Âm nhạc, theo sự hiểu của
đại đa số quần chúng Việt nam hiện nay, chỉ có nghĩa là ca khúc. Và nhạc sỹ,
cũng là những người viết ca khúc. Người chỉ viết khí nhạc mà không viết ca khúc
thì ở ta cũng chả ai biết là nhạc sĩ, nghệ sĩ biểu diễn nhạc đàn dù tài giỏi
như Đặng Thái Sơn cũng không thể có những fan hâm mộ khắp đất nước như các
“Sao” hát ca khúc quần chúng, ca khúc thị trường. Ngày nay, nghe nhạc gần như
đồng nghĩa với nghe ca khúc.
Vậy người xưa, nhất là các
bậc tài tử văn nhân (tương tự như tầng lớp tri thức ngày nay) khi nghe nhạc, họ
nghe nhạc đàn, hay nghe hát nhiều hơn? để trả lời câu hỏi này tôi muốn chia sẻ
với các bạn một vài suy nghĩ về ‘Thú thưởng thức nhạc đàn của người xưa qua
Truyện Kiều” Tác phẩm văn học cổ điển đỉnh cao của Việt nam. Ôn cố, tri tân.
Âm nhạc có vị trí đặc biệt
nổi bật trong truyện Kiều của Nguyễn Du, (trong Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài
Nhân, tài làm thơ của Kiều được nhấn mạnh hơn tài nhạc của nàng) nàng Kiều đa
tài, đủ cả Cầm, Kỳ, Thi, Hoạ, Nhưng nổi bật nhất vẫn là tài đàn (“Rằng
nghe nổi tiếng cầm đài”). Cái tài này như một thứ định mệnh, gắn chặt vào mỗi
bước thăng trầm của cuộc đời nàng, đến nỗi Kiều còn tự nhủ rằng tiếng đàn là
nguyên nhân của sự đoạn trường của mình:
“Nàng rằng vì chút nghề
chơi
Đoạn trường tiếng ấy hại
người bấy lâu”.
Nguyễn Du (1766–1820)
Ai đã đọc truyện Kiều, đều
thấy rằng: âm nhạc trong truyện Kiều, nghĩa là nhạc đàn, là khí nhạc. Vậy sao
lại là khí nhạc chứ không phải là thanh nhạc (hát). Và thanh nhạc và khí nhạc
khác nhau ở chỗ nào? Và người Á Đông xưa nay đã biết thưởng thức khí nhạc rồi
hay sao?
Thanh nhạc là nhạc hát bằng
giọng người, nếu ta coi giọng người như một “nhạc cụ” đặc biệt thì ta thấy rõ
những giới hạn thể hiện của nó về âm vực, về tốc độ diễn tấu, giới hạn về âm
sắc. Người ta thường nói: khi lời nói bất lực thì âm nhạc vang lên, điểm cuối
cùng của lời nói, là điểm bắt đầu của âm nhạc (tất nhiên âm nhạc ở đây là khí
nhạc). Vậy mà thanh nhạc lại thường lệ thuộc vào lời ca, vào văn học. Chính vì
sự giới hạn này. Các nhạc cụ được ra đời để tiếp tục phát triển vượt biên cái mà
giọng hát con người không thể làm được, và người ta đã sáng tạo ra nhạc đàn
(khí nhạc).
Ngay trong nghệ thuật thanh
nhạc cũng có nhiều thể loại chuyên nghiệp khó viết, khó diễn, khó thưởng thức
nếu không có kiến thức tương đối về âm nhạc như Opera, Hợp xướng, A cappella,
Thanh xướng kịch vv… Trong bài viết này, chủ yếu tôi nói tới thể loại đơn giản,
phổ cập nhất của thanh nhạc hiện nay ở Việt Nam là ca khúc quần chúng (có người
gọi là Ca khúc phổ thông), là sự kết hợp của ngôn từ và giai điệu nhạc. Nếu tách
riêng phần lời ca, thì nó chỉ là Ca từ, chứ chưa thể là thơ (có những bài thơ
được phổ nhạc, thì thường bài thơ đã bị người phổ thêm thắt sửa chữa, cắt cúp
cho nó đến lúc không còn là thơ “xịn” nữa, để cho phù hợp với câu nhạc). Còn
nếu tách riêng phần giai điệu, thì nó cũng đơn giản, chưa được gọi là nhạc
thuần tuý, tấu lên không diễn tả được gì nhiều, và ta vẫn thường gọi là
nhạc bỏ lời. Chưa kể việc hầu hết nhạc sĩ của ta chỉ viết có mỗi dòng giai
điệu, không có khả năng viết phần đệm, dù là đơn giản, cho chính ca khúc của
mình. Đó là bằng chứng sự thiếu chuyên nghiệp của âm nhạc Việt Nam hiện nay.
Tóm lại, ca khúc quần chúng
là thể loại nghệ thuật: thơ chưa hẳn là thơ mà nhạc cũng chưa hẳn là nhạc (Á
thơ, Á nhạc). Nhưng vì dễ viết, dễ diễn, dễ hiểu, dễ tuyên truyền, nên sáng tác
và hát ca khúc là điều hết sức phổ biến, nhất là ở Việt Nam hiện nay.
Lý giải về việc đông đảo
công chúng VN chỉ biết thưởng thức Ca khúc quần chúng, một nhà nghiên cứu âm
nhạc viết: “So với nền văn chương Việt Nam, phẩm chất của nền âm nhạc Việt Nam
rất thấp. Lý do hiển nhiên là vì từ người viết văn đến độc giả, không nhiều thì
ít, ai cũng được học văn chương từ bậc tiểu học trở lên, cho nên chúng ta có
những người viết và người đọc có trình độ. Còn phần giáo dục âm nhạc thì quả là
một sa mạc khủng khiếp. Muốn thưởng thức thơ thì ít nhất phải biết đọc chữ,
muốn thưởng thức nhạc thì ít nhất phải biết đọc nhạc. Nếu người không biết đọc
chữ, chỉ có thể thưởng thức bằng cách nghe thơ vè bình dân, thì người không
biết đọc nhạc cũng chỉ có thể nghe ca khúc phổ thông là cùng”(trích bài “Nhìn
lại nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20”- Hoàng Ngọc Tuấn).
Vậy cái thú thưởng thức khí
nhạc nay đã bị thu hẹp dần dần ở Việt Nam, kể cả trong tầng lớp tri thức, là
một bước tiến hay là một bước lùi dài của thẩm mỹ âm nhạc?
Ngưòi Á Đông xưa cho rằng,
chơi đàn, nghe đàn (Cầm), là thú vui đệ nhất trong bốn thú vui của các tài tử
văn nhân. Cổ ngữ có câu: “Cầm, kỳ, thi, hoạ” chứ không phải là “Ca, kỳ, thi,
hoạ”. Tức là nghe đàn, chứ không phải là nghe hát.
Để hiểu thêm âm nhạc trong
truyện Kiều, chúng ta thử tìm hiểu xem Kiều chơi đàn gì? để xác định điều này,
hàng trăm năm nay, người Việt Nam ta đã tốn bao nhiêu giấy mực.
Thuý Kiều (Minh hoạ Vũ
Huyên)
Trong nguyên tác của Thanh
Tâm Tài Nhân (theo bản dịch Kim Vân Kiều của Tô Nam - Nguyễn Đình Diệm. NXB Hải
Phòng 1999) thì Kiều chỉ chơi duy nhất một loại đàn, đó là Hồ cầm.
Câu thơ đầu tiên nói về tài
đàn của Thuý Kiều, Nguyễn Du viết: “Nghề riêng ăn đứt Hồ Cầm một chương”.
Vậy thì tại sao sau đó
Nguyễn Du lại có hai câu thơ: “Hiên sau treo sẵn Cầm Trăng” và “Ép cung
Cầm Nguyệt, thử bài quạt thơ”). Liệu có phải Kiều của Nguyễn Du chơi 2 thứ đàn
là: Hồ cầm và Cầm Nguyệt không? Hay 2 thứ đàn đó chỉ là một loại đàn có
nhiều tên gọi khác nhau ?
Theo tôi, đây đơn giản là
một nhầm lẫn của Nguyễn Du. Vì chỉ trừ có Thượng Đế, còn con người ta ai cũng
có thể có chút nhầm lẫn, dù cho người đó là một thiên tài. Tuy vậy theo tôi đây
là một nhầm lẫn đáng yêu vì nó đã tạo ra vấn đề cho các nhà lí luận có cái cớ
để mà tranh luận, mà suy luận, mà khẳng định, mà bác bỏ lẫn nhau vv…
Tuy vậy ta có thể khẳng
định: Kiều chơi một loại đàn có 4 dây, thuộc loại nhạc cụ gẩy trực tiếp bằng
đầu ngón tay “So dần dây Vũ dây Văn/ bốn dây to nhỏ theo vần Cung Thương” “Bốn
dây như khóc như than”. “Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay”. Chữ “bốn dây” được
khẳng định 3 lần trong Truyện Kiều.
Trong Truyện Kiều, có 4 lần
Kiều chơi đàn tất cả, ngoài ra còn 4 lần khác thì Nguyễn Du chỉ nói qua.
Đầu tiên là do Kim Trọng
yêu cầu:
“Rằng nghe nổi tiếng cầm
đài
Nước non luống những lắng
tai Chung, Kỳ”.
Thuý Kiều – Kim Trọng
Lần hai cho Hoạn Thư và
Thúc Sinh:
“Rằng Hoa nô đủ mọi tài,
Bản đàn thử dạo một bài
chàng nghe”
Lần thứ ba đàn cho Hồ
Tôn Hiến, đây là đoạn Kiều chơi đàn xúc động nhất, người chơi đàn đến “nhỏ máu
năm đầu ngón tay” còn người nghe đàn thì rơi lệ:
“Lọt tai Hồ cũng nhăn mày
rơi châu
Hỏi rằng: này khúc ở đâu?
Nghe ra muôn oán nghìn sầu
lắm thay”
Hồ Tôn Hiến tuy chỉ là một
quan võ, vậy mà cũng rất hiểu nhạc đàn, đến nỗi mê luôn cả nàng Kiều:
“Nghe càng đắm, ngắm càng
say
Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì
tình”
Và cuối cùng lại là Kim
Trọng yêu cầu nàng chơi đàn trong đêm tái hợp:
“Thong dong lại hỏi ngón
đàn ngày xưa”
Ta để ý: Tất cả các lần
chơi đàn của Kiều đều do người khác yêu cầu. Không thấy câu thơ nào nhắc đến
Kiều chơi đàn một mình, kể cả những lúc buồn nhất. Tóm lại, người chơi đàn chỉ
chơi khi có kẻ “tri âm” (hiểu âm nhạc)
Những kẻ Tri âm tiếng đàn
của Kiều đó là:
Kim Trọng nghe đàn
đầy cảm xúc:
“Khi tựa gối khi cúi đầu
Khi vò chín khúc khi chau
đôi mày”
Cho tới Hoạn Thư, Thúc
Sinh:
“Cùng trong một tiếng tơ
đồng
Người ngoài cười nụ, người
trong khóc thầm”
Và Hồ Tôn Hiến thì khóc như
đã nói ở trên. Còn vì sao Kiều không một lần chơi đàn cho Từ Hải? Đơn giản Từ
Hải chỉ là một anh võ biền, không có nhu cầu nghe đàn, vì vậy Từ Hải cũng không
hề quan tâm hay yêu cầu nàng Kiều chơi đàn.
Qua Truyện Kiều, ta thấy
người xưa đã trân trọng nhạc đàn, biết nghe, hiểu sâu sắc âm nhạc như thế nào.
Điển tích Bá Nha – Chung tử Kỳ có thể nói là một điển tích độc nhất vô nhị về
sự chơi (khí) nhạc và nghe (khí) nhạc của người Á Đông xưa.
Qua thơ của Nguyễn Du,
trong Truyện Kiều và bài thơ chữ Hán “Long Thành Cầm giả ca” của ông, ta thấy
chỉ có khí nhạc mới có thể diễn tả được: “Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa” và cảnh ”…Hán Sở chiến trường, nghe ra tiếng
sắt tiếng vàng chen nhau”. Và chỉ có khí nhạc mới có thể có những giai điệu“
Muôn oán nghìn sầu” khiến người nghe “Tan nát lòng”.
Ca khúc (nhất là ca khúc
quần chúng) với cấu trúc đơn sơ vài ba chục nốt nhạc, với sự bó buộc của lời
ca, và sự hạn chế diễn tấu, làm sao diễn tả nổi những tình cảm bao la như thế,
vẽ nên những bức tranh âm thanh đa tầng phức hợp như thế.
Phải chăng Văn hoá, đạo
đức, phong tục và thẩm mỹ của người Việt Nam hôm nay đã suy thoái và thụt lùi
với chính cha ông chúng ta? Tôi muốn nói tới cái tinh thần của văn hoá cũng như
nhiều thú chơi tao nhã cao siêu của người xưa.
Khí nhạc ngày nay đã được
mở rộng và vô cùng phong phú với di sản âm nhạc của toàn thế giới. Đặc biệt là
của dòng nhạc chuyên nghiệp châu Âu với tên tuổi các thiên tài đã trở thành tài
sản chung của nhân loại như J.S,Bach, W.A.Mozart, L.v. Beethoven, F.Chopin,
P.Tchaikovsky… cho tới các nhạc sỹ cận đại như C.Debussy, M.Ravel, B.Bartok,
I.Stravinsky,vv… Và dòng nhạc này vẫn tiếp tục khám phá những điều mới lạ của
nghệ thuật âm nhạc.
Beethoven (1770-1827)
Cùng với những tác phẩm bất
hủ của họ là những nghệ sĩ biểu diễn lớn như Karajan, Horowitz, Oistrakh,
Rostropovich, Kissin, Barenboim…vv và cả Đặng Thái Sơn của Việt Nam nữa.
Đặng Thái Sơn
Cả một kho tàng âm nhạc trí
tuệ vô cùng phong phú và đa dạng, dễ dàng khám phá trong thời đại bùng nổ kỹ
thuật số, mà ngày xưa chỉ tầng lớp quý tộc, tri thức mới có điều kiện tiếp cận.
Hà cớ gì mà những người Việt nam chúng ta, nhất là giới trẻ được học hành và
tầng lớp Tri thức, lại không trở thành những kẻ Tri âm của nền nghệ thuật
ấy? Như L.V.Beethoven từng nói: “Âm nhạc cao hơn mọi triết lý và mọi sự
khôn ngoan”.
Vì sao Beethoven khẳng định
như vậy?
Vì cuộc sống là bao la, nó
chứa đựng tất cả các cách lý giải nó của hàng trăm thứ triết lý khác nhau. Mỗi
thứ triết lý chỉ phản ánh một phần nhỏ của cuộc sống bao la này, như thầy bói
xem voi mà thôi. Cuộc sống chứa đựng tất cả các triết lý chứ triết lý không thể
chứa đựng được cuộc sống. Và chỉ có âm nhạc (tất nhiên không bao giờ là thứ âm
nhạc của đám đông!) là bao la, là tiếng vọng của cõi bên kia nên nó cũng bao la
như cuộc sống.
Chúng ta không phản đối
nghệ thuật dành cho quần chúng số đông. Nhưng chỉ có thế thôi ư? Hãy tỉnh
táo hơn để nhìn sang các nước phát triển quanh ta: Nhật bản, Hàn quốc, Trung
quốc thì đã đành, ngay cả Thái Lan, Singapo, Malayxia… Họ cũng chỉ mới đầu tư
cho dòng nhạc trí tuệ này trên 20 năm thôi, (Việt Nam ta đến gần 60 năm!) nhưng
họ đã tiến nhanh, và đã vượt chúng ta một khoảng cách khá xa. Nhìn vào bộ mặt
của một đất nước, thì đó mới là điều để kiêu hãnh, chứ không phải là những dòng
nhạc Pop, ca khúc quần chúng, cho dù nó có phát triển nhiều đến đâu đi chăng
nữa. Dù nó có trở thành món hàng bán được bao nhiêu tiền đi chăng nữa!
"Nếu bạn cởi mở với
điều tầm thường, bạn sẽ khép kín với điều cao cả. Và nếu bạn cởi mở với những
điều cao cả thì bạn sẽ tự động khép kín với những điều tầm thường. Cho nên di
chuyển về hướng nào đó chính là lựa chọn của bạn" (Osho).
Để kết bài viết này,
tôi muốn nhắc lại điển tích nói lên sự gắn bó giữa Người sáng tạo và Người
thưởng thức, hai mặt của một vấn đề: Bá Nha đã đập đàn khi Chung Tử Kỳ - kẻ tri
âm, người thấu hiểu tiếng đàn của mình chết.
Sống ở đời, ai cũng
muốn có tri âm. Người tài lại càng khao khát hơn, dù chỉ là một kẻ tri âm…








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét