Văn Cao đến với tôi đầu tiên là một Văn Cao của trữ tình, thơ
mộng với hai nhạc khúc vừa ngát giọng đất trời vừa vương vấn nỗi âu sầu dương
thế, có khi vút bay trên những đỉnh cao mê mẫn, lại có lúc chìm sâu trong đáy hồ
đau khổ nhưng chứa đầy những quan điểm về nghệ thuật: Thiên thai, Trương Chi.
Nhạc của Văn Cao lạ, là bởi trong nhạc lại có nhạc, dẫn dắt cái “tâm nghe” vượt
hết bến bờ này đến bến bờ khác giữa một không gian mênh mông, dìu dặt tiếng tơ
rung. Cuộc đời ư? Kiếp người ư? Phải chăng cũng chỉ là một khúc nhạc dạo lên bởi
tạo hóa từ những nốt khắc trên khuôn kẻ chằng chịt của duyên và nợ? Và nghệ thuật
liệu có làm cho khúc nhạc đó réo rắt, vui say?
Trong tâm hồn của chàng Văn mười tám tuổi đã mơ một cõi thinh không mà thanh âm
của đất trời hòa quyện vào thanh âm của con người hay nói đúng hơn, cõi của con
người, đất trời quyện chặt.
“Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng, nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới
Đào Nguyên…”
Đó là một cõi âm thanh huyền diệu của cái “tâm nghe”. Không có cảnh vật, không
có khe, có động, không có cây, có lá, chỉ có tiếng sóng, tiếng gió lơi lả cùng
cung bậc bổng trầm bật rung từ những dây tơ vô hình. Nhưng trong cái “nghe” mơ
hồ đó, hồn ta như cảm được “Xanh ngắt màu cây lẫn sắc trời - Mịt mù khói tỏa
nẻo xa khơi - Bóng mây đầy núi chim khôn đậu - Tiếng nước quanh khe sáo giục hồi” (1). Thiên
thai phải chăng là cõi của nghệ thuật?
“Âm ba, thoáng rung cánh đào rơi. Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời. Lênh
đênh dưới hoa chiếc thuyền lan. Quê hương dần xa lấp núi ngàn...”.
Vẫn những thanh âm của con người vun vút bay xa trong bảng lảng khói sương mờ
phủ, nửa hư, nửa thực, khiến cành đào cũng hòa điệu mà rơi rụng, rắc cánh đón
chào tao nhân dấn bước theo nước ngọc tuyền. Ta như hóa thành chàng Lưu, hay
chàng Nguyễn (cũng có thể là chàng Văn) giũ đi bụi trần ai, đoạn tuyệt với thế
nhân mà lướt trôi vào cõi huyền diệu, cõi của mê đắm, của sáng tạo và của nghệ
thuật tuyệt đối hoan lạc. Và cõi thiên thai trinh nguyên vẹn toàn đã thấp
thoáng đôi cánh bướm trần gian. Hồn ta không còn đứng bên lề nữa mà đã dạm vào
“Thiên thai”. Tiếng đàn, tiếng ca lại cất lên, vẫn chỉ có nhạc, hình ảnh người
- tiên như nhập nhòe trong bóng trăng soi, đâu là mộng, đâu là thực, hay tất cả
cũng chỉ là mộng ta cũng không rõ nữa, chỉ biết rằng ôi ta đã để đời rơi lại
bên tai. Người thì đã quên đời rồi nhưng tiên nữ lại thèm vị ân ái của trần
gian giữa không gian đậm chất gì của núi non, của rừng thẳm, chập chùng trong
tiếng cồng, tiếng chiêng, cuối cùng đọng lại cả một nỗi niềm khao khát…
“Thiên thai, chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian. Có một mùa đào dòng
ngày tháng chưa tàn quá một lần. Thiên tiên chúng em xin dâng hai chàng trái
đào thơm. Khúc Nghê Thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn… Đàn soi
trăng lên, nhạc lắng tiếng quyên… là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi.
Đàn xui ai quên đời dương thế. Đàn non tiên, đàn khao khát khúc tình duyên...”.
Cung điệu chuyển biến, đê mê trong cơn khát khao được giải tỏa bởi cuộc ân ái
mê cuồng giữa tiên nữ và phàm nhân trong mơ màng, thơ mộng của dải ánh trăng chảy
vàng trên cảnh vật, ta đã đến tột đỉnh của “Thiên thai”…
“Thiên thai, ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian. Ái ân thiên tiên em ngờ
phút mê cuồng có một lần…”
Tiếng phách lại rộn rã vang lên, hai gã tình lang quên hết dương trần mà quyện
vào bầy tiên hòa lên khúc nhạc Nghê thường theo gió, theo mây. Trong cõi nghệ
thuật, tất cả đều bình đẳng đắm vào cung điệu của cảm xúc. Nhưng trong cái toàn
mỹ thấp thoáng, có khi nhập nhoạng những vụn vặt trần tục:
“Gió hắt trầm tiếng ca, tiếng phách ròn lắng xa… Nhớ quê chiều nào xa
khơi, chắc không đường về tiên nữ ơi…”
Và tiên nữ phải đành “bên suối ngẩn ngơ buồn vĩnh biệt” (2), “rêu ngàn non
quạnh bóng trăng soi” (3)… Điệp khúc được lặp lại, khi Văn Cao dẫn ta theo con
đường tìm lại thiên thai của hai chàng Lưu - Nguyễn. Đào Nguyên biến mất, chỉ
còn rền vang tiếng hát từ xa xăm vọng lại, có chút hụt hẫng, nuối tiếc, chơi
vơi. Giật mình không rõ ta đang ở chốn nào giữa muôn trùng của “sắc” và
“không”... “Xuân lai biến thị đào hoa thủy/ Bất biện tiên nguyên hà xứ tầm”-
“Xuân về đây đó hoa và suối/ Nhưng suối tiên đâu tìm chốn nào?” (4). Cảnh đã
mất rồi, tiên nữ cũng không còn, cõi mơ vụt tan, nhạc chùng xuống, ta xao xuyến
nhưng hình như còn nghe tiếng đàn ca trong cõi xa xăm nào đó…
“Gió hắt trầm tiếng ca, tiếng phách ròn lắng xa. Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn
lòng ta… Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao. Những khi chiều tà trăng lên, tiếng
ca còn rền vang cõi tiên…”
“Người sông Ngự” - Văn Cao viết bài nhạc này như một bản trường ca, khác hẳn
với phong cách sáng tác của thuở đầu tân nhạc Việt Nam theo những đoản khúc
khuôn mẫu. Bản nhạc như phảng phất cái không khí của Đường thi trong khung cảnh
truyện cổ về Lưu Thần - Nguyễn Triệu. Hồn ta có thể “nghe” cả trời thiên thai
trên bước đường Lưu - Nguyễn nhưng cái “thấy” thì sao mơ hồ quá. Những hình ảnh
đều lẩn khuất trong sương khói huyền hoặc của âm thanh đắm say, hay tất cả cũng
chỉ là mộng, cõi mộng, cõi nghệ thuật riêng của Văn Cao. Ôi, “hồn nghe” như chạm
ngõ vào một khu vườn cấm, tưởng chừng như đã mở khóa để bước vào, tưởng chừng
như đã thấu được nhưng sao vẫn cảm thấy mơ hồ, mông lung quá! Bởi tất cả chỉ là
mơ. Dù là giấc mơ tuyệt đẹp.
Bước sang tuổi 18, “Người sông Ngự” đã dấn bước trên đường hành hương
tìm đến một cõi thiên thai ẩn chứa những cái mới, cái tuyệt đối, cái sáng tạo đầy
hứa hẹn. Cái dáng người mỏng manh, tưởng chừng như rách bươm theo gió ấy đã
hùng dũng, bước những bước đi chắc nịch trên con đường nghệ thuật. Nhưng lộ
trình tìm đến chân - thiện - mỹ của Văn Cao quả thực có quá nhiều chua cay đến
độ tiếng hát của ông nghẹn ứ trong một thời gian dài dằng dặc như tiếng hát
chàng Trương Chi im bặt trên khúc sông cổ tích ngày xưa. 20 tuổi, chàng Văn cho
ra đời tuyệt tác “Trương Chi”, liệu đó có phải là một dự cảm sau này
về cuộc đời nghệ thuật lắm truân chuyên?
“Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ, trầm trầm không gian mới rung thành
tơ, vương vất heo may hoa yến mong chờ. Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.
Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang. Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan. Một
cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng. Đây đó từng song the hé đợi đàn”.
Lời mở đầu cho nhạc khúc Trương Chi như vẽ lên bức tranh của trần
gian cổ tích đậm chất thơ bằng nét cọ của “tiếng cầm ca”. Giữa sắc thu vàng,
giai điệu trầm trầm tơ rung chập chùng len theo mây gió làm chao đôi cánh nhạn
rồi len lỏi vào cõi lòng bơ vơ cho bật lên cái tâm thao thức, khắc khoải. Nghệ
thuật là vậy đó, nó khiến người ta chìm đắm, mê mẩn để rồi mường tượng, khát
khao, mong chờ… Đã có lúc, người ta qui nghệ thuật thành một cái chung chung,
bình dân, cứ ngỡ rằng nghệ thuật gắn liền với thực tế đặt trong một bối cảnh của
tư tưởng chủ quan, nhưng thực tế đã chứng minh nghệ thuật cần những đồng cảm từ
những đối tượng nhất định, có cái tâm thưởng thức nhất định. Trở lại ca
khúc Trương Chi, với Văn Cao, đối tượng của nghệ thuật có sự diễm lệ
của thăng hoa, giống như khi trăng đã vằng vặc thì phải có mây gió, lá hoa cùng
lả nhịp:
“Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân hò khoan mơ bóng con đò trôi giai nhân
cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời”.
Và giai nhân đã phải thốt lên rằng:
“Khoan khoan đò ơi, tương tư tiếng ca chàng Trương chi cất lên hò khoan. Đêm
thu dài đến khoan tiếng nhạc ơi, nhạc ơi thôi đàn”.
Mặc dù vậy, không phải người nghệ sĩ nào cũng có được sự thấu hiểu, nghệ thuật
được tạo ra đôi khi vẫn mang một hình thù khác người như cái dáng vẻ xấu xí của
chàng Trương Chi, khiến cho người ta tàn nhẫn xa lánh tuy rằng tiếng sáo của
chàng đã từng nâng những cảm xúc dạt dào mĩ cảm. Văn Cao cùng tác phẩm của ông
cũng vậy, có lúc nó bị vứt bỏ, bị phủ nhận, cố tình quên lãng, để lại trong ông
nỗi rưng rức, nuối tiếc đến chạnh lòng. Thật não nùng khi ly biệt những cái
mình đã tin, đã yêu say đắm, đã rút tinh hoa mà kiến tạo.
“Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung. Anh thương nhớ, oán trách cuộc
từ ly não nùng.
Đò trăng cắm giữa sông vắng, gió đưa câu ca về đâu?
Nhìn xuống đáy nước sông sâu thuyền anh đã chìm đâu!”.
Ừ, thì con thuyền Trương Chi đã chìm sâu đáy nước. Hình ảnh này ám ảnh Văn Cao
và sau đó cũng ám vào đời của ông. Con thuyền nghệ thuật của Văn Cao có lúc phải
cột lại trong cái ầm ào của sóng cả tư tưởng cực đoan, bó hẹp. Anh Trương Chi
mang đến cho cuộc đời tiếng hát, làm mê đắm lòng Mỵ Nương nhưng vì vẻ ngoài xấu
xí mà người đẹp từ chối tấm chân tình của người chèo đò. Đời là vậy, cái đẹp
chân thực không phải bao giờ cũng trong vỏ bọc mỹ miều, đôi lúc nó bị nhầm lẫn,
bị hắt hủi đến tội nghiệp! Tiếng hát chàng Trương chỉ còn là những âm thanh đắng
cay còn vang vọng bên bờ lau lách, chỉ còn là nỗi uất nghẹn chìm sâu…
“Thương khúc nhạc xa vời trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi. Sương thu vừa
buông xuống, bóng cây ven bờ xa mờ xóa dòng sông. Ai qua bến giang đầu tha thiết,
nghe sông than mối tình Trương Chi. Dâng úa trăng khi về khuya, bao tiếng ca ru
mùa thu”.
Câu nhạc quá não nề, mang một vẻ sầu thương, buồn thảm. Cũng sương khói đó,
cũng ánh trăng đó nhưng sao không có cái bảng lảng, thơ mộng của thiên thai, mà
chỉ hiện lên cái mờ đục của tàn phai, buông thõng, trăng đang rơi lệ! Ta như cảm
được tiếng mưa rơi trong từng nốt nhạc, chợt rùng mình như có ai đang than khóc
cùng mưa gió, hồn chàng Trương đã về? Hay hồn nghệ thuật đang đòi lại sự nhìn
nhận công bằng? Cổ tích xưa đã cho một cái kết có hậu, Mỵ Nương rơi lệ trước khối
tình Trương Chi như một sự ân hận, nhưng ở đây Văn Cao tàn nhẫn quá, còn thuyền
Trương Chi của ông đã chìm sâu chỉ còn bảng lảng bóng người vất vưởng trong
gió mưa:
“Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn còn nghe như ai nức nở và than. Trầm vút
tiếng gió mưa cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?...
… Cùng với tiếng gió vương, nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa…
Đò ơi! đêm nay dòng sông thương dâng cao mà ai hát dưới trăng ngà. Ngồi đây ta
gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta…”
Văn Cao, cả một đời vì nghệ thuật, nếm trải đầy những cay đắng của thời cuộc.
Đã có lúc người ta muốn thay thế bài Quốc ca của ông. Đã có lúc tưởng
chừng như ông đang cô độc trong con đường tìm kiếm Thiên Thai của nghệ thuật, “ta
ca trái đất còn riêng ta”. Và đã có lúc ông phải hét lên rằng: “Đâu bóng
thuyền Trương Chi”. Nhưng chắc chắn lửa nghệ thuật trong ông không bao giờ thôi
ngùn ngụt, mùa xuân năm 76, Văn Cao cho ra đời nhạc khúc “Mùa xuân đầu
tiên” trong niềm hoan ca của đất nước thanh bình, hy vọng một sự thay đổi,
cởi mở hơn, mang tính nhân văn hơn trong những định hướng dành cho nghệ thuật.
Đối với ông nghệ thuật là lẽ sống, là tinh hoa của cuộc đời, là máu thịt của
ông. Chàng Trương Chi của ông đã vượt qua tất cả những cay nghiệt để chứng minh
một chân lý đó là nghệ thuật đích thực không bao giờ bị lãng quên, bị phủ nhận.
Nghệ thuật luôn khắc sâu vào nhân sinh, nhân bản, nó sẽ mãi tồn tại cho dù có bị
khoác cho cái hình hài xấu xí, kỳ dị. Những rung cảm thực sự luôn tìm được sự đồng
cảm chân thành.
Văn Cao, cái tên vẫn sẽ được thế hệ sau nhắc đến bởi những mở đường của ông
trong ba lĩnh vực thơ, nhạc, họa. “Người ta yêu Văn Cao vì yêu những người
cố mở đường mà thất bại, và cũng vì yêu những người biết thất bại mà dám mở đường” (5).
Những trăn trở, đau đáu về nghệ thuật của ông cũng để lại cho chúng ta nhiều
bài học. Nghệ thuật gắn liền với dân sinh, mang tính nhân bản và phải được sáng
tạo bằng cái tôi tuyệt đối của người nghệ sĩ. Và người nghệ sĩ thì “… có
người nói thẳng tới cái vô cùng tận của trời xanh, có người nói cái vô cùng tận
của trời xanh qua cái rộng của biển, cũng có người thấy trời xanh vô cùng tận
trong bát nước và cũng có người chỉ nói tới một giọt ánh sáng để tìm thấy cái
vô cùng tận của trời xanh. Có người phải tìm con đường lớn mới thấy dấu xe mà
có người tìm thấy dấu xe trong một hạt bụi…” (6), đó đều là những người nghệ sĩ
tự do thăng hoa. Có thể xem đây là mong ước từ cõi lòng của Văn Cao - nghệ sĩ
hay minh triết về nghệ thuật của Văn Cao - người mở đường cũng được. Xin mượn mấy
lời sau để kết cho bài viết này: “Tiếng hát Văn Cao, khiếm diện, âm thầm,
vang trong tiềm thức, sống âm ỉ trong nội tâm của mỗi chúng ta… Văn Cao là nghị
lực tiềm ẩn, là sự bất khuất nghẹn ngào chìm đắm trong ta, là khí phách ngậm
ngùi chờ ta ở một vùng bồng lai tiên cảnh.” (7).
Chú thích:
(1),(2),(3): “Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai” - Tào Đường, bản dịch của
Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng, Ngân Bích.
(4): “Đào Nguyên Hành” - Vương Duy, bản dịch của Vũ Thế Ngọc.
(5), (7): “Văn Cao - Phạm Duy: Trần Gian và Tiên Cảnh”, Nguyễn Thụy
Khuê.
(6): “Mấy ý nghĩ về thơ”, Văn Cao.
3/7/2009
Phan Khắc Huy
Nguồn: Văn nghệ Tiền Giang số 34
Theo https://vannghetiengiang.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét