Hoàng Thụy Anh
và những không gian mơ tưởng

“Ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện
sinh - như một bài thơ” - Hoàng Thụy Anh
Từ khoảng hai thập niên qua, đời sống văn học
Việt Nam mà đặc biệt là thi giới chứng kiến sự tham dự của nhiều
nhà thơ mà vốn dĩ bạn đọc đã quá quen thuộc trước đó với một
bản mệnh khác - bản mệnh của lý luận phê bình. Từ những thế hệ
nhà lý luận phê bình đi qua và sống trải trong chiến tranh như Hà
Minh Đức, Mã Giang Lân, Hồ Thế Hà, Trương Đăng Dung… cho đến những
thế hệ lý luận phê bình trẻ (7x, 8x) như Fan Tuấn Anh, Hoàng Đăng
Khoa, Nguyễn Mạnh Tiến, Mai Anh Tuấn (bút danh Lệ Bình Quan)… và bây
giờ chúng ta có thêm một giọng thơ nữ là Hoàng Thụy Anh.
Hình như trong cơ cấu tâm lý bề sâu của mỗi cá
nhân, phần lý trí là cái lộ ra bên ngoài, dùng để khám phá và
miêu tả thế giới. Con người dùng lý trí, ý thức của mình để nhận
thức thực tại bên ngoài như một khách thể. Nhà lý luận phê bình
dùng thao tác khoa học, tư duy nghiên cứu, sự vận dụng các phương
pháp và lý thuyết văn học nhằm nói về tác phẩm, cắt nghĩa nó.
Dẫu vẫn biết mọi diễn giải văn học đều ít nhiều là sự minh giải
chủ thể, tính chủ quan và cái tôi cá nhân của nhà lý luận phê
bình vẫn cứ bám riết sau lưng anh ta như một bóng ma, nhưng hình
như chỉ riêng địa hạt lý luận phê bình không thôi thì người viết
vẫn cảm thấy chưa được thỏa mãn một cách trọn vẹn, vẫn còn điều
gì đó khiến họ rấm rứt cần phải tỏ bày. Và, từ đó, họ lại cần
đến thơ. Thơ xuất hiện và bắt đầu trong sự nghiệp viết của mỗi
nhà lý luận phê bình đúng ngay vị trí mà các nghiên cứu văn
chương dừng lại, được tính bằng điểm mốc duy lý.
Chúng ta đồng ý rằng lý luận phê bình (mà đặc biệt
là những nhà phê bình) không thể khách quan và lý tính như các
khoa học tự nhiên, được quy định bởi bản chất của ngôn ngữ cùng đặc
trưng của quá trình thông diễn, đọc hiểu văn bản văn học. Điều
này Karl Popper đã nhận ra một cách sâu sắc trong công trình Sự
nghèo nàn của thuyết sử luận [Nxb Tri thức, Hà Nội, 2012]. Phê
bình văn học từ lâu vẫn được xem là “con vật lưỡng thê” (từ dùng
của Đỗ Lai Thúy), sống vắt ngang giữa đời sống cảm tính nghệ thuật
và đời sống lý tính khoa học. Nhưng dẫu nghệ thuật hay “nhân hình
hóa” chừng nào đi chăng nữa, nhà lý luận phê bình vẫn vấp phải
nhiều giới hạn tất yếu. Sự hiểu tác phẩm văn học bất chấp có tự
do như thế nào chăng nữa, như cách nói cường điệu của Anatole
France, phê bình văn học là nghệ thuật kết hợp với phiêu lưu, nhà
phê bình tài năng là kẻ kể lại những cuộc phiêu lưu tinh thần qua
các tác phẩm kinh điển mà mình đã đọc, thì thật ra không bao giờ
nhà lý luận phê bình có thể minh giải trực tiếp, trọn vẹn những ý
hướng bên trong, thông điệp nghệ thuật và ẩn ức sáng tạo của
riêng mình như khi trực tiếp thực hành sáng tạo. Đọc và diễn giải
về một tác phẩm nào đó, về bản chất là một sự “nhai lại”, người
đọc - nhà phê bình luôn phải gánh chịu sự kiểm tỏa của văn bản,
của ý hướng tác giả, của nghĩa, của cốt truyện, của hiện thực
được phản ánh đến. Người đọc có quyền tự do thông hiểu, nhưng
chỉ trong một sân chơi chật hẹp do tác giả và văn bản tạo nên,
lường trước hoặc giới hạn trước. Mỹ học tiếp nhận đã đánh giá
lại thành công vị trí của sự đọc, có công lao đưa người đọc và
hành vi đọc lên tầm triết học, hơn là mở ra những không gian tự do
mới cho sự đọc. Do đó, nhà lý luận phê bình, trong một chừng mực
nào đó, trong một vài thời điểm nào đó, sẽ “lại giống” quay về với
thơ, trú ngụ trong vũ trụ thi ca.
Nhưng câu hỏi đặt ra là, tại sao lại quay về với
thơ ca chứ không phải là các thể loại khác vốn dĩ gần gũi hơn
với tư duy lý tính, khoa học (của lý luận phê bình) như truyện
ngắn, tiểu thuyết, hay bi kịch? Lý do rất đơn giản, vì thơ vốn mang
đặc trưng điển hình nhất của thể loại trữ tình, là sự giãi bày trực
tiếp nhất và cảm tính nhất cái tôi của người nghệ sĩ cùng những
ẩn ức tâm lý sáng tạo. Nếu lý luận phê bình là nơi ý thức, lý trí của người viết được tự do biểu hiện, ra sức khám phá thế
giới, thì trong thơ ca, người nghệ sĩ quay lưng lại đối diện với
chính mình, rút lui phía sau bóng tối âm u của những không gian mơ
tưởng. Hai mặt này bù trừ trong một cơ chế tâm lý giúp nhà lý luận
phê bình - nhà thơ cân bằng được giữa vô thức với ý thức, bên
trong với bên ngoài. Hẳn rằng, tập thơ Người đàn bà sinh ra từ
mưa [Nxb Hội Nhà văn, 2017] của Hoàng Thụy Anh cũng ra đời trong
cơ chế tâm lý tự điều hòa, tự thăng bằng ấy. Khác nhiều người,
tôi không lạ với việc nhà lý luận phê bình tìm đến thế giới cảm
tính, chủ quan của cái tôi trữ tình trong thơ. Bởi đơn giản tôi
cũng chính là người trải nghiệm từ bên trong “trò chơi” của những
“cuộc đời song hành” ấy. Trong nhiều dịp khác nhau, tôi đã từng cho
rằng, thực ra giữa tư duy thơ ca và tư duy lý luận phê bình không
có quá nhiều khoảng cách, đối lập như mọi người vẫn nghĩ. Cả hai
tư duy ấy, không hề mâu thuẫn, mà thực ra thống nhất, tương liên
thông suốt như hai mặt của một tờ giấy. Thực ra chỉ có những nhà
lý luận phê bình kém cỏi, hoặc những nhà thơ bất tài, chứ không
hề có một quy luật nào buộc nhà lý luận phê bình phải tránh xa
thơ, đối lập với thơ, và thơ cũng chẳng hề làm cho các nhà lý luận
phê bình trở nên yếu đuối hay lụi tàn trong khoa học.
Với Hoàng Thụy Anh - nhà phê bình hiện đang là hội
viên Hội Nhà văn Việt Nam đã từng xuất bản ba công trình lý luận
phê bình là Thơ Hoàng Vũ Thuật - nhìn từ thi pháp học của
Roman Jakobson (chuyên luận) [Nxb Thuận Hóa, 2010], Bản xô-nát
thi ca (tiểu luận - phê bình) [Nxb Hội Nhà văn, 2012], Tiếng vọng
đa thanh (tiểu luận - phê bình) [Nxb Hội Nhà văn, 2016] thì việc
chị xuất bản một tập thơ với tôi cũng là điều hợp quy luật. Thông
thường, các nhà lý luận phê bình sẽ tìm đến với thơ một khi sự
nghiệp nghiên cứu văn học của họ đạt đến ngưỡng nhất định, khiến
họ cảm thấy cần phải bổ khuyết cho đời sống lý tính thêm sự giãi
bày bản thể bên trong. Hoàng Thụy Anh là một nhà phê bình trẻ,
nhưng chị đã sớm để lại những thành tựu và dấu ấn nhất định trên
địa hạt phê bình, và có lẽ, cũng đã đến lúc chị phải sống và
viết cho mình, sau nhiều năm mải mê, hy sinh, để sống và viết cho
người. Với tâm hồn nữ nhạy cảm, tinh tế đầy thiên tính nữ như
Hoàng Thụy Anh, việc chị quay về trú ngụ trong thơ có lẽ là điều
quá đỗi bình thường, dung dị.
1. Biểu tượng thân thể hay là thế giới của tính
dục
Đọc thơ của Hoàng Thụy Anh, người đọc phổ thông mà
nhất là những người có quen biết chị ngoài đời sống rất có thể
sẽ cảm thấy ngạc nhiên, shock nhưng đầy thú vị. Bởi thơ chị không
nhẹ nhàng, e ấp, kín đáo như con người thực tại, mà hết sức mãnh
liệt và dày đặc những biểu tượng tính dục. Thơ trong trường hợp
này, có thể là cách để thi nhân được sống thật với những khát
khao thầm kín bên trong đã bị đè nén bởi bổn phận, đạo đức, định
kiến về giới, hay các tabou của nền văn hóa phương Đông vốn theo
Nho giáo cổ truyền. Là một nhà thơ, lại là một nhà thơ nữ, Hoàng
Thụy Anh giãi bày một cách trực diện, đầy mạnh liệt những “khát
khao đời thường ai chẳng có”, nhưng không phải ai cũng có đủ dũng
cảm, tài năng và cơ hội để cất lên. Hình tượng người phụ nữ
“khát tình” hiện lên trong tập thơ Người đàn bà sinh ra từ mưa là
rất rõ ràng, dưới nhiều cung bậc và dạng thức khác nhau. “sau tấm
màn đen - em vẫn thao thức khát điều kỳ diệu - từ phía không anh…-
ánh sáng nhú trên những đồi vú mọng” [dấu tích]; hoặc là “em thêm
lần nữa - nhả khát - chải lòng biển đêm” [khát]; “anh khát em như
biển khát vĩ cầm khúc muôn trùng hoa sóng như hoàng hôn khát những
giọt ngày lấp lánh” [tim nắng]; “đẩy anh xa em - trượt khỏi con
thuyền thơ khao khát” [bắt đầu]… (Phan Tuấn Anh nhấn mạnh ở mọi chỗ
trong tiểu luận này). Thơ viết về tính dục hay ham muốn tính dục
của chủ thể nữ giới là không có gì mới cả trên thế giới lẫn ở
Việt Nam. Có lẽ, trong làng thơ trẻ đương đại thì Vi Thùy Linh đã
đi quá xa và đặt ra những điển phạm khó vượt qua trong địa hạt này.
Nhưng thơ Hoàng Thụy Anh vẫn khác ở chỗ, hình tượng tính dục và
khao khát tính dục của chị trong thơ rất đẹp, tinh tế, mang đầy ý
nghĩa nhân sinh ẩn dụ mà không sỗ sàng trong nhục cảm. “mặc con gió
hả hê đuổi thời gian về phía hoàng hôn - chúng mình vẫn ôm vẫn
hôn vẫn xiết nhớ xiết khát lên nhau… - có đôi điều chẳng thể nào
quên được hay biến mất - những giận hờn hôm nay và những ghen tuông
hôm qua” [tình đã về đấy thôi]. “đêm thơm em - phồn thực đỏng đảnh
búp mười bảy - anh rót đêm di di - từng mũi thương từng mũi đau
rát nhối bầm ngực” [giấc ngủ nào đang thừa nước mắt]. Ở điểm này,
cách triết lý buồn đầy thân phận nữ tính, hay cách tư duy thơ tính
dục mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc của tác giả dễ làm ta liên tưởng
đến lối thơ của các nữ sĩ tài danh như Xuân Quỳnh hay Lâm Thị Mỹ
Dạ. Điều khiến tôi chú ý trong thế giới tính dục thơ của Hoàng
Thụy Anh, đó là nỗi khát khao không được thỏa mãn, và nỗi buồn
trong tính dục.
Nếu bạn đọc tinh ý, hệ thống hình tượng gắn với
các biểu tượng tính dục trong thơ Hoàng Thụy Anh thường được đi
kèm với động từ “khát” (xin xem các ví dụ trên). Nếu xem cái tôi
trữ tình trong thơ là sự bộc lộ trực tiếp, chân thật và gần gũi
nhất đời sống vô thức của tác giả, thì ta có thể nhận ra phần nào
những lý do đã thúc đẩy Hoàng Thụy Anh đến với thi giới. Đời sống
tính dục khát khao, nhưng lại không hoàn toàn thỏa mãn, đã để lại
khoảng trống mà có lẽ, ý thức, lý trí trong lý luận phê bình khó
có thể lấp đầy. Trong thể loại hư cấu cũng sẽ không thể nào bộc lộ
một cách trọn vẹn như thơ. Vấn đề không chỉ đơn giản nằm ở những
từ “khát” hay “thèm” xuất hiện dày đặc: “như em thèm ngự trị nạm
tim anh - thèm xóa dấu môi của người đàn bà khác… - anh vẫn tin
nhánh khát em - về giấc ngủ tiên” [thế gian còn nhiều điều lạ em ơi],
mà nằm ở nỗi buồn cứ như ám khói lên thơ Hoàng Thụy Anh. Sự
không thỏa mãn trong đời sống tính dục của tác giả, hoặc thông qua
cái tôi trữ tình, chúng ta thật khó đoán biết lý do, trên thực tế
là không thể nhận thức một cách toàn vẹn, chính xác. Nhưng qua lối
tiếp cận của phân tâm học văn bản, ta vẫn có quyền đưa ra cách
hình dung về vấn đề này. Việc “khát” hay “thèm” (tính dục) của chủ
thể trữ tình trong thơ rất có thể không đơn giản/thuần xuất phát
từ việc khoái cảm không trọn vẹn, mà xuất phát từ một nỗi buồn,
hay cô đơn truyền kiếp nào đó. Một lý do nào đó bên ngoài tính
dục đã ám thị và giới hạn tính dục không được phép đi đến cùng
của cực khoái. Đọc thơ Hoàng Thụy Anh, kể cả gặp chị ngoài đời,
tôi cứ có cảm giác chị luôn cất giấu một khuôn mặt (thật) nào
khác, một nỗi buồn đằng sau nụ cười, ở chị ẩn náu một cái tôi
khác, hoặc những bi kịch, thiệt thòi thầm kín không dễ/ muốn tỏ bày
với người xung quanh. Chính điều này khiến cho những khát khao không
trọn vẹn, hoặc tính dục không thể nào thăng hoa như nó muốn có.
“từ đáy huyệt buồn - mầm khát nhú… - hãy cùng anh nhổ hết chán
chường tuyệt vọng - đừng để chúng mọc cánh và nhảy múa trong ngực
đêm” [rót]; “nhặt hạt mưa giấu vào cuống lá - em chia đều từng
cuống buồn… - âm vô cùng - huyệt mộ nào cầm giữ hương linh giữa
tàn phai tháng mười” [phục sinh]; “đêm qua những giọt nước mắt em
lẩn thẩn vắt ngang tờ giấy trắng - búng vào đó vệt xước như một
tiếng thở dài mùa cũ… - em không muốn hạnh phúc cứ ríu rít bờ em
còn bờ anh cứ khua khoắng mãi vệt tình đọng lại đêm quỳnh tận
hiến… - hằng đêm - hằng đêm… - mơ về – những mảnh ghép dang dở”
[giấc rời]. Bi kịch tính dục đôi khi đến từ những lý do bên ngoài
tính dục. Sự phức tạp đó của nhân sinh khiến chúng ta không thể sỗ
sàng và vội vàng đưa ra một kết luận giản đơn, cơ giới về cội
nguồn nỗi khát tình của tác giả.
Vả lại, vấn đề khát tình hay không thỏa mãn trong
tính dục nói trên thực ra cũng không quá quan trọng đối với một
thế giới thơ. Cái Hoàng Thụy Anh làm được đó là chị đã kỳ công
và thành công khi dựng lên một thế giới tính dục mộng tưởng của
mình, với dày đặc những hình tượng và biểu tượng của tính dục.
Đọc tập thơ Người đàn bà sinh ra từ mưa, bạn đọc dễ dàng nhận ra
hai biểu tượng lặp đi lặp lại như một mã nghệ thuật riêng, đầy ẩn
ý và cá tính của tác giả, đó là “môi” và “hôn”. Theo thống kê
chưa đầy đủ của tôi, chỉ trong một tập thơ ngắn, Hoàng Thụy Anh đã
25 lần sử dụng hình tượng “môi”, hình tượng “hôn” được sử dụng
15 lần, đó là chưa kể 7 lần sử dụng hình tượng (trạng thái) lõa
thể. Hệ thống hình tượng này, được dùng như những biểu tượng
của dục tính, nó thực sự đã trở thành mã nghệ thuật quan trọng
trong việc thông hiểu thế giới chữ nghĩa của Hoàng Thụy Anh. Dẫu vô
thức hay có ý thức, thì hệ thống hình/ biểu tượng nói trên cũng
đã phác họa nên một thế giới tính dục với dày đặc biểu tượng
thân thể.
Môi là một bộ phận trên cơ thể, vốn trước tiên
dùng để ăn uống, nói năng, không liên quan đến tính dục đích thực
như các loài động vật khác. Môi vốn dĩ không tham gia vào quá
trình truyền giống và sinh sản của con người. Nhưng S.Freud đưa ra một
kiến giải mới thú vị liên quan đến môi, khi ông cho rằng các khu
vực niêm mạc đều tiềm chứa cảm xúc khoái lạc tính dục, trong đó
có môi miệng. Trong “hai pha tính dục” của đời sống tính dục của con
người, thì “pha ấu thời” chủ yếu các hành vi tính dục của đứa trẻ
được thực hiện qua môi miệng, với hành vi bú mút vú mẹ như hành
vi thỏa mãn khoái lạc. Theo tôi, hành vi bú mút nhằm thỏa mãn khoái
lạc tính dục trong pha ấu thời sẽ không kết thúc khi đứa trẻ dậy
thì, bước sang pha tính dục trưởng thành, mà sẽ tiếp tục chi phối
đời sống tính dục sau này như một quán tính. Do đó, dẫu trưởng
thành, những người đàn ông vẫn đam mê sở hữu vú của vợ/ người
tình, hoặc thường xuyên thực hiện hành vi bú mút nhằm thỏa mãn
tính dục thông qua niêm mạc miệng. Thơ Hoàng Thụy Anh do đó dày đặc
hình tượng liên quan đến môi miệng như sự kiến tạo thế giới tính
dục đặc thù.
Môi có thể là sự khát thèm tính dục của nữ tính
nguyên thủy, môi như một sự hoán dụ cho người: “em tự huyễn hoặc
mình - ừ! hôm nay anh sẽ đến - gieo cánh nồng xuống môi em - thắp
lửa bầu ngực đêm miên man” [nhớ anh]; “chiều gội tóc trong mưa - cong
cong buông khuy nằm đợi - em xúng xính rót hoàng hôn xuống môi”
[hướng nào cũng từ tim anh]. Sự khát thèm luôn gắn liền với hình
tượng môi miệng như sự diễn giải cụ thể hơn vấn đề mà tôi đã
đề cập đến ở trước. Môi như một biểu tượng tính dục còn biểu hiện
cho vết thương tinh thần và thể xác mà chủ thể trữ tình phải trải
nghiệm trong đời sống (tính dục): “giọt đau nén vào trong - giọt
thương cũng xoáy vào trong - chỉ giọt môi hứng lấy lưỡi mùa đang
mắc kẹt thêu” [bọc]. Nhưng sau hết, chủ thể trữ tình nữ tính luôn
khát khao dùng tính dục như một sự bao dung, cảm thông và chữa lành
cho nam tính. Thiên tính nữ của thi nhân được thể hiện qua sự hi
sinh cao cả này. “em cõng nắng về tưới môi anh - hong lại một giếng
cười vạn thuở - mặc bầu mưa nẩy mình thách thức” [tình đã về đấy
thôi]. Tính dục như vậy không phải bao giờ cũng xuất phát từ bản
năng, và thuần túy bản năng đối với con người. Tính dục là văn
hóa, là bản mệnh giới, là ứng xử nhân văn mang quan niệm sống,
triết lý sống của mỗi cá nhân. Từ tính dục, chúng ta không chỉ
hiểu thêm về phần “con”, mà cả phần “người” cũng hiện lên rõ
ràng, sinh động.
Nụ hôn có lẽ là hành vi tính dục người đặc biệt
nhất. Nhưng sự phát triển của đời sống tính dục con người đã tạo
ra những xu hướng mới khác các loài linh trưởng còn lại, đó là
chúng ta có nụ hôn và hành vi bú mút. Hôn được thực hiện bằng
môi, thông qua môi, gây ra một khoái cảm thứ phát bên cạnh khoái
cảm chính thức ở cơ quan sinh dục. Nụ hôn là sự ma sát, giao tiếp
tính dục thông qua niêm mạc miệng, thông thường nó khởi đầu cho
quá trình ái ân, giao phối. Một cuộc giao hoan nhân danh tình yêu
của con người bao giờ cũng bắt đầu và kết thúc thông qua nụ hôn,
chứ không phải cơ quan sinh dục. Thậm chí, người ta hoàn toàn có
thể không giao hợp đích thực bằng các cơ quan sinh dục, mà biến nụ
hôn (vào những cơ quan sinh dục, những điểm nhạy cảm) thành hành vi
ân ái thứ phát (khẩu dâm) không kém phần lãng mạn, khoái/ nhục
cảm. Hành động hôn xuất hiện dày đặc trong tập thơ của Hoàng Thụy
Anh hẳn rằng cũng cung cấp cho người đọc nhiều thông tin nhằm giải
mã thế giới nghệ thuật. Thật không quá khi nhận định rằng, vũ trụ
thơ của Hoàng Thụy Anh là thế giới được kiến tạo từ những hành vi
ái ân và các biểu tượng thân thể. Trong đó, nụ hôn chiếm vị trí
trung tâm và cũng đặc biệt nhất. Bởi vì nụ hôn nằm giữa lằn ranh
mong manh, khó phân định giữa tình yêu và tình dục. Hôn biểu thị
cho tình yêu, thậm chí tình thương (mẫu - tử, anh - em, cha - con…)
và xã giao, nhưng nụ hôn (nam - nữ) luôn mang thông điệp tính dục
và khởi đầu cho những hành vi ái ân. Nụ hôn không bao giờ nguyên
nghĩa thuần túy thể xác (như đụng chạm cơ thể), hoặc thuần túy
tinh thần (như nhớ nhung) trong quan hệ nam - nữ.
Rất dễ tìm ra những hình tượng hôn nhục cảm trong tập
thơ của Hoàng Thụy Anh: “biển chiều co rúm - tràn anh - anh lại tràn
em - nụ hôn gối chùm hôn” [tim nắng]; “anh len em - những nụ hôn vắt
mình trên lớp thông khô - rụng xuống đường cong dấu chấm ngọt”
[mùa len]… Những nụ hôn trong thơ Hoàng Thụy Anh đã được nhân cách
hóa thành các sinh thể sống. Dưới cái nhìn đầy hình tượng của
nhà thơ, nụ hôn không giản đơn là sự ma sát của môi và lưỡi, mà
rộng ra, nó là ngôn ngữ của trái tim, là sự phóng chiếu của libido
thành các dạng thức sống động. Có thể nói, cái nhìn hình tượng đa
dạng, sức tưởng tượng phong phú là điểm mạnh trong thơ Hoàng Thụy
Anh. Nhưng ẩn kín đằng sau những nụ hôn, người thơ gửi đến chúng
ta - những bạn đọc nhiều hơn thông điệp về tình yêu và những hành
vi ái ân. Người đàn bà sinh ra từ mưa là tập thơ được viết nên
bằng loại mực mang màu sắc tính dục, nhưng lõi bút bên trong lại
chất chứa nỗi buồn và bi kịch đàn bà trong đời tư, những tâm sự
dễ nào chia sẻ với ai. Chính vì lý do này, mà nhiều nụ hôn trong
thơ chị mang sắc màu trầm buồn, ảm đạm, đủ sức làm day dứt, ám
ảnh người đọc. “em gom bao nhiêu dấu chân vẫn không tìm được dấu
chân của anh - em điêu khắc vòng tay nụ hôn cuối dốc làm vật chứng
vẫn không đủ căn cứ giữ tình yêu ở lại” [tình]; “bờ bên kia hôn
thân gió ngược đêm hao gầy mặt nạ - bờ bên này đổ bóng thành
quách tang trắng” [bay]; “con cú chong mắt theo những ký tự ôm hôn tự
do hằng đêm - chứng kiến sự dối lừa mọc vảy gồ lên như tổ đỉa”
[tàn].
Thực ra tình yêu không phải lúc nào cũng là trải
nghiệm hạnh phúc, ngọt ngào, thậm chí rất có thể tình yêu còn mang
lại nhiều trải nghiệm đớn đau, tan vỡ hơn trong đời người. Bởi vì
sống ở trên đời, bước chân vào vương quốc tình ái, có ai dám tự
tin rằng mình sẽ được nhiều hơn mất? Trọn vẹn nhiều hơn dang dở?
Sự viên mãn chiếm ưu thế so với những vết thương? Trừ vài người
ít ỏi may mắn sở hữu cái thắt lưng của thần Aphrodite, có lẽ số
đông chúng ta đều mang thân phận như thi sĩ Xuân Diệu - ông hoàng
của thi tình Việt Nam: “Yêu là chết ở trong lòng một ít - Vì mấy
khi yêu mà chắc được yêu. - Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu
- Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết…” [Yêu]. Chính vì lý do căn
nguyên ấy, mà những nụ hôn hạnh phúc, viên mãn thì ít, còn những
nụ hôn đắng cay, chia biệt thì nhiều trong thơ Hoàng Thụy Anh, trong
đời chị, và có lẽ cũng là trong cuộc đời của mỗi chúng ta. Nụ hôn
trong thơ Hoàng Thụy Anh do vậy không đơn thuần là một động từ, một
hành vi ái ân, thân mật thể xác, mà là một loại mã tín hiệu nghệ
thuật đa bội nghĩa.Tập thơ “Người đàn bà sinh ra từ mưa” của Hoàng Thụy
Anh
2. Suy tư về ngôn ngữ giữa thế giới siêu thực
Hoàng Thụy Anh là nhà thơ có ý thức sâu sắc về lý thuyết văn học, các hệ phái triết học và mỹ học đương đại. Bởi
trước tiên, chị là một nhà lý luận phê bình. Do đó, đọc thơ
Hoàng Thụy Anh, những nhà phê bình có thể nhận ra dày đặc những lý thuyết văn học vốn dĩ trong nghiên cứu chị thường hay nhắc đến.
Phân tâm học là lý thuyết có nhiều ảnh hưởng, vận dụng rõ ràng
nhất, và ở trường hợp này, nhà thơ không còn là kẻ ngây thơ
sáng tạo theo bản năng thuần túy, không cần biết đến lý thuyết văn
học như tuyên ngôn của nhiều nhà văn thành danh ngày nay. Đọc lại tập
tiểu luận Tiếng vọng đa thanh, ta có thể nhận ra sự vận dụng nhuần
nhuyễn lý thuyết phân tâm vào trong phê bình văn học của Hoàng
Thụy Anh. Ngoài ra, thi pháp học, tự sự học, chủ nghĩa hình thức Nga
cũng là những trường phái lý thuyết mà Hoàng Thụy Anh có nhiều
thời gian nghiên cứu, trải nghiệm trong phê bình, thông qua hai công
trình đầu tiên (Thơ Hoàng Vũ Thuật - nhìn từ thi pháp học của Roman
Jakobson và Bản xô-nát thi ca). Khi tiến hành phê bình về sáng tác
thơ của một nhà phê bình, đó vừa là nhiệm vụ khó khăn, nhưng
cũng mang lại nhiều thuận lợi. Khó khăn là bởi người phê bình dễ
bị đánh lừa, nguy cơ lạc vào mê cung lý thuyết, chìm đắm vào trong
những “hư chiêu” có ý thức do người viết bày ra. Kiểu như điều tra
về một vụ án mà kẻ phạm tội cũng từng là điều tra viên cảnh sát
vậy. Người thơ như Hoàng Thụy Anh hẳn nhiên không giản đơn, ngây
thơ trong sáng tạo như những nhà thơ “toàn tòng” thuần túy khác.
Trong văn bản thơ của chị, khéo léo đan cài các mã ẩn mà chị muốn
người ta sẽ dựa vào đó, hoặc tất yếu phải bị ám ảnh khi tiến
hành diễn giải. Như thế, thông qua một cách kỳ lạ nào đó, nhà thơ
đã dự trù trước và đưa ra những khung khổ, ước đoán buộc người
ta phải phê bình chị… như chị muốn. Điều này với tôi trong phê
bình là tối kỵ, bởi người viết cần “đọc” tác phẩm theo cách mà
mình nghĩ, chứ không phải như ý định của tác giả. Tuy nhiên, cũng
cần nói đến thuận lợi cơ bản khi phê bình dạng thơ “có lý thuyết”
như của Hoàng Thụy Anh. Lúc này nhà phê bình không còn sợ tình
trạng “đẽo chân cho vừa giày” giữa lý thuyết và tác phẩm. Ở những
trường hợp tác giả thi phẩm là nhà văn thuần túy khác (không phải
là nhà phê bình), đôi khi người nghiên cứu dễ mắc phải căn bệnh
nhìn đâu cũng thấy lý thuyết, hoặc dùng tác phẩm để minh họa cho
lý thuyết, hoặc áp đặt sống sượng lý thuyết lên giải mã văn bản.
Thay vì dùng lý thuyết như là lối vào giải mã ẩn ngữ thẩm mỹ
trong tác phẩm, một số nhà phê bình lại cố chứng minh nhà văn có
chịu ảnh hưởng bởi lý thuyết ấy (điều gần như bất khả thi trong chứng
minh), để rồi ra sức dùng tác phẩm như là ví dụ cho lý thuyết văn
học mà mình yêu thích.
Với thơ Hoàng Thụy Anh, chúng ta hoàn toàn có thể
tránh được việc áp ý định chủ quan về mặt lý thuyết lên thực
tiễn thông hiểu văn bản, bởi chị là người nghiên cứu chuyên nghiệp,
đã có ba công trình phê bình xuất bản, vấn đề lý thuyết trong thơ
hiện ra khá rõ. Ở đây tôi tránh đi việc phê bình thơ theo cách mà
chị muốn, tức bỏ qua những tín hiệu phân tâm học có tính “lộ
thiên” (mà chị cố tình trưng bày phổ biến), để đi vào phần cốt
lõi nhất mà tôi nghĩ thơ chị có nhiều đóng góp hơn, đó là sự suy
tư về bản chất ngôn ngữ và cách xây dựng hình tượng thơ theo lối
siêu thực.
Đọc Người đàn bà sinh ra từ mưa, những người
đọc chuyên nghiệp dễ dàng nhận ra sự phức tạp, khó hiểu, trừu
tượng ngày càng được nâng cao khi về cuối tập thơ. Nếu như trong
những bài thơ đầu tập, tác giả vẫn còn đang loay hoay biểu thị cho
những cảm xúc tình yêu cá nhân dưới nhiều dạng cung bậc, thì dần
vào cuối tập, sự u mặc, suy tư, triết lý được nhân lên. Trung tâm
của sự suy tư và triết lý ấy trước tiên là bản chất của ngôn
ngữ. Trong văn bản tập thơ, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra nhiều
dấu ấn của các hệ triết - mỹ và lý thuyết văn chương như hiện
tượng học, tường giải học và giải cấu trúc. Ngôn ngữ lúc này
được hình tượng hóa trở thành những nhân vật chính, biểu tượng
trung tâm trong bài thơ, chứ không phải con người hay những sự vật -
hiện tượng tồn tại trong hiện thực. Ví dụ: “trườn sang đêm - những
ký tự hờ hững treo - chưa tròn - cộc lốc… - em không muốn làm đau
con chữ - nhưng ký tự buồn cứ thế sinh nở” [bắt đầu]; “giọt muối
từng dâng mắt em - nấc nghẹn từng ghì bóng em - nhưng chẳng thể nào
tẩm liệm được ngôn ngữ cũ” [nghịch lý]; “giữa em và anh - là phiên
bản ngôn từ thêm” [mọc].
Những nhà triết học giải cấu trúc như J. Derrida cho
rằng thực ra ngôn ngữ nói chung và tác phẩm văn học nói riêng chỉ
là trò chơi của những cái biểu đạt (the signifier). Cái biểu đạt
thực ra không biểu thị cho bất kỳ cái được biểu đạt nào (the
signified), mà chỉ nói về những cái biểu đạt khác. Hệt như khi ta
muốn định nghĩa một khái niệm như “xe”, “chó” ta phải dùng từ điển.
Nhưng bên trong từ điển không tồn tại những vật thể, động vật đó
như chúng ở ngoài đời, mà lại dùng chính ngôn ngữ để diễn giải,
cắt nghĩa. Thế là thay vì người đọc được đến với cái được biểu
đạt, họ thực chất chỉ phiêu lưu vào trong thế giới mới của cái
biểu đạt khác. Chính từ quan niệm này, thơ hậu hiện đại khác thơ
tiền hiện đại luôn nỗ lực phản ánh, miêu tả hiện thực “lớn lao”
bên ngoài, các nhà thơ tiến hành đi vào suy tư về ngôn ngữ, xem
ngôn ngữ là đối tượng đầu tiên và trung tâm của mọi sáng tạo thi
ca. Ngôn ngữ do đó, từ vị thế là chất liệu, là cái vỏ của tư duy,
là công cụ truyền tải nội dung bên trong như tư duy lý luận văn
học tiền hiện đại, đã biến thành trung tâm của mọi sáng tạo, suy
tư về mặt nghệ thuật trong tư duy lý luận văn học hậu hiện đại.
Thơ Hoàng Thụy Anh do đó dày đặc hệ thống hình tượng liên quan đến
ngôn ngữ, nói cách khác, ngôn ngữ trở thành hệ thống hình tượng
trung tâm trong thơ chị. Thế giới được khắc họa như là văn bản.
“thi sĩ bay theo người đàn bà bán đêm bằng tiếng cười rũ rượi -
tưới mười ngón tay xuống các ký tự ngược làn” [người đàn bà ăn
bóng tối].
Trên một góc độ khác, dưới ảnh hưởng của tường
giải học, mỹ học tiếp nhận, Hoàng Thụy Anh thông qua thơ ca đã chỉ
ra ngôn ngữ không phải là công cụ, là nô lệ cho con người, mà
thực ra con người đang tồn tại trong ngôi nhà của nó. Ngôn ngữ là
đa nghĩa, có khả năng phản bội lại người viết/ nói, bởi đặc trưng
của quá trình tạo nghĩa là đến từ người đọc. Mỗi văn bản luôn
là liên văn bản với vô số những đường dẫn, liên kết đến những
văn bản khác. “lợi dụng lúc giấc mơ nằm ngủ - cái miệng vội vàng
mặc quần xà lỏn - treo mình lên chóp gió… - một cái miệng khác học
đòi ngôn ngữ dèm pha - cọt kẹt dăm ba tiếng mọt… - những cái miệng
lú không làm nên lịch sử - nhưng chúng có thể đẻ ra lịch sử câm
nín - ở ngôi dị dạng” [và giấc mơ sẽ tươi hơn].
Khác với tư duy thơ hiện đại lấy chính văn bản và
ngôn ngữ làm đối tượng trực tiếp và duy nhất, thơ hậu hiện đại
chiết trung hơn, vừa nhấn mạnh đến vai trò của ngôn ngữ, nhưng đằng
sau đó ẩn dụ các vấn đề khác của hiện thực. Điều này ta có thể thấy
khi đọc thơ Lê Đạt trong tập Bóng chữ, Trần Dần trong tập Jờ Joạcx,
cái biểu đạt bị trương nở quá mức, biến văn bản thơ trở thành cuộc
diễu hành carnaval của ngôn ngữ thuần túy. Ý nghĩa cụ thể trong
kiểu thơ hiện đại này, cũng giống như thơ của chủ nghĩa Đa đa là
không có. Thơ hậu hiện đại bình tĩnh và thỏa thuận hơn giữa hai
kiểu tư duy thơ trước nó. Mỗi bài thơ hậu hiện đại thường nhấn
mạnh đến cái biểu đạt, nhưng cái biểu đạt này không tồn tại cô lập
và vì chính nó, mà thường ám chỉ, ẩn dụ cho hệ thống hiện thực,
tình cảm, suy tư triết mỹ cụ thể đằng sau nó. Do đó, những bài thơ
của Hoàng Thụy Anh ta vẫn có thể hiểu được dụng ý của chủ thể
trữ tình. “29 ký tự mũm mĩm trong trò chơi tính dục đích thị là
giống cái” [những con chữ của em]; “mọi dấu phẩy dấu chấm của trang
em vẫn trần truồng như da thịt của nó mà thôi” [anh tự lên giây
cót thỏa hiệp đã bao lâu rồi]…
Để biểu đạt cho những suy tư mới về bản chất ngôn
ngữ dưới cảm hứng giải cấu trúc và tường giải học, Hoàng Thụy
Anh đã đưa thơ mình vượt lên khỏi cảm xúc trữ tình của chủ nghĩa
lãng mạn, để hành trình đến với chủ nghĩa siêu thực. Thơ chị càng
về cuối tập lại càng dày đặc hình tượng ẩn dụ, ma mị và đa bội
nghĩa. Tiêu biểu như: “có thể em không đủ sức xóa bỏ hẹp hòi và
chật chội như dải khăn thắt chặt đồng tử của nghìn năm trước -
không đủ sức nhấn chìm lũ chữ vừa cùn vừa tõe vừa khàn vừa đục
của nhiều thế kỷ trước - giấu nanh vuốt tuyệt vọng lên đôi tay
sũng lạnh - dù nông dù sâu em vẫn xăm trổ đêm bằng dãy ký tự hây
hây” [trang em]; “con dối lăn dấu vân tay bằng miệng - viền miệng
đóng dấu giáp lai bằng lưỡi - tráp lưỡi hà hơi nhám giọng - mọi
thứ đang mang vác hơi thở khác” [nhấn enter đến khi nào sang trang mới
thôi]; “trên biển giấy - những con chữ buôn ánh sáng lầm lũi xâu
đêm băng qua biến tấu lưỡi - cõng những con cá mũi hếch tự kỷ đáy
ngầm máu tươi - chạy khỏi đường ray lõm cong sự thật… - thằng chữ
chóng mặt mửa - ói bào thai nhàu nhĩ” [thằng chữ]…
Thơ Hoàng Thụy Anh nhờ hệ thống hình tượng có tính
siêu thực này, trở nên dữ dội, ám ảnh và đầy ma mị. Bởi chủ
nghĩa siêu thực là một trào lưu hiện đại thuộc phong trào tiền
phong, nên tính chất giải thẩm mỹ, sự phá phách, nổi loạn trong nghệ
thuật của nó là khá rõ. Thơ Hoàng Thụy Anh vì vậy không trữ tình,
nhẹ nhàng nhu mì, yếu đuối và cố tỏ ra mình là nạn nhân giới tính
như một số nhà thơ nữ thành danh ngày nay luôn cố trình hiện, mà
luôn mạnh mẽ đưa ra tuyên ngôn, lập thuyết thực hành sống của
mình. Những hình tượng có tính “phản thẩm mỹ” như ỉa đái từ đó
xuất hiện như một thái độ sống dấn thân, mang tính phản kháng mãnh
liệt, chứ không bi lụy ăn mày nước mắt thương hại của kẻ khác.
“đêm qua những con chữ rửng mỡ tiếp tục nhai lại bọt quá hạn… -
thằng tôi nhảy xổ ra bảo cứ quất roi đét vào mông nó - ký tự bất
kham sẽ lồng lên… - kẹp cổ giật mũi bắt chúng nôn ra… - sáng nay
tôi quyết lột trần ngôn từ giả vờ kia” [may ra]; “mưa chiều đái ra
tràng ho tanh máu như bản năng của kẻ có quyền hoán đổi vị trí
đêm ngày” [trò chuyện với hai chú cá về những điều ngoài cơn mưa]…
3. Những không gian mơ tưởng hay lối về thế giới
bên trong
Thơ ca là lối vào thế giới tâm lý bên trong của
người viết một cách gần nhất và chính xác nhất. Thế giới của thi
ca chính là thế giới của mơ tưởng, những hình tượng, ngôn từ
luôn trừu tượng, dày đặc những ám thị vô thức mà đôi khi người
viết cũng không thể nào dùng lý trí để có thể thông hiểu. Trải nghiệm
sáng tác thơ ca của tôi cho thấy, nếu như viết lý luận phê bình
hay truyện ngắn, tác giả luôn dự đồ trước được (trong giới hạn)
những gì sẽ viết, ý nghĩa của chúng hay thậm chí là độc giả sẽ
đọc và hiểu như thế nào, thì ngược lại, những hình tượng, câu
từ thơ tuôn ra gần như trong vô thức, nhiều câu từ, hình tượng
bản thân tác giả không hiểu vì sao mình viết nên, nó có ý nghĩa
cụ thể gì và thông điệp muốn gửi đến độc giả ra sao. Do đó, về
với thi ca là về với những không gian mơ tưởng, về với thế giới
được tạo nên trong tầng sâu vô thức của người nghệ sĩ. Ở đấy,
anh ta sống thật với chính mình nhất, với những ham muốn, dục vọng,
nỗi đau, khát khao thầm kín, những vết thương ám thị. Người viết
truyện (văn xuôi) hay làm lý luận phê bình có thể sống với mặt nạ
sáng tạo, bởi khoảng cách lớn giữa nhân vật với tác giả, nhưng
người làm thơ chỉ có thể sống thật với đời mình. Thơ ca phải là
những tác phẩm chân thành, thật lòng, nhưng không được phép nôm
na, dễ dãi.
Hoàng Thụy Anh kiến tạo nên thế giới mộng tưởng
trong tập thơ Người đàn bà sinh ra từ mưa với không gian âm nhu đầy
nữ tính. Đọc thơ chị, ta có thể thấy sắc màu trầm buồn, không gian
u tối của bóng đêm tràn ngập. “thử bấu đêm - thử cào đêm - buốt
đau ngực em điều bất ngờ dội lên từ biển” [anh có nghe]; “như con cú
ăn đêm - anh lặng lẽ cắn từng âm buồn” [khoảng nhớ nào rơm rớm cho
nhau]… Gần như bài thơ nào trong thi phẩm của chị cũng được viết
trong bóng tối. Thực ra, tên chính xác của tập thơ này phải là Người
đàn bà sinh ra trong bóng tối. Câu hỏi đặt ra lúc này đó là tại sao
bóng tối lại tràn ngập thế giới đến thế trong thơ Hoàng Thụy Anh?
Theo phân tâm học của C.G.Jung, phần bóng âm (shadow) luôn là phần
gắn với vô thức và những hình thức mặt nạ ngụy trang. Trong bóng
tối, con người không nhìn về thế giới bên ngoài, khách quan với con
mắt trần tục, hữu hạn, mà hướng con mắt tâm khảm mình vào nội
giới. Bóng đêm như bào thai tử cung của người mẹ, êm ái, vỗ về
che chở cho linh hồn khi ý thức chưa xuất hiện. Chính vì vậy, thơ
Hoàng Thụy Anh thường suy tư, đớn đau, cô đơn trong bóng đêm, vì đó
là lúc chị sống thật nhất và trọn vẹn nhất cho mình, với mình và
thương mình. Những bài thơ trong bóng tối của chị vì vậy, luôn
buồn và đầy ám ảnh. “đêm qua những giọt nước mắt em lẩn thẩn vắt
ngang tờ giấy trắng - búng vào đó vệt xước như một tiếng thở dài
mùa cũ - nhắc em về hình hài nắng thuở ban đầu… - hằng đêm - hằng
đêm [giấc rời]; “đêm vỡ trên tóc - nỗi buồn phơi trắng rãnh… - đêm
vỡ trên bài thơ - nhả khói tròn u mê” [đêm quỳnh]. “Thơ bóng tối”
của Hoàng Thụy Anh chính vì được kiến tạo trong không gian mộng mị,
mơ tưởng, ảo giác nên tính siêu thực, phi lý tràn ngập. Đây có
thể xem là một trong những đặc trưng nghệ thuật đáng chú ý và có
đóng góp nhất của thơ chị.
Trong bóng tối, chúng ta khó lòng nhận ra điều gì ở
thế giới của thực tại, nhưng lại nhận ra rõ nhất những suy tưởng
thầm kín bên trong của thi nhân. Bản thể của nữ thi sĩ hiện ra rõ
ràng trong bóng đêm, và trong khoảng khắc đấy, người đọc nắm chặt
được linh hồn của chữ. Những nỗi buồn đau rất đời thường, rất đàn
bà lúc này là tâm sự chỉ có thể tỏ bày trong bóng âm. Đó có thể
là lời trách móc bẽ bàng với “ai đó” từng khiến giấc mơ yêu một
thời giang dở: “ai thắt nút lời hẹn - ai rót chia ly vào môi gió - ai
gói hoàng hôn vào mắt đêm - để em đi hết quãng nhớ quãng thương
vẫn không tìm được giấc yêu ban đầu” [tình]. Đó cũng có thể là
khát khao dục vọng đời thường của một người đàn bà đương tuổi
thanh xuân: “đêm nay - em sẽ vuốt ve những con chữ đang hừng hực tựa
người đàn bà mặn mòi ưỡn đồi mơ bung cánh chật dưới lớp áo
trăng - đừng khép mắt anh nhé” [trang em]. Đó cũng có thể là những
nỗi to loan đời tư thế sự nhiễu nhương đang diễn ra hằng ngày mà
bản thể nữ tính tất yếu phải dự phần trong đó: “những cơn mưa đêm
nay tự tin bước qua vòng tròn úng não thế cuộc - bước qua ruỗng
mòn ý nghĩ… - cuộc đời này cần bao nhiêu cơn mưa tự do để khép chặt
và vắt trong biển ý nghĩa xám ngoét khét lạnh” [cuộc đời này cần
bao nhiêu cơn mưa tự do].
Bóng đêm là không gian phù hợp nhất để sinh tạo ra
không gian giấc mơ, mà mơ tưởng là dạng thức biểu hiện của đời
sống vô thức của con người. Chính vì lí do này, mà những giấc mơ
như là không gian ảo giác, phi thực cũng thường xuyên xuất hiện
trong thơ Hoàng Thụy Anh. Giấc mơ của chị thường buồn, khi sự đổ
vỡ về tình cảm cá nhân và sự thất vọng về hiện tại cứ ám riết
lên từng tâm sự, ẩn hiện trong từng câu, từng chữ: “giấc mơ nói
với tôi - mỗi khi rời khỏi góc thơ kia - nhớ che đậy kĩ càng - cuộc
sống này bập bềnh nhiều phiên bản lạ… - bao giờ cũng dư thừa vô
cảm - dư thừa lố bịch - giấc mơ buồn bã” [đối thoại]; “tiếng khóc
của giấc mơ bị đốn khúc - sau đợt xạ trị - tim” [rời giấc]. Thơ ca
lúc này là không gian bí mật cuối cùng mà người thơ còn có thể
trú ngụ trong sự yên bình bản thể. Thế giới của thơ như thế giới
bí mật, vĩnh hằng của những “vòng thời gian” mà các “người đặc biệt”
tồn tại trong câu chuyện pha màu sắc huyền bí, phiêu lưu giả tưởng
của Ransom Riggs là Trại trẻ đặc biệt của cô Peregrine. Ra ngoài
những vòng thời gian của thơ, các thi nhân vốn cũng là những người
đặc biệt với nhiều “siêu năng lực” nhưng vốn dĩ nhạy cảm và dễ
bị kì thị, tổn thương ngay lập tức trở nên lạc lõng, già đi, bị
săn đuổi và ám hại.
Tóm lại, có thể tạm kết lại rằng, bản thể nữ tính
trong thơ Hoàng Thụy Anh được kiến tạo trong bóng tối, mang bản chất
âm nhu của giới nữ thuần khiết. Nói như ngôn ngữ thơ ca của chị,
đó là một tập thơ với hai hình tượng song hành, tương thuộc lên nhau
là người đàn bà và đêm. “Người đàn bà và đêm - gặt những lời
đau chằng chịt trên môi - gặt mãi vẫn chưa đi hết cuộc mong manh -
người đàn bà ngồi vớt đêm - vớt phận mình - với mãi cũng chẳng
thể nào ra ngoài cái nhân vị bão bùng được thắp lên từ muôn kiếp
trước” [người đàn bà và đêm]. Như vậy, hóa ra “nhân vị đêm” trong
thơ Hoàng Thụy Anh không đơn giản là câu chuyện của riêng chị, với
chị, mà phổ quát hơn, là thân phận của người đàn bà ngàn kiếp
qua trên mảnh đất An Nam bị thống ngự bởi phụ/nam quyền này.
Một không gian khác rất đáng chú ý trong tập thơ
của Hoàng Thụy Anh, đó là không gian thân thể. Thể xác trong thơ
Hoàng Thụy Anh không chỉ thuần túy vật chất, bản năng, mà nó là một
trải nghiệm nữ tính, bộc lộ nhiều thông điệp về thân phận và khát
khao thầm kín. Không phải ngẫu nhiên mà theo thống kê ban đầu của
tôi, trong tập thơ có đến 7 lần chủ thể trữ tình hoặc nhân vật
trữ tình trình hiện ra trong trạng thái khỏa thân. Những biến thể
khác nhau của trạng thái lõa thể trong thơ chị mang nhiều cung bậc
cảm xúc, với nhiều ý nghĩa khác nhau. Có khi trạng thái khỏa thân
này là một trải nghiệm bên trong bản chất bề sâu của thế giới:
“khi mọi thứ khỏa thân và tìm cách độn mông bằng lớp giấy nhàu
nhĩ - bên cạnh những con chuột cống bận trò chơi ái ân” [trò chuyện
với hai chú cá về những điều ngoài cơn mưa]. Có khi khỏa thân là một
ẩn dụ khát khao vẻ đẹp của dục tình: “thời gian lả lơi - thả cơn
nude mơ nhánh lan mười sáu” [chờ]. Khi khác lại là nỗi bẽ bàng,
buốt nhói trong đêm tối của chủ thể trữ tình: “lời em lõa thể -
từng thanh âm đứt đoạn” [tàn].
Nhìn chung, thân thể không đơn thuần là trải nghiệm,
một tồn tại tất yếu trong thơ Hoàng Thụy Anh, mà như đã trình bày
ở trên, nó là thứ không gian mang đậm màu sắc của dục tình và ẩn
ức, với dày đặc hệ thống liên quan đến thân thể. Hoàng Thụy Anh
trải nghiệm thế giới này trước tiên qua thân thể, dùng thân thể
để cảm nhận và cắt nghĩa thế giới. Ví dụ, ngoài hệ thống “môi”
(miệng) mà chúng ta đã khảo sát ở phần 1, bạn đọc vẫn dễ dàng bắt
gặp rất nhiều bộ phận thân thể khác đầy ám dụ về nữ tính như
vú, ngực, nhũ hoa: “em nghe đêm gầy bay qua - rì rầm cánh ngực mười
sáu đôi mươi” [lời nguyện cầu], “bầu vú thành phố ngập ngụa trong
thứ sữa lắc lư” [trò chuyện với hai chú cá về những điều ngoài
cơn mưa], “vẫn phơi phới nhũ hoa dậy thì - quyến rũ núm đời đêm
đen” [những con chữ của em]; như má: “cho má đêm ngây ngất thức mời
trăng” [lời nguyện cầu]; như dịch tiết của cơ thể: “sau cú va chạm
nảy lửa - chữ tôi nhẫy dịch” [may ra]… Bản thân thế giới, hiện thực
được đưa vào trong thơ Hoàng Thụy Anh cũng đã được thân thể hóa,
hình tượng hóa thành thân xác phụ nữ nhằm cảm nhận. Bản thân mọi
trạng thái thời tiết mà đặc biệt là mưa cũng làm chị liên tưởng,
ẩn dụ đến hoạt động tính giao: “mưa cấu vào em luồn vào em những
dây đêm mọng nước - em ôm mưa riết mưa như thể sóng quyện bờ”
[mua gánh mưa]; “những cơn mưa ôm đêm ghì đêm dìu đêm lần mở
những chiếc cúc cũ mèm” [cuộc đời này cần bao nhiêu cơ mưa tự do].
Hoặc hành vi ăn uống: “những cơn mưa ăn đêm từ hôm qua đến hôm nay
vẫn chưa hết một phần” [ý nghĩ bất chợt không đến từ môi đêm môi
mưa]. Ngay cả nỗi đau cũng mang hình hài thể xác: “nỗi đau co quắp
nhú từng ngón xương xuyên đêm bội nhiễm - máu ngửa mặt lưu vong
xuôi theo dòng nhật lệ - thớ não anh đang mang thai hy vọng” [lan man
chuyện chúng mình].
Khép lại tập thơ Người đàn bà sinh ra từ mưa của
Hoàng Thụy Anh, bạn đọc sẽ không có cảm giác bình an, thanh thản khi
vừa đọc xong một văn bản, lĩnh hội xong xuôi một thông điệp, mà
ngược lại, hình như có một hành trình nhận thức, chiêm nghiệm,
thao thức nào đó được khởi đi từ lúc này. Sự băn khoăn, hoang mang,
trăn trở, bất an ấy Hoàng Thụy Anh đã đặt ra với tất cả chúng ta,
từ nỗi đau máu thịt đời thường của chị. Có thể sự thất bại và
thiệt thòi trong đời sống thường nhật, trong hôn nhân đã khiến hành
trình nghệ thuật của chị thăng hoa như một sự đắp bù. Sau hết, bỏ
đi những ma mị của ngôn từ, sự ảo diệu, siêu thực của hình tượng,
nét tân kỳ của hình thức, ta bắt gặp một bản thể Hoàng Thụy Anh thật
đẹp và nữ tính trong thơ, như những gì ta đã biết trong đời thực
về con người và hình hài của nữ thi sĩ. Bạn đọc đã từng quen biết
với một nửa lý trí/ tính, ý thức của chị qua lí luận phê bình, nay
đã có thể hình dung đầy đủ và trọn vẹn hơn về chân dung tinh thần
của chị, qua mặt cảm tính, vô thức trong thơ. Ở đấy, chị vẫn mỗi
ngày vắt kiệt lòng mình, hồn mình để sống tận hiến cho tình yêu
và cuộc đời: “Anh yêu - yêu anh - gia tài em chỉ có - những chuyện
kể lan man và nỗi buồn lộng lẫy này mà thôi” [Em kể anh nghe].
Trường An, 13.3.2017
Phan Tuấn Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét