Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

Có một mùa hoa bất tử

Có một mùa hoa bất tử

Năm nào cũng vậy, vào đúng khoảnh khắc giao thừa, sau khi lặng lẽ thắp hai nén hương trên bàn viết - tôi lại ngồi bần thần nhớ tới hai người bạn, hai người đồng đội đã cùng với tôi "Xếp bút nghiên lên đường ra trận" năm ấy. Đó là Nguyễn Văn Thạc và Vũ Đình Văn. Nói đúng hơn là tôi nhớ đến những bài thơ của hai anh, những bài thơ đã được viết ra từ giữa lửa khói chiến hào, trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đấy là những năm 1971 và 1972, mỗi gia đình Việt Nam chúng ta đều là một gia đình quân nhân. Lúc thì tôi nhớ tới thơ của Vũ Đình Văn, lúc thì tôi nhớ đến thơ của Nguyễn Văn Thạc.
Cái không khí sinh viên các trường đại học nô nức khoác ba-lô "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", đã được Vũ Đình Văn hát lên bằng những câu thơ với tất cả niềm tự tin của người cầm súng có lý tưởng thật sự và biết mình chiến đấu vì ai:
Lại đi gió dọc hàng dương
Đường ra mặt trận là đường trong quê
Say sưa chuyện ấy bạn nghe
Có xa nhớ lại, có về nhớ sang
Nhắn người nặng gánh hành trang
Yên tâm, phía ấy qua làng. Yên tâm...
(Cái Nhầm)
Đúng là lời thơ mà sao nghe như lời hát, đó là lời hát của những trái tim tuổi thanh xuân, rất tự giác đáp lại tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Những dòng chữ mở đầu cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc cũng vậy, Thạc bỗng dưng làm thơ mà không hề biết mình đã làm thơ: "Nhiều lúc mình cũng không ngờ nổi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá và cũng đột ngột quá. 28 ngày trong quân ngũ mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có dịp xem lại lòng mình, soát lại lòng mình".
Sống có ý nghĩa cũng chính là Sống Đẹp! Hầu như các binh nhất, binh nhì 18 tuổi khi bước vào cuộc chiến tranh sinh tử ít có thời gian để do dự và nghĩ nhiều tới cái chết, mà chỉ sợ sống thừa. Trong một Đêm hành quân qua phà Long Đại, Vũ Đình Văn đã ghi hộ tâm trạng của những người lính trẻ chúng tôi bình thản đến lạ kỳ trước sự hù dọa của tử thần:
Đêm ấy đêm trăng
Chúng tôi hành quân qua phà Long Đại
Bom nổ chậm rình ở hai đầu bãi
Pháo sáng lập lờ vòng quanh
Mặc quân thù, cứ xuống bến đi anh.
Nước Nhật Lệ khuya rồi còn âm ấm
Tiếng côn trùng không kêu làm đêm đi rất chậm
Càng hay, cho nhiều chuyến phà sang.
Vượt qua gian lao, vượt qua cái chết - vẫn là một niềm lạc quan trong sáng của tuổi trẻ. Cái chung và cái riêng đã hòa quyện vào nhau làm thành một màu tím thủy chung của người lính. Trong bài Màu tím hoa mua, Nguyễn Văn Thạc đã hóa thành hoa, hay chính hoa đã hóa thành Thạc, tôi cũng không biết nữa:
... Những điều lớn lao trên đất nước bao la
Vẫn không quên niềm riêng nhỏ nhất
Chung thủy nhất là tình yêu của đất
Mỗi màu hoa đều thấm đượm tình người.
Tôi đã đi rất xa em rồi
Chẳng dễ về thăm em trong phố nhỏ
E ấp cánh hoa mua vào trong sổ
Tím lòng mình và tím cả lòng em.
Còn Vũ Đình Văn chỉ cần qua một Tiếng kẹt cửa - đã làm hiện lên trước mắt chúng ta cả một hậu phương bao la điềm tĩnh và nhân từ - chính hậu phương ấm áp đó đã cho các anh sức mạnh diệu kỳ mà kẻ thù không thể có:
... Tiếng kẹt cửa từng bước chân qua
Mẹ nhẩm đếm nghe chừng thiếu đủ
Con đường làng đã thành đội ngũ
Đêm chuẩn bị này mẹ có ngủ đâu.
Tiếng kẹt cửa qua đi rất mau
Chỉ còn lại yêu thương chờ sẵn
Có lúc dạy ta bày thế trận
Lại là đôi khung cửa khép hờ.
Hồn thơ của Vũ Đình Văn cũng chính là hồn người - một hồn thơ tươi mát mà tinh tế, đằm thắm mà ngộ nghĩnh. Đã hơn 40 năm trôi qua, bây giờ nhẩm lại bài thơ Nửa sau khoảng đời của anh, tôi vẫn thấy những câu thơ đó như còn ấm nóng hơi người:
Đêm miền Trung là đêm của dừa
Dừa vỗ lòng anh ngủ như vậy đó
Ôi cái khoảng đời đêm nay cháy đỏ
Đợi ngày về anh chia lửa cho em.
Vũ Đình Văn không trở về. Anh đã hy sinh anh dũng giữa giờ phút cuối cùng của chiến dịch lịch sử quân và dân Thủ đô đánh thắng chiến lực B52 của giặc Mỹ. Nhói mãi lên trong lòng tôi câu thơ: Dừa vỗ lòng anh ngủ như vậy đó - Dừa vỗ lòng anh ngủ như vậy đó... Đúng! Chỉ có những câu thơ của anh trở về. Những câu thơ không thể chết, những câu thơ như những ngọn lửa - thao thức cùng chúng ta đêm nay. Thật may mắn, hạnh phúc và ý nghĩa, năm 1974, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân đã tập hợp 20 bài thơ của Vũ Đình Văn và 15 bài thơ của tôi để in chung thành một tập thơ lấy tên là Thơ tuổi hai mươi.
Nguyễn Văn Thạc làm thơ không nhiều nhưng anh yêu thơ và mê đắm thơ từ rất sớm, tình yêu ấy giống như một nỗi ám ảnh, một định mệnh. Anh có bốn bài được in chung trong tập thơ Âm vang dòng Thạch Hãn, tập thơ của những người lính đã từng chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị năm 1972. Đó là các bài: Lời mẹ dặn, Màu tím hoa mua, Nhớ trường và Đêm trắng. Bài thơ Đêm trắng là bài thơ hay nhất, hứa hẹn nhất một tài năng thi ca và cũng là bài thơ cuối cùng của anh - dưới bài thơ ghi rất rõ ngày tháng sáng tác: 11-7-1972 - sau đó 19 ngày, anh đã hy sinh anh dũng bên Thành cổ Quảng Trị. Nguyễn Văn Thạc ngã xuống, nhưng những câu thơ của anh vẫn bay về phía trước, bay về phía ngày mai:
Đêm của anh trong tầm bom rơi
Không thể ngủ nên đêm thành đêm trắng
Đêm bão thép chất chứa nhiều sâu lắng
Bà mẹ sinh con trai trong mờ tối căn hầm.
Những ban đêm thành cột mốc tháng năm
Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng
Đêm thao thức đón chờ ánh sáng
Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời.
Tại sao Thạc lại viết "Bà mẹ sinh con trai...", có lẽ anh linh cảm, anh tin tưởng - nếu cuộc chiến tranh còn kéo dài, chắc chắn sẽ có một thế hệ kế tiếp cầm súng thay cho anh và sẵn sàng xả thân, tận hiến vì nền độc lập dân tộc.
Hai que hương trên bàn viết của tôi vẫn âm thầm nhả khói - Hai chấm đỏ rưng rưng nhìn tôi - đó là đôi mắt của Nguyễn Văn Thạc hay là đôi mắt của Vũ Đình Văn. Có ai đó đã từng nói, những người mất chỉ thực sự mất đi khi không còn sống trong lòng người sống - Vậy thì Nguyễn Văn Thạc vẫn còn đó, Vũ Đình Văn vẫn còn đó - với Tổ quốc các anh mãi mãi tuổi hai mươi, với thơ ca các anh mãi mãi xanh tươi, xanh tươi như mầu áo các anh đã từng mặc trong những tháng năm trẻ trung và đẹp đẽ nhất của cuộc đời mình.
Để khép lại một chút tâm tình trước thềm Xuân Ất Mùi - tôi xin phép được gửi tới bạn đọc và nhất là các bạn trẻ, bốn câu thơ kết của bài thơ Mùa hoa bất tử - bài thơ này tôi đã viết trong một đêm giao thừa với rất nhiều xúc cảm khi nhớ và nghĩ về đồng đội thương yêu của mình - những xúc cảm không dễ diễn tả hết thành lời, mà chỉ có thể gửi gắm ở trong thơ:
Và đó - mùa hoa bất tử,
Nở hoài trên mũ quân nhân.
Chưa giao thừa nào ta ngủ
Em còn nhớ không Mùa Xuân...
Hoàng Nhuận Cầm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cô gái Quảng Trị với nồng cay tiêu Cùa

Cô gái Quảng Trị với nồng cay tiêu Cùa Đọc 14 bài bút ký của nữ nhà báo Đào Khoa Thư, trong tập bút ký “Mùa bình thường” in chung với nhà ...