Biểu tượng màu trắng
trong thơ Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử là một
trong những nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới (1932-1945) nói riêng và của
văn học Việt Nam hiện đại nói chung. Ông từng được đương thời cũng như giới
nghiên cứu phê bình sau này đánh giá là cây bút rất mực tài hoa. Cho tới nay đã
có nhiều công trình nghiên cứu bàn về cuộc đời, con người cũng như những giá trị
nội dung tư tưởng và nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử. Từ hướng tiếp cận hình tượng/
biểu tượng, một số tác giả đi trước đã nhắc tới các biểu tượng trăng, hồn, máu
trong thơ ông nên trong bài viết này, chúng tôi lựa chọn một biểu tượng khác,
tuy xuất hiện với tần suất không lớn, song lại có những ngữ nghĩa khá độc đáo,
thú vị và dường như lần xuất hiện nào nó cũng đột xuất, bất ngờ đối với người đọc:
biểu tượng màu trắng. Đây là nội dung chính được chúng tôi đặt ra và luận giải
trong bài báo này.
1. ĐẶT
VẤN ĐỀ
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22/9/1912 tại làng Lệ
Mỹ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới (nay là Quảng Bình), trong một
gia đình Công giáo lâu đời. Thuở nhỏ Nguyễn Trọng Trí học tiểu học ở Quảng
Ngãi, đến tháng 7-1926, cha ông mất, cả gia đình chuyển vào Quy Nhơn. Nguyễn Trọng
Trí học trung học tại trường dòng Pellerin - Huế. Ông làm thơ từ rất sớm, năm
1931 đã có thơ đăng báo, ký tên Phong Trần. Năm 1932, Trí làm ở Sở đạc điền Quy
Nhơn và yêu Hoàng Thị Kim Cúc. Năm 1934, Nguyễn Trọng Trí vào Sài Gòn làm báo,
đổi bút danh Phong Trần sang Lệ Thanh, Hàn Mạc Tử, cuối cùng là Hàn Mặc Tử. Từ
năm 1935 - 1936, Hàn Mặc Tử gặp Mộng Cầm, cùng thời gian này in xong tập Gái
quê. Ông trở về Quy Nhơn chữa bệnh. Năm sau, khi biết bệnh trạng của mình, ông
chủ động cắt đứt liên lạc với bạn bè. Năm 1938, ông hoàn thành xong tập Đau
thương (thơ Điên). Năm 1939, Hàn Mặc Tử cho ra đời hai tập thơ Xuân như ý và
Thượng thanh khí. Qua lời giới thiệu của Trần Thanh Địch, Hàn quen với Thương
Thương và say sưa viết Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội (bị bỏ dở,
do yêu cầu của gia đình Thương Thương). Ngày 20/09/1940, Hàn Mặc Tử vào bệnh viện Quy Hòa với số hiệu bệnh nhân 1134. Và 5h45
ngày 11 tháng 11 năm 1940, Hàn Mặc Tử tạ thế tại nhà thương Quy Hòa (và sau đó
được an táng tại nghĩa địa Quy Hòa, Quy Nhơn, Bình Định). Hàn Mặc Tử được mệnh
danh là thi sĩ tài hoa nhất, lạ nhất nhưng cũng đau thương nhất trong số các
nhà thơ trong phong trào Thơ mới (1932-1945) nói riêng và thơ ca Việt Nam hiện
đại nói chung.
Tác phẩm của Hàn Mặc Tử gồm các tập thơ Lệ Thanh thi tập, Gái
quê, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Quần
tiên hội. Đương thời Chế Lan Viên từng quả quyết: “Tôi xin hứa với các người rằng,
mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái
thời kỳ này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử” (“Thơ của người”, Báo Ngày nay,
số ra ngày 7/8/1938). Trong Thi nhân Việt Nam, nhà phê bình Hoài Thanh mặc dù
đã nỗ lực xâm nhập vào thế giới thơ của Hàn Mặc Tử song không phải không có lúc
tỏ ra bất lực trong cảm nhận. Bởi thế nên: “Sẽ không thể giải thích được đầy đủ
hiện tượng Hàn Mặc Tử nếu chỉ vận dụng thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn và ảnh
hưởng của Kinh thánh. Chúng ta cần nghiên cứu thêm lý luận của chủ nghĩa tượng
trưng và chủ nghĩa siêu thực. Trong những bài thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử, người
ta không phân biệt được hư và thực, sắc và không, thế gian và xuất thế gian,
cái hữu hình và cái vô hình, nội tâm và ngoại giới, chủ thể và khách thể, thế
giới cảm xúc và phi cảm xúc. Mọi giác quan bị trộn lẫn, mọi lôgic bình thường
trong tư duy và ngôn ngữ, trong ngữ pháp và thi pháp bị đảo lộn bất ngờ. Nhà
thơ đã có những so sánh ví von, những đối chiếu kết hợp lạ kỳ, tạo nên sự độc
đáo đầy kinh ngạc và kinh dị đối với người đọc” [2]. Theo thời gian, thơ Hàn Mặc
Tử vẫn còn mãi đó, vẫy gọi và thách thức đối với người đọc.
2. NỘI DUNG
2.1.
Khái niệm biểu tượng
Biểu tượng vốn là khái niệm dùng để chỉ một hình thức của
nhận thức, cao hơn cảm giác, nó là hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong não bộ
sau khi quá trình tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt. Biểu tượng đồng
thời là cổ mẫu (mẫu gốc, siêu mẫu, siêu tượng…) vốn có trước, nằm trong những cấu
trúc tâm thần gần như phổ biến, bẩm sinh hay được thừa kế, là một dạng của ý thức
tập thể, chứa đựng nội hàm ngữ nghĩa nhất định nào đó. Biểu tượng gắn với quan
niệm của mỗi dân tộc, dù sự thể hiện ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể có độ vênh
nhất định nào đó. Trong văn học, có thể hiểu, biểu tượng là “một phương thức
chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả
năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa
thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa (của nhà văn -
NTMH,LVT) về con người và cuộc đời…, là đặc trưng phản ánh cuộc
sống bằng hình tượng văn học” [3, tr.24]. Biểu tượng hiểu như vậy sẽ là một sản
phẩm sáng tạo độc đáo của nhà văn, nhất là trong thể loại trữ tình. Gắn liền với
văn hóa dân tộc và thời đại, mỗi thi sĩ sẽ ưa dùng một hoặc một hệ biểu tượng của
riêng mình. Biểu tượng trong thơ sẽ dịch chuyển dần để trở thành hình tượng,
dung chứa nội dung tư tưởng mà người nghệ sĩ muốn gửi gắm, ký thác. Trong quan
niệm của con người nói chung (không chỉ là của Việt Nam), màu trắng thông thường
sẽ là sự tượng trưng cho những gì không vấy bẩn, không ô uế, cả ở phương diện vật
chất lẫn phương diện tinh thần. Chính vì thế, ngay từ thời cổ đại, màu trắng tượng
trưng cho sự tinh khiết, ngây thơ, trinh nguyên, trong sạch, thánh thiện… Màu
trắng còn đồng nghĩa với sự hòa giải, trung lập… Vào thế kỷ IX, màu trắng trở
thành màu áo của cô dâu phương Tây với hàm ý trinh trắng và tinh khiết theo đạo
đức trưởng giả. Ngày nay, chúng ta kết hợp màu trắng với sự sạch sẽ, vệ sinh, lạnh
lẽo… Chính vì lẽ đó mà người ta thích bột giặt, băng cứu thương, máy móc gia dụng,
vải giường, đồ lót… có màu trắng. Về mặt biến thể, biến thể cơ bản nhất của màu
trắng chính là ánh sáng nên màu trắng thường gắn liền với ánh sáng, gắn với sự
khởi đầu (hai bàn tay trắng)… và được xem là màu của sự hoàn hảo, hoàn thiện.
Và trong những trường hợp khác, màu trắng cũng bị coi là màu của tang tóc, chết
chóc, thê lương (như màu của tuyết lạnh)… Ở một phương diện nào đó, những người
thích màu trắng thường là người sống hồn nhiên, vô tư trong sáng, mong manh
nhưng lại khá tinh tế, cầu kỳ…
2.2. Các phương diện ý nghĩa của biểu tượng màu
trắng trong thơ Hàn Mặc Tử
So với một số biểu tượng khác như biểu tượng Trăng,
biểu tượng Hồn hay biểu tượng Máu, trong thơ Hàn Mặc Tử, biểu tượng Màu trắng
xuất hiện với số lượng không nhiều, song nó lại khá độc đáo. Khảo sát sơ bộ thơ
“Hàn Mặc Tử, thơ và đời” (Lữ Huy Nguyên sưu tầm, tuyển chọn, Nxb Văn học, Hà Nội,
2000), chúng tôi thấy biểu tượng màu trắng có một số ngữ nghĩa sau đây: 2.2.1.
Màu trắng - sự tinh khôi của buổi ban đầu
Nội hàm ngữ nghĩa đầu tiên của màu trắng
trong thơ Hàn Mặc Tử chính là sự tinh khôi của buổi ban đầu. Sự tinh khôi ấy có
thể hiểu về phương diện sự vật, vật chất mà cũng có thể hiểu là sự tinh khôi của
những giá trị tinh thần trong đời sống tình cảm của con người với con người. Đặc
biệt, với người nghệ sĩ, sự khởi đầu cũng sẽ là những giây phút thăng hoa trong
sáng tạo có ý nghĩa rất đặc biệt. Trong bài Bút thần khai, tác giả có viết:
Ngọn
bút thần khai phước lộc nhà,
Sáng như gươm báu, lạnh như ma.
Mực lùa khí vị vô
hồn chữ,
Văn bút hào quang ở miệng ta.
Giấy trắng
tinh khôi tuôn huyết mạch,
Lời vàng nguyên vẹn trổ tài hoa.
Ấm hơn tiếng nhạc
reo trong ý,
Thơ đợi xuân về phát tiết ra. (1)
Trên thực tế, hành vi sáng tạo của
nhà thơ cũng giống như nhiều hành vi sáng tạo nghệ thuật, kể cả những sáng tạo ở
các lĩnh vực khác không phải nghệ thuật luôn cần đến sự mãnh liệt, riết róng của
chủ thể song có lẽ, hoạt động sáng tác của người nghệ sĩ, hành vi này vốn được
nhấn mạnh hơn. Nó không phải là một dạng hoạt động hành vi không thể kiểm soát
song lạ kỳ là ở chỗ, đôi khi những can thiệp lý trí tỏ ra bất lực. Dòng cảm xúc
đến với thi nhân nhanh, mạnh, tuôn trào như một cơn sốc mà người thơ giống như
“thư ký” trung thành ghi lại dòng cảm xúc đến quá nhanh ấy mà thôi. Trong số
các nhà thơ của phong trào Thơ mới, thơ Hàn Mặc Tử ít dấu ấn của sự kỳ công, đẽo
gọt. Thơ đến tự nhiên, hồn nhiên mà cũng rất máu thịt. Ông gọi ngọn bút của
mình như có thần trực sẵn, chờ đợi sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa nội lực bên
trong và tác động của ngoại giới. Ngày ấy hẳn công nghệ giấy in chưa thể có loại
trắng sáng, trắng tinh như bây giờ, song nó vẫn và vẫn không những phải là “trắng”
mà là “trắng tinh khôi” vì một logic tất yếu: phải trắng tinh khôi như thế mới
có thể gợi cho thi nhân cảm hứng, xúc cảm mãnh liệt có thể “tuôn huyết mạch” -
tuôn dòng cảm xúc, giải phóng nguồn năng lượng sáng tạo bên trong, hiện thực
hóa văn bản tác phẩm ngôn từ.
2.2.2. Màu trắng - sự thanh khiết của thế giới tự
nhiên
Trong cảm quan của Hàn Mặc Tử, sự thanh khiết của thế giới tự nhiên gắn với
nỗi niềm khát vọng thụ hưởng thế giới, hòa nhập vào thiên nhiên mà Hàn Mặc Tử
đã vĩnh viễn không còn có cơ hội trong cuộc đời quá ngắn ngủi của mình. Màu trắng
lúc này tượng trưng cho những gì của ngoại giới đẹp nhất, thanh sạch nhất song
cũng nhức nhối nhất của thi nhân. Màu trắng vẫn còn đó, dường như vĩnh hằng để
lướt qua con người, bỏ qua con người hay con người đã bỏ qua nó? Tự hành trình
của mình như kẻ lãng du, Hàn Mặc Tử viết:
Mây trắng ngang trời bay vẩn vơ,
Đời
anh lưu lạc tự bao giờ.
Đi đi… đi mãi nơi vô định,
Tìm cái phi thường cái ước
mơ…
Chú thích:
(1). Lữ Huy Nguyên (sưu tầm, tuyển chọn) (2000), Hàn Mặc Tử, thơ và đời, - Nxb
Văn học, Hà Nội, tr.18. Trích dẫn thơ Hàn Mặc Tử trong bài viết đều lấy từ cuốn
này.
Cuộc hành trình tìm kiếm ấy của thi nhân sẽ
chưa hẳn là thất bại bởi nó vẫn còn nhiều hứa hẹn ở phía trước. Song dẫu vậy,
biết sao khi thi nhân đã quá mẫn cảm với thất bại đón chờ mình:
Ban đêm anh ngủ
túp lều tranh,
Chỗ tạm dừng chân khách bộ hành.
Đến sáng hôm sau anh cất bước.
Ra đi với cái mộng chưa thành.
(Đời phiêu lãng)
Lần khác trong bài thơ Em lấy
chồng, chỉ vỏn vẹn với bốn câu thất ngôn ngắn ngủi, lời thơ cũng nhẹ nhàng,
tưng tửng vẻ như bất cần song đọc lên hình như vẫn còn nỗi niềm nào ẩn giấu bên
trong:
Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ,
Em lấy chồng rồi hết ước mơ.
Tôi sẽ đi tìm mỏm
đá trắng,
Ngồi lên để thả cái hồn thơ.
“Tôi” lúc đó và “tôi” bây giờ đã mãi mãi
chả thể nào “bỏ làm thi sĩ” được, đã mãi mãi đóng đinh trên “cây thập tự thi
ca” và dẫu có một sự cải tử hoàn sinh cho người thơ chọn lại thì vẫn sẽ là thế,
định mệnh. Em đã và vẫn lấy chồng như một sự thật không thể khác, cũng không cần
khác. Đó là những lí lẽ hợp lý của sự tồn tại sự sống và đến ngay cả cái việc
“thả cái hồn thơ” của thi nhân cũng không thể lựa chọn khác. Duy chỉ còn lại “mỏm
đá trắng” thì thi sĩ vẫn phải “đi tìm” dù nó có thể có sẵn trong tự nhiên, thậm
chí ngay bên cạnh người thơ. Vấn đề ở đây không phải là có hay không có, tìm được
hay không tìm được “mỏm đá trắng” kia mà nó hiển nhiên phải là như vậy, “mỏm đá
trắng” mới gợi cho thi nhân nguồn cảm hứng trong trẻo, khát vọng giải phóng ẩn ức
tâm hồn. Hình ảnh thi nhân ngồi trên mỏm đá trắng tạc vào thiên nhiên lời thơ
gan ruột thật đẹp mà cũng mang khí vị liêu trai, hư thực… Màu trắng tinh khôi,
trinh nguyên gắn với cảm thức của thi nhân về mùa xuân đầu tiên:
Mai sáng mai,
trời cao rộng quá,
Gió căng hơi và nhạc lên mây.
Đôi lòng cũng ấm như xuân ấm,
Chỉ có ao xuân trắng trẻo thay!
(Xuân đầu tiên)
Màu trắng gắn chặt với ánh sáng
nên trong một vài trường hợp Tử diễn đạt bằng màu sáng, màu bạc, ánh sáng hay sự
sáng láng:
Mới lên lên trăng đã thẹn thò,
Thơm
như tình ái của ni cô.
Gió say lướt mướt trong màu sáng,
Hoa với tôi đều cảm động
sơ.
(Huyền ảo)
Ta mới thấy xuân vờn trong ánh sáng
Muôn sắc hình múa rỡn dưới
ao khuya
Đồi tháp cao kiêu hãnh với hàng bia
Với lau lách ngả mình trong cảnh vắng
Sợ chừng như tiếng rụng của sao băng
Mà vì đâu những tháp Hời kiêu ngạo
Hàng muôn
năm sống mãi dưới sương đêm
Mà vì đâu nghe tiếng bật giữa im lìm
Như mơ tiếp những
thời hung bạo?
Phải ngươi chăng, bên suối uống mây trôi?
(Thi sĩ chàm)
Hàn Mặc
Tử còn viết cả một bài thơ với tựa đề Sáng trăng và một bài thơ với tựa đề Sáng
láng:
- Vui thay cảnh sáng trăng
Ái tình bắt đầu căng
Hoa thơm thì nín lặng
Hương thơm thì bay lan
Em tôi thì hổn hển
Áo xiêm lấm tấm vàng…
(Sáng trăng)
-
… Anh đã thoát hồn anh ngoài xác thịt
Để chập chờn trong ánh sáng mông lung
Để
tìm em đưa hai tay ràng rịt
Mảnh tình thiêng ngả ngớn giữa không trung...
(Sáng
láng)
Bài Mùa xuân chín là một tuyệt tác của thơ Hàn Mặc Tử và cũng thuộc vào
hàng những thi phẩm bất hủ của phong trào Thơ mới (1932-1945). Mùa xuân chín là
bài thơ về mùa xuân, tình xuân. Với ngòi bút rất mực tài hoa, cách sử dụng ngôn
từ độc đáo, sáng tạo, tinh tế…, thi nhân đã khắc họa thành công hình tượng mùa
xuân tươi tắn thơ mộng với các hình ảnh dân dã, giản
dị, thôn quê. Các hình ảnh khói mơ tan, mái nhà tranh lấm tấm vàng, giàn thiên
lý, sóng cỏ xanh tươi… hiện lên thật đẹp, gợi cảm hòa quyện với hình ảnh của
con người trẻ trung, tươi tắn, yêu đời, tràn đầy khát vọng. Mùa xuân đến với
bao rạo rực và dự định, song một khi: “- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy/ Có kẻ
theo chồng bỏ cuộc chơi” thì niềm vui cũng không còn trọn vẹn, đứt gãy và hẫng
hụt. Đó là lúc thi nhân cần một điểm tựa tinh thần: tình quê hương hòa giải bao
nỗi niềm kẻ khách bộ hành lữ thứ: Khách xa, gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí
bâng khuâng sực nhớ làng:
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc,
Dọc bờ sông trắng nắng
chang chang?
Diễn ngôn ấy có thể hiểu, hóa ra mùa xuân chín mang trong nó hai nội
hàm ngữ nghĩa: một là mùa xuân ở vào thời điểm đẹp nhất, căng mộng nhất; hai
là, đúng vào lúc nó đối diện với sự tàn phai không thể nào cưỡng lại được. Đó
là quy luật nghiệt ngã mà tạo hóa và loài người cũng chỉ biết chấp nhận và dung
hòa mà thôi. Hàn Mặc Tử tạo ra một liên hệ tưởng như rất phi logic: lúc mùa
xuân chín là lúc “Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng”, nhớ quê hương miền Trung
yêu dấu, chang chang nắng chói cồn cát… để nương về mà đứng dậy. Bởi vì, như đã
nói, ngay sau cái thời khắc mùa xuân chín cũng là lúc nó héo úa và “cuộc chơi”
cũng đã kết thúc. Trong cuộc chơi ấy sẽ bao kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi còn lại
thi sĩ sẽ đi đâu? Dự cảm về sự hẫng hụt thúc giục thi nhân tìm về tình quê.
Hình ảnh “chị ấy” xuất hiện trong nỗi niềm bâng khuâng, hoang mang pha chút ưu
tư:
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc,
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Tác giả
tìm kiếm một nơi để hướng về nương tựa, nơi ấy gắn với hình ảnh của con người -
người con gái nhưng lại không phải là thôn nữ ngây thơ tà áo trắng như ngày nào
nữa mà là “chị ấy”. Gắn với chị ấy là hành động “gánh thóc”, chị có còn gánh
thóc đi dọc bờ sông nữa hay không? Niềm khao khát giao cảm và hưởng chút tình cảm,
hơi ấm của con người cơ hồ cũng không chắc chắn. Với cách gieo vần độc đáo, trắng
gắn nắng, lại đặt trong không gian rộng mở khiến ánh nắng vốn đã nắng nay lại nắng
hơn, gay gắt hơn. Câu thơ sáng lên đến tận cùng của sự trắng sáng, gợi một ám ảnh
da diết về hình ảnh chị ấy mà cũng chính là người thơ với gánh cuộc đời nặng
trĩu vẫn đi, mải miết về miền xa thẳm, không ngừng. Niềm vui phía trên vừa chợt
đến tới đây đã không còn, nhói buốt và nhức nhối… Phối âm trắng nắng trở thành
một “bản quyền” của thi ca Hàn Mặc Tử. Sau này, nhà thơ Tố Hữu có dùng cách phối
âm ấy trong bài “Em ơi… Ba Lan”, song chưa thể nào vượt qua được.
2.2.3. Màu trắng - sự trinh khiết của con người
Màu trắng còn
là sự tượng trưng cho vẻ đẹp ngây thơ, trong sáng, trong trắng và với Hàn Mặc Tử,
nó được đẩy lên thái cực: sự trinh khiết của con người, thường là người phụ nữ.
Trong số này, theo chúng tôi, biểu tượng màu trắng trong bài Đây thôn Vĩ Giạ là
một ví dụ điển hình nhất:
Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá
nhìn không ra…
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?
Cùng với
Mùa xuân chín, đây cũng đồng thời là một trong những bài thơ đẹp nhất của sự
nghiệp thi ca Hàn Mặc Tử. Bài thơ này lâu nay được đưa vào chương trình sách
giáo khoa Ngữ văn, bậc Trung học phổ thông lớp 11, nên nó thu hút được sự quan
tâm, thẩm bình, phân tích đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, các thế
hệ thầy cô giáo cũng như các em học sinh. Qua thời gian, các phương diện vẻ đẹp
nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật của bài thơ này đã được làm rõ song cửa
thơ vẫn khép hờ mời gọi. Bài thơ có ba khổ được sắp xếp theo một trật tự rất
phi logic: khổ 1 là khoảng sáng đẹp đẽ của kí ức vụt hiện về trong tâm trí thi
nhân, gắn với thiên nhiên và con người thôn Vĩ xưa; khổ 2 là sự trở về đối diện
với thực tế khổ đau (lúc Hàn Mặc Tử đang điều trị trong trại phong Quy Hòa)
song niềm mong ngóng, hi vọng chưa bao giờ thôi cạn; khổ 3 thì cảnh và người trở
nên mông lung, mờ ảo, thực tại hóa viễn ảnh xa xôi, còn thi nhân thì tuyệt vọng
hướng điều băn khoăn, nấc nghẹn vào chính cõi lòng tê tái. Hình ảnh khách đường
xa lặp lại hai lần như khát vọng níu kéo cứ xa một tầm tay với. Áo em trắng quá
nhìn không ra không phải không nhìn ra mà nó là biểu tượng về sự trong trắng,
trắng ngần trinh khiết của người thiếu nữ mà cả cuộc đời thi nhân khao khát kiếm
tìm. Nay thấy đó mà vĩnh viễn chia xa, tan tác, mãi mãi… Khoảng sáng kí ức vụt
hiện như vừa khuây khỏa nỗi niềm của người thơ trong những năm tháng ấy bỗng lại
khoét sâu hơn nỗi đau tụ máu trong lòng tác giả. Nhân tình thế thái cũng chỉ đến
vậy, phũ phàng, vô tình. Trước còn hướng ngoại: “Thuyền ai đậu bến sông trăng
đó/ Có chở trăng về kịp tối nay?” thì giờ hướng nội: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/
Ai biết tình ai có đậm đà?”, hướng vào chính mình, đớn đau, tuyệt vọng. Đây
thôn Vĩ Giạ là tình quê? Có sai đâu. Là tình yêu? Cũng đúng. Là sự hòa điệu, gặp
gỡ của tình quê và tình yêu. Lại càng đúng hơn. Nhưng nếu chỉ có vậy thì lời
thơ ông làn quá, sự diễn ngôn chưa đến giá trị vượt thời gian đến ngày hôm nay.
Chúng tôi cho rằng, bài thơ chính là một sự bày tỏ niềm khát khao giao cảm, tận
hưởng (vật chất và tinh thần) vẻ đẹp thanh khiết của thiên nhiên và sự trinh
khiết của con người (màu trắng là một sự tượng trưng). Với con người, vẻ đẹp
trinh khiết ấy, nghiệt ngã thay sẽ còn mãi nếu nỗi tuyệt vọng của thi nhân còn
mãi.
2.2.4. Màu trắng - khát vọng thanh tẩy cõi thế
và dự cảm về cái chết đau thương
Trong những năm tháng cuối đời, sự vật vã của
căn bệnh phong cùi rõ ràng có sự ảnh hưởng không nhỏ tới nguồn thi hứng của Hàn
Mặc Tử. Chúng tôi cho rằng, sẽ không thể có những vần thơ tan nát, xé lòng như
tập Máu cuồng và hồn điên nếu như Hàn Mặc Tử không mắc phải căn bệnh ấy, lẽ tự
nhiên người thơ đâu muốn thế. Bao lần ông cảm nhận rất rõ như hồn đã lìa khỏi
xác phàm bay lên miền sáng láng của một không gian khác: “Hồn đã cấu, đã cào,
nhai ngấu nghiến!/ Thịt da tôi sượng sần và tê điếng/ Tôi đau vì rùng rợn đến
vô biên/ Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm/ Cho trăng ngập trăng dồn lên tới
ngực… Hồn là ai? Là ai! Tôi không hay/ Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay/ Hồn mệt
lả và tôi thì chết giấc” (Hồn là ai). Thơ Hàn Mặc Tử theo hướng này chính là sự
thể nghiệm sống động nhất cái cảm giác mình đã chết, hồn đã cất khỏi xác phàm đớn
đau. Màu trắng lúc này chính là biểu tượng của khát vọng thanh tẩy cõi thế, gửi
mơ ước về miền tâm linh vẹn nguyên trong tưởng tượng của thi nhân, một niềm
sáng mà thi nhân mong mỏi sẽ hợp lưu để kết thúc tất cả: Đấy là tất cả người
anh tiêu tán
Cùng trăng sao bàng bạc xứ Say Mơ
Cùng tình em tha thiết như văn
thơ
Ràng rịt mãi cho đến ngày tận thế.
(Trường tương tư)
Hình ảnh suối nguồn xuất
hiện trong giả tưởng mà thực chất là dòng suối của một thế giới khác, hư ảo:
Cả
miệng ta trăng là trăng
Cả lòng ta vô số gái hồng nhan.
Ta nhả ra đây một nàng
Cho mây lặng lờ cho nước ngất ngây,
Cho vì sao rụng xuống mái rừng say,
Gió thổi
rào rào như lá đổ.
Suối gì trong trắng vẫn đồng trinh,
Bóng ai theo dõi bóng
mình,
Bóng này yêu tinh
Dịp cười như tiếng vỡ pha lê.
(Một miệng trăng)
“Mây”,
“gió”, “rừng”, “suối” thật đẹp, nhưng có gì đó thật hoang vắng, ớn lạnh. Suối
gì trong trắng vẫn đồng trinh có thể còn mã hóa những ngữ nghĩa khác nữa nhưng
trong trường hợp này nó gợi về một miền tâm
linh trong tưởng tượng của thi sĩ. Ở chỗ khác, mặc dù không nhắc đến màu trắng,
song lời thơ lại gợi ra cả một không gian trắng, lạnh lẽo:
Ta trút linh hồn giữa
lúc đây
Gió sầu vô hạn nuối trong cây.
Còn em sao chẳng hay gì cả?
Xin để tang
anh đến vạn ngày.
(Trút linh hồn)
Người con gái đồng trinh chết đi trong nghẹn
ngào của Tử cũng khoác lên mình sắc trắng lạnh lẽo mà tinh khiết ấy:
Xác cô
thơm quá, thơm hơn ngọc.
Cả một mùa xuân đã hiện hình.
Thinh sắc cơ hồ lưu luyến
mãi,
Chết rồi - xiêm áo trắng như tinh.
(Cô gái đồng trinh)
Hình ảnh của thi
nhân cầu nguyện Đức mẹ đồng trinh Maria thật gợi nhiều cảm xúc đối với người đọc:
- Ta chắp hai tay lạy quỳ hoan hảo,
Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không gian,
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân
Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế…
(Đêm
xuân cầu nguyện)
- Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước,
Cho tình tôi nguyên vẹn tựa
trăng rằm,
Thơ trong trắng như một khối băng tâm
Luôn luôn reo trong hồn, trong
mạch máu!
(Thánh nữ đồng trinh Maria)
Về sau, trong kịch thơ Duyên kỳ ngộ, Hàn
Mặc Tử, mặc dù không còn nhắc trực tiếp đến màu trắng, sắc trắng nữa, song cả
không gian được miêu tả đều ngập trong sắc ngọc trong trắng, tinh khiết và
thanh sạch, như tắm gội và gột rửa và nâng đỡ cho một tâm hồn quá nửa đời
thương đau của người thơ:
Một mai kia ở bên khe nước ngọc,
Với sao sương, anh nằm
chết như trăng.
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc,
Đến hôn anh và rửa vết
thương tâm.
Với Hàn Mặc Tử, cuộc hành trình đời người quá
ngắn ngủi, song bù lại nó thực đáng giá, vĩnh viễn thử thách năm tháng thời
gian. Cuộc “dạo chơi chốn nhân gian” của thi nhân đáng quý biết bao khi nó đã tạo
nên một vẻ đẹp siêu mẫu và gợi nhiều suy ngẫm cho hậu sinh. Một lần nữa, thi
nhân và “chị” lại hiện lên và bất tử trong miền không gian có “Nước suối chảy ở
hang đá trắng, tinh khiết như mạch nước ngọc tuyền, chồm lên những vừng lá, hễ
trông đến là kinh hãi vì ngó giống con bạch hoa xà như tạc…” và kìa “… Tôi bỗng
thấy chị tôi có vẻ thanh thoát quá, tinh khôi, tươi tốt và oai nghi như pho tượng
Đức Bà Maria là đức tinh truyền chí thánh. Tôi muốn sốt sắng quì lạy mong ơn
bào chữa. Nhưng trời ơi, sao đêm nay chị tôi đẹp đẽ đến thế này. Nước da của chị
tôi đã trắng, mà vận áo quần bắng hàng trắng nữa, trông thanh sạch quá đi… Những
phút sáng láng như hôm nay, soi sáng linh hồn tôi, và giải thoát cái “ta” của
tôi ra khỏi nơi giam cầm của xác thịt… Tôi bỗng rú lên một cách điên cuồng, và
chực ngửa tay hứng một vì sao đương rụng. Chị tôi đằng xa chạy lại bảo tôi: -
Em la to quá, chị sợ âm thanh rung động đến khí trời, rồi những ánh trăng sẽ
tan ra bọt mất… - Không, không, chị ơi! Rồi ánh sáng đêm nay sẽ tan đi, ta sẽ
buồn thương và nhớ tiếc. Em muốn bay thẳng lên trời để tìm ánh sáng muôn năm
thôi…” (Chơi giữa mùa trăng).
3. KẾT LUẬN
Hàn Mặc Tử là một hiện tượng thi ca vốn
tốn nhiều giấy mực đương thời cũng như sau này song dường như mọi chuyện vẫn
chưa dừng lại. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua mà thế giới thơ ông vẫn chưa bao giờ
thôi hấp lực với bạn đọc. Trong lịch sử thi ca hiện đại đến đương đại, theo
quan sát của chúng tôi, hẳn chưa có ai lại có cuộc đời đau thương, bất hạnh đến
dường ấy và hẳn cũng chưa có ai lại có những vần thơ xé ruột đến thế. Đây là điều
khiến cho mỗi khi đọc lại ông, chúng tôi lại nghiệm suy được biết bao nỗi niềm
thế thái nhân tình. Biểu tượng màu trắng như kiến giải của chúng tôi chỉ là một
vấn đề nhỏ trong bao vấn đề có thể khai thác từ chính cuộc đời và thi ca của
thi nhân. Cảm thức về nữ quyền sinh thái sẽ là một gợi ý để lần sau chúng tôi sẽ
quay trở lại bàn kỹ hơn, ở trong thơ Hàn Mặc Tử đã đành mà trong thơ của những
người bạn của ông như Chế Lan Viên, Bích Khê, Quách Tấn… cũng khá rõ nét.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO:
1. Lê Thị Anh (2007), Thơ mới với thơ Đường, - Nxb Văn học, Hà Nội.
2. Phan Cự Đệ (2007), Hàn Mặc Tử về tác giả và tác phẩm, - Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2009), Từ điển thuật ngữ văn học,
- Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4. Hoàng Thị Huế (2014),
Thơ mới nhìn từ quan hệ văn hóa - văn học, - Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
5. Jean
Chevalier, Alain Gheerbrant (2016), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, nhiều
người dịch, tái bản lần thứ 3, - Nxb Đà Nẵng.
6. Lữ Huy Nguyên (2000), Hàn Mặc
Tử thơ và đời, - Nxb Văn học, Hà Nội.
7. Hoài Thanh, Hoài Chân (2003), Thi nhân
Việt Nam (in lần thứ 21), - Nxb Văn học, Hà Nội.
8. Chu Văn Sơn (1998), Tinh
hoa Thơ mới - thẩm bình và suy ngẫm, - Nxb Giáo dục, Hà Nội.
9. Chu Văn Sơn
(2004), Hàn Mặc Tử một hành trình sáng tạo, - Nxb Trẻ, Hà Nội.
10. Chu Văn Sơn
(2004), Ba đỉnh cao Thơ mới, - Nxb Giáo dục, Hà Nội.
11. Đỗ Lai Thúy (2012), Mắt
thơ, phê bình phong cách Thơ mới, - Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
Tháng 3/2018
Nguyễn Thị Mỹ Hiền - Lê Văn Tấn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét