Nếu không thức dậy đúng lúc loa
phóng thanh báo rằng, tàu sắp rời ga Diêu Trì thì ngày hôm đó tôi phải vất vả
quay lại Qui Nhơn ở ga dừng kế tiếp. Không hiểu sao tôi thức dậy được để hấp
tấp lấy hành lý, xách giày chạy ra cửa toa, vừa nhảy xuống khỏi tàu chỉ kịp
nghe ông bảo vệ la toáng :
- Có ngủ thì nhờ
người chung
quanh đánh thức chứ ! !
Cũng vừa lúc chuyến tàu SE 7 hú còi chuyển bánh. . .
Vào thành phố Quy Nhơn lúc 7g hơn,
còn quá sớm để đến nhà Lê Văn Ngăn ở đường Hai Bà Trưng, tôi dạo một vòng
quanh mấy con đường mong tìm lại vài hình ảnh Quy Nhơn ngày trước, nhưng hoàn
toàn xa lạ, chỉ thấy nhà cao cửa lớn, khắp nơi đều bê-tông hóa, những con đường
không còn cát biển nằm rải rác đó đây, thỉnh thoảng vướng vào chân tạo cho
người đi cảm giác vui vui như được nghe muối biển thì thầm dưới gót.
Tôi đến nhà Ngăn lúc 8g30, chị Phước
vợ Ngăn đang dọn dẹp bên trong, chị thấy tôi liền vội ra mở cổng và câu chuyện
của chị bắt đầu. . .Chị kể rất nhiều chuyện, mới có, cũ có, chuyện bệnh tật của
Ngăn, chuyện bạn bè. . .Chi kể
một thôi, tôi nghe một hồi, rồi chị mới đi lên lầu báo cho chồng biết là tôi ở
Huế mới vào. Lát sau tôi nghe Ngăn vọng xuống gọi tôi lên, giọng rất bình thường,
không có vẻ gì là người đau yếu cả. Ô. Lê Văn Ngăn mới mổ não ngồi đó, trên
giường, nhìn tôi cười, mắt vẫn vui vui như mọi khi nói:
Tôi đến ngồi bên cạnh, lạc quan:
- Ông hơi trắng, mập ra, chỉ có cái đầu là khác, giống mấy
ông thầy chùa.
- Ừ ! phải vậy thôi !
Ngăn đứng dậy bảo tôi đến ngồi ở
bàn pha trà uống, dáng đứng và đi vẫn nhẹ nhàng, nếu không có tấm băng phía
sao ót thì tôi không nghĩ ông Lê Văn Ngăn mới qua cơn mổ não nguy kịch. Điều
tuyệt vời là trí nhớ của Ngăn không suy suyễn, thậm chí số ĐT của Lê Gành,
Ngăn đọc cho tôi từng số một không chút ngập ngừng. Ông Ngăn vẫn đinh ninh là
hồi đó bị té nên máu bầm ứ ở não mới ra cớ sự và hy vọng là không di căn di
kiết gì hết. Tôi đồng ý với mong muốn của Ngăn và không nói gì về bệnh trạng
nữa.
Quy Nhơn mới 9g30 sáng mà tìm quán
bia mồi nhắm đàng hoàng thì khó thật. Lê Gành chở Kim Quy (bạn thời sinh viên
của Gành) và tôi (ngồi giữa) Quy nói :
- Ông ốm vậy,
công an chỉ thấy tôi thôi ! Không thấy ông đâu mà lo.
Gành lái xe qua phố nầy phố nọ, vẫn
không thấy có quán bia nào mở cửa. Cuối cùng đến đường Trần Cao Vân thấy có
quán cà phê bán cả bia bên lề đường, thế là chúng tôi ghé vào, Gành gọi bia
và mấy bịch đậu phụng.
Năm 1973 Lê Gành được phóng thích
khỏi Lao Thừa Phủ - Huế, thì ba mẹ Kim Quy cho Gành về ở căn nhà nằm phía sau
đường Chi Lăng. Nhà có sân vườn rộng, trước cổng vào tôi còn nhớ có ba chữ khắc
nổi trên cột trụ “ Y Tá Diệm “. Thời ấy tôi biết gia đình Kim Quy vì trong
nhà ở đường Trung Bộ (Tô Hiến Thành) có Thanh Hương, em ruột Kim Quy, người đẹp vang bóng
một thời, mỗi lần nàng đi học vào sớm mai thì rất nhiều trai trẻ áo trắng quần
xanh nhìn theo nàng xao xuyến.
Than ôi ! Hồng nhan bạc mệnh ! Sau
nầy nàng là phát thanh viên của đài truyền hình Huế trước 1975, và cuộc đời
nàng truân chuyên từ đó.
Tôi hỏi Kim Quy, Thanh Hương bây
giờ đâu rồi ?
Quy đưa hai
tay lên trời ! Nói :
- Thanh Hương vào Sài Gòn, rồi về Kiên Giang vượt biên để lại
hai đứa con cho mình và từ đó . . .mất tích. . .
Sáng hôm ấy chúng tôi nói về Lê
Văn Ngăn, “ Cuộc đời ! Thơ ca ! Và những kỷ niệm với bạn hữu. “ Gành nói :
- Kỷ niệm về ông
Ngăn thì nhiều và bắt đầu kể :
- “ . . .Vào một
đêm nào đó!. . .năm 1970, Lê Gành đang ở tại cư xá Minh Mạng Nam Giao thì
Ngăn xuất hiện, mặt mày có vẻ hớt hãi. . .” trốn lính”, Gành mở tấm cửa thông
lên gác, nói Ngăn mau vội leo lên trên ấy, đừng ho hen, đụng đậy gì hết. Nửa
đêm, chung quanh chó sủa náo loạn, ngoài kia quân
cảnh, cảnh sát đang đi lùng sục. . .Quá nửa đêm thì không nghe chó sủa nữa,
Gành biết đã yên liền mở cửa thông gọi Ngăn xuống. Có lẽ “ Người đi trốn”
tôi hôm đó chưa có chén cơm nào trong bụng nên hỏi Gành có gì ăn không ? Gành
kéo mấy hộc tủ, may mà còn sót vài khúc bánh mì khô cứng, bỏ vào ca đổ nước
cho đường, xăm dầm thành món xúp mì đưa cho nhà thơ. . .
Trưa tôi về nhà Ngăn kể lại kỷ niệm ấy,
Ngăn không quên, buột miệng :
- Bữa đó mình ăn
ngon thiệt.
Chiều hôm ấy, bác xe thồ chị Phước
gọi chở tôi về ga Diêu Trì, khi tàu chuyển bánh khoảng 15 phút thì Ngăn gọi :
- Cậu về ga có kịp
tàu không ?
- Mình đang ngồi
trên tàu, tàu chạy rồi, mong ngày gặp lại.
- Ừ !
Lê Văn Ngăn ! Thi Sĩ ! Sống chân
thật với lòng mình, với bạn hữu và cuộc đời ! Cho dù có những thời đoạn Ngăn
nhầm lẫn chọn pháp môn dấn thân sai khác với lòng, nhưng con người vốn dĩ có
ai không sai lạc.
“ Vào Một Thời Im Bóng “ tập thơ đầu
tay của Lê Văn Ngăn xuất hiện ở Đà Lạt năm 1972, bây giờ như là một định mệnh
ứng vào số phận của ông. Hình ảnh ông Lê Văn Ngăn lặng lẽ với bệnh tật như
chiếc bóng trên mái lầu, phía trước có một khoảng trời xanh và vài ba cây kiểng
nói thầm với ông về ý nghĩa màu xanh hy vọng. Tôi nhớ có một câu thơ Ngăn viết
rằng : “ Đừng đi về phí khổ đau nhiều hơn hạnh phúc. “ Những năm tháng sau nầy,
bạn bè đều biết, “ Ông đang đi dần về phía khổ đau.” Có lần khi Ngăn và tôi
ngồi ở Sài Gòn, qua điện thoại nói chuyện với Lê Huỳnh Lâm ở Huế, tôi nhớ mãi
câu nói của Ngăn mà xót xa, “Mình đang sống dần và đang chết dần. “ Đó là tiếng
kêu thương của một người đang đi dần vào “ Cuối Mùa Im Bóng “ đang đi về phía
khổ đau không còn hạnh phúc.
Mùa thu, năm 1974, Huế là nơi tôi
sinh trưởng học hành, ở tù và bị bắt lính. Những tháng năm cuối mùa chinh chiến,
không một ngày đi đứng yên ổn, cuối cùng tôi phải “nương bóng từ bi”, Phạm Tấn
Hầu là người mở đường đưa tôi vượt qua cơn bão từ hai phía để vào Nha Trang.
Hẳn bạn bè Trung – Nam thời ấy, đậm đà nhất là giới văn nhân, thi sĩ chẳng ai
mà không kính yêu anh Nguyễn Huy Hoàng, Mạnh thường Quân của Nha Trang một thời,
anh đã mở “ Trung Tâm Bụi đời “ nằm giữa phố Độc Lập để đón những cơn gió lạc
đường, lạc sá, đây cũng là nơi Phạm Tấn Hầu từng cọng tác với anh Huy Hoàng
nhiều năm để dung dưỡng bao nhiêu kẻ đứng bên lề khắp nơi sa cơ lỡ vận.
Hầu đưa tôi vào Nha Trang cư ngụ
nơi ấy, sống cùng những đứa em bụi đời tâm tánh dễ thương.
Đà Lạt ! Một sáng tạo kỳ diệu của
thiên nhiên, con người khi lên xứ sương mù, cảm giác như bao nhiêu bụi trần đều
rũ sạch, mọi lo âu, phiền não hình như thiên nhiên hóa giải hết. Hầu dẫn tôi
dạo quanh Hồ Xuân Hương, những hàng thông xanh thẳm vút cao ôm lấy mặt hồ,
sương chiều huyền hoặc như mơ như mộng, và lạ lùng, không khí chiến tranh
hình như không hiện diện ở miền đất hoa ấy, con người Đà Lạt hiền hòa, chân
thiện. Hầu dừng lại ở cái quán “ Hướng Đạo Sinh “ nằm dưới chân đồi Cù, cô chủ
quán tười cười chào đón khách, Hầu gọi :
- Cho chai bia
Larue !
- Còn thầy uống
nước cam ạ ?
- Không ! Cho thầy
chai bia !
Trước khi Hầu đưa tôi lên tạm trú
dài hạn ở nhà ông chú của Hầu bên Hồ Than Thở, thì trước đó Hầu đã dẫn tôi
vào căn nhà gỗ ở khu Chi Lăng để gặp một người. Đây là nơi phòng trọ của Lê
Văn Ngăn nằm cạnh ao rau muống. Đó là lần đầu tiên tôi gặp Ngăn, Hầu có đôi lời
gởi gắm:
- Nếu sau nầy có
gì thì chia xẻ . . .
Ngăn chân thành, vì quý mến bạn
nên không đắn đo, liền trả lời :
- Ừ !
Sau nầy khi Hầu về sài Gòn không quay lại nữa, đến hồi lúng
túng mọi bề, tôi đã tìm đến căn phòng “ Im bóng” bên ao rau muống hỏi xin
Ngăn gạo và tiền. Ngăn không ngừng ngại, đáp ứng ngay.
“ Thơ, trước hết là phải cảm
xúc thật, tự nhiên”, đó là quan niệm của Lê Văn Ngăn trong sáng tác khi chúng
tôi trao đổi về những bài thơ “Tân Hình Thức” xuất hiện gần đây trên Tạp Chí
Sông Hương, phải tự nhiên như hoa nở, chim hót, cái đẹp nằm ở trong ấy. Suốt
một đời làm thơ, Lê Văn Ngăn đã để lại rất nhiều tác phẩm tự nhiên như đời sống,
những gì đi qua trong đời ông để lại cảm xúc, và những lúc nhớ về ông đã bật
ra tiếng lời để thành những bài thơ xúc động lòng người. Ví dù như bài:
THƠ TẶNG CHỊ BA Ở PHAN RANG
Phan Rang năm ấy, có lẽ
chị Ba không còn nhớ nữa
nhưng tôi, kẻ từng chịu
ơn chị, tôi không thể nào quên quá khứ.
Năm ấy, tôi đến từ phương xa
không giấy tờ, không người
quen, không nhà không cửa
và tương lai tôi
Có thể tôi đã rơi vào bước
đường cùng
nếu không tình cờ gặp chị
Dưới rặng me già, bên chiếc
xe những ổ bánh mì lặng im
Chị ngồi trông khách đến
Và chiều hôm ấy
kẻ lỡ bước được chị mướn về
nhà dạy kèm con cái chị học hành.
Bây giờ chị còn sống không
chị Ba
tôi vẫn nhìn thấy chị qua những
người lao động bình thường
Ai ở
Đà lạt thời ấy mà không biết đến cà phê Tùng cũng như cà phê chị Sáu nằm ở bến
xe, tôi đoan chắc trong sổ tay của chị còn rất nhiều người uống cà phê ghi sổ
đến nay chưa trả, trong số ấy chắc chắn có bạn bè của Ngăn và tôi. Trong bài
thơ “Lâu Năm, Nhưng Chưa Phải Là Vĩnh Viễn” , Ngăn đã cởi lòng với chị Sáu:
Lâu năm, chưa trở về Đà Lạt
đi qua mấy chặn đường mưa
ghé vào quán cà phê chị Sáu.
Tôi biết chị thường thức dậy lúc người
chưa xuất hiện trên đường
Người an ủi chị lúc cô đơn là ngôi sao
mai trên nền trời sẫm
ngọn lửa bập bùng trong bếp than hồng
tiếng rơi đều trong tách cà phê đợi chờ
khách đến
Lâu năm, chưa trở về Đà Lạt
Lâu năm, nhưng chưa phải là vĩnh viễn
khoản nợ nần một thủa cơ hàn
tôi vẫn hẹn lòng có ngày hoàn trả
ngoài chút tiền trong cuốn sổ ghi
tôi còn nợ chị vài ánh mắt dịu dàng vài
buổi nắng vàng bên khung cửa sổ
Mấy mươi năm trước lúc cuộc đời chưa yên
ổn
những điều ngỡ như bình thường ấy đã
giúp tôi sống sót đến bây giờ.
Có phải không chị Sáu
lâu năm, nhưng chẳng phải là vĩnh viễn.
|
Vương
Kiều
|
Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015
Vào một thời im bóng
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Nhà văn Mai Văn Tạo – Viết từ tấm lòng sâu nặng để tri ân nguồn cội Vùng đất miền Tây Nam Bộ đã luôn ghi khắc văn nghiệp của các nhà văn...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Lời kỹ nữ - Xuân Diệu A.TÁC GIẢ: I. Cuộc đời: Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, còn có bút danh là Trảo Nha, quê quán làng T...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét