những đóa cúc vàng cực lớn. Tôi hỏi chuyện làm hương phơi
hương rồi giả vờ hỏi: "Đây có ai chà hương bằng chưn không
đó?". "Có mà điên", mọi người trố mắt nhìn tôi, chắc họ rủa thầm.
Chú thích:
[1] -
Sinh năm 1543, mất năm 1588
[2] -
Xem chương "Ung Hòa cung và tiểu truyện Trung Quốc - Tây Tạng" trong phần
thứ ba
[3] -
Trích "Lịch sử Phật giáo thế giới", tập I, Thánh Nghiêm pháp sư (Đài
Loan), Nhà xuất bản Hà Nội, 1995
[4] -
Sinh năm 1617, mất năm 1682
[5] -
Bạn đọc có thể tham khảo thêm cuốn "Die vierzehn Wiedergeburten des Dalai
Lama" (Mười bốn lần tái sinh của Đạt-lai lạt-ma) của K.H. Golzio và
P.Bandini, Scherz Verlag, 1997
[6] - Gampopa dịch âm là Đạt-bảo Cáp-giải (1079-1153)
[7] -
Yuan, đơn vị nhân dân tệ, mỗi đô-la Mỹ trị giá khoảng trên 8 "nguyên"
(năm 2000)
[8] - Một đạo sư quan trọng của dòng Ninh-mã, sinh 1808, mất 1887
[9] - Xem thêm "Tibetan Buddism" của Sangharakshita, sách đã dẫn
[10] -
Nội dung của Thangka thường thấy tại Tây Tạng, trong đó vòng tròn "mười
hai nhân duyên" nằm trong sự kềm tỏa của quỷ sứ
[11] - Tranh vẽ trên giấy hay lụa của Tây Tạng. Nội dung của tranh thường là hình tượng
Phật, Bồ Tát, hộ pháp, man-đa-la.
[12] -
Xem "Sư tử tuyết bờm xanh", sách đã dẫn
[13] -
Mahasiddha. Chuyện về 84 vị thành tự giả có thể tìm thấy trong "Từ điển Phật
Học", nhà xuất bản Thuận Hóa 1999.
[14] - Mahamudra, một trong những giáo pháp tối thượng của Kim Cương thừa, được truyền
dạy trong phái Ca-nhĩ-cư
[15] -
"The six Yogas of Naropa", đã được Thích Nữ Trí Hải dịch ra Việt ngữ,
California 1997
[16] - Tổ thứ hai là Naropa, sơ tổ là Tilopa, thầy của Naropa
[17] - Dakini. Theo mật thừa Ấn Độ và Tây Tạng, Dakini là các vị thần nữ bảo hộ cho
hành giả tu tập Mật tông. Thể nhập vào cõi của Dakini là thoát khỏi sinh tử
nhưng chưa hoàn toàn giác ngộ
[18] -
Govinda, Grundlagen tibetischer Mystik (Cơ sở mật tông Tây Tạng), Scherz Verlag
1994
[19] -
Trong các sách nghiên cứu phương Tây ta hay gặp từ "Archetype"để chỉ
các mẫu hình cơ bản này. Từ này do nhà tâm lý học C.G.Jung nêu lên đầu tiên
[20] - Đoạn văn thường thấy trong kinh sách
[21] -
Kailash, xem chương "Tháng ngày ấp ủ" trong phần thứ nhất
[22] - Phạn ngữ: svabhavasiddhi (siddhi: thành tựu), Anh ngữ: inherent existence
[23] -
"Bát phong": Được, mất; vinh, nhục; khen, chê; vui, khổ. Thơ Hàn Sơn
"Bát phong xuy bất động" (Tám gió thổi chẳng động)
[24] - Sách đã dẫn.
[25] - Schumann trích lời đức Phật. Xem chương "Từ Linh sơn nhớ về Yên Tử"
trong phần hai.
[26] -
Lời trong Bát-nhã ba-la-mật-đa Tâm Kinh.
Nguyễn Tường Bách
Theo http://chimviet.free.fr/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét