Mùi hương trầm
Trung Quốc, xứ sở của Bồ Tát 2
NHÂN KIỆT KHÔNG ĐỜI NÀO THIẾU
Cách Thành Đô 16km về hướng tây có một ngọn núi tên là Thanh
Thành [15].
Đây là một ngọn núi với 37 đỉnh với rải rác nhiều đền đài của Đạo giáo. Nơi
đây, trong thời gian đầu công nguyên có một đạo sĩ tên là Trương Đạo Lăng [16] đã
thành lập Đạo giáo. Trương Đạo Lăng, tương truyền là cháu bảy đời của Trương
Lương, mới đầu học Nho giáo nhưng khi về già học "Tiên thuật" của Lão
giáo. Ông soạn ra sách "Đạo thư" gồm 24 thiên để làm cơ sở căn bản
giáo lý của "Thiên sư đạo". Từ đó động của ông trong núi Thanh Thành
được gọi là Thiên sư động. Ngày nay tại đó có một đền thờ Trương Đạo Lăng,
trong đó còn lại một bức tượng của ông, đền kiến lập từ đời nhà Tùy (589-618),
nhưng được xây dựng lại cuối đời nhà Thanh (1644-1911). Giáo lý của Thiên sư đạo
dựa vào tư tưởng của Lão Tử, phối hợp với bói toán chú thuật và lấy phép phù thủy
chữa bệnh giúp dân. Vì mỗi khi chữa bệnh, đạo sĩ được phần lễ tạ năm đấu gạo
nên đạo này còn được mệnh danh là "Ngũ Đẩu mễ" [17].
Trương Đạo Lăng phải là tiền bối của các đạo gia xuất chúng của Trung Quốc như
Vương Phù, Vương Khâm Nhã, Trương Quân Phòng, Lã Đồng Tân, Vương Trùng Dương.
Trong số này có Lã Đồng Tân là người sáng lập Toàn Chân giáo, điều hòa ba nguồn
tư tưởng Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo. Đến tận nơi, tôi mới thấy núi Thanh
Thành quả là một ngọn núi thâm u huyền bí, cảnh quan hầu như có thần. Tôi theo
xe cáp leo tận đỉnh Thanh Thành, nơi đó có hai cây Ginkgo, lá
như cánh quạt, mỗi cây một ngàn năm tuổi đứng chầu trước cửûa đền. Đệ tử đạo
giáo ngày nay không thiếu, họ mặc áo đen, đầu búi tóc.
Tứ Xuyên còn hân hạnh được xem là quê hương của Lý Bạch, một
trong những thi hào vĩ đại nhất của Trung Quốc. Ông sinh năm 701 tại Tây Vực,
trong một vùng đất nào khuyết danh ở phía tây của Tứ Xuyên, mẹ ông là người xứ
đó. Nghe đến Lý Bạch suốt ngày ôm bầu rượu, cuối cùng cũng vì rượu mà chết, ta
dễ nghĩ ông là một thư sinh ốm yếu. Nhưng không phải, do dòng mẹ là người Tây Vực,
ông hết sức cường tráng, mười lăm tuổi đã rèn kiếm, tự cho là "sức địch nổi
muôn người". Ông nhận Tứ Xuyên là quê hương, viếng Thành Đô thăm đền Vũ Hầu,
viếng Bạch Đế thành khóc Lưu Bị, lên núi Thanh Thành đọc sách nhớ Trương Đạo
Lăng. Ông lên cả núi Nga Mi bên bờ Mân Giang để ngắm trăng, nghe Thục Tăng Tuấn
đàn cầm. Nga Mi là ngọn núi cao hơn 3100m, trên đó dưỡng khí đã loãng. Lên đó để
ngắm trăng nghe đàn hẳn phải là người có sức của lực sĩ. Nhưng Lý Bạch không phải
nổi danh vì sức khỏe mà ông để lại cho đời một nhân cách vô song và gần 20.000
bài thơ mà nội dung thì Đỗ Phủ cũng phải thán phục "Bạch dã thi vô địch" [18].
Nếu Lý Bạch là "Tiên thơ" thì Đỗ Phủ là "Thánh
thơ" [19].
Đỗ Phủ cũng dùng bước rất lâu tại Tứ Xuyên. Ông sinh năm 712, thua Lý Bạch 11
tuổi. Đời ông là đời đi chơi, lấy chuyện đi chơi làm thú vị. Trên đường Tráng
du [20] đó,
năm 744 ông gặp Lý Bạch tại Lạc Dương. Mùa thu năm sau hai người chia tay không
bao giờ gặp nhau nữa nhưng tình bạn gắn bó suốt đời. Đời ông khi làm quan, khi
bị cách chức, khi chịu loạn lạc, rất nhiều cay đắng. Ông nghèo tới mức có lúc
phải đi lượm hạt dẻ, đào hoàng tinh cho con ăn. Năm 48 tuổi, Đỗ Phủ đưa gia
đình về Thành Đô, dựng nhà trên hai mẫu đất hoang bên bờ Hoãn Hoa, viết thư xin
bè bạn các loại hoa để làm thành "Thành Đô thảo đường", nhà hướng về
núi Nga Mi, đánh cờ với vợ, câu cá với con, uống rượu với người hàng xóm.Thế nhưng đời ông vẫn không yên vì sau đó lại xảy ra loạn lạc,
ông chạy loạn một thời gian rồi năm 55 tuổi lại về Tứ Xuyên, nhà ở gần Bạch Đế
thành. Về sau ông cùng gia đình chạy loạn nữa và chết trên thuyền năm 770. Ngày
nay đến Thành Đô ta sẽ thấy một con sông nhỏ tên là Hoãn Hoa, nó là một nhánh của
sông Mân Giang. Trên bờ Hoãn Hoa, không xa miếu Vũ Hầu Khổng Minh ta còn thấy
"Thành đô thảo đường" xưa của Đỗ Phủ, kỷ niệm ông sống ở đây bốn năm,
từ 759 đến 763.
Tôi đến thảo đường cũ của ông, ngày nay nó đã trở thành một
khu vực nổi tiếng cho khách du lịch. Suối Hoãn Hoa hầu như nước đọng không chảy,
mơ màng dưới các cây cổ thụ. Bèo và lá vàng trên suối được vớt thường xuyên cho
nước được trong. Băng qua Hoãn Hoa là vài chiếc cầu kiến trúc theo lối xưa, đưa
ta đi từ tòa nhà này qua tòa nhà khác để giới thiệu con người và thơ văn Đỗ Phủ.
Tôi đến gần tượng của ông bằng đá đen. Bức tượng này phải là một tác phẩm hết sức
thành công. Đó là một khuôn mặt trí tuệ, đồng thời có một nét bình dân gần gũi
với quần chúng. Lạ thay, bức tượng đá mà toát ra một chút đăm chiêu, một chút
căm tức, đúng như con người của ông.
Thành Đô còn ghi dấu hài của một nữ sĩ, đó là Tiết Đào
(769-834). Bà là người Trường An nhưng thân phụ làm quan tại đất Thục nên bà
lưu ngụ tại Thành Đô. Bà làm thơ từ năm lên tám lại xinh đẹp lạ thường, giao du
với những danh sĩ đương thời. Bạch Cư Dị, Vương Mục đều có thơ xướng họa với
bà. Phía nam Thành Đô ngày nay, bên cạnh đại học Tứ Xuyên, ta còn lại một khuôn
viên với một tòa lâu các gọi là Vọng Giang lâu, gồm bốn tầng, cao 30m, là nơi
có thể ngắm sông Mân giang. Tôi đến nơi thì Vọng Giang lâu đóng cửa không còn
cho khách lên lầu. Cách đó không xa có một cái giếng từ thời nhà Đường, đó là
nơi bà lấy nước để chế tạo thứ giấy hoa thông, một thứ giấy màu đỏ thẫm, mang
tên bà là "Tiết đào tiên". Miệng giếng rất lớn, đường kính dễ chừng
5m, nay đã được nắp gỗ đậy kín. Thú vị nhất là ta tìm thấy trong công viên này
một vườn trúc với 140 loại được trồng tặng bà vì Tiết Đào là người yêu trúc.
Khoảng 300 năm sau Tiết Đào có một tăng sĩ kỳ dị tu trong
chùa Chiêu Giác ở Thành Đô. Đó là Viên Ngộ Khắc Cần (1063-1135). Thầy của ông
là Pháp Diễn. Ngày nọ Pháp Diễn nói chuyện xong với một viên quan đề hình (cảnh
sát thời nay) xong hỏi Viên Ngộ: "Thế nào là ý Tổ sư sang?". Hỏi xong
Pháp Diễn tự trả lời: "Cây bách trước sân, xem xem". Tưởng Pháp Diễn
nói chơi thế thôi nào ngờ Viên Ngộ nghe xong đại ngộ! Về sau, Viên Ngộ trở
thành thiền sư xuất chúng và với môn đệ của ông, dòng thiền Trung Quốc phất lên
một lần nữa trước khi tàn lụi. Viên Ngộ là người soạn tập công án Bích Nham Lục
và cuốn sách khó hiểu này trở thành tác phẩm quan trọng nhất của Thiền tông.
Trong tác phẩm này Viên Ngộ lấy nguồn gốc là những công án của Tuyết Đậu Trùng
Hiển [21],
thêm vào những bình giải của mình. Những lời bình đó lại cực kỳ tuyệt hảo về
văn chương đến nổi người đọc dễ đâm ra mê văn chương hơn là nội dung công án,
vướng vào chữ nghĩa, phản lại tinh thần "bất lập văn tự" của thiền. Học
trò của Viên Ngộ là Đại Huệ Tông Cảo [22] thấy
cơ nguy đó nên đem đốt Bích Nham lục. Mãi đến thế kỷ 14 có một cư sĩ trên là
Trương Minh Viễn đi góp nhặt lại, tham khảo mọi nơi và xuất bản lại nên ngày
nay ai cũng có thể đọc Bích Nham lục. Thế nhưng đọc là một chuyện, hiểu được là
một chuyện khác.
Thành Đô, thủ phủ nước Thục, tưởng là một miền biên địa hạ tiện,
không ngờ là chỗ ghi dấu của đạo sĩ, thi sĩ và thiền sư. Thế nhưng điều đó
không có gì là lạ tại Trung Quốc, vì đạo sĩ, thi sĩ và thiền sư khắp nơi đều có
trong xứ sở mênh mông này. Đạo, Thơ và Thiền, đó là ba suối nguồn tâm linh quan
trọng nhất của học thuật Trung Quốc và điều kỳ lạ là chúng đan quyện vào nhau, ảnh
hưởng chan hòa lên nhau.
Tư tưởng chủ yếu của Đạo là ngắm nhìn thiên nhiên và trực nhận
qui luật bao trùm trời đất, từ đó mà rút ra phép hành động cho con người. Cái
nhận thức của Đạo là tri kiến trực giác từ thiên nhiên, cái hành động của Đạo
là làm mà không tác ý. Vì những lẽ đó mà Đạo tìm nơi thơ phú khả năng diễn đạt
tuyệt vời nhất. Thi nhân Trung Quốc qua của bao thế hệ thường là những người
tìm cảm hứng nơi thiên nhiên, dùng thiên nhiên để diễn tả nội tâm. Thơ của họ
tuy ngắn nhưng là bức tranh sinh động về thiên nhiên, tâm hồn của họ chính là
tâm hồn của Đạo.
Còn ảnh hưởng của Đạo giáo lên Thiền tông cũng là điều rất
rõ. Thiền chủ trương trở về với tự nhiên, "tâm bình thường là đạo" [23],
vì vậy mà rất gần với Đạo giáo. Thiền Trung Quốc là sự phối hợp hài hòa giữa
giáo lý của các thiên tài tôn giáo Ấn Độ và cốt tủy của văn hóa Trung Quốc để
trở thành một tông phái độc lập, nhất là sau Lục Tổ Huệ Năng. Với Huệ Năng thiền
Trung Quốc dám từ bỏ cả Kinh Nhập Lăng Già của Đạt-ma từ phương xa mang qua
Trung Quốc, vì thế mà có chuyện Lục Năng xé kinh, Đại Huệ đốt Bích Nham Lục.
Schumann viết "Thiền tông có một người cha Ấn Độ nhưng nếu không có người
mẹ Trung Quốc thì đã không trọn vẹn" [24].
Cuối cùng, nhiều thi sĩ cũng là thiền sư như Vương Duy, được
người đời mệnh danh là "Thi Phật", Tô Đông Pha, cư sĩ đạt đạo, đồng
thời cũng là một trong "bát đại gia" của Trung Quốc. Truyền thống vừa
tu thiền vừa làm thơ cũng thể hiện rõ nét trong các thiền sư đời Lý, Trần của
Việt Nam.
Ngày nay, tiếc thay ba suối nguồn tâm linh Đạo, Thơ và Thiền
hầu như đã tắt lịm tại Trung Quốc. Thiền tông, với đúng nghĩa "dĩ tâm truyền
tâm" đã tàn lụi từ đời nhà Tống. Đạo gia với câu "Không ra khỏi cửa,
mà biết được việc thiên hạ" [25] ngày
nay đã bị nền học thuật chính thống hiện đại của Trung Quốc coi khinh, chế giễu.
Và thơ, nhất là thơ Đường chắc chắn không bao giờ trở lại được thời kỳ vàng son
của mình. Thậm chí có người nói với tôi, khẩu âm Trung Quốc đọc thơ Đường cũng
còn chẳng hay nữa, chỉ còn khẩu âm Việt Nam mới may ra!
NGA MI SƠN (Emeishan)
Lý Bạch, nhà thơ đã từng leo lên Nga Mi sơn để ngắm trăng và
nghe đàn cầm đã viết về ngọn núi này: "Nga Mi cao xuất Tây Cực thiên, La
phù trực dữ thanh minh tế" (Ngọn Nga Mi cao quá trời Tây phương cực lạc,
Bao la cây cỏ khoảng trời xanh).
Bao nhiêu năm tháng trước Lý Bạch, Tạp Hoa Kinh (một tên khác
của Hoa Nghiêm Kinh) cũng nhắc tới Nga Mi bằng những dòng: "Phổ Hiền hóa
nhân thiên đẳng chúng, hiện tướng hải ư Hoa Mi sơn" (Phổ Hiền hóa người trời
các loại, Hiện tướng nhiều như biển ở Hoa Mi sơn). Huyền sử chép Nga Mi sơn là
trú xứ của Bồ-tát Phổ Hiền, không những thế nơi đây còn có cả một cái ao mà Phổ
Hiền từng tắm cho con voi sáu ngà của mình.Nga Mi sơn nằm ở phía nam tỉnh TứXuyên, cách Thành Đô 160km về phía tây nam, với đỉnh cao nhất
là Vạn Phật đỉnh đo được 3099m. Đường lên núi Nga Mi hết sức cheo leo với hai
đường đèo, một phía bắc dài 44km, đường kia phía nam dài 66km. Sau đó ta phải
đi bằng dây cáp mới lên được tới đỉnh. Tôi lên đỉnh gặp một ngày nắng tốt,
thông thường ở đây mây mùa bao phủ quanh năm vì Nga Mi sơn nằm không xa hai
dòng Mân giang và Thanh Y giang. Lên tới đây không khí đã loãng, đi vài bước ta
đã hụt hơi.
Thật là một cảnh tượng sơn kỳ thủy tú tôi chưa từng thấy. Đường
đi quanh co, cứ qua khỏi một khúc quanh, cảnh vật lại hiện ra khác lạ. Vách núi
chập chùng cao như dựng ngược. Thác đổ nước trắng xóa xuống những con suối sâu
chảy lẫn trong lá. Đây là chốn thần tiên của kỳ hoa dị thảo. Và khi lên đến
nơi, tới Kim Đỉnh, ta đứng trên ngọn Đại Nga chót vót với một độ cao 3077m,
"bao la cây cỏ khoảng trời xanh". Đây hẳn là nơi Lý Bạch ngắm trăng rồi
viết bài thơ "Nga Mi sơn nguyệt ca" và nghe Thục tăng Tuấn đánh đàn cầm.
Ngày xưa hẳn ông phải đi bộ lên đây bằng những bậc tam cấp đá xanh, tôi không
rõ đi bao lâu thì tới, nhưng nếu không tới Kim Đỉnh thì khỏi thấy "trời
xanh" hay "trăng thu" vì dưới đó xung quanh toàn là vách núi.
Lý Bạch không phải là người đầu tiên lên đây. Từ thời Đông
Hán (25-220) ở đây đã có Kim Đỉnh Phổ quang điện. Đến khoảng đời nhà Đường, nhà
Tống, tại Nga Mi sơn được xây dựng rất nhiều. Sau đó đời Minh, Thanh là những
thời cực thịnh của Nga Mi sơn. Rải rác trong rặng Nga Mi sơn này là 200 đền đài
tự viện, là chốn thiêng liêng của Phật giáo Trung Quốc. Ngày nay trên Nga Mi
sơn còn khoảng 20 ngôi chùa còn được bảo tồn và đang tu sửa.
Đến Kim Đỉnh tôi thăm được Hoa Tạng tự. Đây là chùa xưa nhất
và được trùng tu vào đời Thanh (1866). Gần đó là Ngọa Vân am, trong đó có một tấm
bi đồng có xuất xứ từ đời nhà Minh. Tại Kim Đỉnh người ta có thể thấy một hiện
tượng gọi là "Phật Quang", là ánh cầu vồng hình tròn gồm có bảy màu
thường xuất hiện lúc giữa trưa khi người xem đứng trên Đỗ Quang đài. Đó là một
trong ba cảnh đẹp nhất của Kim Đỉnh: Phật quang, cảnh mặt trời mọc và biển mây
xung quanh Kim Đỉnh.
Tại Kim Đỉnh ta có thể đảnh lễ Phổ Hiền và quán đại nguyện của
Ngài mênh mông như bầu trời, như ánh dương vừa mọc, như biển mây bao la, như cầu
vồng ngũ sắc. Còn nếu muốn tham bái tượng Phổ Hiền thì hãy đến chùa Vạn Niên tự
nằm ở độ cao 1020m của Nga Mi, tương truyền Phổ Hiền đã nghỉ chân tại đây. Chùa
này được xây đời Tấn (265-420), bị hư hại nhiều lần, đến đời nhà Minh được
trùng tu lại. Năm 1946 chùa bị hỏa hoạn, nay chỉ còn "Chuyên điện"
(điện đá nung). Điện này được xây từ đời nhà Tống, có hình vòm, không cần cột
kéo chống đỡ. Trong điện có tượng Phổ Hiền bằng đồng cao 7,3m, nặng 62 tấn và
trên vòm tháp có khoảng 3000 tượng Phật nhỏ.
Nếu Văn-thù Sư-lợi cỡi sư tử xanh và đại diện cho trí huệ thì
Phổ Hiền được trình bày ngồi trên voi trắng và đại diện cho hành động. Văn-thù
và Phổ Hiền là sự hợp nhất giữa trí huệ và hành động, đại diện cho nguyên lý
"tri hành hợp nhất". Vì thế mà hai vị Bồ-tát này hay được thờ tả hữu
bên cạnh đức Phật. Đại nguyện của Phổ Hiền trong hành động thường được gọi là
"Phổ Hiền thập nguyện" [26],
được nhắc nhở trong hai kinh Pháp Hoa và Hoa Nghiêm.
Muốn có đại nguyện hành động như Phổ Hiền, tức là "thể
nhập hành Phổ Hiền", đó là điều không dễ, nó phải có trí tuệ của Văn-thù.
Nói theo văn chương thông thường, muốn hành động phải có trí; muốn có hành động
to lớn phải có trí to lớn, muốn có đại hạnh phải có đại trí. Và ngược lại muốn
có trí đích thực thì con người phải tự mình nếm trãi, tự mình hoạt động. Và muốn
có đại trí vượt trên nhị nguyên để hiểu Tính Không thì phải có đại hạnh bao la
của Phổ Hiền, trong đó cái cá thể đã bị vượt qua. Cái "tri" và
"hành" nằm trong một thể thống nhất của hai mặt biện chứng mà chúng
ta có thể chứng ngộ trong phạm vi nhỏ.
Hãy trở lại với Thiện Tài, nhờ nghe Văn-thù giảng các pháp
môn mà Thiện Tài mới "thâm nhập được vào đạo trường của hành Phổ Hiền" [27] và khi ở trong đạo trường đó, Thiện Tài tận mắt trông thấy trong mỗi "hạt
bụi nhỏ đều chứa đựng trọn vẹn công đức Phổ Hiền". Đó chính là "tất cả
trong Một, Một trong tất cả", cốt lõi của Kinh Hoa Nghiêm, cái đại trí của
Văn-thù Sư-lợi.Kinh sách Đại thừa nhắc đến khoảng 200 vị bồ-tát và mỗi vị ra
đời cũng vì hành động cho thế gian. Tại Trung Quốc năm vị được tôn kính nhiều
nhất, đó là Di-lặc, Phổ Hiền, Quan Âm, Văn-thù và Địa Tạng, mỗi vị chủ đạo một
hướng khác nhau trong việc giáo hóa và cứu độ. Thế nhưng trong các vị thì hành
động của Phổ Hiền, "hạnh" của Ngài, là to lớn nhất bao trùm nhất, tổng
kết tất cả mọi hoạt động khác. Vì thế mà Phổ Hiền được gọi là bậc "đại hạnh"
và cũng là vị cuối cùng trong Kinh Hoa Nghiêm mà Thiện Tài gặp gỡ sau khi đi
tìm gặp hơn 50 vị thiện tri thức khác. Với Phổ Hiền, Thiện Tài cầu "Bồ-tát
hành, nhất thiết trí" và đó chính là mục đích cuối cùng của bồ-tát đạo của
Đại thừa Phật giáo.
Nga Mi sơn xứng danh với hạnh nguyện vô tận của Phổ Hiền với
vách núi, biển mây, bao la như không gian, rực rỡ như hoa lá. Đó là ngọn núi
cao nhất của Trung Quốc mà tôi lên được tới đỉnh, trên đó tôi thở dốc vì thiếu
dưỡng khí. Tôi cũng hụt hơi vì đại trí của Văn-thù, đại hạnh của Phổ Hiền quá
cao xa, quá khó tới. Thế nhưng bài học tôi ngẫm nghĩ được trên ngọn núi này là
nhận thức và hành động phải đi đôi với nhau, nó không phải là bài học luân lý đạo
nghĩa mà là phương cách nhận thức. Nó nói rằng nhận thức đích thực chỉ xuất hiện
trong hành động. Nhận thức dẫn đường cho hành động nhưng chỉ hành động mới đem
lại tri kiến đích thực.
NHỮNG KÍCH THƯỚC VĨ ĐẠI
Từ chân núi Nga Mi có con đường số 31 đi về phía đông, cách
khoảng 30km là một thị trấn nhỏ tên gọi là Lạc sơn (Leshan). Lạc sơn là chỗ tụ
hội của ba con sông Mân Giang, Thanh Y giang và Đại độ hà. Ba con sông này nhập
lưu nơi đây nên chỗ này nước xoáy, sóng dữ, xưa nay ghe thuyền bị đắm rất nhiều.
Ngày nọ có một tăng sĩ tên là Hải Thông đi qua, thấy thuyền
bè đi lại rất nguy hiểm, ông quyết xây nơi đây một tượng Phật thật lớn mà người
Trung Quốc gọi là "Đại Phật". Ông lựa một ngọn núi đá nhìn ra hướng
ba con sông, quyên tiền bạc của cải để bắt đầu công trình xây dựng. Viên quan địa
phương thời đó thấy ông có tiền của, đòi chia chác. Ông khẳng khái từ chối, nói
đó là tiền của bá tánh quyên góp, không phải là tiền của ông và nói thêm, nếu của
ông thì ông không tiếc gì cả. Viên quan nọ hỏi xin thử mắt ông, nào ngờ Hải
Thông móc mắt đưa ngay. Việc làm đó dĩ nhiên làm người thần đều sợ, Hải Thông bắt
đầu công trình xây dựng, đó là năm 713, đời nhà Đường.
Hải Thông xây dựng đến cuối đời mình vẫn chưa xong, sau khi
ông chết nhiều tăng sĩ tiếp tục công trình. Đến năm 803, chín mươi năm sau, Đại
Phật Lạc sơn hoàn thành, ngày nay là tượng Phật đẽo từ đá lớn nhất thế giới.
Đó là tượng Phật Di-lặc cao 71m, đẽo từ một vách đá, lưng dựa
vào núi Long Vân, mặt nhìn ra sông, mắt ngang 3,3m, tai dài 7m, vai rộng 24m,
trên bàn chân đứng được 100 người. Khí độ tượng Phật hùng vĩ, xứng đáng với câu
"Sơn thị nhất tôn Phật, Phật thị nhất tòa sơn" (Núi là một vị Phật,
Phật là một ngọn núi). Sau khi tượng hoàn thành tàu bè không còn bị đắm. Nhiều
người cho rằng lúc xây dựng, đá núi được đổ xuống sông và biến đổi lòng sông một
cách thuận lợi, chế ngự được các dòng nước xoáy. Nhiều người khác cho rằng Di-lặc
mà nhìn ra sông thì dòng sông là nguồn ân phước vô tận.
Lạc sơn thực ra là một thị trấn nhỏ nhưng nhờ Đại Phật lớn
nên ngày nay đã trở thành một đô thị phồn vinh với nhiều du khách. Đây là nơi của
trung tâm bảo tồn vùng Nga Mi-Lạc sơn, theo công thức mà người Trung Quốc ưa
nói "Lên Nga Mi đảnh lễ Phổ Hiền, xuống Lạc sơn tham bái Di-lặc". Đến
Lạc sơn tôi được biết thêm ngày xưa tượng Đại Phật này có thêm một tòa lâu đài
cao 13 tầng che chở bức tượng, gọi là Đại tượng các, nhưng đã bị hủy cuối đời
nhà Minh. Thế nhưng mưa gió bao thế kỷ không hề hấn gì đến tượng Di-lặc bằng
đá, có chăng là trên đầu, vai, tay áo của tượng rêu phong đã bám xanh rì.
Hai bên tả hữu bức tượng có đường đi từ dưới chân Đại Phật
lên núi Long Vân, trên đó có chùa Linh Bảo với tháp gạch cao 38m xây trong đời
nhà Tống. Cũng tại đó ta có thể thấy tượng Hải Thông mà khuôn mặt và điệu bộ
cương quyết của ông hầu như còn truyền đạt ý chí sắt đá của người xưa.Rời Lạc sơn vài km là không còn thấy du khách đâu nữa, chúng
tôi đi hướng bắc để đến Bát long đảo. Trên dòng Thanh Y Giang tôi lạc vào một
"quốc độ" chỉ toàn là tháp tượng, đó là "Thiên tháp Phật quốc"
tại Tào Ngư Than. Nơi đây, tuy không đến ngàn ngôi tháp như tên gọi nhưng con số
cũng lên đến 108 ngọn tháp, không tháp nào giống tháp nào, tất cả đều được tạc
bằng "nhã thạch". Cảnh vật u tịch ở đây làm tôi nhớ đến chùa Linh Mụ
và điện Hòn Chén ở Huế. Cả hai nơi đều là cảnh thanh sơn thủy tú, sông liền
núi, núi ngăn sông. Điều khác biệt với xứ Huế bé nhỏ là người Trung Quốc không
ưa những con số nhỏ, những kích thước bé. Lẫn trong 108 ngọn tháp đó là một tượng
Phật nhập Niết bàn dài 45m, cao 12,5m. Giữa núi rừng cô tịch, nhìn xuống là nước,
nhìn lên là núi, giữa vô số tượng tháp và trong mùi hương trầm quen thuộc, tôi
bỗng nhớ thượng nguồn sông Hương tha thiết.
Những ngày xưa ấy hiện về rõ mồn một với màu nước trong xanh,
với lòng kính sợ khi đi thuyền qua trước điện Hòn Chén. Đó là ngôi điện nằm
đúng chỗ miệng con rồng vĩ đại, một nhánh của Trường sơn, cúi mình hút nước
sông Hương. Đó phải là nơi mà ngày xưa còn rất nhỏ, tôi đã cảm thấy giữa trời đất
này phải có cái gì thiêng liêng, nó không thể chỉ là cát đá trơ trụi được. Thế
giới không thể chỉ là vài hạt điện tử quay vòng vòng xung quanh hạt nhân được,
tôi tự nhủ khi lớn lên. Tuy thế nếu hỏi cái thiêng liêng đó là gì, không ai trả
lời được rõ ràng. Ngày nọ nghe Goethe, nhà thơ lớn nói: "Giữa trời và đất
hẳn phải có cái gì khác nữa", tôi thấy mình không đơn độc lắm, nhưng nhà
thơ và cũng nhà bác học người Đức đó cũng chẳng nói gì thêm. Ông không biết hay
biết mà không muốn nói?
Không phải chỉ Goethe, nhiều người phương tây dường như cũng
khắc khoải về "cái gì đó nằm giữa trời và đất". Tôi nhớ đến câu chuyện
của một phi hành gia. Ông ta tự hỏi, mình đi bao nhiêu tầng trời rồi mà chẳng
thấy Chúa đâu cả. Một nhà giải phẫu đáp lại, ông đã mổ bao nhiêu cái đầu rồi mà
cũng không thấy tư tưởng đâu cả. Xem ra, cái thiêng liêng đó không phải là thứ
để ta thấy, để ta có thể sờ mó được. Nó nằm ngoài năm giác quan của ta nhưng nó
thâm nhập và điều hành mọi sự. Đã bốn mươi năm trôi qua kể từ lòng kính sợ ngày
xưa tại điện Hòn Chén đến ngày nay được hân hoan đứng trước tượng Đại Phật nhập
niết bàn tại Hồng Nhã Tứ Xuyên, tôi cũng không biết rõ hơn bao nhiêu cái thiêng
liêng đó thực chất là gì. Thế nhưng điều tôi hiểu rõ là câu hỏi nọ của mình
ngày trước không hề là thắc mắc của trẻ con khờ dại mà là vấn đề trọng đại nhất
của con người.
ĐẠI TÚC (Dazu), THẠCH ĐỘNG NGỦ QUÊN
Cách Trùng Khánh về hướng tây khoảng 100km có một vùng hoang
dã ngủ yên trong rừng núi. Một ngày nọ trong năm 1939, một giáo sư ngành kiến
trúc tình cờ đến thăm và khám phá những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp nằm trong
nhiều hang động. Nhiều người bắt đầu đến tham quan thì chiến tranh thế giới nổ
ra và Trung Quốc lâm vào cảnh nội chiến triền miên mà Trùng Khánh là một trong
những căn cứ địa của Quốc Dân đảng. Sau ngày hòa bình lập lại nhiều người lại đến
thăm nơi đây, thế nhưng lại có một loạt xáo trộn mới xảy ra, mang tên cách mạng
văn hóa. May thay có một người cứu những tác phẩm điêu khắc đó trong phút cuối
cùng, trước khi chúng bị phá hủy. Người đó là Chu Ân Lai, Thủ tướng thời đó của
Trung Quốc và các hang động đó là Đại Túc Thạch quật. Về sau tôi biết thêm ông
đã cứu nhiều đền đài tượng tháp của đạo Phật, trong đó có chùa Linh Ẩn ở Hàng
Châu. Có người không ngại gọi ông là một vị hộ pháp. Có người phá hoại thì cũng
có kẻ cứu hộ, điều đó xảy ra trong lịch sử Trung Quốc rất thường.
Đại Túc không hề là một nơi hoang dã như ta tưởng. Huyền sử
chép rằng đức Phật đã đặt chân tại một hồ nước ở Bảo đỉnh sơn tại Đại Túc, vết
chân dài đến 2m, vì thế thị trấn xa xôi này có tên Đại Túc (chân lớn). Sự thật
lịch sử là cuối đời Đường, thời Đường Vũ Tông, Phật giáo bị bức hại, nhiều tăng
sĩ bỏ Trường An chạy về Tứ Xuyên đến Đại Túc. Về sau khoảng cuối thế kỷ thứ 9,
có một viên tướng tên là Vĩ Quân Tinh [28] chống
lại triều đình ở Thành Đô, ông rút về Đại Túc, núi Bắc sơn, cho quân đẽo núi đá
tạc hình tượng Phật để cầu nguyện. Trong khoảng 250 năm sau, trong thời Ngũ Đại
(907-960) và đời Tống (960-1279), ảnh hưởng Phật giáo trong vùng này rất mạnh.
Từ đó mà phát sinh vùng Đại Túc với khoảng 70 khu vực gồm 50.000 tượng Phật nằm
rải rác, mà hai thạch động tại Bắc sơn và Bảo đỉnh sơn - hai bên cách nhau khoảng
20km - là quan trọng nhất. Có xem Đại Túc rồi tôi mới thấy tầm vóc của nó ngang
hàng với Vân Cương thạch quật đã trình bày trong các chương trước.
Tại Bắc sơn, cách Đại Túc khoảng 2km, ta thấy một động đá cao
khoảng 7m, dài 500m, trong đó là vô số tượng đẹp. Ở phía nam của động là các tượng
tạc trong thế kỷ thứ 9, 10, hình vóc đầy đặn áo quần giản dị, đó là nghệ thuật
đời Đường và Ngũ Đại. Ở phía Bắc là các tượng đời nhà Tống, thế kỷ thứ 12, vóc
gầy nhưng nhiều trang sức, quần áo cầu kỳ. Nơi đây, sau khi viếng Ngũ Đài và
Nga Mi, tôi được gặp lại Văn-thù cưỡi sư tử và Phổ Hiền ngồi voi trắng. Trong
các tượng tại Bắc sơn thì tượng Nhật Nguyệt Quan Âm có lẽ đẹp nhất. Về sau tôi
mới biết mình sẽ còn đến đảnh lễ Quan Âm tại Phổ Đà sơn.
Đi về phía bắc của Đại Túc ta đến một nơi gọi là Đại phật
loan nằm dưới chân núi Bảo đỉnh sơn. Nơi đây trong thế kỷ thứ 12 có một danh
tăng trên là Triệu Chí Phụng. Ông là người khởi công xây dựng thạch quật này từ
năm 1179. Suốt 70 năm nhiều thế hệ nghệ nhân đã lao động nơi đây để ngày nay ta
có khoảng 10.000 tượng Phật để chiêm bái.
Triệu Chí Phụng là một tăng sĩ Mật giáo kỳ bí. Ông là người
được truyền pháp Kim Cương đảnh của Du-già bộ Mật giáo [29] từ Kim Cương Trí [30].
Kim Cương Trí là người Ấn Độ, là một trong ba đại sư truyền bá Mật Tông tại
Trung Quốc. Triệu Chí Phụng tự tay tạc nhiều tượng tại Bảo đỉnh sơn, trong đó
nhiều tượng Tì-lô-giá-na và nhiều vị bồ-tát rất lạ, trình bày quan niệm về vũ
trụ của Mật giáo [31]. Động quy mô nhất hẳn phải là động Viên giác, trình bày ba vị
Phật của ba thân: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân. Hai bên là 12 vị bồ-tát, mỗi vị
có vẻ mặt và thế ngồi khác nhau. Nhiều sách nước ngoài cho rằng bức tượng quan
trọng nhất là Quan Âm với 1002 cánh tay (có nơi ghi 1007), tỏa ra chiếm một diện
tích 88m2. Trong các động ở Bảo đỉnh sơn ta còn thấy rất nhiều "biến tướng"
của kinh sách Mật tông như Đại Bảo, Quảng bá lâu các, Thiện trụ bí mật đà là
kinh. Ngoài ra có các kinh hiển giáo như Kinh báo ân phụ mẫu, diễn tả công dưỡng
dục của cha mẹ. Nhiều sách nước ngoài không biết tích kinh, cho rằng đó là thạch
tượng mô tả "đời sống hàng ngày". Tranh Thập mục ngưu đồ của Thiền
tông cũng được đẽo trên vách đá, trông rất hóm hỉnh, sau gần 1000 năm mà tương
đối còn được bảo tồn.
Bảo đỉnh sơn là một công trình nói lên sự hòa nhập hiếm thấy
của hai tông phái Mật tông và Thiền tông tại Trung Quốc. Lịch sử Phật giáo
Trung Quốc thường hay trình bày Mật tông như một tông phái cực đoan tả đạo. Tôi
cho rằng, khi đã nhận là mật giáo, Mật tông cũng chẳng cần ai hiểu và muốn hiểu
Kim Cương thừa, hành giả cần phải được quán đỉnh trong một môn phái nhất định.
Giữa Mật và Thiền tông có những cái rất chung, mặt dù mặt ngoài hai bên khác
nhau rất nhiều, tôi tự nhủ. Tôi nhớ lại cuộc đời của 84 vị thành tựu giả của Ấn
Độ, các vị đó sống trong thế kỷ thứ 8 đến 11, tức cũng đúng là thời của nhà Đường
nhà Tống, thời vàng son của Thiền tông Trung Quốc, mà cũng là thời xây dựng các
thạch động này tại Đại Túc. Kỳ lạ thay thời gian đó, đó là thời kỳ của các thiền
sư chủ trương "thấy tánh" là thành Phật, của các vị thành tựu giả chỉ
cần quán ngộ Tính Không là đủ nhập vào "cõi của không hành nữ
Dakini" [32].
Đó cũng là thời kỳ của Từ Đạo Hạnh, Không Lộ, Giác Hải tại Việt Nam, những vị
hít thở không khí của Mật và Thiền tông. Các vị đó chính là những đại thành tựu
giả của Việt Nam, những kẻ thong dong ra vào chốn sinh tử, đã đạt "thần
thông kiêm biến hóa" [33].
Các vị cũng là thiền sư đạt đạo, đã siêu việt vượt trên chuyện có-không:
"Tác hữu trần sa hữu, Vi không nhất thiết không" (Có thì muôn sự có,
Không thì tất cả không) [34].
Bao giờ trở lại đồng Bương Trấn,
Lên núi Sài Sơn ngắm lúa vàng [35].
Ngay giữa Trung Quốc mà tôi bỗng nhớ chùa Thầy tại núi Sài
Sơn tha thiết, biết bao giờ mới sống lại thời gian tuyệt đẹp đó. Sài Sơn thuộc
tỉnh Hà Tây chỉ cách Hà Nội có 25km. Cũng như Đại Túc ghi dấu chân Phật thì Sài
Sơn ghi dấu chân Từ Đạo Hạnh. Các bậc đắc đạo, các vị tu Mật tông thường có dấu
ấn của mình theo cách đó. Tôi yêu thích Phật giáo Việt Nam thời Lý Trần vì đó
là nơi dung hợp giữa Thiền và Mật tông, không chút phân biệt. Cũng như Thiền
tông có đức Thích-ca là sơ tổ môn phái mình thì trong Mật tông cũng thế, Pháp
thân, Báo thân của Phật đã truyền Mật giáo cho Kim cương tát - đỏa và từ đó được
mật truyền về sau. Thiền cũng như Mật tông chỉ là hai môn phái trong vô số pháp
môn của đạo Phật, ta không nên rơi vào cạm bẫy thường tình của tư tưởng để phê
phán so đo đúng sai, chúng tùy thuộc vào căn cơ trình độ của hành giả, tôi tự
nhủ.
Chú thích:
[15] -
Qingcheng
[16] - Sinh năm 34, mất năm 156
[17] - Trích "Lịch sử Phật giáo Trung Quốc", Thích Thanh Kiểm, Thành hội
Phật giáo Tp Hồ Chí Minh 1991
[18] -
Nhiều tư liệu trong chương này được trích từ "Đường Thi tuyển dịch",
Lê Nguyễn Lưu, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1997
[19] -
Người thứ ba là Bạch Cư Dị (772-846), được mệnh danh là "Sử thơ"
[20] - Đầu đề một bài thơ của Đỗ Phủ
[21] - 980-1052
[22] - 1089-1163
[23] -
Lời của thiền sư Nam Tuyền (738-835)
[24] - W.Schumann, Mahayana-Buddhismus (Đại thừa Phật giáo), Eugen Diederichs Verlag
1995
[25] - Đạo Đức Kinh: "Bất xuất hộ, tri thiên hạ".
[26] -
Đó là: 1.Kính lễ chư Phật, 2. Xưng tán Như lai, 3. Rộng tu cúng dường, 4. Sám hối
nghiệp chướng, 5. Tùy hỉ công đức, 6. Thỉnh chuyển pháp luân, 7. Thỉnh Phật tại
thế, 8. Thường theo học Phật, 9. Luôn thuận chúng sinh, 10. Hồi hướng cho tất cả.
[27] -
Trích Kinh Hoa Nghiêm, Việt dịch của Thích Nhất Chân.
[28] -
Trích tư liệu do chùa Khánh Anh, Paris phát hành.
[29] -
Trích Phật Quang đại từ điển, 1994.
[30] - 671-741.
[31] -
Xem "Kumbum", man-đa-la vĩ đại" trong phần thứ tư.
[32] - Theo quan điểm của Kim cương thừa, đó là nơi không còn sự tái sinh
[33] -
Thơ của vua Lý Nhân Tông khen Giác Hải
[34] -
Kệ của Từ Đạo Hạnh (mất năm 1115)
[35] - Trích Đôi mắt người Sơn Tây, thơ Quang Dũng.
Nguyễn Tường Bách
Nguyễn Tường Bách







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét