Thạch mã và hoa xuân
Non sông ngàn thuở vững âu vàng
(Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu)
Đấy là hai câu thơ bất tử được Hoàng đế Trần Nhân Tông viết dâng
đất nước, tiên tổ, trong lễ bái yết ở Chiêu Lăng mùa xuân 1288, sau hai lần đại
thắng xâm lược Nguyên Mông - một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ -
trong vòng chỉ dăm năm!
Khi ấy Nhân Tông Hoàng đế mới vào tuổi ba mươi, sau khi lên ngôi
vua được chín năm (1279).
Nhân Tông Hoàng đế tên húy là Khâm, con trai trưởng của Trần
Thánh Tông. Ngài sinh năm 1258. Đấy cũng chính là năm đất nước ta đánh tan mười
vạn quân của Hốt Tất Liệt phái sang xâm lược lần thứ nhất.
Sinh ra trong khói lửa; giữ nước và dựng nước trong khói lửa; và
thật kỳ lạ, chỉ với 14 năm cầm quyền, Nhân Tông Hoàng đế đã bàn giao cho hậu
thế khi vào tuổi 35, một giang sơn vẹn toàn, cường thịnh.
Và với 16 năm còn lại của cuộc đời, Thượng hoàng Trần Nhân Tông
đã lại kịp để lại một di sản văn hóa kỳ vĩ: Thiền phái Trúc Lâm "cư trần
lạc đạo" (vui đạo giữa đời) và một sự nghiệp văn chương vô cùng đặc sắc.
Năm mươi mốt năm, khi làm vua là minh đế, khi cầm quân là danh
tướng, khi tu hành là đại giáo hoàng, khi làm thơ là đại thi sĩ. Đấy là một con
người có tước hiệu là Trần Nhân Tông.
Con người ấy có những thốt hồn nhiên mà hóa
thân vào bóng hình của... Thượng đế, chợt thấm nỗi buồn trước hồ Động Thiên khi
mùa xuân đến muộn. Thương nỗi quạnh hiu con người, Thượng đế như muốn nhờ tiếng
chuông để thả xuống nơi muộn xuân kia chút sắc biếc của trời xanh:
Động Thiên hồ xuân muộn
Hoa cỏ kém vẻ tươi
Thả theo chuông sắc biếc
Từ trời xanh cho người
(Động thiên hồ thượng - Trần Ninh Hồ phỏng dịch)
Lên núi Bảo Sơn (Đăng Bảo Đài Sơn), nơi sơn thủy hữu tình,
"vân sơn tương viễn cận" (núi mây như xa như gần), "hoa kính bán
tình âm" (ngõ hoa nửa nắng, nửa rợp) nhà thơ cảm thấy dường như đây không
chỉ là cảnh, mà chính là những đan xen giữa tâm linh và cuộc đời, niềm khát
khao hòa nhập với thiên nhiên:
Muôn việc nước tuôn nước
Trăm năm lòng nhủ lòng
Tựa hiên nâng sáo ngọc
Đầy ngực ánh trăng trong
(Ngô Tất tố dịch)
"Đầy ngực ánh trăng trong" tuôn tràn, hay là tiếng sáo
ngọc như một thứ ánh sáng của thanh âm đã hòa nhập, đến như tất cả muốn tan
thành ánh sáng?
Khoan thai chim hót trong nhành liễu
Bảng lảng mây bay trước chái nhà
Khách đến chẳng bàn chi chuyện thế
Lan can tựa cảnh ngắm trời xa
(Vũ Minh Am dịch)
Ấy là trước thiên nhiên hoàn toàn khi đã "xuống tóc".
Nhưng cả những khi là đương kim hoàng đế giường rồng, chiếu trúc đan xanh như
ngọc bích nơi cung cấm, người thơ này đã cảm thấy sự hòa nhập ngay cả trong giấc
mộng:
Rượu tưới sầu tan vị đượm đà
Giường rồng, chiếu trúc trải bầy ra
Trời trong như nước, trăng vằng vặc
Giấc mộng xuân dài dưới bóng hoa.
(Trần Lê Văn dịch)
Còn có sự hòa nhập nào tiên giới hơn khi được tận hưởng một
"giấc mộng xuân dưới bóng hoa tràn qua cửa sổ" (Hoa ánh mãn song,
xuân mộng tương).
Con người thuộc dòng "thiên tiên" ấy có một lòng yêu
cuộc đời, yêu thiên nhiên đến kỳ lạ! Chỉ có tấm lòng luôn tự biết "trăm
năm lòng nhủ lòng" (Bách niên tâm ngữ tâm); chỉ có con người biết nhìn thế
sự "Muôn việc nước trôi nước" (Vạn sự thủy lưu thủy), mới yêu mùa
xuân tới mức:
Phải trái rụng theo hoa buổi sớm
Lợi danh lạnh với trận mưa đêm
Hoa tàn, mưa tạnh, non im lắng
Xuân cỗi còn dư một tiếng chim.
(Đỗ Văn Hỷ dịch)
"Xuân cỗi còn dư một tiếng chim". Chỉ một tiếng chim
thôi, ai mà không nghe tiếng. Nhưng phải là một người như thế nào mới có thể
nghe ra cái vĩnh viễn của mùa xuân qua một âm thanh tự nhiên đến ngẫu nhiên và
đơn sơ ấy?
Chợt nhớ đến Lý Bạch: "Người nhàn hoa quế rụng/ Đêm tĩnh
núi quạnh hiu/ Trăng mọc chim rừng tỉnh/ Khe xuân thỉnh thoảng kêu/... Ngọn cây
hoa phù dung/ Giữa núi nảy cuống đỏ/ Quạnh quẽ cảnh bên khe/ Bời bời rụng và
nở".
Cả hai vị "thiên tiên" này đều viết về chim và hoa từ
một niềm khát khao hòa nhập vào trời đất đến mức tuyệt vời của đắm say. Chỉ có
khác là Lý thiên tiên thì đắm mình vào hiu quạnh với non ngàn; còn Trần thiên
tiên thì đắm mình với cả non ngàn và mở ra cùng thế sự - "cư trần lạc
đạo".
Có người bảo đi đến cái tột cùng của Thi (Thơ) thì sẽ gặp Thiền;
đi tới cái tột cùng của Thiền thì sẽ gặp Thi (Thơ). "Thiền thú thi"
hay "Thi thú Thiền" (Thơ mang ý vị thiên nhiên và thơ mang vị thiền)
đều thuộc nơi... thượng giới cả!
Hay nói như người xưa "Thơ là chiếc áo gấm thêu hoa của
thiền khách. Thiền là chiếc dao gọt ngọc của thi gia", và ngược lại.
Hoàng đế Trần Nhân Tông - Điều ngự giác hoàng Trần Nhân Tông -
Thi sĩ Trần Nhân Tông... Sự kỳ vĩ của Con Người.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét