Vốn từ thuộc một ngôn ngữ nào đó bao giờ cũng là của chung của
dân tộc sử dụng ngôn ngữ ấy. Nhưng mỗi một từ nằm trong kho từ vựng
chung khi đi vào từng trang thơ, trang văn của mỗi tác giả có tài đều mang đậm
dấu ấn riêng của phong cách
và cá tính sáng tạo của tác giả ấy. Là người “ăn thừa tự cái phần hương
hoả tiếng nói dân tộc” như Nguyễn Tuân nói, nhà văn giỏi biết sáng tạo lại
mỗi từ mà mình rút lấy trong kho từ vựng do ông cha bao
đời sáng tạo và tích luỹ nên. Có thể nói như thế về Tản Đà, một nhà thơ rất đỗi
tài hoa trong nghệ thuật sử dụng từ “ai”.
Nói đến từ “ai”, người ta thường nghĩ rằng đây là một đại từ
có ý nghĩa nghi vấn hoặc có tính chất phiếm chỉ. Không phải trong thơ Tản Đà
không có những từ “ai” được dùng theo nghĩa mà người đời thường hiểu trong
giao tiếp hàng ngày. Tuy nhiên, những từ “ai” kiểu này ít được Tản Đà ưa
dùng, bởi lẽ dùng nó nhiều sẽ dẫn đến tình trạng mòn chữ nghĩa. Không chỉ
tránh được tình trạng này, Tản Đà còn cho xuất hiện với tần số cao trong thơ
mình những từ “ai” mang những ý nghĩa mới và có giá trị biểu cảm dồi dào.
Tản Đà có biệt tài tạo nên những từ “ai” dường như mang nhiều
hàm nghĩa nhưng thực ra trong đó, nghĩa chủ đạo vẫn được bảo đảm. Này đây là
đôi câu thơ thác ngụ tâm sự yêu nước sâu kín của Tản Đà:
Ai làm Nam, Bắc phân kỳ
Xót xa hàng lệ đầm đìa tấm thương!
Từ “ai” ở đây khoác ý nghĩa phiếm chỉ nhưng không làm mờ đi
ý nghĩa chỉ định của nó là nói đến một đối tượng duy nhất và xác định: thực
dân Pháp. Từ “ai” này không trực tiếp vạch mặt chỉ trán kẻ thù nhưng lúc bấy
giờ, đọc lên lòng ai không đau đớn, xót xa, nhức nhối trước cảnh nước dân
đang trong vòng nô lệ.
Này đây là câu thơ mang ý vị đùa vui nhẹ nhàng:
Đêm thu gió đập cành cau
Chồng ai xa vắng ai sầu chăng ai?
Khác với ý nghĩa của từ “ai” nói trên, mấy từ “ai” này có ý
chỉ một người phụ nữ nào đó nhưng ý nghĩa chủ đạo của nó là phiếm chỉ. Nhờ
khéo dùng từ “ai”, Tản Đà đã tránh cho những vần thơ trêu đùa của mình không
sa vào bỡn cợt tầm thường. Đùa như thế thật tinh tế, thanh nhã.
Người bị đùa như được chia sẻ nỗi niềm cùng tri kỷ.
Ông cha chỉ để lại có một từ “ai” trong vốn từ dân tộc.
Nhưng với một nghệ sĩ tài hoa của ngôn từ như Tản Đà, trong cái từ duy nhất ấy,
nhà thơ đã tìm thấy những ý nghĩa biểu hiện phong phú cùng những âm vang bất
tận của nó. Theo Tản Đà, đại từ “ai” có “nghĩa gồm được ba ngôi vị, nói
ta, nói người, nói kẻ vắng mặt”. Tản Đà có nhiều câu thơ sử dụng điệp từ “ai”
nhưng người đọc vẫn phân biệt được ý nghĩa và giá trị biểu cảm khác nhau của
mỗi từ “ai” do nhà thơ khéo đặt chúng vào đúng vị trí, chức năng như thể một
vị tướng khéo điều binh vậy. Khác với thơ tình xưa nay thường dùng những cặp
từ đi đôi như: mình-ta, chàng-thiếp, anh-em, đây-đấy...để chỉ lứa đôi, thơ
tình Tản Đà thiên về dùng có mỗi từ “ai” thôi:
Ai những nhớ ai, ai chẳng nhớ
Để ai luống những nhớ ai hoài
Trong
hai câu này, từ “ai” được dùng đến năm lần. Theo thứ tự, từ “ai” ở vị
trí thứ nhất và thứ tư chỉ Tản Đà, từ “ai” thứ hai, ba và năm chỉ người trong
mộng thi nhân. Có thể nói, từ “ai” trong thơ tình Tản Đà do mang tính nhiều
nghĩa nên đã biểu đạt xuất sắc tính chất đa sắc thái trong tâm lý tình yêu của
lứa đôi. Từ “ai” dường như gợi nỗi xa xôi, lạ lẫm nhau bởi quan hệ “người
dưng” giữa đôi trai gái (1) nhưng
cũng gợi nỗi tha thiết, da diết thương nhau giữa người có quan hệ “tình
trong như đã”.
Chỉ với từ “ai” trong thơ Tản Đà, ta hiểu thế nào là hiệu lực
nghệ thuật của một từ trong thơ. Nhưng rõ ràng, để tạo được hiệu lực này, Tản
Đà đã nhỏ không biết bao nhiêu mồ hôi khổ luyện của trí não và nước mắt con
tim đa cảm, đa tình cho mỗi từ “ai”.
(1) Ca dao: “Gió sao gió mát sau lưng
Dạ
sao dạ nhớ người dưng thế này”
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét