Thạch Lam: Cốt cách một trí thức mới
I. Thạch Lam cho in tập truyện ngắn đầu tay của mình vào năm 1937 và
qua đời vào năm 1942. Sự nghiệp sáng tác của ông như vậy chỉ kéo dài độ
khoảng 5 – 6 năm. Trong cái thời gian ngắn ngủi ấy, khối lượng chữ nghĩa
ông đã viết không thể gọi là nhiều. Tuyển tập Thạch Lam in ra
ở Hà Nội 1988 dày 332 trang, khổ 15×22. Chúng tôi dự đoán: may lắm, tất
cả những gì đứng tên Thạch Lam chỉ gấp độ hai lần cuốn tuyển tập đã in, không
thể hơn được [1]
Ấy vậy mà trong tâm trí chúng ta, cái tên Thạch Lam vẫn tạo nên
một ấn tượng sâu đậm. Trong số những lý do tạo nên hiệu quả như vậy, có
điều quan trọng này: Thạch Lam đã xây dựng được cái thế giới riêng của mình,
một thế giới bé nhỏ, hạn hẹp – thậm chí, đôi lúc chúng tôi còn muốn nói nghèo
nàn nữa – nhưng là một thế giới độc đáo không lẫn với ai. Thế giới ấy lặp
đi lặp lại từ truyện nọ sang truyện kia. Thế giới ấy có cái vẻ riêng,
những âm thanh riêng và nhất là cái nhịp điệu riêng của nó.
Chẳng hạn, hãy nói về chuyện trời đất, khi hậu. Đọc Thạch
Lam, rất ít khi người ta bắt gặp mùa hè. Cũng gần như không có ngày xuân
nữa, nếu không phải là thứ ngày xuân mưa phùn gió bấc, tức là mùa đông còn sót
lại. Bối cảnh được tả trong Tiếng chim kêu: “một đêm mưa phùn
ẩm ướt và tối tăm về cuối tháng chạp” (Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn
học,1988, tr. 48 – các số trang nhắc sau đây đều lấy từ Tuyển tập này).
Mấy câu mở đầu của Đói “Một cơn gió lọt vào làm Sinh tỉnh
giấc. Anh thấy cái hơi lạnh của mùa đông thấm qua làn chăn mỏng”
(tr. 62). Một câu ở giữa Người đầm “Lúc chớp bóng
tan, trời bắt đầu mưa bụi và gió lạnh” (tr. 99). Đây nữa, những câu mở
đầu Cuốn sách bỏ quên (tr. 117), Gió lạnh đầu mùa (tr. 90) Người
lính cũ (tr. 75), Một cơn giận(tr. 43) và khung cảnh được
khắc hoạ đầu phần hai tiểu thuyết Ngày mới (tr. 221) Một
cái gì giống như vô thức đã chi phối tác giả, khiến ông tự lặp lại mình, mà
không hay biết.
Cố nhiên, gắn liền với cái thời gian của se lạnh, của tái tê, buồn
bã ấy, là một không gian u tịch và dù ở thành thị hay nông thôn, không gian đó
thường có rất nhiều khoảng tối. “Chung quanh tôi, cái đen tối của đêm
khuya dày dằng dặc” (tr. 79) “Diên nấc lên một tiếng rồi chạy trốn vào trong
bóng tối của buổi chiều vừa xuống” (tr. 116). “Nàng cúi đầu đi mau vào
trong ngõ tối” (tr. 146). “Ngoài đường trời hãy còn mưa, mưa buồn rầu và
âm thầm trong tối” (tr. 132) “Trường qua một cái cửa hẹp. Bóng tối
bao bọc lấy chàng như một tấm màn lạnh lẽo” (tr. 221). Quả có như
Phong Lê nói, “Những khoảng tối” và sức gợi của nó thường
trở đi trở lại nhiều lần trên trang văn của Thạch Lam. (Lời giớí
thiệu, tr.15). Để xác định cái trục thời gian – không gian mà ở đó nhân
vật Thạch Lam hoạt động người ta chỉ còn có cách dùng những chữ: buồn, xám,
nhợt nhạt, và … vô vọng. Vâng, vô vọng, không lối thoát, theo cả nghĩa
đen lẫn nghĩa bóng.
Kể ra, ở một thiên truyện như Dưới bóng hoàng lan, còn
thấy có mùa hè, những tiếng reo vui, một ít ánh sáng, nó khiến cho bóng tối thì
dịu dàng mà không buốt lạnh. Nhưng đặt vào toàn bộ sáng tác của Thạch Lam
nói chung, thì nó lại đứng riêng ra, như một trang sách sắp lạc. Đúng
hơn, cái mơ màng trong Dưới bóng hoàng lan có vẻ như không có
thực. Nó chỉ là một kỷ niệm. Chẳng qua, trước cơn xô đẩy của trường
đời (một sự xô đẩy khiến nhân vật chính là Thanh “cảm thấy mình bé quá và lại
đi xa”), người ta phải gắng tìm lấy một chỗ dựa về mặt tinh thần. Nhưng
có chắc là chỗ dựa ấy bền vững không, không ai dám nói! Thành thử bên cạnh phần
bóng tối miên man không dứt trong tác phẩm Thạch Lam, cái điểm tươi sáng mà
thiên truyện Dưới bóng hoàng lan gợi lên thật cũng chẳng khác
gì những kỷ niệm thời thanh xuân còn rơi rớt lại trong nhân vật cô hàng xén
mang tên Tâm.
Dù những ngày chợ búa có bừng lên rực rỡ và nhiều màu sắc
đến đâu, chúng cũng chỉ là một quãng thời gian ngắn ngủi. Bởi phần chính
trong cuộc đời ấy là một cái gì nhạt nhoà, âm điệu chính của cuộc đời ấy là một
cái gì mòn mỏi. Mà đó không phải là trường hợp riêng của Tâm trong Cô
hàng xén. Số phận những Mai (Trong bóng tối buổi chiều), Liên
(Một đời người), Dung (Hai lần chết), nhân vật xưng tôi
trong Người bạn cũ v.v đều thế cả. Trước Nam Cao khá
lâu, Thạch Lam đã bày ra cho thấy những kiếp sống mòn. Ông không đi vào
một trường hợp nào thật sâu, thật kỹ. Nhưng ông thấy nó ở khắp nơi.
Nó là quá khứ, là hiện tại lại cũng là tương lai. Nó là cái mẫu số chung
làm nên cuộc sống nhiều người. Đứng về mặt kết cấu mà xét, trong vẻ đa
đạng của đời sống, người ta thường bắt gặp trong tác phẩm Thạch Lam những truyện
ngắn dựa trên tình thế chung là cả cuộc đời nhân vật. Cuộc đời ấy đồng
thời là một quá trình chuyển cảnh, sự di chuyển lặng lẽ, nhưng rõ rệt; trong
cuộc đời ấy, ánh sáng cứ nhạt dần, con người cứ héo hon dần, cho đến khi chính
họ mất hút đi trong bóng tối. Riêng trong Hai đứa trẻ, thì sự
biến chuyển xảy ra chỉ trong thời gian ngắn, gói gọn trong một buổi chiều,
nhưng cái hướng biến chuyển cũng đã rất rõ. Đầu truyện còn thấy có ánh
sáng; cuối truyện, bóng tối đã quánh đặc lại. Trong bóng tối một vài biểu
hiện của sự sống có được khắc hoạ như những điểm sáng linh động (mấy người phu
ngồi hàng nước, gia đình bác xẩm và cả chuyến tàu nữa, chuyến tàu “rầm rộ đi
tới”). Nhưng rồi chúng cũng tan biến, nhường chỗ cho bóng tối càng đặm
đặc và chắc chắn hơn. Từ điểm này mà quy kết lên, có thể bảo Thạch Lam là
nhà văn bi quan bậc nhất trong giai đoạn văn học trước 1945. Nhiều lần,
trong các thiên truyện, nhân vật của ông biết rằng lẽ ra họ phải kêu to lên,
đứng thẳng lên phản kháng, song họ lại “lờ mờ cảm thấy… không đủ can đảm..
không đủ quả quyết với chính mình” (tr. 73). Đức hy sinh, thói quen
nhẫn nại cam chịu có làm cho các nhân vật này có phần cao quý hơn (chúng tôi sẽ
trở lại điều này ở một đoạn sau) nhưng mặt khác cũng làm cho họ bé nhỏ
đi. Trong các nhân vật không có cái xu thế chống trả quyết liệt
lại hoàn cảnhmà người ta coi là một đặc điểm phải có của nhân vật tiểu
thuyết ( có lẽ vì thế mà tiểu thuyết Thạch Lam hay bị chê là đọc kém hấp dẫn?)
Nhưng nên nhớ rằng sự chọn lựa của các nhà văn không bao giờ chỉ là việc riêng
của các nhà văn đó mà chắc chắn còn biểu hiện sự chọn lựa nào đó của cộng đồng,
của xã hội. Trong lúc chưa giải thích được đầy đủ ý nghĩa cái nhìn bi
quan của tác giả Cô hàng xén, chúng ta hãy ghi nhận nhà văn đã lựa
chọn, đã có cách nhìn riêng và đã trung thành với chính mình. Cùng với
lối sắp đặt không gian thời gian đã nói, lối miêu tả con người như thế này là
đặc trưng cho văn xuôi Thạch Lam, nó cũng là một phương diện làm nên thi pháp
Thạch Lam, nếu như chúng ta muốn đi tìm cái thi pháp đó.
II. Để hiểu rõ thêm hình ảnh con người được miêu tả trong văn Thạch
Lam nói chung có một điểm phải dừng lại kỹ hơn: hình ảnh của tác giả với tất cả
những biến điệu của hình ảnh ấy qua các tác phẩm.
Trong công việc này, người nghiên cứu Thạch Lam có một may mắn:
Văn xuôi Thạch Lam là một thứ văn xuôi giàu chất tiểu sử.
Trong cuốn Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường in ở
Sài Gòn trước 1975, bà Nguyễn Thị Thế, người chị kề với Thạch Lam kể rằng: Về
quê ngoại ở Cẩm Giàng, gia đình xin được một khoảnh đất ngay phố huyện, đằng
sau nhà là đường xe hoả. Gia đình vắng, hai chị em chỉ mong có chuyến tàu
sau nhà là chạy ra xem.
Nhà ở giữa một xóm chợ toàn người Hà Nam- Phủ
Lý. Các gia đình đó, người làm nghề kéo xe làm mướn, như nhà bác Đối,
người đánh cá, vớt tép như nhà mẹ Lê. Vẫn lời bà Thế kể: Bà tôi dù trong
nhà còn ít gạo mà thấy chị Lê đem rá sang, thưa cụ bố cháu mấy hôm nay ốm không
đi làm được, các cháu đói từ sáng đến giờ chưa có gạo thổi cơm, là bà tôi còn
bao nhiêu gạo đem cho hết. Rồi nhà lại chuyển từ Cẩm Giàng xuống Tân Đệ,
ở Tân Đệ một năm mới lên Hàng Bún. Đối chiếu giữa lời kể đó với các chi
tiết trong truyện ngắn Thạch Lam, thấy mọi chuyện gần như hoàn toàn trùng
khít. Thạch Lam đã chỉ viết những gì mà bản thân ông từng sống.
Nhưng đấy vẫn chưa phải là điều quan trọng nhất.
Chất tiểu sử trong văn xuôi Thạch Lam, bộc lộ ra trước tiên là ở
nhân vật.
Thế giới trong Thạch Lam sở dĩ hằn lên rõ rệt, trước tiên vì ở đó
hiện lên hình ảnh một con người thống nhất. Dù viết chuyện chính mình
trải qua hay nghe người khác kể lại,[2] tác phẩm vẫn trở thành một thứ
chân dung tự hoạ của nhà văn, bất kể ông muốn hay không.
“Trước ngọn gió đầu mùa, tôi không khỏi ngăn được những
cảm giác sâu xa và mới lạ. Tôi đem tâm nghĩ ngợi đến những
cơn gió đột khởi của lòng người, báo trước những sự thay đổi trong
cái bí mật của tâm hồn” (V.T.N. gạch dưới). Trong lời nói đầu
viết cho Gió đầu mùa, Thạch Lam hé ra cho thấy con người nhà văn
trong ông như vậy. Và đó cũng là hình ảnh của ông mà người đọc tiếp nhận
được qua tác phẩm. Ông thích yên lặng, thích đằm mình trong những suy
tưởng riêng tư. Bởi đời sống, với ông, là một cái gì thiêng liêng, nên
chỉ cách sống của ông là cách sống của một người rất kỹ tính. Chẳng những
mọi suồng sã trong tình cảm, mọi xô bồ hỗn tạp trong giao tiếp xa lạ với ông,
mà cả những lối sống, lối nghĩ hời hợt, nhợt nhạt, theo ông đều là không thể
chấp nhận được. Trong quan hệ với mọi người, ông có những nguyên tắc chặt
chẽ: không ai có thể hiểu hết người khác. Mọi lời nói ra đều bao hàm
những điều chưa nói hết. Cuộc sống mãi mãi còn những bí mật. Nhưng
sự quan tâm tới mọi người, tình thương với đồng loại, cả những phút se lòng
trước đau khổ của những kiếp sống chung quanh chỉ là điều bắt buộc, thiếu nó,
người ta không còn là người ta nữa. Trong chừng mực nào đó, hình ảnh con
người Thạch Lam hiện lên qua tác phẩm có những nét tương đồng với con người
Tchékhov mà các nhà văn học sử đã mô tả.
“Ý nhị nhưng buồn rầu, tốt bụng nhưng lạnh lùng, vị kỷ nhưng nhạy
cảm với nỗi đau khổ của con người, Tchékhov cống hiến đời mình cho văn học và y
học, làm say mê lòng người nhưng lòng mình lại buồn chán.”
Sự buồn chán nói ở đây (và rộng hơn một phần cái nhìn bi quan nói
ở trên) thật ra là đồng nghĩa với sự lương thiện. Chỉ có những người hết
lòng với cuộc sống mới cảm thấy hết ý nghĩa buồn chán của nó.
Vả chăng, trong Thạch Lam cũng như trong các nhân vật của ông, sự
buồn chán không hề dẫn tới thái độ buông xuôi, hoặc lối sống lưu manh tuỳ
tiện. Khi là một người thợ, khi khác một công chức, một cô hàng xén thậm
chí một cô gái trông hàng cho mẹ, song các nhân vật của Thạch Lam có chỗ giống
nhau: họ đều là những người tận tuỵ với nghĩa vụ làm người của mình, ở họ, có
sự lương thiện, sự trong sạch, dấu hiệu của một đời sống nội tâm ổn định.
Trong khi có vẻ như là chịu đựng, thậm chí như là đầu hàng, người ta lại thấy
toát lên ở cái nhân vật ấy một khí phách cứng cỏi: họ vẫn là mình; không hoàn
cảnh nào bẻ gãy nổi họ.
Hợp cả lại, bấy nhiêu sự tận tuỵ, sự trong sạch, sự cứng cỏi làm
cho nhân vật của Thạch Lam có một nét chung này: sự cao quý.
Từ các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, qua các tiểu thuyết của Vũ
Trọng Phụng, chúng ta biết rằng trong xã hội Việt Nam trước 1945, có một loạt
tính cách rất phổ biến là tính cách lưu manh. Với những kẻ lưu manh ấy,
cuộc sống mất hết vẻ thiêng liêng mà nó phải có. Khi đã lưu manh hoá, con
người ta không thấy có sự ràng buộc nào hết. Luật pháp họ cũng coi
thường. Kỷ cương, đạo đức với họ càng vô nghĩa. Họ chỉ biết có
lợi. Vì chút lợi nhỏ các nhân vật trong những Tôi xin hết lòng,
Răng con chó của nhà tư sản, Một tin buồn, Đồng hào có ma v.v dám làm
bất cứ việc khốn nạn nào. Vì những món lợi lớn hơn, Nghị Hách sẵn sàng
nhúng tay vào những việc kinh thiên động địa, bất chấp cả lễ nghĩa và liêm
sỉ. Đám lưu manh ấy chen nhau xô đẩy nhau mà sống, rút ruột nhau, phỉ
báng nhau, hành hạ nhau. Và qua cách miêu tả của Nguyễn Công Hoan và Vũ
Trọng Phụng họ ngày càng đông đảo hơn và trở nên đểu giả hơn. Các nhân
vật của Thạch Lam thuộc vào một thế giới hoàn toàn khác. Trong khi những
bác sĩ, kỹ sư, bà phán, ông Nghị, ông dân biểu ở Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng
cũng cư xử như một lũ vô học đích thực, thì ở Thạch Lam, đến mấy cô điếm cũng
có cốt cách sang trọng của người được giáo dục cẩn thận từ nhỏ.
Trong Tối Ba mươi, ngay ở chốn lầu xanh bẩn thỉu, hai nhân vật Liên
và Huệ vẫn cúng tất niên một cách thành kính, như bất cứ một ông đồ có học
nào. Mặc dù phải làm một cái nghề khốn nạn, nó cho phép người ta nguyền
rủa cả loài người, song Huệ cũng như Liên vẫn rất gần gũi với những Tâm (Cô
hàng xén), Mai (Trong bóng tổi buổi chiều), và nhiều nhân vật phụ nữ
khác trong Thạch Lam. Thậm chí họ hơi cổ nữa. Song đạo đức mà họ
noi theo ở đây rõ ràng là một thứ đạo đức truyền thống đã bắt rễ sâu vào cuộc
sống của những người dân thường trên mọi miền của xứ sở. Không phải ngẫu
nhiên, năm 1940, khi Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân vừa
in, Thạch Lam nhận ra ở đó sự gần gũi về mặt đạo đức. Trên báo Ngày
nay, số ra 15-6-1940, ông khen ngợi Vang bóng một thời nói
chung, đặc biệt Ngôi mả cũ nói riêng (“truyện ngắn hay nhất
của toàn tập”) do chỗ nó gợi chúng ta cái hương vị cũ kỹ và nhẫn nại của sự hy
sinh. Dường như đó cũng là lúc Thạch Lam nhận ra ở Nguyễn Tuân một người
cùng chí hướng cùng quan niệm: đi tìm chỗ dựa cho con người ở những giá trị đã
ổn định trong quá khứ.
Chính định hướng về nguồn ấy đã là một nét làm nên cốt cách trí
thức của ngòi bút Thạch Lam, một yếu tố căn bản tạo nên sự độc đáo của Thạch
Lam trong nền văn học 1930-1945
III. Cùng với các truyện ngắn, các tiểu luận của Thạch Lam cũng được
viết ra một cách tâm huyết, ở đây, lại hiện rõ cái hình ảnh con người tác giả
mà trên đây chúng ta đã thấy.
Chẳng hạn, khi tác giả nói tới hướng tìm tòi lẽ ra nên có ở mỗi
người cầm bút chân chính:
“Công việc của nhà văn là phát biểu cái đẹp chính ở chỗ mà không
ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, cho người khác một bài
học trông nhìn và thưởng thức”. (tr. 294)
Lại chẳng hạn như khi tác giả dựng nên chân dung loại bạn đọc lý
tưởng mà thời nào cũng hiếm.
“… Họ không cần chú ý đến cách xếp đặt và bố trí câu chuyện
trong tiểu thuyết. Họ cần gì vai chính này về sau có lấy hay không cô
thiếu nữ xinh đẹp kia? Họ cốt chú ý đến cách diễn đạt tâm lý của tác giả, có
đúng hay không đúng, hời hợt hay sâu sắc. Vì vậy, họ dửng dưng với cái
tốt, xấu của người trong truyện: cái tâm lý của một bậc thánh hiền”
(tr. 293)
Hoá ra ở Thạch Lam không chỉ có sự rung động đến cực điểm, sự tinh
tế, sự ý nhị, như người ta vẫn nói. Ở ông còn có sự dũng cảm
nữa. Dũng cảm vượt lên những gì bình thường. Dũng cảm trong những
tìm tòi đơn độc mà chưa chắc lúc đầu, đám đông chung quanh đã thông cảm.
Theo một quan niệm dung tục nào đó đã thành lối mòn trong ý nghĩ,
nói đến trí thức là người ta nói tới bệnh xa quần chúng, cũng là thói dao
động. Với Thạch Lam, chữ trí thức có một nghĩa khác. Trí thức là
những người có sứ mệnh đi tìm sự thật. Trong khi có vẻ tách xa nhân dân,
đi trước nhân dân, thực ra họ lại hết lòng vì nhân dân. Phải nói chính
trí thức là lương tâm của nhân dân nữa, như cách hiểu của Tchékhov.
Mặc dù là một thành viên chủ chốt của Tư Lực Văn Đoàn, và là em
ruột của Nhất Linh, Hoàng Đạo, nhưng, đúng như các nhà văn học sử lâu nay đã
lưu ý, Thạch Lam vẫn có cách tồn tại của một nhà văn độc lập. Chỗ khác
giữa ông với các tác giả Đoạn tuyệt, Con đường sáng không phải
chỉ ở trong thái độ đối với các vấn đề của đời sống bấy giờ, mà còn là ở cách
hiểu về vai trò của người trí thức nói chung trong xã hội. Tuy ông không
trực tiếp nói ra, song gọi bằng ngôn ngữ ngày nay, có thể bảo ông xa lạ với mọi
lối dấn thân nhẹ dạ, theo kiểu bầy đàn. Giá không qua đời từ năm 1942,
chắc ông cũng không nhảy ra làm chính trị như mấy người anh ông đã làm, trong
buổi chợ chiều của nhóm Tư Lực. Bản tính mạnh mẽ của ông không cho phép
ông sa đà như vậy. Ởđây, có thể có những lý do thuộc về lịch
sử. Thời gian mà Thạch Lam lớn lên, như các nhà sử học thường lưu ý, là
thời gian người trí thức Việt Nam vừa qua cơn khủng hoảng. (Vụ Việt Nam
Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học). Mặc dù không chịu ảnh hưởng của các
sự kiện đó một cách trực tiếp, song một người nhạy cảm như Thạch Lam, đã sống
qua cơn khủng hoảng đó một cách đầy đủ. Chính các tác phẩm của Thạch Lam
mách bảo với chúng ta điều đó. Thiên truyện Người lính cũ có
nét gì như là một thứ cảm đồ của Nhớ rừng (Thế Lữ): nỗi tiếc
thương về một thời tốt đẹp đã qua và không bao giờ trở lại nữa. Nếu
ở Người bạn cũ sự bất lực của người trí thức ham hố dấn thân
hôm qua được trình bày với tất cả sự trơ tráo bẽ bàng của nó (nhân vật xưng tôi
xa lánh cuộc đấu tranh, từ chối không dám giúp cả người nữ đồng chí cũ), thì
đến Tiếng chim kêu (câu chuyện một tối mùa đông, hai anh em
nằm trùm kín chăn, không còn hiểu sự đời là gì), sự bất lực ấy hiện ra kín đáo
hơn nhưng lại sâu sắc hơn: nó đã vào tận trong tiềm thức con người. Hình
như cái nhìn bi quan của Thạch Lam về cuộc đời là có một lý do cụ thể như
vậy. Nhưng cũng có thể thấy thái độ đơn độc của Thạch Lam thật ra có lý
do sâu xa hơn, nhất là khi ta liên hệ nó với cách ứng xử của người trí thức
trong những xã hội tương tự như xã hội ta trước 1945. Thời Thạch Lam sống
chưa có chủ nghĩa hiện sinh. Nhưng chắc chắn là Thạch Lam có biết
A. Gide và đã chịu nhiều ảnh hưởng của nhà văn này với một quan niệm tự do
đến mức gần như tuyệt đối mà A. Gide thể nghiệm.[3] Dĩ nhiên, đến
Thạch Lam quan niệm ấy được dấu kín đi và trở nên mềm mại hơn, nhưng đúng là
vẫn có nó, nó âm thầm sống trong tâm trí ông, có thể có lúc nó làm cho bản thân
ông chán chường mệt mỏi khó tìm được người thông cảm, nhưng nó lại làm cho
Thạch Lam mãi mãi độc đáo, không giống ai hết. Đặt trong hoàn cảnh cụ thể
(việc ông có chân trong Tự Lực Văn Đoàn và có hai người anh là Nhất Linh và
Hoàng Đạo) phải nói là quan niệm tự do trên đã cứu Thạch Lam, làm cho ông không
vướng vào mọi chuyện phiền nhiễu mà đến thẳng với sự tiếp nhận của hậu thế.
Có một phương diện rất quan trọng, người ta thường đặc biệt lưu ý
mỗi khi xem xét các trí thức, đó là thái độ của họ với nhân dân.
“Đọc Nhà mẹ Lê, có lúc lầm tưởng như Thạch Lam có đi theo một đội
phát động nào.” – Một lời khen vậy của Nguyễn Tuân đã nói hộ Thạch Lam khá
nhiều. Tuy nhiên, đấy chưa phải là chỗ mạnh riêng của Thạch Lam.
Trừ những kẻ bất lương, còn đa số các văn nghệ sĩ Việt Nam sống gần nhân dân và
thường xót xa mỗi khi nghĩ đến nỗi khổ của nhân dân. So với họ, Thạch Lam
chỉ có một chỗ khác: ông không trừu tượng hoá nhân dân để rồi lý tưởng hoá họ
và có khi sa vào chỗ lừa mị họ nhằm mưu lợi. Con người đơn độc trong
Thạch Lam chống lại lối hùa theo đám đông một cách vô trách nhiệm. Ông
muốn tác động vào nhân dân bằng cái cách riêng của người trí thức. Đằng
sau những trang viết khách quan, lặng lẽ của Thạch Lam thấm đượm một lời kêu
gọi tha thiết, nó cũng là cái điều mà các trí thức lớn ở nhiều nước vẫn thường
tự nhắc nhở: sứ mạng của trí thức là góp phần vào việc giải phóng nhân dân.
Cũng trong văn học 30-45, có một nhà văn cũng viết nhiều về trí
thức, là Nam Cao, nhưng quả là tâm thế của người trí thức ở Nam Cao và Thạch
Lam hoan toàn khác nhau. ở các nhân vật của Nam Cao, thường có một nét
chung, là họ quá nhiều thèm muốn, luôn luôn trong họ có những ước ao nho nhỏ,
ước ao chính đáng mà không sao thực hiện nổi, cho nên cũng không sao dập tắt
nổi – ước ao từ miếng cơm, manh áo, điều kiện tối thiểu để làm việc cho đến
những phút thanh thản bên ánh trăng mơ màng, những người đàn bà nhàn hạ, ngồi
ghế xích-đu, và cả… sự nổi tiếng trên văn đàn nữa. Phải tự đấu
tranh rất căng thẳng thì những Điền, Hộ, Thứ… đó mới khẳng định được với
chính mình rằng nhân dân nói chung, những người chung quanh nói riêng là rất
tốt đẹp, và nhà văn phải có sứ mệnh viết về những sự tốt đẹp đó, còn mọi chuyện
khác chỉ là phù phiếm. Những phút tự đấu tranh nội tâm căng thẳng như thế
không thấy ở các nhân vật trí thức của Thạch Lam. Hình như ở họ không có
gì phải thèm muốn. Những điều mà người trí thức ở Nam Cao ao ước thì họ
đã có rồi, những điều mà những Điền, Hộ, Thứ… cố sức tự thuyết phục họ,
là chuyện đương nhiên. Phía trước các nhân vật của Thạch Lam có cái đích
khác: làm sao để hoàn thiện mình, từ đó, bằng cách đó, ảnh hưởng tới mọi người:
Sở dĩ ở đấy phải dùng chữ tự hoàn thiện của Tolstoy vĩ đại, vì
quả là với các nhân vật của Thạch Lam, vấn đề đó dã lờ mờ được đặt ra (các
truyện ngắn Một cơn giận, Sợi tóc và tiểu thuyết Ngày
mới). Cố nhiên sự liên tưởng nên dừng lại ở chỗ đó. Là con em
của dân tộc này, các nhân vật trí thức ở Thạch Lam vẫn nằm gọn trong khuôn khổ
đời sống tinh thần của người Việt Nam nói chung. Trong ông không có đất
cho những suy nghĩ siêu hình. Thường ông chỉ mới thiết tha chống lại mọi
sự giả dối và cố gắng tìm đến sự thật mà chưa bao giờ đặt vấn đề về niềm
tin, chân lý, như trí thức Nga chẳng hạn. Nhưng đối với sự thật thì
Thạch Lam có thái độ triệt để đến cùng. Con người tha thiết với điều
thiện, cái đẹp đó cũng là con người biết căm giận với mọi biểu hiện sống xấu xa
bỉ ổi (một lối căm giận đến khinh bỉ không buồn nói như trong truyện ngắn Trở
về mà nhà văn Khái Hưng trong lời tựa cho Gió đầu mùa đã
tỏ ý khâm phục). Và con người từng lặng lẽ tìm đến những giá trị chân
chính trong truyền thống dân tộc đó lại là người dám nhận xét về người mình,
nước mình một cách thẳng thắn. Không biết bao nhiêu lần, trong Hà
Nội ba mươi sáu phố phường, nhân bàn về chuyện ăn uống, Thạch Lam nói rõ ra
rằng người mình thường ham rẻ, nhẹ dạ, chỉ đủ sức săn tìm những thành công vặt
và rất dễ bị lừa gạt. Rộng hơn câu chuyện ăn uống, nhiều phen ông còn đi
tới những nhận xét khái quát hơn:
“Nhưng phong trào ở nước ta, bất cứ phong trào gì, đều có
một tính chung: là nông nổi, chỉ hời hợt bề ngoài. Cái mà
chúng ta thiếu nhất là sâu sắc. Bởi ta không chịu phân tích và suy xét
kỹ, nên bất cứ vấn đề gì chúng ta cũng không biết được rõ ràng và chu đáo, biết
một cách thấu suốt. (tr.284).
“Chúng ta có cái đời sống bên trong rất nghèo nàn và rất bạc
nhược. Những tính tình phong phú, dồi dào hay mãnh liệt, chúng ta ít
có. Chẳng dám yêu cái gì tha thiết mà cũng chẳng dám ghét cái gì tha
thiết, lòng yêu ghét của chúng ta nhạt nhẽo lắm. Chúng ta đổi lòng tín
ngưỡng sâu xa ra một tín ngưỡng thiển cận và nông nổi, giữ cái vươn cao về đạo
giáo của tâm hồn xuống mực thước săn sóc nhỏ bé về ấm no”. (tr.
297)
Ngày nay, chắc không mấy ai còn nghĩ đó là những câu nói hàm
hồ. Ngày nay chắc nhiều người đều hiểu: đó là những gợi ý để xã hội cùng
tự phê phán, tự thức tỉnh – một điều mà dân tộc nào cũng phải làm, trước khi
bước vào lịch sử hiện đại.
Phải có lòng yêu mến cái xứ sở này lắm, lại phải rất thành tâm tin
tưởng ở cái sứ mệnh của trí thức của mình thì một nhà văn mới dũng cảm viết ra
những câu đầy trách nhiệm như thế.
Đã in Tạp chí văn học 1990, số 5
[1] Ngoài các bài báo ngắn, các bản dịch, Thạch Lam còn có phóng sự
nhiều kỳ Một tháng ở nhà thương, tất cả đều in ở Ngày nay.
[2] Cốt truyện Người đầm, theo Nguyễn Tuân, do hoạ
sĩ Nguyễn Gia Trí kể. Còn Dưới bóng hoàng lan được viết
theo lời kể của Thế Lữ. Chính Thế Lữ tiết lộ điều này trong bài viết khi
Thạch Lam vừa mất và in trên Thanh Nghị.
[3] Nhớ lại vụ ồn ào chung quanh Đi Liên Xô về.
Lúc đó, A. Gide rất đơn độc. Nhưng ông cứ viết theo điều ông tin tưởng
. Phải nửa thế kỷ sau, bạn đọc nhiều nước mới hiểu là những nhận xét của
Gide có tính cách tiên tri.
Vương Trí Nhàn
Nguồn: Vương Trí Nhàn. Nhà văn tiền chiến và quá trình
hiện đại hoá trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới 1945, Nhà
xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội – 2005.







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét