Đổi mới quyết liệt Nguyễn Minh Châu
Nhà văn phải đứng hai chân giữa mặt đất đầy hiểm họa, giữa thập
loại chúng sinh - Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu là một hiện tượng văn học vừa độc đáo vừa
lớn lao của văn học Việt Nam hiện đại vào cuối thế kỷ 20. Nguyễn Minh
Châu bước vào nghề văn hơi muộn nhưng Sự nghiệp Đổi mới trong
văn học đã chọn ông để trao cho ông “Ấn Tiên Phong” lãnh chức Đại Tướng quân của
Tập đoàn quân Chữ! Vì sao lại có sự “Chọn mặt gửi Vàng” độc nhất vô nhị đó của
Lịch sử? Và Nguyễn Minh Châu đã “điều binh khiển tướng” Tập đoàn
quân Chữ của mình như thế nào? Trả lời những câu hỏi này sẽ làm sáng rõ bức
chân dung còn rất “huyền ảo” của Nhà văn “Đất nghèo Xứ Nghệ” Nguyễn Minh Châu…
Bài viết này gồm ba phần: 1/Thời kỳ đầu: Nhà văn với cảm
hứng sử thi - anh hùng ca ; 2/Thời kỳ đổi mới: Nhà văn với nỗi khắc khoải
nhân sinh; 3/ Những luận điểm cơ bản của “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn
văn nghệ minh họa”.
1/ Thời kỳ đầu: Nhà văn với cảm hứng sử thi - anh hùng ca
Ngoài 30 tuổi, Nguyễn Minh Châu (1) mới về Tạp chí Văn
nghệ Quân đội (năm 1962). Bốn năm sau, 1966, tiểu thuyết đầu tay Cửa sông mới
ra đời. Có nghĩa là 36 tuổi, Nguyễn Minh Châu mới chính thức theo Nghiệp Văn.
Như thế là quá muộn so với những người mới ở độ tuổi Mười Tám, đôi mươi đã
trình Làng những tác phẩm chấn động như đa phần các nhà thơ tài hoa
của phong trào “Thơ Mới”.
Đã vào nghề văn muộn, lại viết chậm và ít: bốn năm sau tiểu
thuyết đầu tay Cửa sông, mới có tập truyện ngắn Những vùng trời khác
nhau (1970) và sáu năm sau Cửa sông, tiểu thuyết thứ hai Dấu
chân người lính mới ra đời (1972), cũng có nghĩa là sau 10 làm nghề
viết văn (42 tuổi đời) Nguyễn Minh Châu mới được công chúng văn học biết đến với
tư cách nhà Tiểu thuyết.
Tuy nhiên, từ truyện ngắn đầu tay Mảnh trăng cuối rừng (1975),
Nguyễn Minh Châu đã để lại một ấn tượng không phai mờ: Mảnh trăng cuối rừng được
đánh giá là truyện ngắn hay nhất viết về “Tình yêu thời bom đạn”. (Về cuối đời,
Nguyễn Minh Châu đã làm sôi động văn đàn cũng bằng thể loại Truyện ngắn). Cho đến
hôm nay, đọc lại truyện ngắn này, ta vẫn thấy cảm xúc trữ tình của Nguyễn Minh
Châu thật mãnh liệt mà sâu lắng: “Xe tôi chạy trên lớp sương bềnh bồng. Mảnh
trăng khuyết đứng yên ở cuối trời, sáng trong như một mảnh bạc. Khung cửa xe
phía cô gái ngồi lồng đầy bóng trăng. Không hiểu sao, lúc ấy, như có một niềm
tin vô cớ mà chắc chắn từ trong không gian ùa tới tràn ngập cả lòng tôi. Tôi
tin chắc chắn người con gái đang ngồi cạnh mình là Nguyệt, chính người mà chị
tôi thường nhắc đến. Chốc chốc, tôi lại đưa mắt liếc về phía Nguyệt, thấy từng
sợi tóc của Nguyệt đều sáng lên. Mái tóc thơm ngát, dày và trẻ trung làm sao! Bất
ngờ, Nguyệt quay về phía tôi và hỏi một câu gì đó. Tôi không kịp nghe rõ vì đôi
mắt tôi đã choáng ngợp như vừa trông vào ảo ảnh. Trăng sáng soi thẳng vào khuôn
mặt Nguyệt làm cho khuôn mặt tươi mát ngời lên và đẹp lạ thường! Tôi vội nhìn
thẳng vào đoạn đường đầy ổ gà, không dám nhìn Nguyệt lâu. Từng khúc đường trước
mặt cũng thếp từng mảnh ánh trăng...”. Điều này giải thích vì sao đã có gần
chục tiểu thuyết mà tác phẩm cuối cùng - truyện ngắn Chợ Tết - (truyện
in ra lần đầu trên tạp chí Văn nghệ quân đội số 2-1988, gần một năm
sau, Nguyễn Minh Châu qua đời, ngày 27-1-1989) thiên truyện ngắn lại chất
chứa bao nỗi niềm, suy tư của cả đời viết văn của Nguyễn Minh Châu muốn gửi tới
bạn đọc. Đây là một thiên truyện mà Nguyễn Minh Châu “lao tâm khổ tứ” nhiều nhất
bởi nó như là bản di chúc Nguyễn Minh Châu để lại hậu thế
…
Là nhà văn mặc áo lính, Nguyễn Minh Châu ý thức sâu sắc về sứ
mệnh cao cả, nhiệm vụ thiêng liêng của người cầm bút trong giai đoạn khốc liệt
nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Tâm niệm sáng tác duy nhất trong
ông lúc này là hướng đến cuộc “chiến đấu vì sự sống còn của cả dân tộc, đất nước”,
do vậy nhà văn đã dành gần hai chục năm sung sức của cuộc đời để tìm tòi, khám
phá, thành tâm và say sưa ngợi ca vẻ đẹp lung linh, kỳ ảo của cuộc sống và tâm
hồn con người trong chiến tranh. Đó chính là những tác phẩm được viết bởi cảm
hứng sử thi-anh hùng ca - một cảm hứng chủ đạo của văn học thời kỳ chống Mỹ mà
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn thể hiện xuất sắc nhất với Mảnh
trăng cuối rừng, Dấu chân người lính… (Sau này, ông có ân hận là tại sao
lúc sung sức nhất lại ít viết về quê hương với những con người nghèo khổ, lam
lũ của mình).
Sau Dấu chân người lính, là sự tiếp tục ra đời của những
sáng tác mang cảm hứng sử thi được chắt lọc từ hiện thực đời sống
như Miền cháy, Những người đi từ trong rừng ra, Lửa từ những ngôi nhà.
Miền cháy (tiểu thuyết, 1977) là tác phẩm đánh
dấu bước chuyển mình của Nguyễn Minh Châu từ chủ nghĩa hiện thực bay bổng
chất lãng mạn cách mạng và cảm hứng sử thi bước sang chủ nghĩa hiện thực tỉnh
táo. Gương mặt những người anh hùng hiện lên trong những trang viết này đầy
“tâm trạng”: khắc khổ, dằn vặt, bất an. Người đọc như ngộ ra một sự thật khắc
nghiệt: người Việt Nam bước ra khỏi chiến tranh cũng cần phải có bản lĩnh và sẽ
phải đối mặt với những thách thức không kém sự khốc liệt như khi còn chiến
tranh. Miền cháy là mảnh đất miền Trung xác xơ trong lửa đạn - sau khói lửa đạn
bom phải bắt đầu từ cái gì để nhanh chóng hồi sinh trước ngổn ngang đổ nát, bộn
bề lo toan!
Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977) là những
suy nghĩ sâu sắc về vai trò của gia đình đối với cuộc sống của người chiến sĩ.
Đó là cuốn sách ông viết lâu nhất, những 7 năm, cũng là cuốn sách mà ông rất
thích thú. Lửa từ những ngôi nhà là bộ mặt khắc khổ của những người
lính từng là anh hùng nơi chiến trường nhưng xa lạ với lo toan đời thường
sau chiến tranh, sống bất an trong hòa bình. Trong trang viết của Nguyễn
Minh Châu, cuộc sống hiện lên đa chiều, đầy những vết nham nhở, góc cạnh, ở đó
có cả niềm vui lẫn nỗi buồn, sự vật vã, bức bối phức tạp và bất an. Nhà văn đã
đi sâu vào những “góc che khuất” của chiến tranh, của tâm hồn con người, điều
mà trước đây, do nhiều nguyên nhân buộc ông phải “ngoảnh mặt làm ngơ” hoặc nhìn
nhận khác. Những vấn đề của Miền cháy và Lửa từ những ngôi
nhà sẽ được đề cập sâu hơn, triệt để hơn trong những tác phẩm cuối đời của
Nguyễn Minh Châu…
Vấn đề trách nhiệm đạo đức trước những người lính của cuộc
chiến tranh vừa qua được Nguyễn Minh Châu viết “rất kỹ” trong truyện ngắn Bức
tranh (được viết từ 1976 nhưng đến1982 mới công bố được) rất đặc sắc… Bức
tranh chưa phải là kiệt tác của Nguyễn Minh Châu nhưng đó là truyện ngắn bản
lề báo hiệu một bước chuyển mới trong sáng tạo văn học, dự báo một quan niệm,
một bút pháp hoàn toàn mới. Trong Bức tranh, không có con người “lý
tưởng hóa” mà đó là con người đa nhân cách: có cả cao đẹp lẫn thấp hèn. Từ những
dằn vặt, đối chứng của nhân vật người họa sĩ, câu hỏi lớn - nhức nhối đặt ra cần
được trả lời ngay trong tác phẩm là: chúng ta không thể vì cái danh
hiệu vinh quang của cộng đồng dân tộc mà bỏ qua số phận cá nhân. Cái nhìn của
nhà văn đã thay đổi theo hướng nhìn thẳng vào bản chất của hiện thực: Chiến
tranh không chỉ là ánh hào quang của Chủ nghĩa Anh hùng cách mạng mà
còn có cả mất mát, đớn đau, giả dối; Chiến tranh còn làm “cho người ta hư đi
hơn là làm người ta tốt hơn”; con người cũng không còn lấp lánh vẻ đẹp thiên thần
mà hội tụ cả những ham muốn tầm thường, thấp hèn. Kế liền sau Bức tranh là Người
đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) - những vấn đề của “hậu chiến” được
Nguyễn Minh Châu suy nghĩ nghiêm túc. Hoặc có thể nói, sau âm hưởng sử thi-anh
hùng ca là thứ âm hưởng khác dữ dội hơn, khốc liệt hơn trong các
truyện ngắn như Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành... Đó là
âm hưởng của một nỗi đau không thể nói thành lời trước những mất mát mà chiến
tranh gây ra cho dân tộc nói chung, cho mỗi con người cụ thể nói riêng...
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành là câu chuyện về
người đàn bà tên Quỳ, với những kỷ niệm thời chiến tranh, với người yêu của cô
là anh trung đoàn trưởng Hòa - một con người đáng mặt nam nhi quân tử, tập
trung “tất cả tinh hoa của nam giới”. Yêu Hòa nhưng Quỳ lại đòi hỏi nơi anh phải
như một “thánh nhân”. Hòa hy sinh, Quỳ luôn dằn dặt, khổ đau,… và rồi cô lấy
Ph (bạn cũ của Hòa) làm chồng. Rồi tai họa rơi xuống, Ph bị đi tù. Quỳ luôn sống
trong những mộng tưởng. Người ta đưa cô vào bệnh viện tâm thần. Câu chuyện được
Quỳ kể lại với người bạn cùng bệnh viện Tâm thần…
Hình tượng Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành đã
tạo nhiều ám ảnh ở người đọc. Quỳ là con người cô đơn, suốt đời “lang thang đi
tìm cái chân trời của những giá trị tuyệt đối hoàn mỹ”. Nơi cánh rừng Trường
Sơn trong những cuộc chiến khốc liệt nhất Quỳ đã từng là “nàng công chúa” nhưng
lúc quay về đời thường người đàn bà này lại mang căn bệnh mộng du. Những suy
tư, trăn trở bao lâu mà Quỳ ấp ủ bằng trái tim rỉ máu, bằng khát vọng mãnh liệt
đã trở thành hài hước và cứng nhắc giữa cuộc đời thường nhật… Quỳ tự hiểu
mình, hiểu người, hiểu đời, hiểu tất các những nỗi đau riêng chung tê dại. Hòa
bình đã không thể làm lành hết những vết thương ở trong cô. Có lẽ vì thế Quỳ luôn phải sống cô đơn, phiêu du cùng hoài niệm. Đó chính là sự khắc nghiệt của
chiến tranh! Sự khắc nghiệt đó đã in dấu lên cuộc đời của mỗi thân phận con người
bé nhỏ. Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành viết về một đề tài
không dễ, đề tài mà văn học Việt Nam hiện đại phải “quên đi” (Hữu Loan vì nói đến
trong Màu tím hoa sim mà “thân bại danh liệt”) - đề tài về người phụ
nữ trong chiến tranh và số phận của họ sau chiến tranh, một số phận không giản
đơn, không ngọt ngào, bởi những bi kịch của chiến tranh không hề mất đi mà bám
dai dẳng vào từng số phận con người. Về đề tài này, tám năm sau Người đàn
bà trên chuyến tàu tốc hành, tiểu thuyết Bến không chồng (Giải
thưởng năm 1991 của Hội Nhà văn Việt Nam) của Dương Hướng là một thành công
rất đáng chú ý của thời kỳ đầu những năm 1990, tức vẫn trong 10 năm đầu của Sự
nghiệp Đổi mới.
2/ Thời kỳ đổi mới: Nhà văn với khắc khoải nhân sinh
Viết chậm, lại rất nhút nhát, ngơ ngác trong cuộc sống đời
thường: Nguyễn Minh Châu rất e ngại khi phải đối mặt với...
đám đông. Trong những ghi chép cuối cùng (có tên gọi “Ngồi buồn viết mà
chơi”) được thực hiện trong những ngày nằm điều trị tại Viện Quân y 108, Nguyễn
Minh Châu tự nhận xét: “Từ lúc còn nhỏ tôi đã là một thằng bé rụt rè và vô cùng
nhút nhát. Tôi sợ từ con chuột nhắt cho đến ma quỷ. Sau này lớn lên, đến gần
sáu chục tuổi, đến một nơi đông người tôi chỉ muốn lẻn vào một xó khuất và chỉ
có như thế mới cảm thấy được yên ổn và bình tâm như con dế đã chui tọt vào lỗ”.
Thế nhưng Nguyễn Minh Châu lại là người được Sự nghiệp Đổi
mới chọn mặt gửi vàng để trở thành nhà văn - chiến sĩ đi tiên phong trong
sự nghiệp Đổi mới của Văn học Việt Nam nửa cuối TK 20. Ấy
là khi Nguyễn Minh Châu cho đăng trên Tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam bài
viết Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (1987).
Nếu nhìn vào cái mốc năm 1986 là năm khởi đầu của sự nghiệp Đổi mới ở
mọi lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc (mà sau này được tính là năm đầu của Thời kỳ
Đổi mới), thì có vẻ như nhà văn của chúng ta đi sau thời đại. Nhưng nhìn vào thời
gian khoảng 1979-1980, nổi lên một cuộc tranh luận khá gay gắt chung
quanh bài viết của Hoàng Ngọc Hiến nhan đề Về một đặc điểm của văn học nghệ
thuật nước ta trong giai đoạn vừa qua, mà nội dung chủ yếu là phê phán cái
gọi là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” do Hoàng Ngọc Hiến khái quát.
Song thực ra thuật ngữ “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” (văn chương phải
đạo) trong bài viết của Hoàng Ngọc Hiến thoát thai từ bài tiểu luận Viết về
chiến tranh của Nguyễn Minh Châu đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội số
11-1978. Như vậy để thấy rằng bên trong cái vẻ nhút nhát, chậm chạp là một “cái
đầu đang bốc lửa” để tìm con đường Đổi mới cho văn chương của Nguyễn
Minh Châu: Trong khi suy nghĩ chung quanh việc viết về chiến tranh, ông lờ
mờ cảm thấy “Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiện thực
của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực
mọi người đang hy vọng đang mơ ước”, bởi vậy các nhân vật trong các tác phẩm viết
về chiến tranh “thường khi có khuynh hướng được mô tả một chiều thường là quá tốt,
chưa thực”. Nguyễn Minh Châu muốn có một sự thay đổi và ông đã thể hiện
suy nghĩ đó trong những sáng tác của mình: một loạt tác phẩm mới
ra đời khác hẳn cái cảm hứng chủ đạo Anh hùng ca ở Dấu chân người lính: Bến
quê (tập truyện ngắn, 1985); Mảnh đất tình yêu (tiểu thuyết,
1987); Chiếc thuyền ngoài xa (1987), Phiên Chợ Giát (1988), Cỏ
lau (truyện vừa, 1989)…
Trong Chiếc thuyền ngoài xa là cuộc sống của
những người dân chài lam lũ: “Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá
mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc
thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ
không cố kết vào một khoảnh đất nào”. Trong cuộc sống của những người dân chài
lam lũ đó, luôn tiềm ẩn những bi kịch không thể lường hết. Có thể nói, với Chiếc
thuyền ngoài xa, nhà văn đã nói về những nghịch lý tồn tại như một sự thật
hiển nhiên trong đời sống con người. Bằng thái độ cảm thông và sự hiểu biết sâu
sắc về con người, ông đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về cái đẹp cuộc sống,
hiểu cả bề mặt lẫn chiều sâu.
Thì ra, sau khi viết Dấu chân người lính, Nguyễn Minh
Châu đã suy nghĩ nhiều về những thân phận của con người và sứ mệnh của nhà văn.
Phải trở thành lương tri của xã hội - cái điều nhiều cây bút thời nay
trong thâm tâm cũng thấy đúng, nhưng lại cho là xa vời cao siêu quá - chính là
điều Nguyễn Minh Châu cảm thấy một cách máu thịt và muốn lấy cả đời văn của
mình ra để thực hiện: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà
tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ), “Nhà văn tồn
tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc
cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con
người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa
đầy đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời để bênh vực
cho những con người không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi).
Nhà văn Nguyên Ngọc đã rất đúng khi cho rằng Nguyễn Minh Châu
là “người mở đường tinh anh và tài năng đã đi được xa nhất” ở chặng đầu đổi
mới của văn học nước nhà. Trong cơn trở dạ nhiều đau đớn ấy Nguyễn Minh Châu đã
thể hiện cả bản lĩnh và tài năng của mình cho một khát vọng khẩn thiết và mãnh
liệt: văn chương cần phải khác. Nơi đó cái đẹp phải là cái “thật”, con
người phải được nhìn nhận ở “bề sâu, bề sau, bề xa” của nó.
Hàng loạt tác phẩm được viết dưới ý tưởng “văn chương cần phải
khác” đó là các truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Một lần đối chứng, Khách ở quê ra, Phiên
chợ Giát. Và đến Cỏ lau đã khẳng định chắn chắc thêm về cách tiếp cận
hiện thực nhìn từ góc độ con người ở Nguyễn Minh Châu, “nhờ quan tâm đến con
người mà ông nhìn đâu cũng ra truyện ngắn,… đã tạo dựng được một phong cách trần
thuật có chiều sâu”. Hầu hết các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trong thời
gian này đã được tập hợp in trong 3 tập: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành (1983), Bến quê (1985) và Cỏ lau (1989). Nếu ở giai đoạn văn học trước,
con người là phương tiện biểu đạt hiện thực lịch sử thì lúc này hiện thực lịch
sử lại trở thành phương tiện để biểu đạt con người. Trên cơ sở đổi mới quan niệm
nghệ thuật ấy, Nguyễn Minh Châu đã nhìn sâu vào tâm thức con người để phát hiện
những khao khát riêng tư, sự xung đột kỳ vọng giữa họ và thực tế khách quan.
Ở Cỏ lau, sự ám ảnh của chiến tranh là
hình ảnh núi Đợi với những người đàn bà ôm con chờ chồng mỏi mòn hóa đá, là bãi
cỏ lau hoang sơ có sức sống man rợ, là sự thất vọng chua chát, là cảm giác cô
đơn của người lính quay lại quê hương sau cuộc chiến. Bi kịch của người lính trở
về sau chiến tranh: Anh ta “đã bị chặt lìa ra khỏi cuộc đời mình” và cuối cùng
trở thành người khách lạ ở ngay chính gia đình của mình.
Trong Phiên Chợ Giát, lão Khúng - “anh nông dân suốt
đời đi sau con bò vạch những luống cày trong đêm tối” - hình ảnh điển hình của
người nông dân Việt Nam làm ăn cá thể lạc hậu là một khái quát nghệ thuật độc
đáo, như là nơi hội tụ sự đổi mới, cách tân của Nguyễn Minh Châu. Dường
như nỗi lòng ưu thời mẫn thế của Nguyễn Minh Châu về cuộc đời, về thân phận con
người cùng hàng loạt những dự cảm sâu sắc và bất an về hiện thực cuộc đời đều
được nhà văn dồn nén ở thiên truyện ngắn cuối cùng này.
Người ta chờ đợi cuộc đời lão Khúng trong Phiên chợ Giát sẽ
“khá hơn” so với hồi lão là Khách ở quê ra (Nhân vật chính
trong Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát đều lấy từ một
nguyên mẫu có thật: người cháu của Nguyễn Minh Châu). Song chính tại thời điểm
lão ý thức rõ ràng nhất về thân phận của mình thì xảy ra bi kịch: thì ra bò
Khoang và lão chỉ là một. Bò Khoang là biểu tượng của sự cần cù, nhẫn nại và sức
chịu đựng bền bỉ trong “kiếp trâu bò” vô thức. Còn lão Khúng tuy là “chủ nhân”
nhưng trong cuộc vật vã với miếng cơm manh áo lão cũng không khác gì “kiếp trâu
bò” và cuối cùng người - bò gặp nhau trong tận cùng bế tắc, trong những
ước muốn nhỏ bé, giản đơn nhưng không bao giờ thực hiện được. Sự trở về của bò
Khoang ở cuối truyện đã xóa tan ước mơ “tự giải thoát” của lão Khúng: sự nô lệ
truyền kiếp đã trở thành thói quen đến mức có thể làm cho người ta đánh mất cả
bản năng tự giải thoát, tìm đến với tự do... Với lão Khúng, kiếp người - bò cứ
đeo bám, quẩn quanh không bao giờ được giải thoát. Khi lão quyết định thả nó về
rừng cũng chính là khi nó đã quá quen với cái ách nô lệ trên cổ, không thể thay
đổi. Sự trở về của con bò Khoang ở cuối truyện là sự trở về của bi kịch
con người - thời gian đi qua mà sao nỗi cay cực của những kiếp người vẫn cứ chất
chồng thêm: “Ngay lập tức lão giật nẩy mình sực nhận ra đích thị là nó, con
khoang đen của nhà lão, cái con khoang đen mà trong đêm khuya khắt lão đã đích
thân dắt vào tận trong rừng thật sâu, rồi lại còn phải dùng roi vọt đánh đập vô
cùng tàn nhẫn để xua nó đi với cuộc sống tự do. Con vật ngước cặp mắt đầy nhẫn
nhục và sầu não lên nhìn lão Khúng. Đó là cái nhìn của một sinh vật tự nguyện
chấp nhận số phận. Đứng lặng thinh bên chiếc xe chất đầy củi mà lão đã thay nó
toát mồ hôi một mình kéo về được đến đây, lão Khúng cũng chả biết nói gì với
con vật, lại càng không thể trách móc, lão chỉ đưa mắt nhìn người bạn đời làm ăn
thân thiết bằng cái nhìn cũng đầy sầu não và phiền muộn”.
Phiên chợ Giát đã gây xôn xao văn đàn một dạo và
có rất nhiều “Cách đọc Phiên chợ Giát”. Cách đọc sau của Giáo sư Đỗ Đức Hiểu
là khá thuyết phục: “Truyện không khép kín ở một ý nghĩa nào, nó mở cho mỗi
nhóm người đọc một chân trời… Sự hóa thân người/ bò của ông lão Khúng/ Khoang
đen, sự phân đôi nhân cách ấy, sự kết hợp hai ý thức con người/ con vật ấy, là
bi kịch của nhân vật, của thời đại. Sự quan sát xã hội di chuyển vào sự quan
sát nội tâm, tạo nên một tâm lý vận động, đó là nghệ thuật của truyện ngắn
Phiên chợ Giát. Văn bản di động trên nhiều bình diện: ngôn ngữ, hình tượng, xã
hội, tâm lý, quá vãng và hiện tại, lịch sử và tưởng tượng” (Đỗ Đức Hiểu: Đổi
mới đọc và bình văn, NXB Hội Nhà văn, H.1999).
Dự cảm âu lo của nhà văn về thân phận con người, về cuộc đời
đã thôi thúc Nguyễn Minh Châu hướng đến thông điệp: sự ngu dốt tối tăm cùng với
cuộc sống lao động cực nhọc có thể dẫn đến số phận bi đát của người nông dân, họ
vừa là nạn nhân cũng vừa là tội nhân trong cuộc sống của chính mình.
Đáng chú ý trong Phiên chợ Giát, Nguyễn Minh Châu đã sử
dụng thủ pháp “dòng ý thức”, dùng lối viết đi sâu vào cõi vô thức của nhân vật
với những giấc mơ kiểu “Phân tâm học”, Phiên chợ Giát như muốn “nói
cùng một ngôn ngữ” với các khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết hiện đại (lối viết
này đã phần nào có ở truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành và các nhà làm phim đã khai thác “cõi vô thức” của nhân vật để làm
thành phim Người đàn bà mộng du). Như vậy, có thể nói, sự đổi mới, cách
tân của Nguyễn Minh Châu là ở cả phương pháp sáng tác: Phiên chợ Giát là
kiểu văn bản đa thanh và dân chủ. Nói về phương pháp nghệ thuật của Nguyễn
Minh Châu trong Phiên chợ Giát, Giáo sư Đỗ Đức Hiểu - một trong những
chuyên gia hàng đầu về văn học Phương Tây - đã khẳng định:
Phiên chợ Giát là khái quát nghệ thuật của Nguyễn
Minh Châu về tính cách và số phận người nông dân, là “một chấn thương nhức nhối,
một bức tranh với bao cảnh hoang vu với nhiều mảng tối và những chấm đỏ màu
máu… nhiều nét nhòe, nét này thâm nhập nét kia gây nhiều ảo ảnh, một sự thẩm thấu
giữa hiện tại và quá khứ, giữa giấc mơ và sự thật, cái cụ thể và cái trừu tượng…những
cấu trúc đan chéo, chồng chất lên nhau biểu đạt những cuộc chia ly nhọc nhằn…”
(Đỗ Đức Hiểu: Đọc Phiên Chợ Giát của Nguyễn Minh Châu,
trong Nguyễn Minh Châu về tác gia - tác phẩm, NXB Giáo dục, H.2004, tr
178).
Có những lần, đúng vào dịp gần Tết, Nguyễn Minh Châu về quê.
Cái làng chài quê ông là thuộc huyện Quỳnh Lưu, cách Hà Nội hơn hai trăm cây số.
Hồi ấy, bà cụ sinh ra ông còn sống và càng thương mẹ, ông lại càng thương quê,
thương cái làng nó còn “thiên nhiên thiên bẩm”, nghĩa là còn hoang dã lắm. Từ
quê trở ra, hầu như bao giờ Nguyễn Minh Châu cũng buồn. Những ngày thường cái
buồn đã nặng trĩu tâm hồn ông, huống chi những ngày giáp Tết. Nói vậy để thấy rằng
những gì Nguyễn Minh Châu viết về quê nghèo Quỳnh Lưu đều rất tâm huyết và có ý
nghĩa đặc biệt, như lời Nguyễn Minh Châu tâm sự với một người bạn rằng: “Mình
là người con của Quỳnh Lưu, song mình viết về quê hương chưa nhiều. Tuổi trẻ
mình đã dành trọn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những ngày cuối đời, mình phải
viết cái gì đó về nơi mình sinh ra và nuôi lớn mình những năm tháng tuổi thơ, đồng
thời cũng là một miền quê có nhiều điều để nói...”. Và quả nhiên, một
trong những sáng tác nổi tiếng nhất của Nguyễn Minh Châu trong những năm cuối đời
là Khách ở quê ra viết về một người họ hàng ở quê nghèo (Và tiếp
sau nữa là Phiên chợ Giát - Nguyễn Minh Châu dự định phát triển Khách
ở quê ra thành một tiểu thuyết lớn về Nông dân - Nông thôn, nhưng viết được
vài chục trang thì bệnh phát nặng, phải ngừng lại…Trong thời gian nằm viện, thỉnh
thoảng ông lấy bản thảo mấy chục trang đó ra viết tiếp và thành Phiên chợ Giát-
viết xong tháng 10-1988 -, như ta đã thấy). Để tránh những sự công kích vô
lối, có lần nhà văn hay lo xa đã phải tìm cách mang lại cho tác phẩm một nội
dung thời sự bằng cách chua thêm vào bên cạnh đầu đề dòng chữ “Vài nét cốt cách
của một người sản xuất nhỏ cổ sơ còn lại ở nông thôn phản ứng trước tập quán
công nghiệp và đô thị”. Tuy nhiên, ai cũng thấy cảm hứng chi phối Khách ở
quê ra là cái phần bóng tối còn nặng nề, cái phần lạc hậu một thời gian
dài còn bao trùm lên con người và cuộc sống nông thôn. Lớn lên trên mảnh đất
đã quá cằn cỗi, con người ta phải như cây rau dền gai thô tháp, chen cạnh, bám
chặt vào cuộc sống thì mới sống nổi.
Một ấn tượng nặng nề, bế tắc, luẩn quẩn đầy sức ám ảnh về
nông thôn cũng được Nguyễn Minh Châu thể hiện trong Chợ tết:
nhếch nhác, bẩn thỉu, cái làng biển được miêu tả ở đây tanh nồng mùi cá, còn
con người thì quẩn quanh, ngột ngạt, bức bối, lúc nào cũng quần quật với miếng
cơm manh áo, không sao ngẩng mặt lên được. Đến một chiếc cầu qua con lạch nhỏ,
“khéo lắm chỉ dài gấp đôi thân con bò” người ta cũng không làm nổi, và muốn
lên chợ, người ở xã bên cạnh chỉ có cách chen chúc trên một chiếc đò cũ nát, để
sang xã bên này. Và điều đáng chú ý là chỗ nào cũng đầy chật người, mảnh đất lầy
lội vào những ngày phiên chợ càng nhung nhúc những người là người, đám đông vữa
ra như một con sứa bầy nhầy nhũn nhẽo khiến cho lão Đất (một thứ cai chợ) muốn
lập lại trật tự chỉ có cách dùng đến roi vọt. Cuộc sống ở đây sao mà man dại,
hoang dã như vậy?
Cái làng chài được miêu tả trong Chợ tết là sự trì
trệ cũ kỹ của nó: “Mặc dù mặt đất bị xáo trộn, nhưng cuộc sống con người lại
ngưng đọng, như một sự lặp lại”. Còn con người thì luân hồi truyền kiếp: Một
thiếu nữ mới lớn, giống y như người mẹ, ba mươi năm về trước; Một người kéo đò
hơn năm mươi tuổi, cũng giống y như người cha kéo đò năm xưa - con nối nghiệp bố.
Cho đến cả câu đối tết nữa, “câu đối tết năm nào chẳng viết những câu như mọi
năm trước”… Thể hiện sự trì trệ, tù túng, quẩn quanh thành nỗi ám ảnh nghệ thuật
là ý đồ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu. Vì thế, có thể nói: Sự đổi mới
của tác phẩm Nguyễn Minh Châu là phản ánh một hiện thực không hề đổi mới: trì
trệ, ngưng đọng và luẩn quẩn!
Từ Nguyễn Minh Châu trở về sau, vấn đề con người, đặc biệt là
nông dân với số phận riêng cùng vô vàn trăn trở âu lo đã được văn học quan tâm
khai thác ở cách nhìn mới mà nổi bật hơn cả là Nguyễn Khắc Trường (2). Tuy
nhiên, Nguyễn Minh Châu cho đến lúc vĩnh viễn ra đi vẫn còn chưa yên tâm. Trên
giường bệnh, Nguyễn Minh Châu còn “di chúc” cho đồng nghiệp về những
việc phải làm cho cả nền văn học cũng như cho xã hội. Nhà phê bình văn học Nguyễn
Đăng Mạnh từng ghi lại những lời tâm huyết Nguyễn Minh
Châu nói trên giường bệnh: “Tư tưởng bảo thủ từ đất đùn lên, nó chủ yếu là
nội sinh chứ không phải là ngoại nhập. Nó chi phối cả chính trị, triết học,
khoa học văn hóa văn nghệ... Nghĩa là lắt nhắt, thiển cận, không nhìn
xa, nước đến đâu thuyền dâng đến đấy. Nông dân rất tình nghĩa nhưng cũng có lúc
rất tàn bạo đấy. Nông dân rất thích vua, thích trời và thích cát cứ. To làm vua
nhiều nước, cả thế giới. Bé, làm vua một tỉnh, một huyện, một xã, một phường, một
nhà (...). Nhà văn muốn có tầm cỡ thời đại thì lại phải ngụp sâu vào dân tộc
mình, nhân dân mình. Nhưng phải rất tỉnh không được sướt mướt. Tôi ghét cái lối
tình cảm làng xóm không biết gì đến thiên hạ, chỉ tâng bốc lẫn nhau, con hát mẹ
khen hay. Marquez rất thời đại, rất lớn mà Colombia rất nhỏ...” .
Nói về sự đổi mới trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu từ
sau Dấu chân người lính, đã có rất nhiều bài viết ca ngợi ông hết lời, có
thể nói như là một sự kiện chưa từng có trong đời sống văn học. Tuy nhiên, đọc
kỹ lại những bài viết về Nguyễn Minh Châu, ta cũng chỉ thấy lặp đi lặp lại những
nhận xét chung chung (có thể đúng cả với không ít nhà văn khác) với nhiều mỹ từ
như: Sự sâu sắc, thâm thúy, đầy lòng trắc ẩn của nhà văn Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Minh Châu từ rất lâu đã quan tâm xây dựng mối hòa hợp dân tộc,
hòa hợp cộng đồng sau những năm tháng dài xung đột dữ dội, Chiếc
thuyền ngoài xa như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, khả
năng giải mã những mặt phức tạp của cuộc đời, Nguyễn Minh Châu muốn thể hiện một
quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt
phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu; Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến
cái nhìn đa diện về số phận con người… Chiếc thuyền ngoài xa là một
biểu hiện của xu hướng tìm tòi khám phá trong văn của Nguyễn Minh Châu, trở về
với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi
cho những phận người trong cuộc sống đời thường trăm đắng ngàn cay… Nguyễn Minh
Châu muốn thể hiện một quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của
con người, với muôn mặt phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu, v.v… Hoặc như
nhận định của một vị giáo sư, nhà nghiên cứu, phê bình văn học lâu năm trong
nghề cũng không tránh khỏi bệnh chung chung đó: “Trong sáng tác của Nguyễn Minh
Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn, cốt truyện thường không đóng một
vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý vào thân phận con người, tính cách
nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc
động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp
áp” (Nguyễn Văn Hạnh: Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách
nhìn về con người, T.C Văn học, số 3/1993; và trong Nguyễn Minh Châu, về
tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục 2003).
Những nhận định về Nguyễn Minh Châu vừa dẫn trên không hề sai
nhưng quá trùng lặp, lại dùng quá nhiều mỹ từ và hầu như không nói được gì về
bài viết quan trọng “Hãy đọc lời ai điếu…” của Nguyễn Minh Châu. Như thế, cũng
có nghĩa là sẽ làm lu mờ đi cái hạt nhân cơ bản của sự Đổi mới của Nguyễn Minh
Châu, hay còn gọi là điểm Đặc sáng Nguyễn Minh Châu. Vậy điểm Đặc
sáng Nguyễn Minh Châu là gì? Chính là bài tiểu luận “Hãy đọc lời ai
điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” (3) - tác phẩm văn học độc nhất
vô nhị thể hiện tinh hoa trí tuệ của Nguyễn Minh Châu. Nếu có thể so sánh với
tác phẩm nào đó tương đồng thì chỉ có thể tìm thấy một tác phẩm từ xa xưa của Chu Văn
An: Thất trảm sớ! (4) Nếu Chu Văn An sống lại, hẳn ông sẽ nói với
Nguyễn Minh Châu rằng: Sao không viết ngắn gọn là “Trảm Văn nghệ minh họa
sớ”? Vì thế, phần tiếp theo dưới đây, chúng tôi sẽ đi sâu vào điểm Đặc
sáng Nguyễn Minh Châu là tác phẩm - tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho
một giai đoạn văn nghệ minh họa.
3/ Những luận điểm cơ bản của “Hãy đọc lời ai điếu…”
Trước hết, hãy trả lời câu hỏi: Vì sao Nguyễn Minh Châu lại
chọn con đường đổi mới nhọc nhằn, trong khi có một con đường khác
đang trải thảm đỏ đón ông sau khi ông có tác phẩm nổi danh Dấu
chân người lính? Có thể trả lời ngay: Vì Nguyễn Minh Châu là một nhà văn chân
chính (trung thực và tâm huyết với nghề văn). Tiếp đó, phải trả lời được câu hỏi
kế tiếp: Vì sao chọn con đường đổi mới đầy hiểm nguy, Nguyễn Minh Châu lại
không bị “ngã ngựa”, hoặc “tai nạn nghề nghiệp” như không ít nhà văn khác? Cũng
có thể trả lời ngay: Tư tưởng Đổi mới của Nguyễn Minh Châu xuất hiện đúng vào
lúc sự nghiệp Đổi mới đang là lẽ sống còn của đất nước, cũng giống
như ở thời kỳ trước 1975, sự nghiệp chống Mỹ Bảo vệ Tổ quốc là hành động duy nhất,
là lẽ sống còn của dân tộc. Sau cùng, câu hỏi thứ ba: tác động và hiệu quả của
Đổi mới Nguyễn Minh Châu như thế nào? Câu hỏi thứ ba này xin trả lại cho các
nhà nghiên cứu văn học, viết văn học sử. Cho tới nay, sự nghiệp Đổi mới đã qua
hơn 20 năm (tính từ 1986), đã có đủ “độ lùi thời gian” cần thiết. Hi vọng chúng
ta sẽ có được những giải đáp thỏa đáng.
Điểm “đặc sáng” của Nguyễn Minh Châu: Lời ai
điếu…: những hình ảnh mà Nguyễn Minh Châu sử dụng rất sinh động, cụ thể:
nhà văn của chúng ta đã sống và viết như thế nào và chúng ta phải làm gì… đã được
Nguyễn Minh Châu nói rất rõ ràng và sâu sắc cho nên không cần bình luận gì
thêm. Những đoạn trích dẫn dưới đây như là sự nhấn mạnh của bài viết:
… Nhưng về một phía khác, cũng phải nói thật với nhau rằng:
mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh
họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những
khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa
dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt
đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do nhiều lý do từ những
ngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện tự giác thấy nên và cần làm như
thế (thậm chí có phần nào các nhà văn mới đi theo cách mạng và kháng chiến còn
coi đó là cái mới, là hoàn cảnh “lột xác”). Từ đấy rồi trở thành thói
quen. Thói quen của một người vốn quen đi trong một hành lang hẹp, vừa hẹp
vừa thấp. Lần lượt bắt đầu là các nhà văn tiền chiến rồi hết lớp người cầm bút
này đến lớp người cầm bút khác, với một khả năng thích nghi hết sức ghê gớm,
các nhà văn đã thích nghi với văn học minh họa như thích nghi với cách sống
gian khổ, thiếu thốn trong chiến tranh. Những nhà văn tuy đều cảm thấy thiếu thốn
và bức bối nhưng lại tự dụ dỗ mình và khuyên nhủ lẫn nhau tự bạt chiều cao cho
thấp đi khỏi chạm trần, tự ép khuôn khổ chiều ngang lại để khỏi kềnh càng, để
đi lại được thoải mái trong cái hành lang kia.
… Chứ như đám chúng tôi, từ nhà văn trẻ đến lớp nhà văn già
được chăm sóc chăn dắt kỹ lưỡng quá đi mất. Sao lại như vậy nhỉ, sau bốn chục
năm nhìn trở lại những nhà văn tiêu biểu của nền văn học phần đông nếu không phải
là tất cả, đều có tì vết trong lịch sử đời cầm bút? Rồi thì từ đấy bắt buộc
sinh ra một cái thói quen không biết bắt đầu từ lúc nào mà tôi nghĩ nó rất thảm
đối với tư cách của một người nghệ sĩ, hễ cầm bút là phải nghĩ đến né tránh,
che chắn, rào đón, đối phó. Có vẻ tuồng như mỗi nhà văn mỗi khi ngồi trước
trang giấy là cùng một lúc phải cầm hai cây bút: một cây bút để viết
cho người đọc bình thường, cho đời, một cây bút khác viết cho đạo, lo việc che
chắn, viết cho lãnh đạo văn nghệ đọc. Mà cái ngòi bút thứ hai này - buồn thay -
các nhà văn cầm lâu ngày để tự bảo vệ mình cho nên cũng lắm kinh nghiệm, mà
cũng tài hoa lắm!
… Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ minh họa của ta là
từ đấy những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính
tư tưởng,- nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính khái quát cuộc đời
của riêng từng nhà văn. Như một người đánh mất phần hồn chỉ còn phần xác, hoặc
chỉ còn cái phần hồn do nhà nước bao cấp. Chúng ta không thiếu những nhà văn có
lòng và có thực tài nhưng cũng không vì thế hàng chục năm qua có khi họ phải ôm
hai thứ đó trong người như hai thứ tội nợ, vì thế mà đâm ra sợ chính mình. Sau
một vài lần viết ra bị vấp váp, bị thổi củi, bị phê phán trên báo, được tập thể
góp ý xây dựng, nhà văn ngồi một mình giữa vắng vẻ ngâm nga: “Chút lòng trinh bạch
từ nay xin chừa”, nhưng làm sao mà chừa được. Con người nghệ sĩ là thế đấy, dù
cho rằng anh ta hèn đớn vẫn không chừa được thói quen khao khát sáng tạo, lời
nói thật và chút lòng với đời. Nó như một thứ bản chất thiên phú, hay một
thứ bản chất giời đày?
Rồi vẫn được viết, vẫn cầm bút, vừa muốn phô diễn tư tưởng,
chõ miệng ra giữa hai hàng chữ để cảnh tỉnh với đời một cái điều gì đó tiên cảm
thấy trong đời sống nhưng lại muốn giấu đi, gói nó trong bao lần lá, rào nó sau
bao tầng chữ. Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh?
Hèn, hèn chứ? Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn?
Cái sợ nó làm mình hèn. Vì thế mà từ xưa tới nay có bao nhiêu nhà văn nhà thơ
đã đi ở ẩn ngay trong tác phẩm? Chúng ta vắng thiếu những cây thông đứng sừng sững.
… Cũng trong một con người cầm bút, có khi cái phần bất tài nhảy
lên bục tao đàn để múa may, còn cái phần tài năng thì trùm chăn nằm chờ ngày xuống
mồ!
Con đường của một cây bút trẻ hăm hở phấn đấu hết mình để trở
thành nhà văn cũng là con đường phải giết đi cái phần nhà văn trong con người
mình, con đường tự mài mòn đi mọi cá tính và tính trung thực trong ngòi bút!
Chúng ta phải nhìn lại kỹ càng cái hành trình văn học
đã đi qua bằng con mắt thông minh, không phiến diện và thực sự cầu thị, để một
mặt không phủ định tất cả, một mặt khác, với một tinh thần tự phê phán thấy cho
được rằng: có thể đôi khi với động cơ tốt chúng ta đã trói buộc lẫn nhau trong
một thời gian hơi quá dài của mấy lớp người cầm bút, trong khi lại đòi hỏi phải
có những tác phẩm lớn. Thật là mâu thuẫn. Chả khác nào trói lại rồi bảo đố
mày bay lên!
… Tôi đọc những tuyển tập thấy rất tiếc cho những tài
năng. Giá mấy chục năm qua văn nghệ không chủ yếu lấy minh họa làm đường hướng,
đừng có cái hành lang hẹp và thấp ấy, cả cái bầu không khí nghi ngờ lơ
lửng trên đầu các văn nghệ sĩ, mà chủ trương khuyến khích cá tính, khuyến khích
sáng tạo và chấp nhận đa dạng, chấp nhận sáng tối, hoàn toàn đặt lòng tin vào
lương tri của các nhà văn, không nửa tin nửa nghi ngờ và đề phòng, để cho văn
nghệ một khoảng đất rộng rãi hơn nữa thì các nhà văn và những nghệ sĩ sáng tạo
đến nay đã đầu bạc phơ, kẻ còn người mất, họ còn để lại cho chúng ta nhiều hơn
thế này. Và không khéo những cái gì và những người mà lâu nay chúng ta kêu
ca, lên án hoặc cố tình quên đi lại là những cái, những người còn lại, còn để lại.
… Tài năng, nhất là những thiên tài bao giờ cũng
như là của bắt được, của trời cho, ai mà biết được bao giờ thì họ đến, nhưng
cũng như một Nguyễn Du, họ đến cũng trong khắc khoải nhân sinh, chỉ
có điều đau đớn hơn mọi chúng ta, và cũng trong lầm lũi cát bụi cuộc đời thường.
Nhiệm vụ của chúng ta là chuẩn bị bầu không khí cho họ thở, cho họ sống, đừng
giết chết họ, đừng ghen tỵ với họ, đừng làm họ sống dở chết dở mà vẫn phải nở nụ
cười, đừng làm cho họ thui chột trí tuệ lẫn tình cảm, đừng khiến họ cuối cùng
trở thành chúng ta.
Chú thích:
(1) Nguyễn Minh Châu (1930 - 1989): Quê ở Quỳnh
Lưu, Nghệ An. Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành
chung. Năm 1950, gia nhập quân đội, học ở trường sỹ quan lục quân Trần Quốc Tuấn.
Từ năm 1952 đến 1956, công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư
đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lư văn hóa trung đoàn
64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ
quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông là Hội nhà văn Việt Nam năm
1972.
Các tác phẩm chính: Cửa sông (tiểu thuyết,
1966; Những vùng trời khác nhau (truyện ngắn, 1970); Dấu chân
người lính (tiểu thuyết, 1972); Miền cháy; Lửa từ những ngôi nhà (tiểu
thuyết, 1977); Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn,
1983); Bến quê (truyện ngắn, 1985); Mảnh đất tình yêu (tiểu
thuyết, 1987); Chiếc thuyền ngoài xa (NXB Tác phẩm mới, 1987); Hãy đọc
lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (1987); Cỏ lau (truyện
vừa, 1989); Nguyễn Minh Châu - con người và tác phẩm, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội,
1991); Nguyễn Minh Châu toàn tập (gồm 5 tập, 5.000 trang - NXB Văn Học,
2001)... Truyện Ngắn Nguyễn Minh Châu - Tác Phẩm Và Lời Bình (NXB văn học,
2007); Di cảo Nguyễn Minh Châu (NXB Hà Nội, 2009, gần 500 trang)…
Giải thưởng: Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
vào năm 2000; Tác phẩm Cỏ lau đạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam
vào năm 1990; Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 1984 - 1989 cho toàn bộ sáng
tác của Nguyễn Minh Châu viết về chiến tranh và người lính.
(2) Nguyễn Khắc Trường là người đầu tiên thực sự đổi mới
theo tinh thần của người Tiên phong Nguyễn Minh Châu: ông cũng từ bỏ dứt khoát
lối viết cũ đã “thành danh” là Thao Trường và “làm lại từ đầu” với tên thật là
Nguyễn Khắc Trường và tiểu thuyết “đầu tay” Mảnh đất lắm người nhiều ma của
Nguyễn Khắc Trường ra đời chỉ sau bài “Hãy đọc lời ai điếu…” của Nguyễn Minh
Châu có ba năm… Nguyễn Khắc Trường sinh ngày 6/7/1946 tại Đồng Hỷ - Thái
Nguyên. Nhà văn Nguyễn Khắc Trường nhập ngũ năm 1965 ở quân chủng phòng không.
Sau khi tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du, ông chuyển về làm biên tập viên
văn xuôi tại tạp chí Văn nghệ Quân đội. Năm 1993 ông chuyển về công tác tại tổ
văn xuôi của báo Văn nghệ, sau đó về Nhà xuất bản Hội Nhà văn...Là một nhà văn
viết về thể loại các tác phẩm Tiểu thuyết và Truyện ngắn, trong đó tác phẩm được
xem là tiêu biểu nhất của ông Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990) đã
được đạo diễn Nguyễn Hữu Phần dựng thành phim truyền hình Đất và Người ra
mắt công chúng năm 2002.
(3) Nguyên văn bài viết “Hãy đọc lời ai điếu cho một
giai đoạn văn nghệ minh họa”:
Là một người sáng tác, chắc tôi cũng giống như nhiều
anh em sáng tác khác, có thói quen vừa viết vừa tự quan sát,
nhìn theo cái ngòi bút của mình có lúc đầy hào sảng có lúc lại đầy đắn
đo hồi hộp lẫn e ngại chạy trên mặt tờ giấy định mệnh.
Chao ôi, để bụng không nói ra thì thôi chứ nói ra cái chuyện
này nó vui lắm, mà nó cũng buồn lắm, có đôi khi buồn đến thối ruột! Thú thật chừng
ba bốn năm trở lại đây tôi cứ nổi lên những cơn ngán giấy bút, hay so sánh mình
với những anh em bạn bè cầm bút một cách suôn sẻ bình thản, được trời đất ban
cho một cái tạng nhà văn luôn luôn sẵn sàng thích nghi với mọi thứ lý luận và
luật lệ văn học, họ thật sướng, viết ra trang giấy mà trong bụng chẳng bao giờ
có điều gì phải sợ sệt, lo lắng, như một người bao giờ cũng sống đĩnh đạc, cứ
thẳng đường chính rộng lớn mà đi; còn mình thì y như một kẻ gian phi lúc nào
cũng như đang lén lút thu giấu cái gì quốc cấm trong cạp quần hay dưới áo. Nghĩ
mà buồn quá, nghề giấy bút nó chẳng nuôi gì được mình mà chỉ thấy nó hành mình.
Có lúc - nói ra thật lẩm cẩm - tôi lại hay đem so sánh mình với
các nhà văn của những đất nước hàng trăm năm bình ổn, các nhân vật của họ phải
chịu đựng nỗi đau khổ dằn vặt thật là sang trọng, chứ đâu như cái đám nhân vật
của mình, không những cái đau khổ, hoạn nạn mà cả cái vui, cái hạnh phúc của họ
nó cũng nhem nhuốc, nhớn nhác, tội nghiệp quá! Hỡi ôi, bao giờ nhân vật của
mình mới được sang trọng, để cho mình cũng sang trọng lây!
Có lúc tôi lại đem công việc của chúng ta so sánh với công việc
của các nhà tiền chiến cầm bút trước cách mạng, gọi là các nhà văn hiện thực
phê phán. Ví dụ như ông Nam Cao chẳng hạn. Có lần ông ấy la lối, hô hoán ầm lên
rằng thiên hạ bít hết lối của ngòi bút ông ấy. Viết cây chuối hay con chó hoặc
kẻ say rượu đều phạm húy, đều có người đe đánh, đe đốt nhà. Bị o ép đến vậy tưởng
không viết được gì, thế mà cuối cùng, cả một đời cầm bút của Nam Cao trước cách
mạng số năm có là bao nhiêu đâu, vậy mà đủ để lại khá nhiều, nhất là có thể có
cái quyền viết rất thực, bao nhiêu lẽ đời, sự đời, bao nhiêu khuôn mặt người đời
thực đến thế. Chí Phèo thực đến thế. Thật là vừa được viết vừa được nói. Chứ
như đám chúng tôi, từ nhà văn trẻ đến lớp nhà văn già được chăm sóc chăn dắt kỹ
lưỡng quá đi mất. Sao lại như vậy nhỉ, sau bốn chục năm nhìn trở lại những nhà
văn tiêu biểu của nền văn học phần đông nếu không phải là tất cả, đều có tì vết
trong lịch sử đời cầm bút? Rồi thì từ đấy bắt buộc sinh ra một cái thói quen
không biết bắt đầu từ lúc nào mà tôi nghĩ nó rất thảm đối với tư cách của một
người nghệ sĩ, hễ cầm bút là phải nghĩ đến né tránh, che chắn, rào đón, đối
phó. Có vẻ tuồng như mỗi nhà văn mỗi khi ngồi trước trang giấy là cùng một
lúc phải cầm hai cây bút: một cây bút để viết cho người đọc bình thường,
cho đời, một cây bút khác viết cho đạo, lo việc che chắn, viết cho lãnh đạo văn
nghệ đọc. Mà cái ngòi bút thứ hai này - buồn thay - các nhà văn cầm lâu ngày để
tự bảo vệ mình cho nên cũng lắm kinh nghiệm, mà cũng tài hoa lắm!
Quả thật tôi không có tài rào đón, che chắn nhưng cầm bút viết
văn đến một lúc ngồi nghĩ lại cũng tự nhiên sinh ra giận mình đến phát chán
mình, chán cả cho đồng nghiệp, bè bạn. Điều đáng buồn nhất là những người phải
xoay trở, vặn vẹo cây bút, phải làm động tác giả nhiều nhất là những nhà văn có
tâm huyết, có tài, muốn văn học phải có cái gì của văn học, chứ không muốn văn
học chỉ là một sự minh họa. Trong khi đó những cây bút minh họa, những tác phẩm
minh họa hoặc ca ngợi một chiều thì lại thoải mái, người viết cầm bút thoải mái
mà chẳng có gì phải luồn lách, phải đắp đậy, rào đón, chỉ phải cái nó công thức
và sơ lược, nó nhạt, và càng ngày người đọc càng thấy nó giả, mỗi ngày người đọc
càng thấy rõ ở những tác phẩm minh họa và ca ngợi một chiều một sự giả dối
không thể nào bào chữa nổi, đắp đậy nổi, so với cuộc đời thực bên ngoài.
Tôi không hề nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng
- nền văn học ngày nay có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của
bao nhiêu nhà văn - không có những cái hay, không để lại được những tác phẩm
chân thực. Nhưng về một phía khác, cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục
năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với
những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn
khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng
và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường
lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do nhiều lý do từ những
ngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện tự giác thấy nên và cần làm như
thế (thậm chí có phần nào các nhà văn mới đi theo cách mạng và kháng chiến còn
coi đó là cái mới, là hoàn cảnh “lột xác”). Từ đấy rồi trở thành thói
quen. Thói quen của một người vốn quen đi trong một hành lang hẹp, vừa hẹp
vừa thấp. Lần lượt bắt đầu là các nhà văn tiền chiến rồi hết lớp người cầm bút
này đến lớp người cầm bút khác, với một khả năng thích nghi hết sức ghê gớm,
các nhà văn đã thích nghi với văn học minh họa như thích nghi với cách sống
gian khổ, thiếu thốn trong chiến tranh. Những nhà văn tuy đều cảm thấy thiếu thốn
và bức bối nhưng lại tự dụ dỗ mình và khuyên nhủ lẫn nhau tự bạt chiều cao cho
thấp đi khỏi chạm trần, tự ép khuôn khổ chiều ngang lại để khỏi kềnh càng, để
đi lại được thoải mái trong cái hành lang kia.
Tuy vậy, cứ mỗi lần hết chiến tranh chuyển sang hòa bình hoặc
cứ lâu lâu sau một số năm, đường hướng minh họa và tình hình mất dân chủ trong
văn nghệ lại làm dấy lên những vụ này vụ khác. Những người “lính gác” lại có dịp
“khép lại” và không rời mắt khỏi từng người, đặc biệt là những người có tài hay
có tật và không ngừng thuyết phục với tất cả cũng như với từng người rằng cái
hành lang kia là tất cả thế giới của văn nghệ cách mạng. Không khí để thở, bầu
trời để ngắm, đất dưới chân để đi lại chỉ có thế và đấy là tất cả thế giới minh
họa, ở trong đó nhà văn tha hồ vùng vẫy, sáng tạo và phát huy tài
năng. Trong nghệ thuật hội họa châu Âu chẳng đã từng để lại những tác phẩm
danh họa về lịch sử tôn giáo và đời các thánh, thực sự những tác phẩm hội họa cổ
điển sẽ sống đời đời ấy là những tác phẩm minh họa. Tôi nghĩ rằng đường lối
chính sách của Đảng, kể cả những cái sáng suốt đúng đắn cũng như cái sai lầm
đang được điều chỉnh trong từng thời kỳ bao giờ cũng có thể soi rọi, giúp nhà
văn nhìn thấy những vấn đề thực tế rất sâu xa của đất nước, gợi ý cho nhà văn
những suy nghĩ, chiêm nghiệm quý báu. Nhà văn như một người trinh sát cuộc đời,
vậy thì việc tìm hiểu sự hình thành những đường lối chính sách chính là sự tìm
hiểu việc đời từ trong quá trình.
Ý nghĩa tác dụng của đường lối, chính sách đối với văn nghệ
là như vậy. Tôi nghĩ rằng khi nhà nghệ sĩ đứng trước một sự vật, nảy ra ý tưởng
minh họa khi tìm thấy ở nó tràn ngập cảm xúc về cái chân lý và cái đẹp.
Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ minh họa của ta là từ đấy
những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng,-
nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng
nhà văn. Như một người đánh mất phần hồn chỉ còn phần xác, hoặc chỉ còn cái phần
hồn do nhà nước bao cấp. Chúng ta không thiếu những nhà văn có lòng và có thực
tài nhưng cũng không vì thế hàng chục năm qua có khi họ phải ôm hai thứ đó
trong người như hai thứ tội nợ, vì thế mà đâm ra sợ chính mình. Sau một vài lần
viết ra bị vấp váp, bị thổi củi, bị phê phán trên báo, được tập thể góp ý xây dựng,
nhà văn ngồi một mình giữa vắng vẻ ngâm nga: “Chút lòng trinh bạch từ nay xin
chừa”, nhưng làm sao mà chừa được. Con người nghệ sĩ là thế đấy, dù cho rằng
anh ta hèn đớn vẫn không chừa được thói quen khao khát sáng tạo, lời nói thật
và chút lòng với đời. Nó như một thứ bản chất thiên phú, hay một thứ bản
chất giời đày?
Rồi vẫn được viết, vẫn cầm bút, vừa muốn phô diễn tư tưởng,
chõ miệng ra giữa hai hàng chữ để cảnh tỉnh với đời một cái điều gì đó tiên cảm
thấy trong đời sống nhưng lại muốn giấu đi, gói nó trong bao lần lá, rào nó sau
bao tầng chữ. Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh?
Hèn, hèn chứ? Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn?
Cái sợ nó làm mình hèn. Vì thế mà từ xưa tới nay có bao nhiêu nhà văn nhà thơ
đã đi ở ẩn ngay trong tác phẩm? Chúng ta vắng thiếu những cây thông đứng sừng sững.
Có một nhà văn đàn anh nâng chén rượu lên giữa đám đàn em: “Tao còn sống,
còn cầm bút được đến bây giờ là nhờ biết sợ!”, nói rồi ngửa mặt lên trời
cười rung giường, nước mắt tuôn lã chã, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào lòng. Có
người cầm bút đến lúc sắp bước sang thế giới bên kia vẫn chưa dám thốt lên một
lời nói thật tự đáy lòng, không dám viết hồi ký thực, vì sợ để liên lụy đến đời
con cái. Có người lại biến cái sợ cái hèn thành một thứ vật trang sức và thách
thức, vật biểu hiện của sức sống dai dẳng. Giữa chồng sách trước mặt tôi lúc
này là hai tập Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của nhà thơ Xuân Diệu. Một
nhà thơ lớn như Xuân Diệu làm một công việc rất công phu là bình giá và giải
thích những giá trị văn học cổ điển của nước nhà, mà sao Xuân Diệu phải rào
đón, dựng lên bao nhiêu là lớp phên giậu để tự che chắn? Sao mà khổ vậy? Rồi
thì dù không muốn tôi cũng phải nói rằng sự độc đoán và chế áp của lãnh đạo văn
nghệ trong nhiều năm qua đã khiến cho những nghệ sĩ chân chính luôn luôn gắn bó
với cách mạng, với Đảng, suốt đời cảm thấy phạm tội.
Cũng trong một con người cầm bút, có khi cái phần bất tài nhảy
lên bục tao đàn để múa may, còn cái phần tài năng thì trùm chăn nằm chờ ngày xuống
mồ!
Con đường của một cây bút trẻ hăm hở phấn đấu hết mình để trở
thành nhà văn cũng là con đường phải giết đi cái phần nhà văn trong con người
mình, con đường tự mài mòn đi mọi cá tính và tính trung thực trong ngòi bút!
Chúng ta phải nhìn lại kỹ càng cái hành trình văn học đã đi
qua bằng con mắt thông minh, không phiến diện và thực sự cầu thị, để một mặt
không phủ định tất cả, một mặt khác, với một tinh thần tự phê phán thấy cho được
rằng: có thể đôi khi với động cơ tốt chúng ta đã trói buộc lẫn nhau trong một
thời gian hơi quá dài của mấy lớp người cầm bút, trong khi lại đòi hỏi phải có
những tác phẩm lớn. Thật là mâu thuẫn. Chả khác nào trói lại rồi bảo đố
mày bay lên!
Muốn có tác phẩm lớn, nhưng liệu chúng ta có chấp
nhận nổi những tính cách ngòi bút của một nghệ sĩ với tầm tư tưởng lớn mà
tôi nghĩ bao giờ nó cũng quá chói sáng, với những điều nói thật không phải bao
giờ cũng dễ nghe, thậm chí có thể làm đảo lộn mọi quan niệm với những nỗi dằn vặt,
băn khoăn lớn chung quanh cái bề mặt nhãn tiền và tận chín tầng đất sâu của cuộc
sống con người trên dải đất này.
Và tác phẩm lớn là gì?
40 triệu dân của đất nước Tây Ban Nha được nhân loại biết đến
và kính trọng bằng một lão gàn vĩ đại vì mang trên mình tất cả tính ảo tưởng
muôn đời của toàn thể nhân loại.
Và gần một tỷ người của đất nước Trung Hoa được nhân loại thấu
hiểu sâu sắc bằng một anh chàng nông dân A.Q.
Cả Don Quichotte lẫn A.Q chẳng hề làm xấu Tây Ban Nha lẫn
Trung Quốc, mà làm đẹp cho cả hai đất nước này.
Tài năng, nhất là những thiên tài bao giờ cũng như là của
bắt được, của trời cho, ai mà biết được bao giờ thì họ đến, nhưng cũng như một
Nguyễn Du, họ đến cũng trong khắc khoải nhân sinh, chỉ có điều đau đớn
hơn mọi chúng ta, và cũng trong lầm lũi cát bụi cuộc đời thường. Nhiệm vụ của
chúng ta là chuẩn bị bầu không khí cho họ thở, cho họ sống, đừng giết chết họ,
đừng ghen tỵ với họ, đừng làm họ sống dở chết dở mà vẫn phải nở nụ cười, đừng
làm cho họ thui chột trí tuệ lẫn tình cảm, đừng khiến họ cuối cùng trở thành chúng
ta.
Công việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ của Hội Nhà văn hôm nay
không phải là chuẩn bị cái lồng ấp hàng trăm hàng ngàn quả trứng gà trứng vịt,
mà là chuẩn bị cho những tư cách nghệ sĩ và tài năng lớn ra đời.
Nói thế có bốc đồng chăng, cao vọng quá chăng? Nhưng chúng ta
phải đốt lên ngọn lửa cao vọng! Chẳng lẽ mãi mãi thế hệ nhà văn Việt Nam chúng
ta vẫn cứ yên tâm sản xuất ra toàn những sản vật không bao giờ được ngó đến
trong nền văn học thế giới. Chẳng lẽ Việt Nam ngày nay chỉ hưởng của
thiên hạ mà không làm ra được cái gì góp vào của chung của thiên hạ? Chẳng lẽ
các nhà văn Việt Nam đi ra ngoài mãi mãi chỉ có chung một cái tên
riêng là nhà văn Việt Nam? Để rồi quay trở về, con hát mẹ khen hay? Và đàn
con cứ mãi mãi suốt đời tự hào được người mẹ ở trong nhà khen ngợi!?
Tôi nghĩ rằng trước hay sau, ai cũng trở thành bảo thủ, lạc hậu,
cũ kỹ cả. Bảo thủ về già là một quy luật. Trong khoa học, đến một bộ óc mới mẻ
như Einstein về già còn bảo thủ cơ mà! Cái mới nào mà chả cũ đi, - trên dòng
thác biến đổi qua thời gian? Cái chính là chúng ta biết cười xòa chợt nhận ra
mình đã sai lầm, đã bảo thủ. Chúng ta sẽ trở nên sáng suốt hơn sau cái tiếng cười
ấy. Bởi vì sau đó chắc chắn chúng ta sẽ không bao giờ giơ tay ngăn cản cái mới,
cái tiến bộ, mà sẽ xuất hiện một quyết tâm làm mới lại mình với thái độ chân
thành, xởi lởi, cởi mở, để cùng nhau xây dựng một giai đoạn văn học và văn nghệ
mới.
Vừa qua chúng ta có in lại tuyển tập của các nhà văn đàn anh.
Giở những bản tổng kết những đời văn như còn đẫm mồ hôi ấy, điều khôn ngoan cuối
cùng rút ra là không chừa một ai, tất cả chúng ta phải biết lễ phép trước quy
luật đào thải. Những cái gì đích thực văn chương thì nó còn, không tái bản,
không tuyển tập, báo chí không đề cao lên nó cũng còn. Nó còn như đất cát, cây
cỏ, như ca dao, tục ngữ, như cuộc sống bình dị và bền vững luôn luôn còn đó.
Còn những gì phe phẩy, ưỡn ẹo hoặc cứ nhảy cẫng lên thì ngược lại, nó mất, cát
sỏi lại trở về cát sỏi. Tôi đọc những tuyển tập thấy rất tiếc cho những tài
năng. Giá mấy chục năm qua văn nghệ không chủ yếu lấy minh họa làm đường hướng,
đừng có cái hành lang hẹp và thấp ấy, cả cái bầu không khí nghi ngờ lơ lửng
trên đầu các văn nghệ sĩ, mà chủ trương khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng
tạo và chấp nhận đa dạng, chấp nhận sáng tối, hoàn toàn đặt lòng tin vào lương
tri của các nhà văn, không nửa tin nửa nghi ngờ và đề phòng, để cho văn nghệ một
khoảng đất rộng rãi hơn nữa thì các nhà văn và những nghệ sĩ sáng tạo đến nay
đã đầu bạc phơ, kẻ còn người mất, họ còn để lại cho chúng ta nhiều hơn thế này.
Và không khéo những cái gì và những người mà lâu nay chúng ta kêu ca, lên
án hoặc cố tình quên đi lại là những cái, những người còn lại, còn để lại.
Sự còn lại mất đi của số phận những tác phẩm văn học cũng như
những đời văn trong độ lùi thời gian bao giờ cũng ngầm chứa đựng một sự lựa chọn
đầy huyền diệu và công bằng.
Hình như nhân dân, cái nhân dân Việt Nam đầy trầm tĩnh và kỳ
tài mà hình ảnh đã được nghệ thuật điêu khắc từ hàng trăm năm nay chạm khắc lên
khối gỗ thành bức tượng ngàn mắt ngàn tay, đến hôm nay vẫn không ngừng
sáng suốt lựa chọn giúp cho chúng ta những cái gì đích thực của nghệ thuật, giữa
những đồ giả, để bỏ vào cái gia tài văn hóa của đất nước để lại từ Đinh, Lê,
Lý, Trần. Và cũng nhân dân, cái nhân dân Việt Nam dũng cảm sau mỗi lần đánh giặc
xong lại lặng lẽ và lầm lụi làm ăn đang giơ bàn tay chai sạn vẫy chúng ta lại,
kể cho chúng ta nghe về cái nhất thời ở trong cái muôn đời, cái độc ác nằm giữa
cái nhân hậu, cái cực đoan nằm giữa tinh thần xởi lởi, cởi mở, cái nhẩy cẫng
lên lấc láo giữa cái dung dị, thái độ bình thản chịu đựng và tinh thần trách
nhiệm đầy suy nghĩ.
(4) Chu Văn An (1292-1370), tên thật là Chu An,
hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt là một nhà giáo, thầy thuốc,
đại quan thời nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, được phong tước Văn Trinh Công nên
đời sau quen gọi là Chu Văn An. Quê ông ở làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện
Thanh Đàm (Thanh Trì), nay thuộc xóm Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Là người chính trực, đã từng đỗ Thái học sinh nhưng không ra
làm quan mà mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung, bên kia sông Tô Lịch, ông có
công lớn trong việc truyền bá, giáo dục tư tưởng đạo đức Khổng giáo vào Việt
Nam. Vua Trần Minh Tông (1314 - 1329) vời ông ra làm tư nghiệp Quốc tử giám, dạy
cho Thái tử Trần Vượng, tức là vua Trần Hiến Tông tương lai. Đến đời Dụ Tông,
ông thấy quyền thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng Thất trảm sớ xin
chém 7 tên gian nịnh, nhưng vua không nghe. Ông chán nản từ quan về ở núi Phượng
Hoàng (Chí Linh, Hải Dương) dạy học, viết sách cho tới khi mất. Cuộc đời thanh
bạch và tiết tháo của ông là tấm gương sáng của thời phong kiến. Ông là một
trong số rất ít bậc hiền nho được thờ ở Văn Miếu. Sự nghiệp của ông được ghi lại
trong văn bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Câu đối thờ Chu An:
Trần vãn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc
Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong
Cuối đời Trần là thời nào, ngâm vịnh rong chơi há chẳng phải
là cái thú vui của bậc hiền giả?.
Núi Phượng vẫn còn dấu vết ở ẩn, đỉnh non vẫn mãi mãi ngưỡng
mộ phong thái của kẻ triết nhân.
27/11/2010
Đỗ Ngọc Thạch
Theo https://www.vanchuongviet.org/


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét