Những chùm hoa vàng nghệ đã mấy lần nở, mấy lần tàn? Cây hoa hình cầu đổi màu đã bao mùa thay sắc, thay lá? Thời gian trôi đi, chảy đi... Những đám mây trên trời vẫn cứ tiếp tục lang thang vô định... Còn ta? Thái tử nghĩ, lang thang từ tư tưởng này sang tư tưởng khác. Những tư tưởng đứt khúc, gãy vụn... Tư tưởng nào cũng trùng trùng câu hỏi. Mọi dự định tươi mới, thoáng khắc sau là cũ kỹ, ít hôm sau là đối diện với cái bất toàn! Lời gió còn nói với ta rằng, những việc làm từ thiện dẫu cho với bàn tay dịu dàng và tấm lòng nhân ái cũng không làm dịu mát được lòng người, cũng không làm cho nhẹ bớt sự tham lam và ích kỷ của thế gian... Di mẫu và Yasodharā đã nhiều năm miệt mài công việc tương tế giúp đời bằng trái tim của người mẹ, rốt lại cũng vô ích mà thôi. Lòng tham của lớp người bất hạnh ấy nó lớn quá. Biếng nhác và ích kỷ nữa. Lúc nào cũng chờ đợi của bố thí. Lúc nào cũng khát thèm. Lúc nào cũng không biết đủ. Điều nguy hiểm hơn, là họ không chịu thay đổi hoàn cảnh, không chịu thay đổi nguyên nhân. Họ ngồi mà nhẫn chịu, mà im lặng như triết nhân hoặc than van số phận, định mệnh đã an bài! Bát cơm và manh áo phải từ bàn tay làm ra chứ? Ngôi nhà, các tiện nghi sinh sống... phải sửa sang, dọn dẹp, vá víu chỗ này, chỗ kia chứ! Thế mà họ không làm! Yasodharā nói rằng, dầu nhẫn nại vô cùng, dẫu lòng bi mẫn cũng lớn lắm, nhưng đến một lúc nào đó cũng phải thui chột đi... Người ta giúp đỡ thì cũng có hạn. Ai dường như cũng mệt mỏi cả rồi! Thuở xưa, mẹ ta thuở sinh tiền, cứ đến kỳ đầu và giữa tháng là bố thí bốn ức đồng tiền vàng (bốn trăm ngàn), cuối đời cũng cạn kiệt, phụ vương bực lắm nhưng cũng phải mỉm cười. Bây giờ, tiền bạc dành dụm của ai cũng hết sạch cả mà họ vẫn không chịu khó rèn tập các công việc làm ăn... Ngôi trường, à lớp học, lớp học của ta cũng thất bại từ lâu rồi! Bao nhiêu tâm huyết bỏ ra, lớp học hình thành, mời thầy giáo giỏi khắp nơi về giảng dạy. Đầu niên khóa hai bảy người, cuối niên khóa chỉ còn mười! Vẫn dạy, vẫn học, vẫn duy trì, vẫn lương hướng hậu hĩ cho giáo sư, nhưng qua năm hai chỉ còn bốn! Rồi cứ thế nó tan dần, tan dần như hạt tuyết dưới ánh mặt trời. Thế nhưng ta vẫn chưa chịu thua, ta quy tụ con em trong hoàng gia, quý tộc để giúp họ một căn bản tri thức vững vàng, nhưng rồi cũng lụi tàn. Người chịu khó học hỏi như thắp đuốc ban ngày để đi tìm trăng sao! Con người không chịu tiến hóa, không chịu động não để tầm cầu kiến thức, hiểu biết... Thôi, đành vậy, chứ biết sao! Ta học được hai bài học làm người. Thứ nhất, có cái gì đó như đã mọc rêu lưu niên, lưu cữu trong tâm địa của chúng sanh; cả một hầm thói hư tật xấu, không thể trong một sớm một chiều mà cải hóa được. Thứ hai, có cái gì đó như lực cản, như ngăn bít trí óc - nên chúng không chịu thăng hoa, hướng đến các giá trị cao hơn; chúng luôn bằng lòng với đời sống thụ hưởng nhờ tập cấp truyền đời trao lại. Nói tóm lại, tuổi thanh niên của ta và của các ông hoàng bạn hữu đã hoang phí sức lực để đi theo một lộ trình vô vọng. Vả, nếu có thành công thì thành công ấy cũng chỉ là cơ hội tốt cho giới cấp lãnh đạo tăng trưởng lòng tham, tăng trưởng sự hưởng thụ, tăng trưởng sự tranh giành địa vị và quyền lợi mà thôi! Không có một ánh sáng nào, không có một lối thoát nào trong các giá trị tại thế... trên con đường xuôi theo dòng đời!
Buồn quá, thái tử muốn đi du ngoạn đây đó nhưng phụ vương không cho. Ngài chỉ nói nhẹ nhàng rằng:
-“Một vương tử Sākya, theo truyền thống, không được phép phiêu bạt giang hồ như một khất sĩ, như một gã chăn cừu lang thang, hoặc như một thương nhân với đoàn lạc đà lếch thếch, ì ạch từ phương này sang xứ khác”
Thái tử hỏi lại:
-“Vậy bổn phận và trách nhiệm của hoàng nhi phải là như thế nào hở phụ vương?”
-“Là luyện tập võ nghệ, coi binh pháp, tập điều hành và quản lý bộ máy vương quốc để cai trị muôn dân như trẫm vậy”
-“Võ nghệ, binh pháp hoàng nhi không biết còn ai là thầy nữa, không biết tầm học ở đâu nữa gần mười năm qua rồi. Còn điều hành và quản lý bộ máy, hoàng nhi cũng đã từng tập sự, nhưng sự cải cách, đổi mới dầu tốt đẹp thế nào cũng bị cản trở - thì hoàng nhi biết làm gì nữa?”
Đức vua Suddhodāna nín lặng, không mở lời được, ngài cũng bất lực. Tất cả họ đều là con người cũ, tư duy cũ, truyền thống cũ; đã an toàn, đã định vị trên tập cấp thượng đẳng... thì dại gì đi theo cái mới, khi biết rõ cái mới ấy sẽ dần dần tướt mất uy thế và lợi quyền của họ! Hóa ra họ cũng không sai! Họ không sai - thì tư duy, việc làm của thái tử chưa chắc đã đúng!? Ôi! Cáiđúng, cái sai trên cuộc đời này quả là lạ lùng!?
Từng buổi sáng, từng buổi sáng... Thái tử ngồi lặng ở hiên sau nhìn lên đỉnh Himalaya; tâm trí chàng thường lìa cái giới hạn chật hẹp của cung đình để phiêu diêu vào những thế giới xa xăm chưa hề thấy, chưa hề biết. Học lịch sử dân tộc, chàng biết rằng, dòng dõi huyết thống của chàng khởi nguyên từ hướng Tây bắc xa xôi, điệp trùng sông núi mà tràn xuống đây, chiếm lấy những bình nguyên màu mỡ để làm ruộng và chăn bò. Nơi ấy là đâu? Rồi dòng giống Aryan của chúng ta còn tìm đến những phương trời nào khác nữa? Còn từ đây đến đỉnh tuyết trắng ấy là xa hay gần? Theo sách học địa lý thì từ Kapilavatthu đến đó chỉ có vài trăm yojana (do-tuần) nhưng rất khó đến. Vì sao vậy? Vì sau lưng kinh thành có xóm làng, đi mãi sẽ đến một cổ trấn; nếu đi nữa thì sẽ gặp những cánh rừng bạt ngàn lau sậy, rừng nguyên sinh thâm u; và ở đây vô vàn là hổ, báo, voi, tê giác, rắn vua, rắn chúa đủ loại... Nhiều người mạo hiểm đến đấy đã bỏ mạng bởi thú dữ và sốt rét. Nếu ai may mắn đi qua hết những chướng ngại ấy thì sẽ bắt gặp một đồng cỏ bằng phẳng, cây cối thưa thớt... Cứ đi nữa thì sẽ gặp những ngọn đồi, những thung lũng xinh tươi hoa cỏ. Bây giờ, ngước mắt lên sẽ bắt gặp rặng núi Mahābhārata hùng vĩ như cắt ngang chân trời... Đứng từ đây, thái tử nghĩ, sách bảo là có thể nhìn thấy nó; nhưng chàng không thấy. Có lẽ là do khí đá và sương mù. Sau dãy núi ấy còn trùng trùng dãy núi, lên cao dần, lên cao dần... và cái đỉnh cao nhất kia chính là Himalaya mà ai cũng nhìn thấy được! Kinh sách ngàn xưa nói rằng, nơi ấy, lúc nào cũng có những vị tiên ẩn tu đắc đạo! Đắc đạo là trở về với Phạm thể? Và con đường ấy chỉ có cách là tìm trốn giữa rừng sâu, giữa non cao tuyết lãnh? Ôi, kiến thức của ta quá hữu hạn, ta không biết gì đến đời sống cũng như cứu cánh của những ẩn sĩ ấy!
Những hôm khác, thái tử lại ngồi tư lự nhìn về hướng Đông. Chàng đã một lần sang quê ngoại. Nhưng xa tít từ Devadaha trở đi, chỉ cần vài ba ngày đường thì có thể đến bao nhiêu quốc độ ở phương mặt trời mọc? Nhưng chênh về hướng Đông bắc thì nguy hiểm lắm, nên dừng lại, không nên đi. Vì đấy là rừng rậm tiếp rừng rậm. Đây lại là quê hương của một loại thổ dân da đen, rất hung dữ, chuyên nghề săn bắn để giết thịt, và họ cũng đã từng giết bộ hành lai vãng để nướng thui! Ngôn ngữ của họ không ai phiên dịch được, có lẽ là một bộ lạc cổ sơ còn sót lại!
Hướng Tây và Tây bắc, Thái tử cũng đã từng ngồi đăm chiêu. Từ lãnh thổ của Sākya có một con đường lớn, theo ngựa hoặc theo lạc đà đi mãi, chừng năm, sáu ngày đường là đến trấn thành đầu tiên của đế quốc Kosala tên là Setaya. Từ đó, làng mạc tiếp làng mạc, đi mãi, xa khá nhiều ngày đường nữa sẽ đến kinh đô Sāvatthi, có vị đại vương oai hùng mà ai cũng phải cúi đầu kể cả đức vua Suddhodāna. Đây là xứ sở của quân hùng tướng mạnh. Khắp các nẻo đường từ thành thị đến thôn quê, quân đội nhà vua thay phiên nhau canh phòng cẩn mật tại các điểm gác. Đồng thời, còn có những chiến sĩ trên lưng những chiến mã oai hùng, giáp bào, vũ khí cùng mình, tuần hành ngày đêm trên các con lộ huyết mạch. Họ cẩn trọng giữ gìn an ninh cho các đoàn xe thương mãi lữ hành, kĩu kịt hàng hóa vào kinh thành cũng như rải ra các thị trấn. Bọn đạo tặc vũ trang thường không dám đụng độ với đội quân chuyên nghiệp thiện chiến này. Cũng từ đây, đoàn xe thương buôn khởi hành đi xa, ít khi họ dừng lại Kapilavatthu, mà đi mãi, đi mãi nhiều chục ngày đường để đến Kusinārā, đến Vesāli. Hàng hóa được trao đổi ở nơi này. Nhưng có đoàn lại theo phà vượt qua sông Gaṇgā, đến Pāṭaligāma... rồi tiếp tục hành trình thiên lý đến kinh đôRājagaha - để trao đổi hàng hóa với một đế quốc giàu mạnh khác, là Māgadha. Tại Pāṭaligāma,học địa lý ta còn biết được rằng, mọi người có thể theo thuyền, dong buồm lên hướng thượng lưu sông Gaṅgā, chỉ vài ba ngày là đến hai thành phố lớn là Bārāṇasī và Payāga trù phú, thạnh mậu và sầm uất...
-“Ôi, là những đất nước mênh mông, chỉ với trí tưởng thôi, ta đã không thể đi cho hết. Ngay bốn bức tường thành nơi này mà ta cũng chưa được phép bước ra, dạo chơi để thấy, để nghe và để tư duy, để chiêm nghiệm về bí mật của cuộc sống!”
Đôi khi, Yasodharā muốn cùng chia sẻ trầm tư với thái tử, lặng lẽ như cánh bướm, đến gần bên, hỏi:
- Bên kia những phương trời có cái gì, thái tử học hỏi nhiều, kiến văn cũng lắm, có thể cho thiếp hiểu một phần nhỏ, được chăng?
Thái tử lắc đầu, mỉm cười:
- Thật ra, có thấy tận mắt mới biết được. Lịch sử châu Diêm-phù-đề đầy những huyền thoại và truyền thuyết – không vội tin mà cũng không vội phủ nhận. Lịch sử dòng tộc ta có một khoảng trống về tổ tiên phát nguyên từ vùng Tây bắc. Họ là những ai? Họ ở đâu? Các quốc độ ở phía sa mạc, ở phía chân trời mù mịt với những đoàn lạc đà lầm lũi cõng hàng... để đi về những đâu nữa? Rồi trước đó nữa, bao nhiêu nền văn minh mà nay đã hủy diệt? Con người tồn tại để làm gì? Hay là xây dựng để rồi hủy nát, vô căn nguyên, vô mục đích? Cứu cánh của cuộc đời là gì? Tại sao ai cũng lo lắng, bất an và sợ hãi? Có nụ cười và có nước mắt thật, nhưng thế gian có hạnh phúc không? Hạnh phúc ấy nằm ở đâu? Gopā! Ở nơi ta lúc nào cũng trùng trùng câu hỏi như vậy đó. Tâm trí ta cứ lang thang mãi, không được yên, hãy thông cảm cho ta nhé! Tâm trí ta cứ bay lượn tận đâu đâu ngoài bốn hướng mây trời chưa được thấy, chưa được biết, hãy hiểu cho lòng ta nhé, Gopā!
Hôm kia, như đã quyết định, thái tử tìm gặp đức vua, lại xin:
- Hoàng nhi buồn quá, phụ vương! Hãy cho hoàng nhi đi chơi đâu đó một thời gian cho khuây khỏa!
Đức Suddhodāna trầm ngâm giây lát:
- Con năm nay đã bao nhiêu xuân thu rồi, Siddhattha?
- Dạ, đã hai mươi lăm tuổi, thưa vương phụ!
- Ta già rồi, Siddhattha, ta muốn có đứa cháu trai mà trông đã mỏi mòn con mắt. Vợ chồng con đang còn tuổi thanh xuân, con không thể để cho Yasodharā ở cung một mình mà đi đây đi đó được. Vả lại, dòng tộc Sākya của chúng ta chưa có kẻ ngao du lang thang!
Thái tử cúi đầu, nghĩ thầm: “Phụ hoàng mong ta có đứa con trai, điều ấy cũng có cái lý của người! Nhưng kiếp sống của chính ta cũng bế tắc, tăm tối; không biết mục đích của đời người là gì? Hạnh phúc ở đâu? Ta sao đành tạo thêm một sinh linh trôi nổi giữa biển khổ này nữa! Vả, Yasodharā cũng chưa muốn có con! Như vậy, nếu chưa có con thì ta không thể đi đâu được cả.”
Tối về, thái tử đem chuyện ấy tâm sự với Yasodharā, nàng nói xa xôi:
- Thời gian gần đây, thiếp đều nằm mộng thấy những điềm triệu bất tường...
- Hãy kể đi, Gopā! Xem thử ta có thể chia sẻ với nàng được chăng?
- Vâng! Thiếp nằm mộng thấy một con voi trắng với hai chiếc ngà vàng chói lọi, trên lưng là một chiếc ngai được trang trí châu báu sáng ngời... Chiếc ngai trống không! Con voi lừng lững, khoan thai bước ra khỏi cổng thành hướng Đông nam, nó đi không ngoảnh lại. Trong lúc ấy, giữa hư không hiện ra những vị thiên thần, phục sức giống thiên binh, thiên tướng, cất tiếng hớt hãi: “Hãy giữ con voi thần ấy lại! Nó là linh hồn của quốc độ. Nó mà bỏ đi thì kinh thành Kapilavatthu sẽ trống không!” Trong lúc ấy, thiếp chới với, chạy theo, vấp té rồi tỉnh dậy, trán đổ mồ hôi, tim đập như trống chầu... Thái tử ơi! Thiếp sợ quá! Con voi kiêu hùng ấy là chàng chăng?
Thái tử an ủi:
- Ồ, hoàn toàn là do nàng tưởng tượng! Ta có đi đâu, ta vẫn ở bên nàng hằng đêm, hằng ngày đây mà!
- Giấc mộng thứ hai. Thiếp thấy bốn vị trời, thân thể to lớn, đứng chật cả hư không, oai hùng hết mực; họ thò tay nhấc bốn cổng thành quăng ra biển xa. Lát sau mây trắng vần vũ, hiện ra một con đường lên cao, lên cao mãi giữa trời xanh. Con đường càng lên cao thì ngọc ngà, châu báu, ngai vàng, vương miện, mỹ nữ... rơi xuống... Trên đỉnh của con đường, có một chiếc bóng, trông rất giống thái tử... cứ lướt cao, lướt cao mãi... mờ dần, mờ dần rồi tan nhòa giữa trăng sao... Thái tử ơi, khi trông lại, mỹ nữ ấy chính là thiếp, một mình, cô đơn, hiu quạnh... Thái tử đừng bỏ thiếp bơ vơ giữa cuộc đời mà ra đi nhé!
- Chiếc bóng mờ dần giữa trăng sao, đẹp đấy chứ, Gopā!
Yasodharā giận dỗi:
- Đẹp! Đẹp! Thiếp quạnh quẽ ngồi khóc một mình mà đẹp à?
- Vì nàng mộng mị đó thôi! Nào, còn giấc mộng nào nữa không? Cứ kể đi rồi ta sẽ đoán cho!
- Lần thứ ba - Yasodharā sụt sùi kể tiếp - Lần này thì đẹp thật, có hai con chim hạc màu hoàng kim, tha một bông sen trắng từ trên mây xanh bay xuống; chúng bay, bay chập chờn giữa trăm hoa, trăm sắc, giữa hàng chục tiếng đàn, tiếng sáo âm thanh trầm bổng, du dương... Hai con chim hạc càng bay xuống gần thiếp chừng nào thì chúng càng lớn lên chừng ấy. Bông sen cũng vậy, nó cứ to lớn, lừng lững... nó phủ trùm thiếp rồi tan mất, chỉ còn lại hương thơm ngào ngạt... Trong cơn mơ, thiếp nhìn lại chỗ chàng nằm, không thấy chàng đâu, ở đấy chỉ có một vầng trăng!
Thái tử chợt cau mày:
- Những giấc mộng của nàng đều kỳ lạ lắm, Gopā! Bông sen trắng tan mất, chỉ còn một vầng trăng! Đẹp lắm nhưng cũng kỳ lạ lắm. Ta không nói là điềm triệu ấy vui hay buồn, mà nó thật là kỳ lạ! Trong một lúc, ta chưa đoán nổi đâu.... Có điều, ta thấy rất rõ, biết rất rõ, nó liên hệ thiết cốt đến rất nhiều kiếp sống trước đây của chúng ta. Gopā biết không, từ tám tuổi, ta đã đọc những câu kệ của nhiều chân sư trên thế giới, ta biết cả cách tính toán những phân tử của quả địa cầu, ta rất rành về ngôn ngữ của rất nhiều bộ tộc hiện đã mất tích trên thế giới... Các thầy phụ đạo của ta dầu thông kim, bác cổ nhưng họ cũng đành chịu vì cái biết của ta thuộc về thế giới khác, những thế giới đã khuất chìm vào quá khứ xa xăm. Vậy, cái biết ấy từ đâu ra? Lại nữa, giữa hằng trăm mỹ nữ đẹp đến chim sa cá lặn mà ta vẫn thờ ơ; nhưng khi gặp nàng, trái tim ta lại rung động? Đấy không là điều kỳ diệu sao? Đấy không là điều làm ta ngạc nhiên sao? Ta và nàng, có lẽ đã có nhân duyên từ nhiều đời kiếp trước, chúng ta đến với nhau, xây dựng gia đình, vui vầy tổ ấm có lẽ là cùng chí hướng, cùng tâm nguyện để thực hiện một cái gì đó rất cao cả - mà ta chưa nhớ đấy thôi, Gopā!
- Điều đó thì đúng - Yasodharā gật đầu - vì thiếp cũng có cảm nhận tương tự. Thiếp không phải gặp chàng lần đầu trong cuộc thi sắc đẹp, mà trước đó nữa, năm thiếp mười hai tuổi, lần đầu theo mẫu hậu sang thăm Kapilavatthu! Hôm đó, thiếp thấy chàng đang từ hoàng cung đi ra! Thoáng thấy gương mặt của chàng, dáng dấp của chàng... thì trái tim thiếp nó nhảy loạn trong lồng ngực... Quả thật là đáng xấu hổ! Một cô bé mười hai tuổi mà đỏ mặt bởi một chàng trai đồng lứa, không biết dấu mặt đâu cho đỡ thẹn!
Thái tử cười vui:
- Thú vị lắm, rồi sau đó ra sao?
- Còn ra sao nữa! Thấy thiếp như vậy, mẫu hậu quay lại, ân cần hỏi: Sao vậy, Gopā! Con cảm nắng à? Sao mặt con lại đỏ au như thế? Có sao không con?
- Chuyện kỳ diệu đấy, Gopā! Vậy thì ta quả quyết rằng, ta với nàng kết duyên phu thê trải qua rất nhiều kiếp sống rồi. Gặp nàng, ta cảm giác một mối thân quen lạ lùng. Lại nữa, sống với nàng, những cử chỉ, thái độ ta vừa khởi ý là nàng đã hiểu rồi, đã biết rồi. Đấy chính là dòng tâm quen thuộc từ quá khứ, chứ không thể là kiếp này, Gopā! Có một cái gì đó vô danh, ẩn mật đã khuất chìm... ta phải có bổn phận phải tìm cho ra, Gopā!
Yasodharā có vẻ lo lắng:
- Đó có thể là cái gì, thái tử!
- Ta chưa rõ lắm, nhưng mà này, Gopā! Chắc nàng cũng rõ, các thú vui ngũ dục, ta không mê luyến; đời sống đế vương ta cũng cảm thấy tầm thường; danh vọng và quyền lực ta cũng không tham muốn. Tất cả cái vị ngọt ấy, thế gian khát khao, mơ ước mà sinh ra tranh giành, thủ đoạn, chiến tranh... Còn ta thì lại muốn đi tìm cái gì khác - mà cái khác đó - hiện nó chưa hề có mặt trên cuộc đời này...! Trong ta đang có ý tưởng mơ hồ như vậy đó!
Yasodharā tròn mắt:
- Chưa hề có mặt trên cuộc đời?
- Đúng vậy, Gopā! Vì trên cuộc đời, cái gì ta cũng cảm giác bất toàn, đổ vỡ, bất toại nguyện!
Cả hai chìm vào yên lặng. Cuộc đối thoại không biết bao nhiêu lần tương tợ như thế đã đi vào chỗ bế tắc.
Yasodharā thầm nghĩ: “Chính những ý nghĩ như thế, một lúc nào đó, thái tử sẽ đi tìm một thế giới khác chăng? Rồi chàng sẽ rời xa ta chăng? Ba giấc mộng, ta đã lo sợ, đã cảm giác là những điềm bất tường! Biết đâu có một đứa con, nó sẽ ràng buộc được chàng ở lại với ta mãi?”.
Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CUỘC SỐNG
Thấy thái tử lúc nào cũng chìm ngập vào những suy tư không lối thoát, Yasodharā cùng với lệnh bà Gotamī đến xin phép đức vua hãy để cho thái tử dạo chơi ngoài thành cho khuây khỏa.
Đức Suddhodāna nhíu mày:
- Ta chỉ sợ thái tử sinh ra động tâm...
Bà Gotamī mỉm cười:
- Nhiều năm nay tuy ngồi một chỗ mà dường như không chuyện gì ngoài thế gian mà thái tử không hiểu, không biết! Sự lo ngại của đại vương không có cơ sở nữa rồi!
Yasodharā còn thuyết minh thêm:
- Nhìn mái tóc của phụ vương, mỗi năm lấm tấm thêm nhiều sợi bạc; nhìn đuôi mắt của phụ vương, mỗi năm lại xuất hiện thêm vài nếp nhăn; rồi từng bước đi của phụ vương không còn nhanh nhẹn như hồi thanh xuân nữa - chẳng lẽ nào thái tử lại không hiểu là rồi mình cũng sẽ nhuốm màu thời gian như thế? Chẳng lẽ nào thái tử ngây thơ đến độ không thấy sứ giả già ở khắp mọi nơi?
- Con nói có lý! Đức vua gật đầu, mỉm cười rộng lượng.
- Còn bệnh? Ai mà không bệnh? Ngay chính con trong mười mấy năm nay đã từng có vài lần bị bệnh thống phong hành hạ; vài lần như vậy, con bị những cơn đau đớn không chịu đựng nổi, phải quằn quại, phải rên la trước mặt thái tử. Vậy thưa vương phụ, sứ giả bệnh cũng không còn là cái gì làm cho thái tử động tâm nữa rồi, vì thái tử cũng đã biết rồi!
Đức vua lại một lần nữa mỉm cười rồi chậm rãi nói:
- Hay lắm, con thuyết phục hay lắm đấy! Còn sứ giả chết thì sao? Có lẽ con sẽ nói với ta rằng, thái tử là người am tường các tư tưởng triết học Vệ-đà và tiền Vệ-đà, chắc thái tử không ngây thơ đến nỗi, tưởng mình sẽ sống hoài không chết? Nếu sống hoài không chết sao lại có thần Sanh (Brāhmā, thần Sáng Tạo) và thần Tử (Shīva, thần Hủy Diệt)? Còn nữa, khi nghiên cứu một chính sách toàn diện để cải cách đất nước, lẽ nào thái tử không nắm tình hình dân số, lẽ nào không biết đến số sinh và số tử mỗi năm? Vậy, tất cả chúng ta rồi ai cũng phải chết, đó là điều bình thường; lẽ nào một bậc trí tuệ như thái tử lại không hiểu một điều bình thường giản dị như thế?
Lệnh bà Gotamī và công nương Yasodharā mới nghe tưởng mình đã thuyết phục được đức vua, nào ngờ, ngài thở dài nói tiếp:
- Có cái gì đó dường như vô hình, bí mật mà nó không chịu lộ diện. Biết bao nhiêu năm qua ta đã từng tư duy, trăn trở về sự có mặt của bốn vị sứ giả này. Ta đã ngăn chặn đủ mọi cách. Cái già, sẽ có đấy, cái già nào đó, với hình thái thế nào đó mà ai nhìn thấy cũng phải bàng hoàng, lo lắng - ấy mới thật là sứ giả! Cái bệnh, sẽ có đấy, cái bệnh thế nào đó, với hình thù gớm ghiếc thế nào đó mà ai nhìn thấy cũng phải rùng mình, sợ hãi - ấy mới thật là sứ giả! Cái chết cũng tương tợ vậy, phải là cái chết kinh khiếp, vật vã, quằn quại, thống khổ cùng cực... mới xứng đáng gọi tên là sứ giả! Còn về sứ giả sa-môn phạm hạnh thanh tịnh, biết đâu một lúc nào đó sẽ xuất hiện trước mắt thái tử? Ai bảo đảm điều ấy là không? Cho nên, hai người là người ta yêu mến; dẫu trái tim ta gật đầu, nhưng khối óc ta vẫn từ chối như thường. Thái tử chưa được phép ta thì chưa thể dạo chơi đâu hết, kể cả bên ngoài các cổng thành.
Cuộc thuyết phục thất bại, thái tử biết được, nói với Yasodharā rằng:
- Phụ hoàng chỉ muốn chúng ta có con để nối dõi dòng tộc, ấy là việc thứ nhất. Muốn ta đăng quang lên ngôi vua để cai trị quốc độ, chăm lo cho bá tánh, ấy là việc thứ hai. Bao giờ ta làm được hai yêu cầu đó, phụ hoàng mới an tâm, còn bây giờ, nói gì cũng vô ích. Người kiên định lắm!
- Vậy ý thái tử thế nào?
- Bây giờ chưa phải lúc. Hiện tại ta muốn gặp gỡ các ông hoàng để nghe ý kiến của họ.
Yasodharā ngạc nhiên:
-Việc gì thế, thái tử?
-Về cuộc đời thôi mà, Gopā!
Bây giờ họ đang ở cung điện mùa xuân, trời đang còn se lạnh. Thái tử đã có chủ ý, định lưu giữ các ông hoàng ở lại vui chơi nhiều ngày nên đã bàn với Yasodharā và lệnh bà Gotamī là phải tổ chức tiệc tùng chu đáo để cho họ được thanh thản vui chơi... Để tạo niềm vui mới, Yasodharāchịu khó cho người lặn lội đến tận nước Māgadha để mời cho bằng được một gánh hát nổi danh gồm những nhạc công, ca nhi, vũ nữ đang là ngôi sao tại kinh đô Rājagaha hoa lệ ấy.
Đến ngày, các ông hoàng tề tựu đủ cả, không sót một ai. Devadatta, Anudāma, Virulhāka từKoliya nghe tin cũng xe ngựa tìm sang... Lâu quá, họ mới được gặp gỡ nhau đông đủ như thế nầy, kể từ độ thiếu niên với ước mơ cháy bỏng cải cách đất nước. Cũng vì đang băn khoăn trướcý nghĩa của cuộc sống nên chưa ai lập gia đình. Họ đã thất bại trước kế hoạch này sang kế hoạch khác. Một số bị cha mẹ ràng buộc, chỉ cho vui chơi trong điền trang của mình hoặc làm một tiểu chủ để kiểm tra, đôn đốc các công việc. Một số phụ tá với cha tập sự vai trò, chức năng của một quan đại thần hay quan tổng trấn...
Devadatta hăng say trình bày sự thất bại trước công cuộc cải cách do đụng phải một lực cản vô hình - tương tợ Sākya vậy. Ai cũng hiểu lực cản vô hình ấy là những tham vọng, địa vị, danh lợi và quyền lực. Devadatta có tham dự một số phiên tòa như trại chủ đánh chết nông nô; các ông chủ ngân hàng xiết nợ, bắt luôn cả vợ con người ta mà đánh đập, hãm hiếp rồi cho sống đời nô lệ... Đấy là những tội lỗi đặc trưng của bất công xã hội cần phải trừng trị nghiêm khắc. Tuy nhiên, cán cân của công lý không phải lúc nào cũng trung chính, nghiêm minh – vì đằng sau bao giờ cũng có nhiều bóng tối khuất lấp, che phủ! Tất cả các ông hoàng dường như ai cũng đã nếm trải ít nhiều kinh nghiệm đắng cay về điều ấy!
Các cuộc tiệc tùng, ca nhạc vũ... dù mới mẻ, hấp dẫn... nhưng ai cũng giữ niềm vui chừng mực - vì thật ra, các ông hoàng đâu có thiếu thốn món dục lạc nào. Giờ đây, tâm trí của họ đang hướng đến cái gì khác, cái gì khác đó làm cho mục đích cuộc sống này có ý nghĩa hơn, có giá trị hơn!
Thái tử Siddhattha rất vui mừng khi thấy các bạn đã chững chạc, đã trưởng thành trong nhận thức, bèn thân thiết nói:
- Đấy cũng là trăn trở của ta đấy, các bạn! Muốn tìm cho ra ý nghĩa cuộc sống, giá trị cuộc sống - thì đó có thể là chủ đề để cho chúng ta cùng thảo luận hôm nay, được chăng?
Mọi người vỗ tay tán đồng. Devadatta chợt đưa mắt nhìn mọi người rồi dừng lại nơi thái tử, chậm rãi nói:
- Khi thấy mình bất lực trong việc cải cách đất nước, bất lực khi tham dự việc xử án ở pháp đình... hoàng huynh có biết đệ đã làm việc gì sau đó không?
Thái tử mỉm cười lắc đầu, Devadatta nói tiếp:
- Đệ đã cùng với thân hữu tìm niềm vui trong việc xây dựng các trại tế bần, các trạm xá công cộng, làm đường sá, cầu cống, trồng cây xanh và khuyến khích mọi người chôn lấp xác súc vật, rác rưởi ô uế, nạo vét các mương cống tù đọng... Khi làm các công việc ấy, chúng đệ bị hoàng gia, quý tộc la rầy, trách mắng thậm tệ; họ bảo đấy là công việc của bọn thủ-đà-la vàchiên-đà-la. Nhưng chúng đệ bất cần. Thấy nhân dân vui vẻ, sung sướng, chúng đệ cảm thấy việc làm của mình dù sao cũng có chút ý nghĩa, cũng có chút giá trị!
- Hay lắm! Lệnh bà Gotamī và Yasodharā khi làm các công việc tương tế, chẩn bần, lúc trở về cũng có chung một ý nghĩa như vương đệ vậy.
Ānanda chợt nói:
- Vậy ý nghĩa và giá trị cuộc sống là hãy làm cho mọi người được vui vẻ, được sung sướng?
- Chưa chắc đâu, hoàng đệ! Devadatta nói- những việc làm ấy giống như đi vá lại những tấm áo đã rách nát; rồi người ta lại sử dụng một cách cẩu thả, một vài ngày sau đã rách nát, hư mục... mà thôi!
- Đúng thế! Anudāma nói tiếp - bên Koliya, thật ít người hưởng ứng việc làm có ý nghĩa ấy, họ dè bỉu, ỉ ôi; người trí thức thì họ nói một câu đáng cho ta suy gẫm hơn: Lại muốn dùng bàn tay không mà múc cạn nước sông Gaṅgā!
Virulhāka thở dài:
- Nói tóm lại, những việc làm ấy rất là tốt, các bạn, nhưng nó là cái tạm thời, rất tạm thời...
Mahānāma cất giọng dõng dạc:
- Cả hai nước chúng ta đều trì trệ, bảo thủ, tình trạng dân trí lại thấp; đa phần mọi người sống đời cầu an, tiêu cực; việc làm dẫu tốt, đúng, có ý nghĩa, có giá trị, nhưng nếu không có một cuộc chuyển hóa từ trong lòng của mọi người - một cuộc chuyển hóa lương thiện và tích cực - thì tất cả sẽ trở nên vô nghĩa, vô ích. Là dã tràng xe cát biển đông mà thôi!
Kāḷudāyi bỗng thở dài rồi nói:
- Chúng ta lại trở lại với vấn đề giáo dục, vấn đề con người... đã thất bại hơn mười năm rồi, các bạn!
Bhaddiya xin được phát biểu:
- Tất cả những ý kiến của các bạn đều rất quý báu, nhưng chưa đi sít sao với chủ đề nên sinh ra tản mạn, càng lúc càng đi xa, sẽ rơi vào mông lung. Trọng tâm thảo luận của chúng ta hôm nay xoay quanh cụm từ: Ý nghĩa cuộc sống, giá trị cuộc sống! Thế nhưng, chúng ta chưa định danh thế nào là ý nghĩa? Thế nào là giá trị? Thế nào là cuộc sống? Mượn ngôn ngữ pháp đình, muốn xử tội, xử án, trước tiên phải nêu ra tội danh, tội chứng trước đã. Nếu chúng ta chưa đồng quan điểm, ý nghĩa là ý nghĩa gì? Giá trị là giá trị gì, vật chất hay tinh thần? Cuộc sống là gì, cuộc sống của ai, của tôi, của anh, của giai cấp nào hay của tất thảy mọi người? Phải đả thông, phải định danh tiền đề trước đã, các bạn!
Đúng là khẩu khí của một vị chánh án pháp đình tương lai nên phát biểu của Bhaddiya rất có trọng lượng, đã điểm đúng huyệt đạo của vấn đề. Và tầm vóc của vấn đề chợt trở nên rõ ràng nhưng cũng lớn lao hơn nhiều. Mọi người yên lặng khá lâu.
Devadatta chậm rãi nói:
- Đúng! Hoàn toàn đúng! Và nếu vậy, chúng ta đụng đến lãnh vực triết học rồi!
- Cả tôn giáo nữa! Kimbila xen lời - Rồi nào là ý nghĩa, giá trị của cuộc sống phù du này hay là ý nghĩa, giá trị linh thiêng, vĩnh cửu?
Thái tử thở dài, cất giọng buồn buồn:
- Đã hết đâu, Kimbila! Vấn đề của chúng ta bây giờ đã trở nên mênh mông như biển cả! Đã từ khởi thủy, khi có con người trên trái đất, người ta đã đi tìm rồi. Các bộ tộc thời còn săn bắt hái lượm, qua các thời đại lấy đá, lửa, sắt; họ đã tìm cách phục vụ cho nhu cầu đời sống. Và bây giờ, các bộ lạc có tộc trưởng, các nước cộng hòa có luật pháp, có hội đồng nguyên lão... tất thảy đều hướng đến phục vụ nhân sinh, đều đáp ứng ý nghĩa và giá trị cuộc sống. Song song với mục đích tại thế ấy, đã nhiều ngàn năm nay, tôn giáo, triết học đều đã đi tìm ý nghĩa, giá trị thiêng liêng hơn; họ đã để lại biết bao kinh văn cổ thư đã ám khói, mà ngôn ngữ ấy bây giờ không còn ai đọc được. Tuy nhiên, từ thời tiền Vệ-đà đến Vệ-đà, hiện giờ người ta vẫn còn đi tìm đấy thôi! Họ đi tìm qua các cuộc tế lễ, cầu nguyện, bùa chú, nước thánh, trầm tư, khất sĩ lang thang, tu khổ hạnh ép xác... Như vậy, vấn đề của chúng ta đặt ra cũng không mới mẻ gì!
Cuộc thảo luận chợt rơi vào hố thẳm.
Devadatta lâu lắm mới thốt lên:
- Rồi mỗi người mỗi ý nghĩa, mỗi giá trị! Rồi mỗi gia đình mỗi ý nghĩa, mỗi giá trị! Rồi mỗi tập cấp mỗi ý nghĩa, mỗi giá trị. Rồi mỗi bộ tộc mỗi ý nghĩa, mỗi giá trị! Rồi mỗi tôn giáo mỗi ý nghĩa, mỗi giá trị! Có ai đồng ý với ai? Rồi chuyện gì sẽ xẩy ra, hoàng huynh?
- Chuyện đã xẩy ra rồi, vương đệ! Đó là giật giành, tranh chấp, xung đột, chiến tranh...; ở tất cả mọi nơi, ở bên trong lòng người, ở trên tất cả mọi sinh hoạt xã hội, ở trong lịch sử ngàn năm trước đến ngàn năm sau... cho đến vô tận!
Nhìn sự im lặng của mọi người, thái tử kết luận:
- Toàn bộ ý kiến, ý tưởng của các bạn, nó như ngọn gió lạnh đã đi qua, đã thổi buốt qua tâm não ta bao năm, bao tháng, bao ngày... mà ta không thể giải đáp. Ta như đang đối diện với bóng đêm trùng trùng. Có lẽ lời giải đáp tối hậu, rốt ráo, tận căn của vấn đề... nó chưa thật sự có mặt trên cuộc đời này. Vậy chúng ta có nên đi tìm không, các bạn?
Ai cũng đáp là “nên lắm”, nhưng nhìn trên sắc mặt của mọi người, dường như lại nổi bật lên câu hỏi khác: “Đi tìm ở đâu bây giờ, nếu nó không có mặt trên cuộc đời?” Bế tắc!
Theo truyền thống tôn nghiêm của các gia đình bà-la-môn cổ xưa, người con trai ưu tú của tập cấp này lúc nhỏ phải chăm lo học hành, rành thông Vệ-đà, ngữ ngôn, văn phạm, võ nghệ, binh pháp, căn bản các học nghệ... Giai đoạn hai là phải lập gia đình; nếu chưa có gia đình, chưa có con trai nối dõi thì vẫn chưa được gọi là trưởng thành; từ đây phải chăm lo nuôi dưỡng, giáo dục con cái; đồng thời phục vụ xã hội theo khả năng và trí tài của mình. Giai đoạn ba của đời người, lúc đã già là rút lui, về vườn để tu tâm dưỡng tánh. Có thể có thêm giai đoạn bốn đối với một số người, là vào rừng sống đời đạo sĩ xuất thế. Thái tử thuộc giai cấp sát-đế-lỵ nhưng toàn bộ nếp sống, nếp nghĩ đều sử dụng văn hóa bà-la-môn từ nhiều đời. Bốn giai đoạn ấy, như là sản phẩm văn hóa tốt đẹp, cần thiết phải duy trì để đem đến các giá trị đạo đức tại thế, tạo nền tảng tâm linh cho thế gian nương tựa. Nhưng đối với thái tử, sự tu tập mà để dành cho tuổi già là không thích hợp. Sự tu tập, muốn thành tựu, đòi hỏi khả năng, ý chí và sức khỏe cả thể chất lẫn tinh thần của tuổi thanh xuân. Chàng nghi ngờ bốn giai đoạn của người con trai bà-la-môn hiện nay chỉ còn là công thức, nhãn hiệu không còn sức sống.
Bất đầu từ hôm thảo luận với các huynh đệ về ý nghĩa và giá trị cuộc sống, thái tử tự nguyện với lòng mình là phải tìm cho ra lời giải. Thế rồi, thời gian sau, chàng cùng Channa giả trang làm người khách thương tìm đến những công viên có bóng mát rải rác trong kinh thành - tìm gặp những sa-môn, đạo sĩ, du sĩ lang thang... Thái tử muốn học hỏi ở nơi họ những tri kiến mà chàng chưa được biết. Tuy nhiên, chàng hoàn toàn thất vọng. Ngay cả triết lý Vệ-đà mà họ cũng mù mờ. Có kẻ khá hơn một tí thì nói “muốn thể nhập với Thượng Đế chí tôn thì có ba con đường: một là cúng tế, cầu nguyện; hai là khổ hạnh diệt dục; ba là trầm tư và thiền định”. Nói như thế cũng bằng không, vì các điểm đó, chàng còn biết nhiều hơn họ nữa. Phải là cái gì khác kia. Đa phần, thái tử chỉ gặp những khất sĩ lang thang dơ dáy, dường như kiếm ăn là chính mà hình thức bên ngoài có vẻ rất khổ hạnh. Chưa có ai toát ra sự sắc sảo của một tri thức đáng kính.
Hôm nào nghe Channa báo tin có một đoàn đạo sĩ lạ mặt xuất hiện là thái tử lại giả trang tìm đến. Lúc thì các vị du sĩ từ nước Kosala, khi thì đoàn khất sĩ từ Kosambī; từ Vesāli, từ Rājagahahoặc từ Bārāṇasī (Ba-la-nại) và ấn tượng nhất là nhóm đạo sĩ đến từ Himalaya, có tướng mạo rất uy nghi, đường bệ; cử chỉ, thái độ, nói năng rất điềm đạm, trầm tĩnh. Họ đều có vẻ sở đắc thiền định. Thái tử đã đặt những câu hỏi mà chàng đã thắc mắc bấy lâu:
- Xin đạo sĩ cho biết mục đích của đời sống xuất gia thoát tục?
- Là trở về với Brāhman, đạo hữu!
- Nghĩa là bằng cách thiền định để thể nhập với ngài, phải vậy không thưa đạo sĩ?
- Đúng vậy!
- Thưa, đấy là cái biết của kiến thức! Học nhân chỉ muốn ngài chỉ bày cho là khi thể nhập như vậy thì cái hữu thức của Atman này nó tồn tại hay không tồn tại?
- Tồn tại và không tồn tại đều không thể là lập ngôn chính xác để nói về Đấng ấy, đạo hữu!
- Vậy Đấng ấy là gì? Là ai?
- Là Chân Phúc, đạo hữu!
- Lúc hữu thức của Atman đã thể nhập vào Brāhman, nghĩa là không còn cảm thọ, tri giác, ý thức - thì lấy cái gì để cảm nhận Chân Phúc, thưa đạo sĩ?
Thấy vị đạo sĩ già nua, quắc thước có vẻ lúng túng trước câu hỏi ấy, chàng bèn mở một hướng khác:
- Ý học nhân muốn nói là: Cái ấy, cái Chân Phúc ấy có phải là ý nghĩa và giá trị vĩnh cửu của cuộc sống không, thưa đạo sĩ?
- Đúng vậy, nó Bất Tử, đạo hữu!
Thái tử trân trọng đảnh lễ vị đạo sĩ già. Sau đó, như thường lệ, Channa mang đến vải vóc, dầu, muối, các loại thực phẩm, cơm bánh, rau trái, thuốc trị bệnh... để thái tử tự tay dâng cúng đến tất cả các bậc xuất gia có mặt hôm ấy. Ra về, thái tử cứ mang mãi niềm vui trong lòng. Tuy chưa được thỏa mãn, nhưng thái tử đã xác định được một điều: Các đạo sĩ tại Tuyết Sơn, quả thật là họ đã có tu, có chứng được cái gì đó; họ toát ra sự trầm tĩnh, ổn định đáng trọng!
Hôm ấy, thái tử khoe với Yasodharā:
- Không phải là hoàn toàn bế tắc đâu, Gopā! Có những đạo sĩ từ Himalaya xuống, họ đã tìm thấy một vài ý nghĩa và giá trị nào đó trong đời sống khổ hạnh ở sơn lâm!
Yasodharā chẳng lẽ không chia vui, nhưng nàng nói một câu hàm tàng nhiều ý nghĩa:
- Thái tử vui thì thiếp cũng vui, nhưng ý nghĩa và giá trị cuộc sống nó ở xa quá, ở đâu tận Tuyết Sơn nhỉ, chàng nhỉ?
- Thôi mà, Gopā!
Lúc này, thái tử vẫn thường xuyên vào triều, kề cạnh phụ vương, tham mưu nhiều việc mà không để lộ một dấu hiệu nào về chuyện gặp gỡ các đạo sĩ. Nhờ để tâm theo dõi, biết lắng nghe, biết cách nói, thái tử đã thuyết phục hội đồng trưởng lão, ít nhất cũng được ba việc làm chàng hài lòng:
- Các ông chủ nghiệp đoàn, tiểu chủ các nhóm thợ trên từng dãy phố đã chịu nâng mức lương cho các nghề thủ công, buôn bán nhỏ... như thợ mộc, ráp cửa, đóng xe, khắc gỗ, làm dụng cụ, đúc kim khí, nề, vải vóc, dệt, nhuộm, may, gốm, thuộc da, vẽ, bán hoa, làm vòng hoa, bán gia súc, đồ tể, đánh cá, bán cá, đầu bếp, cắt tóc, tắm rửa, giặt giũ, người đi ở - làm nô tì hay gia nhân... Tùy theo giá trị của công việc, nghề nặng nhẹ khác nhau mà lương họ được tăng từ hai đến năm māsaka mỗi ngày.
- Các ông chủ ngân hàng lớn và nhỏ đã chịu giảm lãi suất, từ mười lăm, mười tám phần trăm xuống còn mười hai, mười lăm phần trăm - để khuyến khích mọi giới kinh doanh buôn bán làm ăn. Buôn đường dài giảm xuống còn tám mươi, buôn đường biển giảm xuống còn một trăm tám mươi. Đây là một thành công lớn. Chàng còn đề nghị một nghiệp đoàn lớn mở một cách làm ăn mới: nghề bảo hiểm rủi ro!
- Đã mời được một số bà-la-môn chuyên gia nông lâm nghiệp từ Kosala sang - đã tốt nghiệp đại học Takkasilā - mở lớp huấn luyện cán bộ chuyên môn. Song song với lãnh vực đào tạo, các trấn, thành phải có chính sách khuyến nông cụ thể như giảm tô, thuế, cung cấp phân, giống và dụng cụ sản xuất. Các giống cây trồng và khai thác lâm, khoáng sản cũng đang được nghiên cứu...
- Bhagga và Bhāgu phụ tá công việc cho lệnh bà Gotamī và Yasodharā đã hoàn tất bốn trại phước xá ở ngoài bốn cổng thành làm nơi phát chẩn cho những kẻ đói nghèo vào các kỳ đầu và giữa tháng.
- Các ông hoàng đã tự nguyện hùn góp công sức và tiền của, kiến tạo bốn hoa viên - cũng ở ngoại thành - để dân chúng có nơi vui chơi, giải trí. Nơi này cũng là nơi sinh hoạt văn hóa cổ truyền, tổ chức các lễ hội dân gian...
Không báo với ai, hôm kia, thái tử sai Channa thắng ngựa; chàng muốn xem tận mắt các công trình ở ngoại thành có đẹp như lời các ông hoàng tô vẽ không. Đầu tiên, thái tử dạo chơi cửa thành Đông...
Đấy là một ngày nắng nhẹ, vạn vật tràn trề sức sống. Hai bên đường, nhà cửa và các hoa viên đều xanh sạch đẹp; chàng biết đấy là công sức của phụ vương và các ông hoàng. Bộ mặt kinh thành hiện lên rất sáng sủa, tươi mới; những cửa hàng đầy ắp hàng hóa, người người ăn bận tươm tất tới lui tấp nập... Có vài người khẽ cúi đầu hoặc đứng nép ra xa khi thấy cỗ xe sang trọng của thái tử chậm rãi đi qua...
Đây là cửa thành Đông với vòm gạch cao dày mà thái tử chỉ mới một lần bước qua; chàng cũng chỉ mới thấy thấp thoáng sinh hoạt và quang cảnh ngoại thành, chưa thật sự biết rõ phía ngoài kia dân gian sinh sống ra sao. Channa khẽ nói:
- Đời sống ngoại thành nó không giàu có, sung túc giống như trong nội thành đâu, thái tử!
- Ừ, ta biết - Thái tử khẽ gật.
Cỗ xe hai ngựa trắng đang nhàn nhã, thì trước mặt, một đoàn người ăn vận lam lũ, đầu đội những thúng, những bịch, những bao, những ghè... có vẻ rất nặng nề... bước đi hàng một bên vệ đường. Thái tử cho dừng xe lại, bước xuống. Chàng biết đấy là những người dân quê mang hàng ra bán ở thành phố.
- Cho ta được nói chuyện một lát - chàng nói với người đàn ông đi đầu - đừng ngại ngùng gì cả.
Người đàn ông da ngăm đen, râu rậm, quàng tấm áo màu xám tro... ngước mắt nhìn thái tử; nhận ra là một ông hoàng sang trọng nên sợ hãi dừng lại, thúng hàng vẫn để yên trên đầu.Channa tinh ý, bảo mọi người đặt hàng xuống, nghỉ ngơi một lát.
- Ông bán hàng gì đấy?
Người đàn ông trả lời rất lưu loát:
- Đa phần là nông sản như gạo, bắp, sắn, khoai...; số khác là cây nhà lá vườn như chuối, đu đủ, các loại rau - người đàn ông nhìn về cuối hàng - sau rốt là đinh hương, hồi hương, quế, tiêu... cùng một số củ, cây thuốc chữa bệnh, thưa ngài!
Thái tử gật đầu mỉm cười:
- Những nông sản này, bà con ta ở quê sao không để dùng mà lại đem bán?
- Thưa, chỉ khi có phương việc như tế lễ, cưới hỏi... hoặc cần mua sắm vật dụng gia đình... mới để dành đem bán lấy tiền; còn thường thường thì chỉ trao qua đổi lại loanh quanh trong xóm làng mà thôi.
- Vậy đời sống của bà con, những người đói khổ có nhiều lắm không?
- Thưa, chúng tôi không đói, nhưng các tháng rét thì khá cơ cực. Hễ ai có làm thì có ăn. Mấy năm nay nhờ đức vua nhân từ biết thương dân nên kẻ làm nông cũng đỡ khổ ít nhiều...
Thái tử mỉm cười, mở lời cảm ơn, sau đó sai Channa biếu tặng cả đoàn người - chừng hai mươi người - mỗi người mười māsaka, rồi lên xe tiếp tục lộ trình. Có lẽ do Channa tiết lộ thân phận của thái tử, nên khi cỗ song mã vừa chuyển bánh, đoàn dân quê đồng hô lớn:
- Cảm ân thái tử nhân đức!
Thái tử trừng mắt cảnh cáo Channa: “Lần sau đừng có lắm chuyện”. Lát sau, cỗ xe dừng lại ở trại phước xá. Bên ngoài cây cảnh xanh tươi, mát mẻ; những cây cao có bóng mát, điểm lơ thơ những chùm hoa đỏ, hoa trắng, hoa tím trông rất thơ mộng. Chàng trầm trồ khen. Vào bên trong, tường gạch kết hợp với gỗ ván tạo một không gian thoáng đãng... Thái tử đang dợm bước lên bục - sàn gỗ làm nơi phát chẩn, ăn thông một nhà kho trữ hàng - thì phía trước, xe ngựa xôn xao: Các ông hoàng hay tin thái tử xuất cung đi xem công trình nên lũ lượt tìm đến! Và thôi thì rôm rả chuyện trò, rôm rả quảng cáo công trình của lệnh bà Gotamī, Yasodharā, Bhagga, Bhāgu...Thái tử thấy lòng mình vui lâng lâng... Bất chợt, trước tầm mắt thái tử, ngay sát bên cửa, một bộ xương còm cõi, đen đúa từ mép đường lảo đảo bước qua. Đấy là một người già, quàng khố bằng tấm dẻ rách, tóc tai bù xù rối bời nửa đen nửa trắng xám, chiếc lưng cong gập như cái giàn xay, tựa trên cây gậy, lắc lư chao qua đảo lại. Đôi mắt đục sâu như một chiếc hố đọng nước...[1]
- Cái gì vậy? Thái tử bàng hoàng hỏi - Một con người à? Sao y lại ra nông nổi?
- Là một người già, đã quá già, thưa thái tử!
- Vâng, ta biết, ta biết rồi ai cũng phải già. Nhưng già như vừa rồi thì kinh khiếp quá!
- Cũng thường thôi, thái tử! Nếu ai mà sống quá lâu thì đều tương tợ như vậy cả. Nhất là những người quá đói khổ, neo đơn!
Thái tử im lặng, trầm ngâm. Rồi ra ta, Yasodharā... nếu mà trường thọ thì đều có cái hình thù kỳ dị, gớm ghiếc trông như quái vật kia! Chàng thở dài, nhìn các ông hoàng, nhìn Channa... rồi liên tưởng tất thảy, mai này, đều như vậy cả. Thái tử lại rùng mình, đưa mắt nhìn người già, nhưng không ai còn thấy bóng dáng ông ta ở đâu! Thái tử không còn muốn xem hoa viên nữa, tất tả lên ngựa bảo Channa đánh xe ra về, chỉ kịp gật đầu chào vội mấy ông hoàng.
Từ khi nhìn thấy người già sứ giả, nỗi buồn của thái tử càng sâu sắc hơn. Tuổi trẻ, sinh lực, mái tóc thanh xuân chẳng có gì để tự hào nữa. Bây giờ, thái tử mới cảm nghe buốt lạnh lời gió nói hôm nào: “đổ vỡ, bất toàn, thời gian; hư vô nuốt chửng, hư vô đào huyệt thế gian này!” Ôi! Con người, dù danh vọng, quyền lực đầy mình cũng bị đoanh vây trong hữu hạn. Mọi người sống làm gì, ta sống làm gì khi cuối đời chỉ còn một nắm xương nhăn nhúm, cái lưng cong gập như cái giàn xay? Thời gian tàn phá và hủy diệt không chừa một ai cả.
Thấy thái tử chỉ dùng chừng một nửa nắm cơm rồi đứng dậy, Yasodharā ân cần hỏi:
- Từ khi đi ngoại thành về đến giờ, dường như thái tử buồn lắm?
- Ừ, ta gặp một người già, Gopā! Hình dong người già này kinh khiếp lắm! Ta nghĩ, rồi ta cũng như thế, nàng cũng như thế, quả thật ta rất sợ hãi. Tuổi thanh xuân rồi chóng qua đi, mọi niềm vui đều chóng tàn; bây giờ ta mới cảm nghiệm thấm thía hơn cái điều mà trước đây ta với nàng thường hay tâm sự.
Đêm đó, thái tử lại nằm mộng. Thấy mình nằm trên đám mây trắng, cứ trôi đi, cứ lướt đi... qua núi đồi, thung lũng, sông suối, biển hồ. Từng quốc độ, từng quốc độ... trải dài dưới lưng; rồi bất chợt, đám mây rơi xuống một vực sâu hun hút, vô tận... Một đám lửa hừng hực tự lòng đất bốc lên, nóng quá, tan chảy tất cả. Thái tử lắng nghe sự tan chảy. Lâu lắm, lâu lắm, đám mây trắng chợt hiện thành một đóa sen hồng, đỡ lưng thái tử. Một làn khí mát lạnh phủ trùm cả châu thân. Thái tử được nâng bỗng lên, ngồi tọa thị điềm nhiên trong miền hư tĩnh, an lạc tuyệt đối. Lúc ấy, giữa thinh không, có vô số chư thiên hiện ra. Hoa trời rơi xuống như mưa tuyết. Đàn sáo ca đâu đó trỗi lên, vang cả hư không, tấu lên một khúc hát, lời rằng:
-“ Giờ đã đến rồi, vị bồ-tát tối thắng!
Hãy lên đường đi thôi, vị bồ-tát tròn đầy ba-la-mật!
Hãy ra đi đi thôi, hãy lựa chọn con đường bất tử!
Hãy đi theo lộ trình mà ngài đã chọn tự ngàn xưa!
Giờ đã đến rồi, hãy tỉnh thức đi thôi, Thái tử!
Một sứ giả già nua đã hiện ra rồi đấy, thái tử!”
Ngơ ngác, thái tử ngồi dậy, âm thanh kia dường như còn văng vẳng bên tai. Mùi hương của hoa trời như còn ngây ngất ở xung quanh! Giờ đã đến rồi sao? Thiên thần đã nhắc nhở ta sao? Tự ngồi, tự gẫm một mình, thái tử không muốn làm kinh động Yasodharā, dù sao, trái tim kia cũng rất mềm yếu!
Tin thái tử kinh cảm khi thấy một người già đến tai đức vua Suddhodāna làm ngài cũng xúc động theo! Thế là một sứ giả đã xuất hiện rồi sao? Đức vua cặn kẽ hỏi tả hữu, sau đó, triệu mấy ông hoàng có mặt lúc đó vào triều. Anuruddha và Ānanda tức tốc đến ngay.
- Hình dong, tướng mạo người già ấy như thế nào, tả lại cho trẫm nghe? Vua gấp gáp hỏi.
- Kinh khiếp lắm- Anuruddha nói - người già này già tận cùng của cái già, ghê gớm, xấu xí như quỷ, tâu đại vương!
- Nói thế cũng bằng không - Đức vua gắt - Hãy tả cho rõ kìa?
- Tâu đại vương - Ānanda rành rẽ tả - người già này rất là đặc biệt. Dường như tất cả cái xấu xí, lụi tàn, già úa... của tất thảy mọi cái già đều hội tụ lại nơi một con người. Để hoàng nhi tả từng chi tiết một. Về bộ xương già thì đen điu, cong gập như cái giàn xay, bước đi chao đảo, lắc lư, như dồn hết sức tàn để dềnh tới, hắt lui, tựa mình trên cái gậy. Làn da không còn là làn da nữa, mà như người ta lột da con gà cháy thui rồi đem phơi năm bảy nắng; nó nhăn nheo như miếng cau khô, từng tấm, từng mảng, cảm giác như đụng đến là nó sẽ rơi ra! Tóc râu không biết có phải là tóc râu không, hay là tổ chim, tổ quạ vô trật tự; màu tóc, không biết là màu gì; cảm giác như phân gà, phân bồ câu, ỉa từng đống lâu ngày nửa đen, nửa trắng, bốc mùi tanh tưởi của xác thối.. Hai hốc mắt thì là hai cái hố đen, sâu, đọng nước phèn...
- Thôi, thôi - Đức vua khoác tay - đủ rồi, trẫm hiểu rồi!
Nhưng mà từ trước đến nay- Đức vua nghĩ - những người già nua xấu xí như thế ta đã tẩn xuất đi xa rồi còn gì? Cũng lạ! Rồi nghe nói người đó biến đi đâu mất như phép lạ? Như cái thuở phân xử con chim hạc đầu đỏ? Hay có vị thần nhân nào xen dự vào chuyện này? Người già, già như kiểu Ānanda đặc tả thì có lẽ cũng kinh khiếp thật. Nhưng có lẽ do thái tử mới ra cửa thành lần đầu nên cảm xúc đang còn mới mẻ, lâu ngày chắc cũng trơ lì đi. Và khi đã quen mắt thì cái gì cũng trở nên bình thường!
Hôm sau, gọi thái tử vào, đức vua hỏi:
- Con kinh cảm lắm sao, khi thấy người già ấy?
- Vâng, thưa vương phụ! Nó đã tác động khôn cùng đến tâm não của hoàng nhi. Cuộc sống của con người rất là bi thảm, ai rồi cũng như thế, thì tích lũy, thu góp, giật giành, chiến tranh để mà làm gì, thưa vương phụ?
- Cái già nó bình thường thôi con! Xúc cảm cũng vô ích thôi con! Từ rày ta cho phép con được đi đây đi đó cho khuây khỏa!
Nói thì nói thế, nhưng khi thái tử vừa rời khỏi cung, đức vua ngầm lệnh cho mấy trăm quân cấm vệ đi tảo thanh cả ba cửa Nam, Tây, Bắc để ngăn chặn người bệnh, người chết. Đồng thời ra lệnh cho đội nhân công tạp dịch, vệ sinh thành phố... đi làm xanh, sạch, đẹp những lộ trình mà thái tử sẽ đi qua...
Nhưng mờ sáng hôm sau, thái tử không đi ngựa, mà lầm lũi cùng với Channa trong vóc dáng một khách thương buôn đi ra cửa thành Nam...
Thái tử nói với Channa:
- Chúng ta giả vờ không biết đến việc làm của vương phụ! Ta chỉ muốn quan sát dân tình. Ta chỉ muốn tìm hiểu đời sống thật sự của muôn dân đằng sau cái gì mà phụ vương muốn che lấp!
Thế rồi, thái tử tìm đến một khu lao động nghèo nàn. Đây là xóm cư dân thủ-đà-la. Họ chuyên nghề tạp dịch nặng nhọc và dơ uế như khuân đá, đào đất, đắp đường, nạo vét ống cống, dọn rửa các công trình vệ sinh, dọn xác sinh vật thối, người chết vất vơ trong thành phố...
Đã từng nghe Yasodharā nói về số người bất hạnh này, nhưng thái tử cũng không ngờ sự đói nghèo và cơ cực của họ vượt quá sức tưởng tượng của chàng. Thái tử đứng bàng hoàng trước những cái lều rách nát, tối tăm còn tệ hơn cả những chuồng ngựa, chuông bò của cư dân thành phố... Thái tử đứng nhìn những bóng người vật vờ vào ra; người lớn thì đóng khố và ở trần, đen điu, xương xẩu; trẻ nhỏ thì trần truồng, bụng ỏng, da chì, ghẻ lở... Và đâu đâu cũng rác bẩn và ruồi nhặng...
Channa nói nhỏ bên tai thái tử:
- Đa phần, người mạnh khỏe họ được làm việc trong những đội phu tạp dịch, dầu sao cũng có cái ăn. Nhưng còn có những người chiên-đà-la, đời sống của họ còn tệ hơn; họ không có chỗ ở, không có việc làm, họ sống trong những ống cống, những am miếu bỏ hoang... Mọi người đều xa lánh họ. Và họ cũng không dám đến gần một ai, người giai cấp khác.
- Thế họ làm sao để sống, Channa?
- Khi nào công việc quá dơ uế, quá nặng nhọc mà người thủ-đà-la khinh chê hoặc làm không nổi thì mới đến phiên họ, thái tử!
Có tiếng rên la từ trong một chiếc lều vọng lại. Tiếng rên la có vẻ rất đau đớn. Một người đàn ông đóng khố trần vòng tay đứng nhìn thái tử không biểu lộ một cảm xúc nào. Một em bé ngồi dựa vách đất đưa mắt tho lỏ nhìn khách lạ. Thái tử mở lời thân thiện:
- Ta không có ý gì xấu! Tiếng ai rên la như thế?
Người đàn ông đưa tay chỉ vào đống chăn nơi xó vách, cũng không nói gì. Thái tử cúi đầu bước vào, một mùi hôi thối xộc vào mũi. Trên tấm ván trần, một tấm chăn rách nát vắt hờ hững trên một xác người queo quắp; người ấy không ngớt co giật và rên la như một con thú bị tử thương! Thái tử động lòng, bước nhanh lại. Người bệnh tròng mắt trắng dã, cái miệng méo xệch, sủi bọt nhờn; từng giọt mồ hôi tươm ra trên làn da vàng ủng, meo mốc. Thái tử khẽ nâng đầu người ấy đặt nhẹ lên cánh tay mình, cất tiếng hỏi, vô cùng quan tâm:
- Ngươi đau làm sao, đau chỗ nào, cần ta giúp đỡ gì thì cứ nói!
Chợt một giọng nói ồm ồm cất lên phía bên sau:
- Bệnh dịch hạch đó, cứu chi được, đợi chết thôi!
Giọng Channa đầy vẻ sợ hãi:
- Bệnh này lây nhiễm đó, thái tử! Hãy tránh cho xa! Hãy đi thôi, thái tử!
Thái tử thảng thốt nhìn người bệnh. Y khoảng chừng trên dưới ba mươi tuổi, hai tay run rẩy cứ bíu chặt tấm áo bào của chàng, hơi thở càng lúc càng gấp gáp, mồ hôi tuôn đổ, bọt mép lại trào ra. Thái tử nhẹ nhàng lấy khăn sạch lau khuôn mặt cho người bệnh, thẩn thờ nói:
- Không thể cứu được sao, Channa?
- Không thể, bệnh này vô phương cứu chữa, tất cả mọi thầy thuốc đều bất lực!
- Y còn trẻ quá, Channa!
Người bệnh trên tay thái tử chợt co giật một hồi, kêu la không ngớt rồi ngoẹo đầu, tắt thở...
Bệnh rồi chết, nhanh thế sao? Thái tử như không tin vào mắt mình? Ta rồi cũng vậy sao, cái bệnh và cái chết sẽ lôi kéo ta đi, thình lình, đột ngột, chẳng biết là lúc nào? Ôi! Con người, con người, hoàn toàn bất lực trước cái già, cái bệnh, cái chết; chẳng thể trốn đâu cho thoát!
Thái tử đứng dậy, thẩn thờ. Lát sau, thăm hỏi người đàn ông gia chủ mới biết rằng, người bệnh là con trai của ông và đứa bé kia là cháu. Vợ người bệnh và mấy người con lớn đã đi làm tạp dịch ở thành phố từ lúc mờ sương... Thái tử đưa mắt nhìn quanh, căn nhà tuềnh toàng, xơ xác, trống rỗng, không có gì cả; và có lẽ họ cũng không có cái ăn, cái mặc... Thái tử sai Channabiếu tặng gia đình một khoảng tiền đủ để chi dụng trong một thời gian, đồng thời, lo cho người chết.
Người đàn ông chợt quỳ xuống, lắp bắp:
- Con không biết là ngài, con không biết đây là thái tử nhân đức, hãy bỏ lỗi cho con!
Nói xong, y khóc, những giọt nước mắt sụt sùi, lặng lẽ... Thái tử dịu dàng nâng tay người đàn ông đứng dậy, ân cần nói:
- Ta không giúp được gì nhiều đâu! Cái đói, cái nghèo của muôn dân là lỗi ở nơi ta, lỗi ở nơi các giới cấp lãnh đạo. Ta vô cùng xin lỗi. Hãy chuẩn bị lo hậu sự cho người chết, ta đi đây!
Lúc rời khỏi căn nhà một khoảng đường, thái tử mới nói:
- Đúng là những giọt nước không thể cứu khổ cả sa mạc! Lệnh bà Gotamī đã mỏi mòn màYasodharā cũng đã có dấu hiệu mệt mỏi. Tuy nhiên, họ vẫn còn đủ tâm, đủ trí để hoàn thành thêm bốn trại phước xá thì quả thật là đáng phục!
Tối về, thái tử kể lại mọi chuyện cho Yasodharā nghe mà lòng còn kinh cảm, chàng cũng không quên thốt lời kính phục về bốn trại phước xá.
- Thiếp thì đã quen với điều ấy, chuyện ấy, cảnh ấy! Còn có những cái bệnh trông còn kinh khủng hơn là bệnh dịch hạch. Đấy là bệnh phong cùi. Có người chỉ còn hai cái hốc mắt hoặc hốc miệng sâu hoắm. Họ rụng ngón tay, rụng ngón chân, rụng đến cả cái cùi tay. Cơ thể chỗ nào cũng lỡ loét, mủ máu bầy nhầy, hôi hám, trông vô cùng kinh tởm. Mọi người đều tìm cách tránh xa. Họ như là một động vật quái dị sống vất vưởng bên lề xã hội. Vậy mà chàng biết không, khi lòng bi mẫn khởi lên thì nó chiến thắng cả cái sợ; đã vài lần thiếp gần họ, an ủi họ, không những phân phát cơm bánh, vật thực, áo quần... mà còn đút cho họ ăn nữa đấy - vì có kẻ không còn một ngón tay nào!
- Vô cùng kính phục! Thái tử thốt lên tiếng nói tận đáy lòng, đưa mắt âu yếm nhìnYasodharā rồi tiếp - Hóa ra nàng biết nhiều quá mà từ lâu đã giấu ta!
- Phải rồi, phải dấu chứ! Nàng buồn bã nói - Ai ở quốc độ này mà không biết chuyện tiên tri của đạo sĩ Asita và bà-la-môn Koṇḍañña? Nếu chàng kinh cảm bốn vị sứ giả thì chàng bỏ thiếp mà đi làm đạo sĩ xuất gia rồi!
Thái tử chợt đứng dậy bước ra hiên, đêm, trăng sáng nhờ nhợ, mông lung; chàng tỳ tay lên lan can ngắm nhìn một vài vì sao xa nhập nhòa không ánh sáng. Ôi, lòng ta cũng nhờ nhợ, mông lung, không có một ánh sáng nào! Cái già, cái bệnh, cái chết chi phối đời người một cách tất định! Làm sao để thoát ra? Mà thoát ra là thoát ra đâu? Kinh điển Vệ-đà cũng nói sinh tử, luân hồi, nghiệp báo... nhưng hơi mơ hồ; đặc biệt, con đường thể nhập là đáng lưu ý: Trở về với ngài, với Đấng Ấy là hết sinh tử, hết trầm luân?
Sương đêm xuống lạnh, Yasodharā dịu dàng quàng cho thái tử một tấm nhung mỏng và mịn để choàng vai. Thái tử nghiêng người, nắm cả hai tay Yasodharā rồi nói:
- Những bàn tay của chúng ta thì quá nhỏ mà sự đau khổ của cuộc đời thì vô tận, biết làm sao bây giờ hở Gopā!
Đêm kia, thái tử thấy mình chìm vào một giấc mộng khác nữa. Chàng thấy mình vùng vẫy giữa dòng nước xoáy rồi bị hắt ra, va đập vào một vách đá cao sừng sững. Giữa vùng đen ngòm, bọt tung trắng xóa, dòng nước lại cuộn đi, trôi phăng, trôi xuống một vực sâu hun hút, tấp vào một bãi cát, gờn gợn lân tinh của xương cốt và sọ người. Ôi! Một biển cả mênh mông không một bóng người, không một chiếc thuyền, không một tiếng sóng vỗ, không một âm thanh của sự sống. Không gian quạnh vắng, hoang vu đến ghê rợn. Bỗng nhiên, mặt biển bị tách rời làm đôi, vạt nước hai bên cuộn lên như cuộn tấm thảm, dạt về hai hướng khác nhau; chính giữa hiện ra một con đường bằng phẳng, phong quang. Những giọt nước lấm tấm đột ngột nở thành hoa, bung xòe ra như nấm, trải dài đến vô tận. Thái tử bước đi, nhẹ nhàng, không trọng lượng, như không dính vào đâu cả.
Từ hư không, tiếng nói của thiên thần vọng rõ ràng, mồn một vào tai chàng:
“- Giờ đã đến rồi! Giờ đã đến rồi!
Hãy ra đi thôi, Bồ-tát!
Ngài hãy ra đi, hãy lướt đi
Hãy lướt qua si mê, bóng đêm, lầm than và khổ nạn.
Hãy lướt đi như chiếc bóng giữa hư không
Hãy khinh bỉ quyền lực của ma vương
Và khinh bỉ ngũ dục tầm thường
Ấy là con đường “xuất trần thượng sĩ”
Hãy từ bỏ vinh quang của vương vị
Vinh quang của ánh nắng sớm
Của làn mây chiều
Chỉ khoảnh khắc là thoáng mất
Vinh quang ấy chính là giấc mộng của Māyā
Là trò ảo thuật quỷ quyệt của Yakka
Là lưới võng, là xích xiềng
Là nỗi khổ, là niềm đau vô tận
Thế giới ba ngàn lửa cháy và hủy diệt
Lửa cháy và hủy diệt ở trong lòng người
Hãy ra đi tìm phương thuốc cứu độ
Hãy gỡ thoát đêm đen sinh tử
Đêm đen mịt mùng
Của cái già, cái bệnh, cái chết
Hãy dũng cảm như con mãnh sư
Hãy cất cánh thênh thang như chúa thiên nga
Đừng dễ dãi cúi đầu
Và an phận trong cái dung tục, bình phàm
Hãy tầm cầu vô thượng
Hãy treo cao ngọn cờ chiến thắng trên đỉnh Sineru
Hãy mang khối óc mặt trời và trái tim mặt trăng
Bởi trí tuệ kiêu hùng và tình yêu dịu dàng rộng lớn
Không thể dừng lại
Không thể chần chừ
Không thể lưỡng lự
Hãy ra đi
Hãy chảy trôi
Hãy ca lên bài ca tự do
Bài ca giải thoát tối thắng
Giờ đã đến rồi
Giờ đã đến rồi, Bồ-tát!
“Giờ đã đến rồi!” Thái tử bàng hoàng, trán tươm rỉ mồ hôi, chàng lẩm bẩm... Phải! Phải ra đi thôi! Ôi! Tiếng gọi kia sao mà thống thiết, giục giã đến thế! Ta đã hứa với các bạn là sẽ ra đi tìm “cái gì chưa thật sự có mặt trên cuộc đời”. Cái ấy mới thật sự có ý nghĩa, là giá trị vĩnh cửu cho cuộc sống này! Lạ lùng làm sao! Tiếng gọi kêu ấy là của thiên thần hay là của chính ta - được trào vọt ra từ vô thức?
Chiêm nghiệm về giấc mộng và ý nghĩa của lời ca, thái tử thẩn thờ suốt mấy ngày. Nhai cơm như nhai những cọng rơm, uống nước như uống chén thuốc đắng. Hoa không còn hương và kể cả những lò trầm chiên-đàn cũng thoảng mùi khói bụi. Tiếng nhạc lời ca của vũ nữ, ca nhi, nhạc công là những âm thanh the thé, khó chịu đâm sâu vào màng nhĩ... Ngày vật vờ, đêm mộng mị.
Yasodharā cảm thấy sợ hãi, đến bên, ân cần xoa lưng, han hỏi. Thái tử trầm ngâm một lát rồi nói:
- Không sao đâu, Gopā! Và khoan đã! Ta chưa thể nói vội. Có cái gì đó ở nơi ta chưa yên, chưa định hình. Lúc nào cảm thấy điều đó là rõ ràng, là cụ thể, là hiện thực... ta sẽ nói. Đợi chúng chín muồi đã.
Mấy hôm sau, thái tử lại cùng với Channa trong dáng thương buôn tầm thường, bộ hành ra cửa thành Tây.
Đây là con lộ rộng rãi, thái tử biết là nếu cứ đi mãi sẽ bắt gặp một xa lộ thênh thang dẫn đến nước Kosala giàu mạnh. Và nếu cứ theo chân những đoàn ngựa thồ, đoàn lạc đà ngồn ngộn hàng hóa... sẽ đến Takkasilā và những vương quốc nào đó ở phương mặt trời lặn.
Lối đi về cửa thành Tây rất nhộn nhịp. Thái tử và Channa cùng chen chúc với đám bộ hành. Hai bên đường, hàng quán la liệt tràn ra tận đường cái. Xe hai ngựa, xe bốn ngựa của các vị tướng sát-đế-lỵ, của các tiểu thư con nhà quyền quý hoặc của các nhà thương buôn giàu có rộn ràng tới lui. Những cỗ xe bò cồng kềnh hàng hóa ì ạch hướng về Kapilavatthu hoặc hướng vềKosala xa xăm. Lòng thái tử cảm thấy vui vẻ trước cảnh sinh hoạt rộn rịp, đông vui ấy. Có vài gánh kiệu đặc biệt đi ngang, hai bên kiệu có kẻ thổi sáo, có kẻ hát lên một âm khúc hoan lạc, thanh bình. Hai chú lạc đà to lớn với những kiện hàng cao nghễu nghện có hai chú nài quấn khăn rằn trên đầu, râu ria um tùm... kẻ gõ trống, người đánh chiêng, miệng la hét mọi người tránh chỗ...
Thái tử và Channa dừng lại nơi một đám đất bằng. Một nhóm người chen chúc quanh một người đàn ông xiếc rắn. Hai con rắn hổ mang to lớn, dựng đứng thân trước, hai cái mang to phành ra, thè lưỡi đỏ rất ghê sợ. Người đàn ông đóng khố, mình trần, phết trên mặt, ngực, lưng, bụng những sắc màu kỳ dị. Đấy là màu vàng tươi của nghệ, màu vàng sậm của thổ hoàng, màu đỏ của son và màu trắng của vôi trầu: trông giống như một lá bùa trấn ma, yểm quỷ. Chợt... y hô“aum, aum”, một hồi, mắt lim dim, miệng lâm râm như đọc bùa chú... rồi hai tay nâng cái kèn đồng lên miệng, phồng má, trợn mắt thổi một bản nhạc nghe rất hoang dã, rất rừng rú... Hai con rắn đứng yên, lắng nghe, lắc đầu bên này, lắc đầu bên kia... Lát sau, chúng nhảy một vũ điệu rắn, trườn tới, trườn lui, uốn qua, uốn lại rất nhịp nhàng, điêu luyện. Sau đó, người đàn ông ngồi chồm hổm, vừa thổi vừa nhảy; sau lưng hai con rắn nhảy theo. Người nhảy thì rắn nhảy. Người dừng thì rắn dừng... Mọi người vỗ tay tán thưởng rồi quăng những đồng tiền xu, bạc cắc xuống cái khay của người xiếc rắn. Thái tử mỉm cười, đưa mắt nhìn Channa. Channa hiểu ý, bốc một nắm tiền trong đãy, thưởng hậu hĩ cho người làm xiếc.
Họ bước đến một đám đông khác. Ở đây có một người đàn ông vận khố đỏ, đầu quấn khăn đỏ... đang đi chân không qua đám than lửa cháy hừng hực. Người ta lại cho tiền. Một đám khác, một người đàn ông to lớn, lực lưỡng, tấm thân loang loáng màu đen nâu đang nằm trên một bàn chông sắt, phơi ngực trần được ngăn bằng một tấm đá dày cỡ ba lóng tay. Một người đàn ông cao, to hơn nữa, cầm búa sắt rất lớn, gồng mình, cơ bắp cuồn cuộn, trụ tấn rồi nện cật lực xuống tấm đá. Đá vỡ mà người vô sự. Người ta lại cho tiền rào rào... Một đám đông, chỗ khác nữa. Một người đàn ông gầy guộc, dáng dấp như một đạo sĩ khổ hạnh... đang ngồi tọa thiền trên một bàn chông tua tủa những lưỡi dao nhọn hoắt. Ông ngồi kiết già, lưng dựng thẳng, hai tay bỏ lên bắp vế... đã an nhiên, tự tại suốt mấy canh giờ... Trước mặt cũng là cái khay đã khá nhiều tiền xu!
- Người kia làm thế nào lại ngồi lâu trên dao nhọn thế, Channa?
- Chưa ăn thua gì đâu, thái tử! Có kẻ cũng ngồi trên dao nhọn như thế... nhưng thỉnh thoảng còn bay bổng lên cao nữa kìa!
- Ồ! Thật lạ lùng!
- Có đạo sĩ trông giống như bộ xương khô, nằm trong thùng đồng, thùng sắt... rồi khóa lại. Lát sau, mở ra... không thấy gì cả. Hóa ra ông ta đang đứng vòng tay, mỉm cười ở phía sau!
- Lạ lùng!
- Chỉ kiếm tiền ăn thôi, thái tử! Là nghề sinh sống của họ. Nhẹ nhàng hơn cuốc đất, làm ruộng...
Đang nói chuyện với Channa, thái tử chợt nghe bên tai thoảng tiếng trống, tiếng kèn... dặt dìu, rộn rã... cùng với lời ca, tiếng hát vui tươi. Một đoàn người sắc phục lòe loẹt đi bên cạnh hai chiếc kiệu được trang hoàng đẹp đẽ bằng vải, lụa và hoa tươi. Hóa ra là một đám rước dâu về nhà chồng...
Thái tử mỉm cười nhìn theo như thầm chúc phúc cho đôi tân lang, tân nương... thì bên tai, đâu đó vọng lại tiếng kinh của các thầy bà-la-môn. Bốn người đàn ông khiêng một giàn tre, bên trên có một xác người. Đến gần thì thấy một thanh nữ, mái tóc xanh đen, khuôn mặt vàng võ, hốc hác, mắt khép lại. Một tấm chăn bông đắp ngang qua bụng, hai chân trắng xanh, gầy thò ra ngoài. Trước là hai thầy bà-la-môn đi chân đất, vận tấm y trắng đã ngả màu, tụng những lời kinh cầu nguyện. Thái tử lắng nghe, biết là từ kinh Rig-veda, nhưng đã được biến cải, thay đổi chút ít trong nhân gian.
“- Hỡi đấng Hằng sinh
Hỡi đấng Rāma linh thiêng, cao cả
Người là chúa tể của thiên giới
Là cha sinh của muôn loài
Đôi mắt của người là mặt trời và mặt trăng
Linh hồn của Người là muôn sao rạng rỡ
Cánh tay của Người là núi là sông
Thân thể của người là bình nguyên và biển cả
Người là sức sống của vạn vật
Là vinh quang và chân phúc
Hãy thương xót chúng con
Những hạt cải, hạt mè
Với linh hồn bụi bặm
Hãy tiếp độ chúng con
Hỡi đức Rāma tối thắng!”
Giọng tụng đọc đều đều, ngôn từ có vẻ tha thiết nhưng nghe sao chẳng xúc động chút nào. Đi phía bên sau có lẽ là thân nhân, bà con, quyến thuộc. Họ bước đi, cũng lặng lẽ, không một lời than, không một tiếng khác...
Thái tử ra dấu, cùng với Channa tháp tùng, đi sau cùng, theo đám tang đến sườn đồi. Ở đây là nghĩa địa lộ thiên. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc. La liệt đây đó là xương trắng, là sọ người... và còn những xác chết quăng bỏ bừa bộn trông không còn nhân dạng. Những chú quạ, ó, kền kền, diều hâu... thấy người nên bay lượn táo tác...
Một giàn củi cao được chất sẵn, xác cô gái được đặt lên trên. Các thầy bà-la-môn lại tụng kinh, rảy nước thiêng soma. Một bó đuốc to được châm vào đống củi. Nhờ có bùi nhùi và gỗ dẫn cháy nên lửa táp nhanh, bốc rần rật. Lát sau, lửa liếm quanh, rực lên, khói tỏa mịt mù lẫn mùi khen khét của thịt cháy...
Nhìn ngọn lửa bốc cao, các thầy bà-la-môn lại tụng kinh cầu nguyện thần lửa - thần Agni -thiêu cái xác bất tịnh:
“- Hỡi đấng thần Agni uy nghi, hiển hách
Ngài là linh hồn của vũ trụ
Nhờ ngài mà mọi loài được sinh ra
Được lớn lên và tăng trưởng
Nhờ ngài mà những sinh linh được hóa thân
Nhờ ngài mà xác thân trần tục được thiêu hủy
Được lọc sạch nhiễm ô và bụi bặm
Nhờ ngài mà năng lượng thiêng liêng
Được nhen nhúm giữa trần gian
Nhờ ngài mà ngu si và bất tịnh không còn nữa
Lửa thần sẽ cháy mãi, sáng mãi
Giữa đêm tối xấu xa
Chúng con cầu nguyện ngài
Quy kính và tín thành
Xin ngài hãy tiếp độ sinh linh này
Và đưa hồn lên thiên giới
Cháy mãi, sáng mãi
Hỡi thần Agni vinh hiển!
Hỡi thần Agni bất tử!”
Lời kinh dứt. Thái tử nói nhỏ, thoảng bên tay Channa:
- Hay lắm! Ý nghĩa lắm, Channa! Thật ra, có một vài đoạn còn hay hơn thế nhiều, có lẽ những ông thầy tụng tư tế này chưa được học chăng?
- Thái tử thật là thông kim bác cổ... Thái tử có thể đọc nhỏ cho kẻ nô tì ngu si này nghe với không?
- Ồ! Được chứ! Rồi thái tử đọc:
“- Ôi! tàn tro, cháy hết chỉ còn tàn tro!
Nào sầu muộn, nào khổ đau, nào niềm vui, nước mắt... hãy cháy hết, chỉ còn tàn tro!
Hỡi thần Agni!
Xác thân này đã hủy diệt
Đã đi qua lằn mức cuối cùng
Bên này tử, bên kia sinh!
Hỡi tàn tro! Cháy hết chỉ còn tàn tro!
Đời người bi thương, hoạn nạn quá nhiều!
Hãy cháy đi! Hãy đốt đi!
Hỡi thần Agni!
Mọi vinh nhục, được thua, khen chê, khổ lạc...
Chỉ còn tàn tro!
Rồi tan vào mây xanh vô tận!
Hỡi thần Agni bất tử!”
- Bẻm mép! Thái tử gắt.
Channa chợt băn khoăn:
- Nhưng mà thần Agni có đưa linh hồn lên thiên giới được không, thái tử?
Thái tử chợt trầm ngâm:
- Quả thật, ta cũng không biết, Channa! Người chết có kẻ xấu, người tốt. Chẳng lẽ thần Agnikhông biết phân biệt trắng đen, tốt xấu - cứ hễ ai cầu nguyện, dâng lễ phẩm cho Ngài - thì Ngài đưa lên thiên giới cả hay sao? Ta nghi ngờ lắm!
Channa gật đầu:
- Đúng vậy! Thái tử còn sáng suốt hơn cả thần Agni!
Thái tử cất giọng buồn:
- Ta chưa sáng suốt đâu, Channa! Ta còn tối tăm lắm! Ta đang bất lực. Rồi ta, rồi ngươi, rồi phụ hoàng, rồi di mẫu, rồi Yasodharā - cuối cùng thì số phận cũng nằm trên giàn hỏa... Rồi tất cả chỉ còn tàn tro... thì cuộc đời này phỏng có ý nghĩa gì, giá trị gì? Rốt lại chỉ còn tàn tro thôi sao?
Channa im lặng, thở dài. Thái tử cũng im lặng, thở dài.
Lát sau, thái tử lại hỏi:
- Channa, ngươi đã thấy nhiều người chết chưa?
- Dạ, thấy nhiều. Mà nghe cũng nhiều.
- Kinh Vệ-đà còn nói đến “không táng” và “thủy táng” nữa. Nó ra sao?
Channa đưa tay chỉ một giàn giá cao, đứng chỏng chơ phía sườn đồi, cạnh mấy gốc cổ thụ, giải thích:
- Cái giàn cây kia trước đây người ta từng đặt xác chết, đặt như vậy chứ không hỏa thiêu. Họ cứ để như vậy cho quạ, kên kên, ó, diều hâu... tự do cắn mổ, tự do rỉa rúc, tranh giành; và như thế vài ba hôm là xác chết chỉ còn là bộ xương trơ ra...
- Ừ, ta hiểu - Thái tử nói - Đấy là “không táng”, còn được gọi là “điểu táng”, vì kinh cổ xưa nói là để bố thí cho những loài có cánh.
- Có đôi lúc, đôi nơi - có những xác chết không biết là... cái gì táng - Channa tiếp lời - khi người chết đã được mang đến nghĩa địa, đợi tang quyến ra về hết, người đồ tể ở lại, lấy đao chặt từng khúc tay, khúc chân, từng khúc xương... rồi quăng cho các loài chim... Và lúc ấy đúng là mùa hội chim, chúng mở một cuộc đại tiệc.
- Thật là kinh khiếp! Đấy là “đoạn nhục táng”. Vậy còn “thủy táng”, ngươi đã thấy chưa?
Channa có vẻ rành rỏi:
- Ở tại sông Banganan phía Tây bắc kinh thành và sông Rohini nằm giữa biên địa, giáp giớiKoliya thì thỉnh thoảng có “thủy táng”. Tại sông Gaṅgā thuộc địa phận Ba-la-nại (Bārāṇasī) thì“thủy táng” xảy ra hằng ngày. Người giàu có thì mới đủ tiền mua củi để hỏa thiêu, sau đó, tàn tro được rải xuống sông. Nếu củi ít, tử thi không cháy hết - thì cũng cứ để vậy mà quăng cho thần nước... Riêng người nghèo không có tiền mua củi thì cứ thảy tử thi xuống sông là xong. Đa phần họ là giai cấp thủ-đà-la cùng bọn chiên-đà-la hạ liệt. Lâu lâu lại có xác một vị thánh.
- Vị thánh?
- Phải! Nhất là đoạn sông Gaṅgā đi qua sông Ba-la-nại. Đấy là xứ sở của đạo bà-la-môn truyền thống, đã lập căn cứ địa ở đây rất lâu đời. Lâu lâu xuất hiện một vị đạo sĩ khổ hạnh hoặc một đạo sĩ tu lõa thể có công phu đặc dị được mọi người kính ngưỡng, suy tôn, xem như là một vị thánh. Trường hợp này, họ làm lễ rất lớn nơi bờ sông, sau đó kết một bè chuối, bè cây rồi thả trôi lềnh bềnh trên sông nước, hoa tươi phủ đầy, lời cầu nguyện lan đến mây xanh...
Thái tử nhíu mày:
- Sao ngươi biết nhiều thế, Channa?
- Dạ thưa, con nghe người ta kể. Những chuyện ấy thì ai cũng biết, thái tử.
Thái tử tự nghĩ: “Ừ, những chuyện ấy thì ai cũng biết, cũng thấy - còn riêng ta thì không. Rồi còn biết bao nhiêu chuyện xảy ra ở ngoài cổng kinh thành này nữa, từ lâu ta đã như người mù, người điếc...”
- Thôi, ta hãy về, Channa!
Thái tử trầm ngâm cất bước. Do thói quen sống nhiều với nội tâm, đêm ấy thái tử cứ trăn trở, thao thức không ngủ được. Khuya, quá mệt mỏi, thái tử thiếp đi, lại chìm vào một giấc mộng khác. Thái tử thấy mình nằm trên một tấm thảm được dệt từ mọi loại tơ tằm mịn, cực mỏng và cực nhẹ, đính hằng hà sa số châu ngọc li ti. Rồi hằng hà sa số châu ngọc li ti ấy chợt nhúc nhích rồi hiện thành rắn mẹ, rắn con trơn láng trườn tới trườn lui, thò nọc độc châm chích da thịt đến tê nhức, đau điếng. Lát sau, bốn phía xuất hiện bốn con quỷ mặt xanh, nanh vàng, lưỡi đỏ, đầu đội sừng trâu, sừng nai, sừng hưu, sừng tê giác. Hai con quỷ nắm hai tay, hai con quỷ nắm hai chân, chúng lôi kéo về bốn phía khác nhau. Chàng đau đớn, vẫy vùng hoài cũng không thoát được những bàn tay như những móc sắt của chúng. Chúng cười hô hố, hích hích có vẻ thích thú. Bỗng một tiếng nổ tự lưng chừng trời, vũ trụ đang tối đen chợt sáng bừng. Bốn con quỷ buông tay, sợ hãi, đứng sững. Giữa hư không, mặt trời từ hướng đông, mặt trăng từ hướng tây từ từ chuyển động, lừng lững xích lại gần nhau rồi khép lại thành một. Ánh sáng vừa rực rỡ vừa dịu dàng đổ tràn ra không gian yên tĩnh, ấm mát. Thái tử cảm nghe một sự an lạc lạ lùng chưa từng có ở trong đời. Lát sau, khối mặt trời mặt trăng đứng yên, chỉ mấy chớp mắt rồi rơi xuống, to dần, to dần rồi phủ chùm xuống chàng. Bây giờ, thái tử lại thấy mình ngồi trong lòng mặt trời, mặt trăng - như một quả cầu trong suốt, như bọt bóng xà-phòng vĩ đại - bay lơ lửng, bay cao, bay xa, bay lên mãi cho đến tận miền thượng giới nào đó. Rồi mây lại hiện thành hoa, sương mù tấu nhạc và gió chuyển vi vu một lời ca rộn rã, hối thúc, dập dồn:
“Giờ đã đến rồi, thái tử!
Giờ đã đến rồi, hỡi bồ-tát vô thượng!
Ngài đã phát nguyện trong tâm
Suốt bảy a-tăng-kỳ
Ngài đã phát nguyện thành lời
Suốt chín a-tăng-kỳ
Ngài đã tựu thành ba-la-mật trải qua hai mươi bốn vị Chánh Đẳng Giác
Suốt bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp
Vậy còn chờ gì nữa
Mà chưa lên đường
Vậy còn nuối tiếc gì
Sanh lão bệnh tử lôi kéo chúng sanh vào hang thẳm
Quẳng chúng sanh vào bánh xe luân hồi vô tận
Chỉ có bồ-tát thượng đẳng
Mới có đủ sức uy dũng của trí tuệ
Để xé toang màn đêm ngu si tối ám
Để thức tỉnh chúng sanh
Ngồi dậy giữa bóng đêm trường mộng
Giờ đã đến rồi, bồ-tát!
Hãy ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng
Hãy mở ra lộ trình bất tử!”
Sáng ngày, tuy đang còn mệt, nhưng thái tử lại cùng Channa bộ hành theo cửa Bắc. Có cái gì đó trong thái tử gần như đã chín muồi.
Phố xá, nhà cửa lối ra cửa thành này càng lúc càng thưa thớt. Xe ngựa và bộ hành cũng chỉ lác đác. Và đây cũng là lối đi về của những đạo sĩ từ Himalaya. Thái tử kinh cảm sẽ gặp cái gì đó, một báo triệu gì đó chưa hiện rõ nét.
Channa nói:
- Phía này buồn lắm, thái tử! Chẳng có cái gì để xem đâu.
- Ừ, ta biết - Thái tử đáp - Đi là cơ hội để thấy, để nghe và để chiêm nghiệm. Không ở đâu là“không có cái gì”, Channa!
Channa nhăn mày, không hiểu. Khi họ ra khỏi cổng thành Bắc chừng nửa do-tuần thì gặp một người. Đấy là một sa-môn mặc y vàng màu sáng, mắt thì nhìn xuống, tĩnh lặng, bình bát trên tay đang nhàn nhã, thong dong trên từng bước đi...
Thái tử lặng người. Chàng chưa bao giờ gặp một tu sĩ có tướng mạo uy nghi thoát phàm như thế. Từ khuôn mặt, sắc áo, bước đi... như tỏa hào quang. Sự yên ổn, vắng lặng của vị sa-môn như thể tràn ra không gian ở xung quanh.
Thái tử đứng lại. Đợi cho đạo sĩ đến vừa tầm, chàng khẽ lên tiếng:
- Xin ngài cho học nhân được thưa hỏi một đôi điều.
Vị sa-môn dừng chân, cất giọng dịu dàng:
- Cứ hỏi, cứ hỏi... người vương giả!
Thái tử lạnh người. Lát sau mới ấp úng hỏi:
- Thưa, có phải ngài từ Tuyết Sơn xuống?
- Phải - Vị sa-môn gật - Cứ hỏi những câu hỏi chính, người trẻ tuổi!
- Dạ thưa, học nhân khá tò mò, xin người miễn chấp. Học nhân muốn biết lý do sự xuất gia của ngài?
Vị sa-môn khẽ ngước đầu lên, tròng mắt xanh đen phản chiếu cả một khoảng trời bình lặng, nhẹ nhàng nói:
- Đạo hữu! Ta cảm nhận cái già, cái bệnh, cái chết thúc bách, xiềng xích, trói chặt trong vòng vây của hữu hạn. Trong cái tất hữu nghiệt ngã ấy, biết bao nhiêu là khổ đau, phiền não chi phối sinh mệnh bé nhỏ của muôn loài. Mà, con người là chúng hữu tình duy nhất cảm nhận được sự thống khổ của thân phận. Lửa từ đâu mà thiêu đốt mãi trong lòng ta, trong lòng người, đạo hữu? Tất cả đấy là lý do để ta đi tìm con đường giải thoát, toàn diện và viên mãn, thưa đạo hữu!
Thái tử rùng mình, lại hỏi tiếp:
- Vậy mục đích ấy, ngài đã gặp chưa? Hay là ngài đang tìm con đường đến với Phạm thể?
- Không - Vị sa-môn lắc đầu, mỉm cười - Ta không tầm cầu Phạm thể như truyền thống tu sĩ bà-la-môn. Vả chăng, nếu có Đấng ấy thì Đấng ấy cũng bị sinh tử chi phối, thưa đạo hữu! Ta đi theo con đường của ta, con đường soi rọi vô minh tăm tối của kiếp người. Và ta cũng phải tìm cho ra phương thuốc cứu độ thế gian đang trùng trùng khổ nạn này nữa, đạo hữu!
Những tiếng, những ý lời, những ngữ nghĩa của vị sa-môn... như được tuôn phát ra từ trí não của chàng, từ tiềm thức của chàng. Những ý tưởng ấy đã cựa quậy từ lâu trong lớp vỏ trứng, bây giờ đã trở thành chú gà con tinh khôi mở mắt chào đời. Thái tử bàng hoàng. Lát sau, chàng hỏi tiếp:
- Thưa, học nhân hiểu. Và ngài cảm thấy ra sao trong đời sống khổ hạnh khước từ ấy?
- Ta an bình, đạo hữu. Và ta không còn một câu hỏi nào nữa về cuộc đời, về tử sinh và phiền não, đạo hữu! Ta hoàn toàn minh nhiên và vắng lặng...
Vị sa-môn bước đi đã lâu mà thái tử còn chôn chân tại chỗ. Con đường này, phải rồi, chỉ có con đường này là con đường duy nhất và tối thượng. Những gì chưa rõ ràng, chưa định hình bấy lâu nay đã bắt đầu lộ diện...
- Thái tử! Thái tử!
Thấy thái tử đứng bất động quá lâu, Channa cất tiếng gọi rồi đưa tay lay tỉnh.
- Gì? Gì thế?
Channa đưa tay chỉ cuối đường mòn... ngạc nhiên, hớt hãi nói:
- Vị sa-môn ấy...
- Sao?
- Ông ấy... ông ấy đi cuối con đường mòn xa dần, mờ dần rồi mất hẳn! Rõ ràng là ông ấy biến, ông biến mất, thái tử![2]
- Ồ!
Đêm ấy, sau khi đã quyết định, thái tử tâm sự với Yasodharā:
- Trước sau gì ta cũng ra đi, Gopā ạ! Đấy là điều mà ta đã xác định. Chúng đã định hình dần dần ở trong ta qua các giấc mộng gần đây. Biết bao đêm trường, tiếng gọi ra đi ấy cứ giục giã, thúc hối bên tai ta... như lời nguyện từ muôn thuở... Rồi mấy tuần nay, cái già, cái bệnh, cái chết và ngài sa-môn là bốn vị sứ giả đã hiện ra đúng như lời tiên tri của các đạo sĩ năm xưa. Chí ta đã quyết, hãy thông cảm cho ta, Gopā!
Yasodharā với nước mắt tuôn chảy lặng lẽ:
- Thiếp biết! Thiếp biết trước sau gì chàng cũng ra đi. Cái giọt máu, cái thai nhi - là đứa trẻ sắp chào đời này - chẳng thể giữ chân chàng được đâu. Nhưng ra đi trong lúc này thì thiếp chưa chuẩn bị đủ tâm lý để chịu đựng một sự ly cách. Hiện nay, thiếp rất cần chàng.
Thái tử vỗ về, an ủi:
- Cảm ơn Gopā! Ta biết! Và ta cũng hiểu là nàng phải tránh sự xúc động thái quá trước thời gian lâm bồn. Nàng là người đã linh thông với tư tưởng của ta. Và có lẽ nàng cũng đã từng tương trợ cho chí nguyện của ta trong nhiều kiếp quá khứ. Ta đọc được điều ấy trong mắt nàng, trong trái tim nhân hậu, dịu dàng và cả trong vầng trán thanh mảnh, cao sáng và rạng ngời kia nữa. Ta chưa ra đi lúc này đâu. Tuy thế, cũng không còn bao lâu nữa. Ta ra đi nhưng ta sẽ trở về, chừng nào chấm dứt mọi trăn trở của đời người...
Yasodharā thở ra:
- Kể từ khi mà chàng thảo luận với chúng bạn về ý nghĩa và giá trị cuộc sống: Thế nào là phù du, thế nào là vĩnh cửu...; và cũng từ khi ba giấc mộng kia đến với thiếp, thiếp biết là vòng tay và tình yêu thương của thiếp quá nhỏ bé, chẳng thể nào níu giữ cánh chim hồng. Con voi trắng trước sau gì nó cũng ra đi không ngoảnh đầu lại. Vậy nên thiếp trân trọng đứa bé này - có nghĩa là linh hồn, là sự sống, là hơi thở của chàng luôn ở bên cạnh thiếp...
Im lặng giây lâu cho nỗi niềm tâm sự của Yasodharā lắng xuống, thái tử mới nói:
- Thế giới vật chất phù du, bọt bèo... kể cả những vị ngọt của chúng đến một lúc nào đó sẽ làm tê đầu lưỡi, làm khô cạn mọi giá trị cao vời. Nỗi khổ của nàng, của ta, của cuộc đời, của chúng sanh là vô tận. Phải tìm cho ra phương thuốc diệt khổ toàn diện, ở tận căn nguồn mới được, Gopā ạ!
Thái tử dịu dàng đặt Yasodharā xuống gối, cố ý nâng niu giấc ngủ cho nàng.
- Hãy ngủ đi, Gopā ạ!
- Sau này, thiếp thương con, chăm lo cho con là niềm vui sau cùng, là hạnh phúc duy nhất của thiếp đấy, thái tử!
Chợt thái tử hỏi:
- Đứa trẻ có vùng vẫy, có giẫm đạp làm cho nàng phải đau đớn không, Gopā?
- Không nhiều lắm, chỉ thỉnh thoảng thôi. Có lẽ nó là đứa con trai ngoan hiền và hiếu thảo.
- Con trai?
- Phải, di mẫu xem thai rồi đoán. Thai nhỏ, gọn gàng là con trai; to lớn, dềnh dàng là con gái.
Thái tử mỉm cười, nói:
- Vậy nàng thích con trai hay con gái?
- Con trai, thiếp thích một đứa con trai y đúc như chàng vậy.
Thái tử thấy lòng lâng lâng, nhẹ nhàng. Chàng không ngờ chuyện khó nói nhất đã nói ra được. Yasodharā quả thật là một kỳ nữ thế gian hiếm có, tâm và trí đều tuyệt vời vậy!
Cuộc sống cứ vẫn diễn ra đều đặn với những sinh hoạt bình thường. Tuy nhiên, trong cung vui không còn những cuộc vui rộn rã như thuở nào. Các ông hoàng sau khi buồn chán các công việc cải cách, họ cũng lắng xuống các buổi thảo luận sôi nổi với nhiệt huyết của tuổi thanh xuân. Nếu có gặp nhau trong một vài tiệc vui nho nhỏ thì ai cũng có vẻ trầm ngâm. Họ đang bế tắc trước ý nghĩa và giá trị cuộc sống.
Thái tử đã nhiều lần vào xin phép đức vua Suddhodāna để đi xuất gia tầm đạo nhưng lần nào cũng bị từ chối. Thái tử lại thất thểu trở về, cố giấu giếm tâm sự trước lệnh bà Mahā Pajāpati Gotamī hoặc Amitā Pamitā - cả hai thường thay phiên nhau đến săn sóc Yasodharā.
Đức vua Suddhodāna thì rất đau lòng khi thấy lời tiên tri năm xưa đã trở thành hiện thực. Bao nhiêu biện pháp ngăn cản đều vô ích. Tâm và trí của thái tử cao vời quá. Những chương trình, kế hoạch cải tạo đất nước của thái tử và các ông hoàng thì táo bạo quá, công minh, liêm khiết và chính trực quá... làm sao mà khế hợp được với tâm địa tham lam, ích kỷ của bọn quý tộc lãnh đạo ở đất nước này... và cả Koliya nữa!
Tuy ngăn cản quyết liệt như thế nhưng tự thâm tâm, đức vua biết, chẳng còn lý do nào nữa để lưu giữ con phượng hoàng ở trong lồng son, gác tía. Thái tử đã từng phụ tá đắc lực cho đức vua các công việc triều chính không chê vào đâu được. Việc gì cũng đâu ra đó, phân minh, khúc chiết, rạch ròi bởi trí tuệ quán thông và trái tim mẫn cảm. Thái tử đã lần dò tận cùng nguyên nhân của đói nghèo và lạc hậu để tìm ra kế sách tuyệt hảo cho sự thịnh cường đất nước. Một bức tranh toàn thiện, toàn mỹ chỉ mới phác thảo mà ai cũng có thể hình dung, thấy rõ trước mắt; nhưng hội đồng trưởng lão đa phiếu chống thì biết làm thế nào? Họ chống nhưng chẳng có lời phản vấn nào là có thực chất, có trọng lượng. Khôn ngoan hơn thì họ im lặng bỏ về. Có đau lòng không chứ? Đau lòng cho cái tâm địa con người. Trách thái tử ở điểm nào? Đức vuaSuddhodāna rất tiếc, là biết đâu nhờ đam mê vào công cuộc cải cách, thái tử phải ở lại vương vị để lo cho dân cho nước. Ôi! Người tính không bằng Thượng đế tính... Còn một lý do sau cùng nữa, là đức vua muốn có một đứa cháu trai nối dõi - thì nay cũng đã vô hiệu hóa mất rồi:Yasodharā sắp sinh, mà bà Gotamī tiên đoán là con trai! Vậy ta còn hy vọng gì mà níu kéo thái tử ở lại với cuộc đời này nữa. Đức vua Suddhodāna vô cùng sầu não...
Đêm ấy, đức vua chìm vào một giấc mộng dài; trong giấc mộng ấy, bảy hiện tượng lạ lùng, cái nọ tiếp cái kia xảy ra như một dòng chảy không gián đoạn.
Hiện tượng thứ nhất, vua trông thấy một lá cờ to lớn, sắc màu chói sáng, treo trên cái cột cao tại hoàng cung. Hào quang của trời Sakka từ thiên cung rọi xuống, sáng lấp lánh... Chợt có một cơn gió thổi qua, lá cờ bị cuốn phăng, rơi ra xa. Lát sau, có một vị thiên bay đến, lượm lá cờ ấy lên đem treo ở cửa thành Đông.
Hiện tượng thứ hai, vua trông thấy mười thớt tượng to lớn, uy nghi, đĩnh đạc từ phía Nam đi đến làm rung động, chao đảo cả mặt đất. Trên thớt tượng đi đầu có bóng một người ngồi: Ấy là thái tử Siddhattha!
Hiện tượng thứ ba, vua trông thấy một cỗ xe dát châu báu, sáng ngời hào quang, thắng bốn con ngựa trắng đẹp đẽ, sang trọng; mũi ngựa thở ra lửa và khói. Người ngự trên cỗ xe ấy là thái tử Siddhattha!
Hiện tượng thứ tư, vua thấy có một bánh xe rất to, nạm ngọc, nạm vàng tỏa ngời hào quang. Bánh xe lăn không ngừng, vừa lăn vừa nháng lửa.
Hiện tượng thứ năm, vua thấy một chiếc trống rất to đặt giữa con đường từ hoàng cung lên núi. Thái tử Siddhattha nắm cái dùi sắt để đánh trống. Tiếng trống vang như sấm động, vang cả chín tầng mây.
Hiện tượng thứ sáu, vua thấy một pháo đài uy nghi vừa cổ kính vừa mới mẻ đột ngột từ đất mọc lên. Rồi nó cao lên, vươn cao lên mãi tận hư không, có mây lành ngũ sắc bao phủ xung quanh. Thái tử Siddhattha đứng trên pháo đài ấy, hào quang xung quanh như mặt trời, mặt trăng; chàng rải hoa Biruṇa và ngọc lựu, hương thơm ngào ngạt. Muôn triệu bóng người lô nhô, chen chúc nhau để lượm hoa... và ai cũng hát ca, tươi vui, sung sướng...
Hiện tượng thứ bảy, vua nghe tiếng người khóc la thảm thiết, nhìn lại thì thấy sáu người trong phục sức đạo sĩ - đang khóc nức nở, vừa khóc vừa đưa hai tay bụm miệng lại.
Đức vua Suddhodāna rất lo sợ. Bình thường, những giấc mộng trong đêm, sáng ngày đã quên hay chỉ còn nhớ mường tượng; nhưng bảy hiện tượng của giấc mộng dài đêm qua, đức vua lại nhớ rõ mồn một, nhớ rõ từng chi tiết. Năm nay, đức vua đã tám mươi sáu tuổi rồi, có chết cũng phải lẽ. Mọi vinh quang, hạnh phúc hay niềm đau, nỗi khổ của đời người, đức vua cũng đã từng nếm trải - có ra đi trong lúc này cũng vừa đủ, chẳng còn chi phải ân hận, tiếc nuối. Nhưng còn thái tử? Đức vua lại lo sợ có điềm triệu nào chẳng lành xảy đến cho chàng chăng?
Bình minh vừa rạng, đức vua đã cho bố cáo khắp kinh thành, ai là người đoán mộng giỏi, hãy vào cung đoán mộng cho đức vua, sẽ được trọng thưởng. Có một số thầy bà-la-môn tìm đến. Vua kể lại giấc mộng, họ đăm chiêu suy nghĩ, sau đó cúi đầu lặng lẽ xin rút lui. Họ không đoán được những hiện tượng lạ lùng ấy, chúng chưa hề có trong sách vở. Ngày hôm sau, ngày hôm sau nữa có một số thầy bà-la-môn lác đác tìm đến; nhưng nghe xong họ cũng cung kính lắc đầu, từ giã... Đức vua cảm thấy bất an, càng ngày như càng nghe lửa cháy thiêu đốt ở trong lòng. Chợt, linh cảm mách bảo, đức vua đến điện thờ Simhābanu, đốt đèn, xông trầm rồi quỳ xuống, chắp tay khấn nguyện:
“- Đây có lẽ là những điềm triệu phi thường mà người trần mắt thịt không thể nào đoán được. Vậy xin thiên thần tiên tổ ở trên cao rủ lòng thương xót, hiện xuống để giải giấc mộng này cho trẫm. Dù sự thật có thế nào chăng nữa, trẫm hoàn toàn chấp nhận...”
Lời nguyện vừa dứt thì ở ngoài cung xuất hiện một đạo sĩ cao lớn, râu tóc như tuyết, mặc áo da cọp oai phong lẫm lẫm... không biết từ đâu đến, chẳng xưng tên họ, nói với thị vệ:
- Hãy đưa ta vào cung triệu kiến đức vua, ta sẽ giải cho ngài nghe bảy hiện tượng của giấc mộng.
Đức vua Suddhodāna vừa thoáng thấy vóc dáng oai phong, đĩnh đạc nhưng toát ra vẻ thanh cao, thoát phàm, đoán là thần nhân - nên vội bước ra, ân cần mời ngồi... rồi kể tự sự từng chi tiết một cho đạo sĩ nghe.
Chuyện vừa chấm dứt, đạo sĩ cung tay xá rồi thốt lên:
- Bần đạo xin có lời chúc mừng đến đại vương! Giấc mộng với bảy hiện tượng kia đều là điềm lành tất thảy!
Đức vua thở ra, nhẹ nhõm.
Đạo sĩ tiếp lời:
- Điềm thứ nhất. Lá cờ hào quang chiếu sáng của trời Sakka tượng trưng cho lý tưởng tôn giáo mấy ngàn năm nay ở quốc độ này - mà, vị chúa chư thiên của chúng ta hằng kính ngưỡng, tôn thờ; nhân gian hằng cung kính, lễ bái, cầu nguyện... Nói rõ hơn, đấy là kinh điển Vệ-đà, đạo bà-la-môn với tín ngưỡng Phạm thiên. Lá cờ thiêng liêng ấy lại rơi đi, có nghĩa là mai này, lý tưởng tôn giáo cũ sẽ mất hết giá trị, mất hết mọi uy lực. Lá cờ rơi đi, lại được chư thiên đem cắm vào một nơi khác - ý nghĩa biểu tượng muốn nói rằng, sẽ có một lý tưởng khác, tín ngưỡng khác, tôn giáo khác... thay cho truyền thống cũ. Người mà làm được việc ấy phải có trí tuệ vô song, cao viễn; muôn triệu năm mới xuất hiện một lần. Người ấy đang ở tại quốc độ này, kinh thành này. Và chính là thái tử Siddhattha, chứ không phải ai khác.
Điềm thứ hai. Mười thớt tượng cao sang, đẹp đẽ, tỏa rạng hào quang, với từng bước đi làm rung động cả quả đất - là tượng trưng cho mười pháp ba-la-mật mà thái tử đã tu tập từ vô lượng kiếp trước đến nay đã hoàn tất, đã viên mãn. Thái tử ngồi trên thớt tượng đi đầu, uy nghi, hùng dũng... chứng tỏ là nhờ năng lượng mười ba-la-mật ấy, ngài sẽ đắc quả Vô thượng Chánh Đẳng Giác; không những quả địa cầu rung động mà rung động cả ba ngàn thế giới...
Điềm thứ ba. Thái tử trấn ngự trên cỗ xe đẹp đẽ, có bốn thớt ngựa kéo, mũi chúng phun lửa và khói: Đây tượng trưng cho giáo pháp Tứ diệu đế mà thái tử sẽ chứng ngộ sau này. Sự chứng ngộ ấy không phải đơn giản, phải trải qua trường kỳ khổ hạnh, nếm mật, nằm gai, cam go, nghiệt ngã... mới thành tựu được (Mũi phun lửa và khói).
Điềm thứ tư. Một bánh xe lớn có hào quang, lăn đi, xẹt lửa: Đấy là tượng trưng cho giới luậtđược đức Phật vị lai chế định. Giới luật ấy, tùy lúc, tùy nghi, tùy từng giới phạm, tùy từng quốc độ... trên bước đường hoằng hóa mà thiết lập ra nhằm đối trị những hiện tượng xấu ác (lăn đi,xẹt lửa) xảy ra trong Tăng chúng. Bánh xe có hào quang hàm chỉ giới luật ấy sáng rỡ, nghiêm minh... để cho muôn phương tứ chúng y chỉ, nương nhờ...
Điềm thứ năm. Thái tử lấy cái dùi sắt đánh cái trống lớn - tượng trưng cho đức Phật sau này sẽ dóng tiếng trống Chánh pháp vang động khắp các cõi.
Điềm thứ sáu. Pháo đài từ lòng đất mọc ra rồi cao lớn, lừng lững giữa hư không - tượng trưng cho tính chất vừa tại thế vừa xuất thế của tòa nhà giác ngộ. Sự giác ngộ ấy phải được mọc từ đất, từ lòng người, từ thế gian, từ khổ đế của trần gian mà vươn lên... như hoa sen mọc từ đáy bùn nhơ. Tòa tháp giác ngộ vươn thẳng lên giữa hư không, lồng lộng giữa mây trời... tượng trưng cho sự chứng ngộ của đức Phật đã vượt khỏi trời người, là thầy của họ. Tại chỗ ấy, trên đỉnh tháp ấy, đức Phật sẽ tuyên giảng giáo pháp, ban bố châu ngọc đến cho tất cả chúng sanh(Thái tử rải hoa thơm đến cho muôn triệu người).
Điềm thứ bảy. Sáu người khóc la và bụm miệng lại - đó chính là lục sư ngoại đạo. Khi giáo pháp đã được đức Phật tuyên thuyết rồi, như mặt trời soi rọi vô minh đêm tối thì mọi tà giáo trên thế gian sẽ không còn có đất dụng võ nữa...
Giải mộng cho đức vua xong, đạo sĩ tủm tỉm cười, cất giọng ôn nhu, điềm đạm:
- Tâu đại vương! Như dòng nước tự nguồn cao đổ về, chúng là sự kết tụ của biết bao nhiêu là giọt nước từ khắp các khe rãnh, hang hốc, suối ngàn... Dòng tâm của thái tử từ vô lượng kiếp trước đã kết tụ mười năng lực ba-la-mật vĩ đại... nên sẽ không có một sức mạnh nào trên thế gian có thể ngăn chặn được. Nước sẽ tìm về biển lớn, ấy là điều chắc thật. Dòng tâm kết tụ mười năng lực ba-la-mật sẽ trôi chảy về biển giác, ấy là điều chắc thật. Thái tử của chúng ta, mai sau, sẽ là đức Chánh Đẳng Giác cứu độ muôn loài. Đại vương nên vui đi mới phải!
Nói xong những điều cần nói, đạo sĩ từ từ thụt lùi, cái bóng của ông ta nhòa dần rồi mất hẳn.
Đức vua Suddhodāna chợt dụi mắt, rùng mình. Không biết điều vừa xảy ra là thật hay chiêm bao? Nghĩ lại lời giải mộng, đức vua lẩm bẩm: “Ông đạo sĩ đã nói rất đúng. Nếu quả thật dòng tâm với mười sức mạnh ba-la-mật ấy thì chẳng ai có khả năng ngăn cản được. Nó sẽ về biển giác! Ôi, trước sau gì con ta cũng sẽ ra đi thôi!”
Tuy nhiên, lát sau, đức vua lại nghĩ: “Hơn nửa thế kỷ làm vua, ta chưa hề đầu hàng, bỏ cuộc, chưa hề yếu đuối trước bất kỳ ý chí của một ai khác. Chính hoàng đế Kosala cũng phải nể trọng ta về điều ấy. Điềm triệu chứ chưa phải là hiện thực. Vậy ta phải phản kháng điềm triệu ấy, đánh bại ý chí xuất gia của thái tử dù sức cùng, lực tận.”
Về phần thái tử, suốt thời gian ấy, chàng luôn kề cận, chăm sóc Yasodharā cho nàng yên tâm dưỡng thai. Có lẽ đây là những ngày tháng cuối cùng chàng biểu lộ thâm tình với một người - mà chàng biết đã cùng kết tóc se tơ, cùng chung niềm vui, nước mắt, đã cùng thương yêu dìu dắt nhau qua bao kiếp luân hồi, sinh tử. Cái đẹp tuyệt vời ở nơi nàng không chỉ ở ngoại hình tuyệt mỹ mà còn ở nơi tâm hồn, cá tính và cả hiểu biết nữa. Nhưng trước sau gì cũng phải từ giã. Tiếng gọi sâu thẳm từ kiếp nào đã hiện về trong ba giấc mộng của chàng. Chúng như lời cảnh tỉnh, bảo với chàng rằng là đừng có chần chờ, lần lữa mãi trong vòng vây của hữu hạn, của sinh già bệnh chết nữa....
Trong tháng cuối, trước khi sinh, theo phong tục truyền thống thì Yasodharā phải về quê mẹ; nhưng bà Amitā Pamitā nói là đường xa sợ động thai nên thuyết phục hai đức vua là nên phá bỏ cổ lệ ấy. Quyết định đúng đắn đó được hoàng tộc hai bên tán thành. Thế là bà Amitā Pamitā yên tâm ở hẳn Kapilavatthu để chăm sóc con gái. Cả hai bà mẹ bấy giờ dường như ở hẳn trong cung vui; hằng ngày hướng dẫn thị nữ chăm lo thức ăn, vật uống tránh những gì quá cay, quá nóng hoặc quá mát lạnh ảnh hưởng thai nhi. Đặc biệt là giữ không khí tươi vui, yên bình; không để cho bất kỳ chuyện trái ý, nghịch lòng nào xảy đến cho Yasodharā.
Mấy ngày trước lúc lâm bồn, hai viên ngự y tài giỏi được đức vua Suddhodāna cử sang cũng phải túc trực ở bên cạnh. Một bà mụ mát tay nhất của cung đình cũng nhận nhiệm vụ như vậy.
Yasodharā rất tươi tỉnh, không biểu hiện một lo lắng, sợ hãi nào làm ai cũng yên tâm. Đức vua Suddhodāna cũng không ngồi yên được, đi tới đi lui mãi. Cái cảm giác sẽ có một đứa cháu nội, niềm mơ ước bấy lâu, làm cho lòng đức vua bổi hổi, bồi hồi. Không đừng được, vua bảo quân hầu cho thắng xe để ngài sang thăm cô con dâu.
Thái tử ân cần đón đức vua từ ngoài sân. Đức vua cao lớn, phương phi, mạnh khỏe - nhưng thái tử còn cao hơn cả nửa cái đầu. Dấu ấn của dòng giống Aryan hiện rõ nơi vóc dáng, nước da, sống mũi, màu mắt xanh của thái tử đậm nét hơn đức vua.
Sau khi ghé thăm Yasodharā một lát, quan sát thấy mọi sự được chuẩn bị chu đáo, đức vua hài lòng, tỏ ra khen ngợi hai bà mẹ không hết lời.
Khi chuẩn bị về cung, đức vua nói với thái tử:
- Con sắp có một bổn phận mới, bổn phận làm cha; ấy là bổn phận thiêng liêng nhất, con nhớ đấy!
- Dạ, con hiểu.
- Là dòng giống thượng đẳng, nó cần có một chương trình giáo dục tốt, xứng đáng - để khỏi hổ thẹn với tổ tông.
- Dạ, con hiểu.
Trầm ngâm một lát, như đã quyết định, đức vua lại phán:
- Sau khi đứa trẻ ra đời, ta sẽ chọn ngày giờ hoàng đạo để con chính chức đăng quang vương vị, không thể chậm trễ hơn nữa... - Giọng ngài như chợt chùng xuống - Ta đã già quá rồi, lực đã suy, trí đã giảm. Con phải biết thương yêu gia đình, vợ con, cha mẹ, huyết thống và cả giang sơn này nữa chứ!
Đức vua không tỏ ra quyết liệt đề cập đến chuyện xuất gia của thái tử là “chuyện trái đạo”, là “ý tưởng lãng mạn siêu hình” như vài hôm trước đây; mà ngài đã khôn khéo sử dụng tình cảm! Thái tử cũng biết giấc mộng của đức vua và lời giải của vị đạo sĩ lạ mặt. Như vậy, sử dụng tình cảm là biện pháp cuối cùng, đức vua muốn làm mềm yếu ý chí của chàng đây!
Hôm ấy, một bầu không khí yên lặng bao phủ cung vui. Mọi người đi vào đi ra đều cẩn trọng, nhẹ nhàng. Yasodharā vừa kêu bụng đau dữ dội thì viên quan ngự y liền xem mạch và thông báo giờ sanh...
Bà mụ, hai bà mẹ và mấy thị nữ ở phòng trong. Hai viên ngự y và một số thị nữ khác túc trực ở phòng ngoài. Thái tử ngồi cách xa mấy liếp cửa cũng cảm thấy nôn nao khó tả. Yasodharārên siết không ngớt, âm thanh nhọn hoắt như đâm vào trái tim chàng. Thái tử đi lui đi tới nghe lòng mình như lửa đốt. Một sự lo lắng, bất an nào đó như từng lớp sóng trào lên, trào xuống, không chịu ở yên. Tiếng kêu la quằn quại, đau đớn của Yasodharā cứ từng hồi, từng hồi vọng vào tai thái tử. Lại một tiếng thét hãi hùng như tiếng một con thú bị tử thương. Thái tử đứng sững lại, tim đau nhói, trán toát mồ hôi hột... Ôi, mẹ chàng, bà Mahāmāyā, lúc sinh chàng cũng đau đớn kịch liệt như thế. Sinh đẻ, đẻ sinh là cửa ải mà bất cứ chúng sanh nào cũng phải bước qua. Riêng người mẹ thì phải vượt biển một mình với biết bao nhiêu là phong ba, bão táp. Vượt qua được là sống, không vượt qua được thì đành giao phó sinh mạng cho tử thần. Lắm lúc được mẹ lại mất con. Nhiều khi được con thì mất mẹ. Có trường hợp thì mất cả mẹ lẫn con. Ôi! Thật kinh khiếp thay là sự sinh! Sự sinh này cũng là một sứ giả mang đến sự kinh hoàng cho nhân thế. Cũng là động lực cuối cùng giúp ta xuất gia, giúp ta dũng mãnh thực hiện con đường vô thượng. Ta phải tìm cho ra lộ trình bất tử...
Lúc thái tử cố điều hòa hơi thở để trấn áp cảm xúc thì phía bên trong chợt im lặng dị kỳ.Yasodharā ra sao rồi? Sao không còn nghe một tiếng rên la nào nữa? Nàng có mệnh hệ gì không? Chàng lắng tai nghe, vừa lo lắng vừa sợ hãi xen lẫn. Bỗng nghe tiếng khóc của em bé vọng lại...
Lệnh bà Gotamī mở cửa bước ra, nhìn chàng mỉm cười:
- Mẹ tròn con vuông đấy, hoàng nhi! Một cậu con trai thật kháu khỉnh.
Thái tử lau mồ trán, thở dài, nhẹ nhõm:
- Con rất cảm ơn mẹ!
Thái tử cúi đầu tưởng tượng hình bóng đứa con trai trong tâm tưởng. Chàng không biết mình có vui hay không, nhưng đây là cả một việc trọng đại. Nhất là đối với chàng, có một đứa con sẽ có một ràng buộc. Có một đứa con, phụ hoàng sẽ làm lễ đăng quang cho chàng lên ngôi vua, sẽ là sự ràng buộc thứ hai... Bất chợt, thái tử thốt lên: “Rāhulo jāto bandhanaṃ jātan ti āha”[3](Con trai ra đời, sự ràng buộc cũng sanh đến cho ta.)
Tiếng của lệnh bà Gotamī thoảng bên tai thái tử:
- Hoàng nhi sẽ đặt tên cho nó chứ?
- Phải, thưa mẹ! Hoàng nhi sẽ hội ý với Gopā.
Lát sau, thái tử được phép vào thăm hai mẹ con. Niềm vui nào đó sáng ngời trong đôi mắt của Yasodharā. Đứa bé nằm một bên, được bọc trong tấm lụa màu hồng điều trông xinh xắn, bụ bẫm, đôi mắt tròn to, xanh đen, đẹp như một tiểu thiên thần.
Thái tử bước đến, mỉm cười nhìn Yasodharā rồi cúi xuống, đưa tay vuốt nhẹ lên má đứa con của mình với một tình cảm dạt dào.
- Nàng có khỏe không, Gopā?
- Vâng, thiếp khỏe. Và thiếp sung sướng lắm!
- Ta cũng vậy. Có cái gì đó lâng lâng ở trong ta. Đây là cảm giác lạ lùng đầu tiên trong đời,Gopā.
Thái tử nhè nhẹ bế đứa trẻ vào trong vòng tay của mình với cả sự nâng niu và trân trọng. Ôi, cái sự sống này sao mà mong manh quá! Một mầm sống đang nứt lên, nẩy mầm và hiện thành một chúng sanh. Đằng sau mầm sống này là gì? Nó ở đâu mà đến cuộc đời này? Rồi phải chịu già, bệnh, chết... niềm vui, nước mắt... để lại ra đi nữa? Trong cuộc tử sinh chìm nổi vô định ấy bao giờ khổ cũng nhiều hơn vui? Rồi còn những thống khổ, đọa đày khi lỡ tạo những ác nghiệp rồi chịu đựng quả báo khốc liệt trong các con đường dữ? Nhưng mà, dẫu thế nào chăng nữa, tình cảm huyết thống thiêng liêng này, quả thật, nó như là sợi giây cột buộc, trói chặt ta ở lại mãi trong cuộc luân hồi tử sinh vô tận này hay sao? Ôi! Thế là những đám mây ưu tư lại u ám, nặng trĩu trong lòng chàng.
- Có thể đặt tên cho nó là Rāhula được không, Gopā?
- Rāhula? - Yasodharā mở lớn mắt - Rāhula! Ồ được lắm chứ - Nàng im lặng một lát - Chàng đặt tên cho con trai là “Ràng buộc” nhưng thiếp biết chẳng có gì trên đời này ràng buộc chàng được cả!
Nghe giọng của Yasodharā có vẻ hờn dỗi, thái tử dịu dàng:
- Thôi mà, Gopā! Nàng hiểu ta quá mà.
Im lặng khá lâu giữa hai người. Yasodharā nín hơi nhẹ, thở dài:
- Thái tử yên trí, thiếp đã chuẩn bị tâm lý rồi. Có Rāhula, thiếp không còn sợ cô đơn nữa đâu.
- Nàng rất tuyệt vời, rất kỳ diệu, Gopā! Ta biết nàng đã thông cảm cho ta từ lâu rồi mà.
Thái tử đã quyết định xuất gia. Năm ấy chàng vừa đúng hai mươi chín tuổi.
[1] Theo chú giải và phụ chú giải, tướng người già này - như là vị sứ giả đầu tiên đến báo hiệu cho thái tử - là do chư thiên hóa hình nên xuất hiện đột ngột và biến mất cũng đột ngột như thế.
[3] Buddhavaṃsaṭṭhakathā - trang 280.
RA ĐI LÚC HOÀNG THÀNH SAY NGỦ
Cổ thành Kapilavatthu đêm nay
thật là huy hoàng, tráng lệ. Để mừng cho mình đã có một đứa cháu nội - một
hoàng tôn đẹp đẽ - đức vua cho cả kinh thành yến tiệc trong ba ngày. Sau ba
ngày, đức vua sẽ bố cáo rộng rãi ngày lễ đăng quang cho thái tử chính thức trị
vì ngôi báu. Dịp này không những muôn dân được giảm thuế mà tội tử tù sẽ được
giảm khinh, tội nhẹ thì được tha bổng. Cả nước được vui chơi thêm bảy ngày, có
ngân quỹ của hoàng gia và các trấn thành đài thọ...
Hằng đêm như thế, tòa thành cung điện sáng lung
linh diễm ảo như một viên kim cương vĩ đại. Trên tường thành, các tháp canh cao
lớn được trang điểm như một cây hoa đăng, ngoài ra, cách khoảng đều đặn chừng
vài chục sải tay còn dựng những bó đuốc khổng lồ rực sáng giữa nền trời. Khắp
các đường phố, vua cũng ra lệnh trang hoàng như các ngày lễ hội; các loại đèn
nhựa thông, dầu mù u, dầu lạc... được quân canh thay nhau canh lửa suốt đêm.
Tại công viên của Cung Vui, thái
tử đã cho chuẩn bị đâu đó xong xuôi một buổi dạ tiệc. Chàng muốn chung vui với
các ông hoàng - như là sự gặp mặt cuối cùng trước khi âm thầm ra đi, sống cuộc
đời lang thang sương gió. Yasodharā chỉ mấy ngày đã lấy lại
được sức khỏe bình thường nhờ thuốc quý của hoàng gia và sự tận tình chăm sóc
của hai viên quan ngự y; nhưng thái tử khuyên nàng nên nghỉ ngơi, lại còn tiếp
chuyện với hai bà mẹ cùng cô em Sundarī Nandānữa. Họ đến từ sớm. Có
lẽ mải chuyện vui nên chốc chốc tiếng cười khe khẽ vẳng ra. Thái tử cảm thấy
yên tâm. Đứa bé đã cho họ niềm vui quý hiếm.
Khi tòa thành phía Tây che giấu những vạt nắng
cuối cùng thì hoàng hôn cũng vừa buông xuống, nhường chỗ cho ánh sáng lửa bừng
lên. Những chùm đèn sáng rực đó đây giữa lối đi, giữa các hàng cây, vườn
cảnh... soi tỏ những chiếc bàn sang trọng đã được thị nữ chuẩn bị chu đáo thức
ăn, vật uống. Đêm nay, thị nữ, vũ nữ, ca nhi được phục sức và trang điểm như
ngọc nữ. Nhạc công, vũ công... thì trông tựa như tiên đồng. Tất cả xà-rông,
xiêm y, khăn, đai... của họ đều lấy màu xanh làm nền: Xanh da
trời, xanh nước biển, xanh lá cây, xanh nõn chuối... nên trông dịu dàng mát mẻ
như một bài thơ mùa xuân của thi sĩ thiên nhiên.
Một khán đài lộ thiên được dựng công phu giữa
hai cội hồng táo cũng được trang điểm gấm lụa nhiều màu sắc, điểm hoa thêu. Hoa
sứ, hoa lài, hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa kadamba, hoacampaka,
hoa saraca... được kết thành từng tràng, từng chuỗi từ diềm cao rủ
xuống trông vô cùng duyên dáng và gợi cảm. Không gian thơm nức mùi hương.
Thái tử ngồi trầm ngâm bên lò trầm, đưa mắt nhìn
lên nền trời xanh có mảnh trăng như dát bạc. Vô vàn vì sao mờ tỏ lấp láy. Phương Nam sao
mờ. Chùm sao ở phương Bắc như từng hạt kim cương đứt nối kết chuỗi. Ồ! Chúng
treo ở đâu giữa nền trời xanh thẳm và vô tận ấy?
Ngựa hí, những tiếng nhạc ngựa leng keng, những
bánh xe dừng lại ken két ở ngoài ngõ. Các ông hoàng, trước sau, lần lượt xuất
hiện. Đầy đủ cả. Đầy đủ tất cả những nhân vật tài hoa của cả hai cổ thành. Thái
tử mỉm cười ôm vai nhau vui mừng với từng người một, trong thâm tâm lại nghĩ,
họ sẽ là những phụ tá đắc lực mai hậu cho chàng khi tìm ra được đạo lớn - con
đường bất tử.
Đêm ấy thật là đặc biệt. Đã quá lâu họ mới có
cuộc gặp mặt đông vui như thế này. Từ độ hợp tác cải cách, canh tân đất nước
thất bại, họ xa nhau, ai cũng trở về với bổn phận và trách nhiệm của mình. Đa
phần họ được thay thế lớp già lão để làm các quan tổng trấn, đại thần hoặc phụ
tá các các vị trong hội đồng nguyên lão. Con đường làm quan thì giàu sang, vinh
hiển. Có kẻ bệ vệ, chững chạc nhưng cũng có kẻ đã có vài nếp nhăn nơi đuôi mắt,
vầng trán. Thái tử quan sát từng người và chàng cảm nhận một cách minh nhiên
rằng là, chẳng có ai hạnh phúc cả! Họ cười nói ha hả, hào sảng, vô tư... nhưng
ai cũng muốn giấu đằng sau những lo nghĩ, phiền muộn. Nhất là Mahānāma, người
đã có gia đình, lúc nhúc vợ con. Kế đến là Bhaddiya, một vị minh
quan được triều đình nể trọng. Chỉ còn có Ānanda và Anuruddha, cả
hai đều một mực từ chối làm quan, từ chối lập gia đình... là còn vui tươi, hồn
nhiên, trong sáng.
Trên khán đài lộ thiên, tốp vũ nữ và đám ca nhi
thay nhau những tiết mục đặc sắc. Họ vào tiệc, ăn uống, chúc vui, chúc mừng
nhau... mạnh khỏe, sống lâu, công thành, danh toại... Ai nấy đều học rộng, biết
nhiều, có đời sống tinh thần vững mạnh, có chiều sâu tâm hồn; họ đều biết những
lời chúc tụng đẩy đưa ấy là khách sáo, nhưng nếu không có những lời đầu môi
chót lưỡi ấy thì họ không biết nói gì! Họ bất lực trước cái hữu hạn, trước cái
ràng buộc của ngôn lời, của xã giao đời thường mà chẳng biết làm sao!
Họ ăn uống chừng mực. Nghe xem cũng chừng mực.
Thái tử sai thị nữ mang thêm thức ăn, thức uống - rồi muốn phá vỡ không khí im
lặng ấy, chàng nói:
- Công việc tại các trấn thành như thế nào, các
bạn?
Bhaddiya nói oang oang:
- Đệ không muốn làm quan tổng trấn, chỉ xin chức
phụ tá để xem công việc như thế nào, xem mình sẽ làm được những gì cho mọi
người... Nhưng rốt lại, vô ích thôi, thái tử ạ!
- Đệ hãy nói cụ thể hơn. Ở đây sẽ có được ý kiến
của nhiều người - Thái tử quan tâm hỏi.
Bhaddiya thở dài:
- Chưa nói đến bảy mươi ba ngàn dân lao động cực
nhọc, khốn khổ, nghèo nàn... trong một trấn thành một trăm mười ngàn dân – như
ở Kapilavatthu này – là khó giải quyết! Chưa nói đến tệ nạn
quan liêu, tham nhũng, hối lộ... của các quan chức điều hành các cơ sở nghiệp
vụ chuyên môn... tại thị trấn, làng xã, phường xóm...là những căn bệnh lâu ngày
khó chữa trị. Chỉ mới một việc nhỏ thôi - tại trấn thành của đệ, chỉ có
mấy chục ngàn dân, muốn đưa số dân nghèo ra khỏi đời sống của động vật, sống
cho ra con người mà cũng không làm được!
Thái tử hiểu Bhaddiya muốn nói
gì. Chàng đã từng đi quan sát nhiều ngôi làng của cư dân thủ-đà-la. Họ chưa có
một ngôi nhà đúng nghĩa là một ngôi nhà: Tất cả chỉ là những cái chòi, những
cái hang, những mái che tạm bợ, sơ sài. Chỗ ngủ nghỉ của họ là những sạp cây,
sạp nứa đóng ghép cẩu thả, đểnh đoảng, ọp ẹp, hư mục... Đôi nơi họ nằm cả trên
nền đất bẩn. Chưa thôi. Trước cửa ra vào xiêu vẹo, bên trái là năm bảy con dê,
bên phải là vài ba con bò...; máng ăn cho súc vật quăng bỏ bừa bãi trên đống
rác xả thải đủ loại... Phân dê, phân bò cùng nước tiểu của chúng, lâu ngày tẩm
lên đất một mùi xú uế nồng nặc, đứng xa hai mươi sải vẫn ngật ngầy mùi hôi đến
lợm giọng, nôn mửa. Thế nhưng, đám dân thủ-đà-la ấy cùng sống chung, sống với
dê, bò, với hôi hám bẩn thỉu ấy một cách an nhiên, tự tại! Sự rách rưới, đói
nghèo, bệnh tật, ghẻ lở... của họ - quả là không còn thuốc trị, quả không còn
khả năng để cứu giúp nữa... Ôi! Thái tử hiểu rất rõ, rất rõ...
Kimbila xen lời có vẻ vừa mỉa mai vừa tâm sự:
- Cứ cải cách đi, cứ canh tân đi! Rồi biện pháp
này lại đụng đến người này, biện pháp kia thì đụng đến người khác. Nuốt chén
cơm quý tộc mà nghe đắng chát như trái bồ hòn.
- Cái vỏ đao chặt quá! Dụng sức rút hoài chưa ra
khỏi vỏ thì nói gì đến chuyện rút đao tương trợ, cứu khốn, phò nguy, giúp dân,
giúp nước...
Ānanda đồng tình nhưng lại nói nhạo:
- Vậy thì hoàng huynh bỏ vũ khí ra! Xem đệ đây,
không có đao mà cũng chẳng có kiếm!
Mọi người đồng cười rộ.
Mahānāma cất giọng điềm đạm:
- Tâm sự của Bhaddiya là của
tất cả chúng ta. Ở trấn của đệ cũng tương tợ thế, là bài toán ngàn đời nan
giải... - Ông cúi đầu xuống, im lặng một lát rồi nói tiếp - Anuruddha và Ānanda thế
mà sướng, thế mà khôn... vừa thoát được cái tròng hoạn lộ, vừa thoát được cái
tròng vợ con! Xin chúc mừng, chúc mừng...
Mahānāma cầm ly rượu chanh chưa kịp cụng ly với mọi người - thì Anuruddha đã
chọc ghẹo:
- Khôn thì nhất định chúng đệ khôn rồi. Nhưng
sung sướng thì còn cần phải xét lại! Huynh hai vợ, bốn con, chưa đủ; còn đào
hoa gánh thêm một kiều nữ kiều diễm nữa. Kết quả mối tình mặn nồng thơ mộng này
cho huynh thêm cô bé Vāsabha-khattiyā xinh đẹp như tiểu tiên
nữ - không là món quà hạnh phúc là gì!
Mahānāma cúi đầu rầu rĩ.
Anuruddha cụng ly với Ānanda:
- Chúng mình một phe, chúc mừng! Đồng thời ủng
hộ cuộc nhân duyên lai huyết thống mà ai cũng phản đối ấy!
Thái tử biết chuyện ấy, cả hội đồng trưởng lão Sākya lên
án, làm cho ưu tư của Mahānāmacàng thêm ngổn ngang, rối bời - nên
mở lời chia sẻ, thông cảm:
- Máu thì ai cũng đỏ. Mồ hôi, nước mắt thì ai
cũng mặn. Phân biệt huyết thống mà làm gì! Tất cả chúng ta đều ủng hộ phải
không?
Mọi người đồng vỗ tay tán thành:
- Vương huynh nói phải!
Devadatta bây giờ mới từ từ cất tiếng:
- Đệ quyết liệt từ chối lập gia đình nhưng phụ
tá vương vị thì không thể giao phó cho ai. Tình trạng Koliya chẳng
khác gì Sākya. Cũng như Bhaddiya, Mahānāma đã
nói - là không làm được việc gì ra trò, ra trống cả. Việc gì cũng nửa vời. Việc
gì cũng đắp đổi tình thế đầu ngọn, ngoài da cả. Ý nghĩa và giá trị cuộc sống
càng ngày càng mù mịt. Tâm không yên. Trí không yên. Sau những cuộc vui chốc
lát như thế này, bên huynh đệ tâm sự như thế này - có lẽ là những kỷ niệm đáng
nhớ nhất, hạnh phúc nhất của đệ đấy! Rồi khi trở về, lại với công việc bộn bề,
phía này thì va đụng phải bức tường thành truyền thống, phía kia thì húc phải
hư vô, rỗng không cùng với những tri kiến rối bời! Đệ biết sống để làm gì? Niềm
vui ngũ dục thì tầm thường quá - mà khát vọng tâm linh thì chỉ có nỗi đau và
vực thẳm. Ở đâu cũng nỗi đau và vực thẳm cả...
Sau lời tâm sự của Devadatta, không
khí cuộc vui như chùng xuống. Dường như đấy cũng là nỗi niềm chung của các ông
hoàng nên ai cũng trầm ngâm, lặng lẽ. Các chương trình, tiết mục biểu diễn trên
sân khấu lộ thiên ai cũng hững hờ. Trời về khuya trăng càng sáng tỏ. Đêm mênh
mông và yên tĩnh. Vài cơn gió mát lạnh từ phương Bắc tràn xuống. Cây cỏ lao
xao. Chợt tiếng nói bên hiên vọng ra:
- Con đừng tiễn nữa, Gopā! Hơi
sương đêm không tốt đâu đấy.
Thái tử đứng dậy, bước nhanh lại:
- Để hoàng nhi tiễn hai mẹ về nhé!
- Không! - Lệnh bà Gotamī nhìn
về phía các ông hoàng - Con hãy chung vui với các bạn một lúc nữa.
Lát sau, ca nhi, vũ nữ được cho nghỉ ngơi. Các
ông hoàng cũng lần lượt từ giã. Trong lúc thị nữ và gia nhân thu dọn bữa tiệc
tàn thì thái tử chậm rãi tản bộ đến phía cuối vườn. Đèn đuốc vẫn sáng lung
linh. Thái tử ngồi bất động trên một tảng đá, rất lâu, không để ý lúc ấy sương
xuống đã nặng hạt.
Yasodharā liếc nhìn bóng dáng thái tử khuất sau hàng cây, nàng đội
khăn, trùm đầu, đi quành ra phía góc vườn đối diện, tằng hắng, gõ cửa căn lều
nhỏ:
- Channa... Channa...
Ngọn đèn được vặn sáng lên. Hóa ra Channa còn
thức. Thấy lệnh bà Yasodharā, Channa nói lắp bắp:
- Thưa lệnh bà... chẳng hay...
- “Suỵt” - Công chúa khẽ nói -
Đừng cho thái tử biết. Con hãy chuẩn bị yên cương, áo mão dạ hành, kể cả thức
ăn ngon cho ngựa. Đêm nay, thái tử rất cần con với Kaṇṭhaka đấy!
Yasodharā đi rồi mà Channa còn há hốc nhìn theo...
Và quả thật đúng như vậy, đêm ấy thái tử quyết
định ra đi. Đợi lúc mọi người yên ngủ cả, chàng dạo một vòng quanh công viên,
nhìn những hồ nước, những cây cảnh, những ngọn đèn đá, những bồn hoa, những
đường đi lối lại... suốt bao nhiêu năm qua đã trở nên quen thuộc. Chàng nói
thầm trong tâm rằng: “Cảm ơn các bạn, những người bạn cỏ hoa vô tình đã
cho ta những phút giây an bình, thư thái. Hôm nay, ta chào từ giã các bạn.”
Sau đó, thái tử rảo bước một vòng quanh hành
lang cung điện mùa hè. Đâu đó đều vắng lặng như tờ, thỉnh thoảng, tiếng nghiến
răng, tiếng ngáy của gia nhân, người hầu vọng lại. Trăng sáng vằng vặc dọi
chiếu vào các cửa sổ mở rộng. Những chùm đèn vẫn còn sáng tỏ lác đác đó đây. Thái
tử muốn vào nhìn mặt Yasodharā và Rāhula lần
cuối cùng. Khi đi ngang qua căn phòng sang trọng dành cho ca nhi, vũ nữ, bất
giác chàng dừng lại. Sau buổi biểu diễn mệt mỏi, các cô nàng nằm ngủ la liệt,
buông lơi, trễ tràng... Họ là những mỹ nữ đã được tuyển chọn, đẹp như tiên nữ
nhà trời mà bây giờ trông như những xác chết. Có cô trốc váy, hở hang, nằm soải
dài, thản nhiên cất tiếng ngáy. Có cô phấn son nhòe nhoẹt, da trắng bệch, miệng
há ra, nước bọt sùi ra bên mép. Có mấy cô nằm gác chân lên nhau ngang dọc, để
lộ trơ trẽn những bộ phận cơ thể lõa lồ. Mùi phấn, mùi son, mùi nước dãi, mùi
mồ hôi, mùi hơi thở, mùi da thịt... quyện lẫn trong nhau tỏa ra cái mùi tổng
hợp ngây ngấy, lợm giọng... Ồ! Hóa ra đây là sự thật đằng sau cái gọi là sắc
đẹp, âm thanh, hương vị mỹ diệu của cuộc đời mà vô lượng kiếp, chúng đã đưa ta
và chúng sanh vào các cõi dục đắm say. Quả đúng là một bãi tha ma, mộ địa bốc
mùi xú uế..., là cái mà chúng đã quyến rũ ta và chúng sanh quẩn quanh hoài
trong sinh tử rồi trầm luân vạn kiếp?
Thái tử đứng bất động.
“- Ta đã thấy ngươi rồi, sắc đẹp! Ta đã thấy rồi
những tô vẽ diễm lệ ở bên ngoài cái xác thân hôi hám kia! Rồi lại còn âm thanh
du dương, trầm bổng? Mùi hương thơm tho, quyến rũ? Mỹ vị ngon béo ngọt ngào?
Xúc chạm mịn màng, êm ái...? Tất cả, chúng cám dỗ thế gian đến say mê điên đảo.
Nhưng sự thật, bản chất của chúng là rỗng không, ghê tởm.”
Trước mắt thái tử chợt hiện ra những ý nghĩ so
sánh với những hình ảnh, kế tục những hình ảnh:
“- Sự cám dỗ ấy ví như như cục xương khô mà đàn
chó nhà đang nhe nanh vuốt cấu xé, giành giật lẫn nhau. Chúng bán sống bán chết
để tranh cho được cục xương. Nhưng rồi chúng có làm được gì?! Chúng chỉ nuốt
được bọt nước miếng của mình thôi!”
“- Sự cám dỗ ấy giống như miếng thịt thối mà
diều, quạ, kên kên... đồng lao xuống cướp giật. Con này cắn được, mang đi, con
khác rượt theo, mổ, tranh chí chóe. Cuối cùng, có con nào được cái gì đâu! Chỉ
có trầy da, trốc lông, tươm máu là có thật!”
“- Sự cám dỗ ấy ví như người cầm bó đuốc cỏ khô
đang cháy, đi ngược chiều gió. Ngọn lửa táp vào tay... cũng không chịu vứt bỏ!
Cuối cùng bị cháy bỏng, đau đớn đến gần như chết.”
“- Sự cám dỗ ấy giống như hầm than hồng, ngầm
cháy, bên trên có lớp tro trắng che phủ. Trên ấy, có người vẫn vô tư, hồn nhiên
đi lui đi tới, vui tươi hí hửng, nhảy múa, hát ca... Đùng một cái, bị rớt xuống
hầm, bị thiêu đốt quằn quại, đau đớn...”
“- Sự cám dỗ ấy ví như có người nằm mộng thấy
phú quý, vinh hoa tột bực, thọ hưởng dục lạc trăm phần thỏa mãn. Khi tỉnh lại,
hóa ra không có gì cả. Chỉ có xương cốt rã rời, thân tâm mệt mỏi là có thật!”
“- Sự cám dỗ ấy giống như đồ mượn dùng trong
chốc lát! Chốc lát thôi - vì không thể thọ hưởng được lâu dài. Khi trả lại cho
vô thường thì hóa ra tay trắng vẫn hoàn tay trắng! Chỉ có tiếc rẻ, ngẩn ngơ,
sầu muộn là còn lại.”
“- Sự cám dỗ ấy giống như trái cây chín có thuốc
độc. Thấy trái cây chín có màu da đẹp, láng lẩy, mịn màng, mọng đỏ, thơm lừng
lựng... bèn hái ăn! Ôi, quả là tuyệt vời... trái chín ngọt tươm mật, tươm
hương. Nhưng khi ăn xong, chất độc ngấm vào bao tử, ngấm vào ruột non, ngấm vào
máu... người ấy quằn quại la hét, mắt trợn ngược, trắng dã, da tím tái, mồ hôi
nhờn tuôn đổ... là dấu hiệu của tử vong.”
“- Những sự cám dỗ ấy chúng không chỉ mê hoặc
một người, vài người... mà chúng đầu độc cả thế gian. Vợ chồng, con cái, anh
em, bạn bè, quyến thuộc... cũng vì chúng mà sinh ra không biết bao nhiêu cảnh
huống thương tâm, ly tán, đoạn trường. Rồi nào là dòng họ, tập cấp, làng xã, bộ
tộc... cũng vì chúng mà sinh ra xung đột, bạo lực, thù hận, chiến tranh...
tương tàn tương sát, máu chảy thành sông, xương chất cao như núi...!”
Thái tử thở dài một lượt nữa. Ý chí xuất gia
thêm một lần nữa, càng trở nên kiên định...
Thái tử vén rèm, nhìn vào phòng Yasodharā.
Nàng và con đang yên giấc. Thái tử bước gần lại. Qua ánh đèn, thái tử thấy
khuôn mặt của Rāhula bị che khuất sau mảnh vải lụa từ cánh tay
trái của nàng Yasodharā. Thái tử muốn ôm con, muốn thấy mặt
con lần cuối cùng. Vừa thò tay xuống, thái tử chợt dừng lại, chàng sợ lay động
giấc ngủ của công chúa. Nàng thường ngủ rất tỉnh. Và như vậy thì sự ra đi của
chàng càng trở nên khó khăn. Thái tử sợ giọt nước mắt của nàng. Giọt nước mắt
của người nữ có thể làm tê liệt, làm cho bủn rủn ý chí của tất cả các trang nam
nhi! Thái tử đứng nhìn ngắm Yasodharā. Nàng đúng là một người
đàn bà vẹn toàn năm vẻ đẹp, chưa kể vẻ đẹp tâm hồn thế gian khó tìm. Cho chí
trong giấc ngủ vẫn tỏa ra nét đoan trang, kín đáo... như một nụ hoa hàm tiếu!
Dáng nằm nghiêng về bên phải, chân co, chân duỗi - đúng là cách nằm của bậc mẫu
nghi thiên hạ! Ôi, nàng đã cùng ta đi suốt một chặng đường dài, ngoại trừ bản
chất mềm yếu đương nhiên của nữ tính, thái tử thấy nàng như một viên ngọc maṇi không
tỳ vết, chẳng khiếm khuyết nào về mỹ dung cũng như đức hạnh... Mà thôi! Dù sao
thì mọi chuyện, thái tử đã nói hết rồi. Đừng nên quyến luyến, bịn rịn nữa. Ngay
cả sự cám dỗ ngọt ngào này... ta cũng phải cắt đứt.
Chàng bước ra, nhè nhẹ, sau đó lại trở vô, vén
rèm nhìn hai mẹ con một lượt nữa. Cuối cùng, thái tử quay lưng, cất bước đi
nhanh. Trăng sáng vằng vặc. Sương đêm lấp lánh. Thái tử đến cuối vườn. Channa còn
thức.
- Channa - Thái tử gọi - Đem
ngựa Kaṇṭhaka với đầy đủ yên cương cho ta!
Tuy đã được Yasodharā báo
trước, nhưng Channa cũng hỏi:
- Thái tử đi đâu khuya vậy?
Không đáp thẳng vào câu hỏi của Channa, thái
tử nói:
- Nhớ kiểm tra lại vó ngựa. Cho nó ăn uống đầy
đủ trước khi lên đường.
Sau khi đã thực hiện đâu đó xong xuôi, Channa dẫn Kaṇṭhaka với
đầy đủ yên cương, áo dạ hành, kể cả nước uống, thức ăn cho người và ngựa. Thái
tử hơi ngạc nhiên trước sự mau mắn, nhậm lẹ của Channa; sợ không
còn thời giờ, chàng đến bên ngựa vuốt ve, vỗ về:
- Đây là một chuyến đi xa, Kaṇṭhaka! Chuyến
đi rất quan trọng với ta! Chuyến đi quyết định cả một đời người! Con hãy ra sức
hết lòng nhé!
Kaṇṭhaka dậm chân, hí một tràng dài như vui mừng, như sung sướng. Sợ mọi
người thức dậy, nhất là sợ Yasodharā tỉnh ngủ, Thái tử vuốt ve
đầu ngựa... Channa nói:
- Con có đi cùng không, thái tử?
Chàng gật đầu rồi hỏi:
- Dư sức, thái tử! Một ngày đi ngàn dặm mà còn
dẻo dai, sung sức.
Thái tử leo lên ngựa. Channa cũng
nhẹ nhàng nhảy lên ngồi ở phía sau. Ra khỏi cổng Cung Vui, nhắm cửa thành Đông
nam, thái tử cho ngựa đi nước kiệu, thong dong, nhàn nhã. Kinh thành đang say
ngủ, đèn đuốc vẫn còn cháy đỏ bập bùng ở nơi này, nơi khác.
Cổng thành Đông nam mọi khi đóng chặt, nhưng hôm
nay sao được mở rộng? Quân canh mọi lúc canh gác nghiêm ngặt nhưng bây giờ họ
đi đâu vắng cả, có lẽ yến tiệc say sưa ngủ mê mệt hết rồi chăng? Ngửng nhìn
trời sáng rực hào quang, thái tử biết sự ra đi của mình hôm nay được thiên thần
hỗ trợ, nên ý chí xuất gia như được tiếp thêm sức mạnh.
Ra khỏi cổng, ngựa Kaṇṭhaka như
muốn khoe tài, nó hí một tràng dài rồi tung vó, lướt đi nhẹ nhàng như làn gió
mát. Chừng hơn nửa dặm đường, thái tử dừng ngựa, quay lại nhìn kinh thành lần
cuối cùng. Kapilavatthu nằm im lìm giữa trời trăng và giữa
những đốm lửa bập bùng. Những tháp hoa đăng và những bó đuốc khổng lồ trên bốn
bức tường thành như vạch giữa đêm đen một hình chữ nhật lửa vĩ đại. Thái tử
mang một cảm giác kỳ lạ, bồi hồi khó tả. Nơi đấy, nơi cổ thành hoa lệ ấy, chàng
đã được sinh ra, được lớn lên, được học hành, được nuông chìu trong ba tòa Cung
Vui. Cũng tại đấy, một tuổi thơ hồn nhiên, vô tư vui chơi cùng chúng bạn... Và
rồi cũng từ đó mà cùng thao thức và trở trăn. Nơi ấy có người vợ dấu yêu từ
nhiều kiếp trước, đã hiểu chàng, đã thông cảm cho chàng, đã biết chàng từ chân tơ
kẽ tóc của ý tình và tâm sự. Có đứa con thơ với mầm sống bé nhỏ vừa ra đời được
mấy ngày. Rồi phụ hoàng, một người cha vừa nghiêm khắc vừa nhân từ, tuy già lão
mà còn cứng cáp như tùng, như bách. Rồi di mẫu Gotamīnữa, người đã
thương yêu chàng như mẹ thương con, quan tâm và lo lắng cho chàng còn hơn cảNandā và Sundarī
Nandā - là con ruột của người. Rồi còn các ông hoàng huynh đệ nữa. Đã
hằng chục buổi hội thảo lớn, hằng trăm cuộc đàm đạo nhỏ... vẫn không thể tìm ra
kế sách đem đến hạnh phúc, an vui cho nhiều người. Vẫn bế tắc, vẫn mịt mù trước
ý nghĩa cuộc sống.
Tất cả họ, có phải thế chăng, hiện giờ đều đang
say ngủ? Có phải thế chăng, họ không biết gì đến cái vòng quay nghiệt ngã của
luân hồi tử sanh tất định? Có phải thế chăng, họ đang an phận muôn đời trong
cái giới hạn vô lượng của đau thương và khổ nạn? Thái tử tự hứa với lòng là
phải tìm cho ra con đường bất tử, nếu không, quyết không trở lại kinh thành Kapilavatthu nữa.
Khi thái tử quay ngựa dớm bước đi - thì trên hư
không, trước mặt, xuất hiện một đài mây sáng. Một vị thiên thần phục sức cao
sang, mỹ lệ hiện ra, có vẻ chặn đường.
- Ngài là ai? - Thái tử hỏi.
- Ta là vua cõi trời Tha hóa tự tại, thưa thái
tử!
- Ngài đến đây có việc gì?
Vị ấy là thiên vương cõi trời Vassavati, chúa
cõi trời Dục giới thứ sáu, thế gian thường gọi là Ma ba tuần. Nó chính là vị
Đại ma vương nhiều phước báu và nhiều quyền lực. Tất cả mọi chúng sanh - trừ
phạm thiên giới - đều ở trong sự chi phối của y. Ngay cả Đao-lợi, Đẩu-xuất cũng
không biệt lệ. Thời gian gần đây, Đại ma vương nghe tất cả các cõi thiên giới
đều xôn xao; nhất là từ khi chúng chư thiên, phạm thiên đến thỉnh bồ-tát Setaketu giáng
sanh cõi trần để tiếp nối con đường bất tử của mình, sẽ đắc quả Chánh Đẳng Giác
để cứu độ chúng sanh. Mới vừa rồi, chư thiên hiện ra trong cung điện kinh thành Kapilavatthu để
phân xử con chim hạc - Đại ma vương cũng có nghe. Rồi chư thiên hiện thân sứ
giả người già, người bệnh, người chết, vị sa-môn... để kinh cảm đến thái tử
cũng không thoát khỏi được đôi mắt thiên nhãn của Đại ma vương. Đặc biệt, đêm
nay, giữa hư không, thiên chúng mừng vui, tấu nhạc trời, mở hội hoan ca để cung
tiễn thái tử xuất gia tầm đạo. Kinh thành Kapilavatthu sáng rỡ
hào quang. Cổng thành Đông nam chư thiên mở rộng ra, cho quân binh say ngủ, để
tạo sự thuận lợi cho thái tử xuất hành. Đại ma vương biết cả, thấy cả. Ông ta
mang nỗi niềm khó tả, vừa tự ái vừa lo sợ. Đại ma vương vốn là chúa của bóng
tối và vô minh, quyền lực của nó chỉ có giá trị khi thế gian sống say mê trong
dục lạc ngũ trần. Những chúng sanh tu tập thiền định để lên cõi trời Sắc và Vô
sắc, viễn ly dục lạc vật chất là đã thoát khỏi quyền lực của Đại ma vương rồi.
Nhưng nó không lo, khi hết phước báu và năng lực thiền định - thì cũng phải rơi
trở vào tròng như cũ. Đại ma vương lo ngại nhất là vị thái tử này. Vì dục lạc
tối thượng tại ba tòa Cung Vui cũng không giữ chân chàng được. Thái tử muốn
thoát khỏi quyền lực của Đại ma vương. Thái tử dám đi tìm ánh sáng và con đường
bất tử sao? Quyết không thể được!
Do vậy, khi được thái tử hỏi, Đại ma vương cất
giọng ngọt ngào:
- Ta đến đây hoàn toàn với thiện ý. Ta báo cho
thái tử một tin mừng là trong vòng bảy ngày nữa, thì bảy báu[1] sẽ
xuất hiện. Và như vậy thái tử sẽ là vị Chuyển luân Thánh vương, cai trị bốn
châu thiên hạ, giàu sang tột bực, phú quý vô cùng và quyền uy tối thượng.
Thái tử mỉm cười:
- Ngươi dụ dỗ ta ấy à?
- Không, không phải dụ dỗ. Mà đó là sự thật. Ta
chỉ nói sự thật. Với thần lực biết quá khứ, vị lai - ta chỉ mách cho thái tử
hay đó thôi.
- Thế à! - Thái tử thản nhiên nói - Vậy thì ta
xin cảm ơn hảo ý của ngươi. Bây giờ thì hãy tránh đường cho ta đi.
- Thái tử đi đâu? Sao không ở lại hoàng thành để
đợi chờ bảy báu của Chuyển luân Thánh vương xuất hiện?
- Này, ta báo cho ngươi hay. Ta từ chối mọi vinh
quang của thế gian. Ta khước từ mọi cạm bẫy ngọt ngào của ngũ dục. Ta sẽ bước
ra khỏi quyền lực của ngươi, này ma vương! Rồi ta sẽ xóa tan bóng tối của vô
minh. Ta sẽ không cam chịu đời sống thấp hèn, si mê và nô lệ. Ta sẽ tìm cho ra
ánh sáng của đạo bất tử. Ta sẽ lặn lội kiếm phương thuốc cứu khổ cho muôn triệu
sanh linh. Dù chông gai, trở ngại cũng không làm cho gót chân ta lùi bước. Dù
bão cuồng, gió giật cũng không lay động được ý chí của ta. Hỏa diệm sơn hoặc hố
than hồng hừng hực cũng không đốt cháy được quyết định của ta. Lựa chọn con
đường xuất gia là một lựa chọn bất thối. Chẳng ai trên thế gian này cản trở
được ta đâu. Ngươi hãy đi đi thôi! Đừng hòng giở trò dối lừa, phỉnh gạt quỷ
quyệt nữa. Ngươi là bóng tối thì hãy tan theo bóng tối. Tức khắc tan ngay!
Đại ma vương biết không dễ gì lung lạc thái tử
được nữa - một chúng sanh vĩ đại đã từng tu tập ba-la-mật trong vô lượng kiếp -
nhưng rồi y sẽ chờ đợi. Thái tử, khi đang còn thân xác trần tục của một con
người, chắc một lúc nào đó ông ta sẽ có một vài lỗi lầm, sẽ có một vài tư tưởng
xấu, sẽ có một vài khoảnh khắc mềm yếu; và những khi như vậy, ta sẽ tức khắc
xuất hiện, tìm cách cám dỗ trở lại trong vòng quyền lực của ta... Nghĩ thế
xong, Đại ma vương biến mất giữa hư không... Và cũng từ giây phút đó, Đại ma
vương theo dõi từng bước chân, từng tâm niệm của thái tử... dường như suốt cả
cuộc đời!
Channa cứ há hốc mồm... mà nghe thái tử nói giữa hư không! Y ngạc
nhiên là phải vì cuộc đối thoại vừa rồi chỉ xảy ra trong một không gian riêng
giữa Đại ma vương và thái tử. Chỉ có thái tử thấy và nghe - còn ai khác đều
không thể.
Đuổi ma vương đi rồi, thái tử thản nhiên như
không có chuyện gì, cúi xuống khẽ vuốt ve bờm ngựa:
- Bắt đầu từ đây, con sẽ ra oai, con nhé! Con sẽ
cố gắng hết sức mình. Với sức thần mã vô địch, trong vòng nửa đêm, con sẽ đưa
ta vượt Sākya, vượt Koliya để đến bên kia quốc độ Mallacon
nhé!
Kaṇṭhaka như hiểu được tiếng người, dựng bờm, dậm vó, hí vang... rồi
lao đi. Từ nước kiệu, đổi sang phi nước đại; sau đó Kaṇṭhaka trổ
uy thần mã trên dặm dài thiên lý. Thế rồi, nhà cửa, cây cối, ruộng vườn, núi
đồi... chợt lùi ra phía sau, lùi xa ra mãi. Kaṇṭhaka phi nhẹ
nhàng như một lằn sáng trắng - nhưng ngồi trên yên, thái tử vẫn cứ cảm giác như
ngồi trên tấm thảm nhung, êm ái, không lay xóc. Theo mãi hướng Đông nam, một
đỗi sau, bắt gặp một xa lộ rộng rãi - là con đường giao thông huyết mạch của
thương nhân từ phía Kosala đến Sākya, Koliya, Malla,Vajjī,
Licchavī... tiếp giáp sông Gaṅgā... và qua bên kia là quốc
độ Māgadha rộng lớn. Thái tử nhẩm tính từ kiến thức địa lý đã
học được. Từ Kapilavatthu đến Lumbinī - nơi
chàng chào đời - khoảng chừng sáu do-tuần (khoảng bảy mươi hai km).
Từ Lumbinī đến Koliya chỉ vài ba do-tuần,
nhưng có con sông Rohini phải vượt qua, mới vào được kinh đô Devadaha của
nướcKoliya. Từ đây, chỉ bốn năm do-tuần nữa là đến quốc độ Malla rồi.
Nơi nào có con sông rộng ấy là sông Anomā... Như vậy, tổng
cộng lộ trình trên dưới mười bốn do-tuần (trên một trăm sáu mươi km) với
sức ngựa như thế này, ta sẽ vượt qua được bên kia Anomā lúc
trời rạng sáng, gặp khu rừng dự định.
Đúng như thái tử phỏng đoán, đầu canh ba, ngựa Kaṇṭhaka đã
vượt qua sông Rohini - khúc sông cạn - sau đó, tiếp tục đến Koliya. Không
theo lối vào kinh thành Devadaha, theo xa lộ của thương buôn, ngựa
vẫn phi nhẹ nhàng, lâu lâu hứng thú, nó hí lên một tiếng, âm thanh như phá vỡ
sự yên lặng của đêm sâu.
Có lẽ là bắt đầu ra khỏi địa giới Koliya, thái
tử cho ngựa dừng chân bên một hồ nước ven đường để nghỉ sức. Sao mai sáng trong
lấp lánh như một hạt kim cương. Gió mát thổi rì rào. Thái tử bước xuống. Kaṇṭhaka rịn
mồ hôi. Channa cho ngựa uống nước, cho ăn đậu xanh, đường và
mật... đã cụ bị đầy đủ trong tay nải.
Họ lại lên đường. Lúc sao mai mờ, trời rựng
sáng, họ đã đến được một dòng sông khá rộng. Nhìn dãy núi và khu rừng bên kia
bờ, thái tử biết mình đã đến nơi. Như vậy, con thần câu vô địch chỉ trong thời
gian một canh rưỡi đã đưa thái tử và Channa vượt một chặng
đường dài trên mười mấy do-tuần mà dường như nó vẫn còn sung sức.
Dòng sông Anomā nước xanh
trong, mênh mông. Đưa mắt nhìn phía thượng lưu đến hạ lưu, thấy khó hy vọng gặp
đoạn sông cạn, thái tử phân vân... Thường ở đây có những chiếc bè lớn cho
thương buôn và khách bộ hành sang sông, nhưng nhìn quanh chẳng thấy.
Thái tử nói:
- Có lần, Bhaddiya kể rằng, ở
đây có ba hay bốn bến sông do nhu cầu của thương buôn từ nhiều hướng khác nhau.
Vậy, ở đâu đó sẽ có bè, ta đi trật lối rồi, Channa, phải tìm bến mới có
bè sang sông được.
- Hóa ra là chuyện qua sông - Channa hăm
hở nói - chẳng cần thế, thái tử. Kaṇṭhaka dư sức bay qua khúc
sông này mà!
- Chẳng lẽ nào? Ngươi nói chắc đấy chứ?
- Chắc chắn - Channa gật - thuở
nhỏ, ở trại nuôi ngựa, con đã từng huấn luyện choKaṇṭhaka bay qua
một cái đầm rộng, có lẽ còn rộng hơn đoạn sông trước mặt. Nó khoái lắm! Phải
vậy không, Kaṇṭhaka?
Như hiểu ý, Kaṇṭhaka lại dựng
bờm, dậm chân lịch bịch, hí vang.
Thái tử và Channa lại lên ngựa,
đi trở lui một khoảng xa để lấy trớn. Thái tử tin lời củaChanna và
còn tin vào khả năng thần kỳ của Kaṇṭhaka nữa. Vì suốt quãng
đường dài, nhiều khiKaṇṭhaka phi rất nhanh mà bốn vó dường như
không dính đất. Và quả thật như vậy, sau khi lấy đà, Kaṇṭhaka bay
nhanh đến gần mép sông, nó uốn mình tạo lực đẩy; rồi như một mũi tên thoát khỏi
dây cung, nó băng băng bay qua dòng sông như một luồng sáng. Kaṇṭhaka bay
nhanh quá, thái tử nằm xuống ôm sát cổ ngựa, bám chặt thân mình để tránh sức
cản của gió. Channa cũng thế, nhưng do đà lao nhanh, hai tay
ôm chặt hông ngựa nhưng hai chân phải soải dài ra sau... trông như bám vào đuôi
ngựa vậy...
Gió thổi lồng lộng bên tai. Bờ đất hiện ra. Kaṇṭhaka hết
đà, dừng chân hí vang vì nó biết rằng nó đã chiến thắng. Channa rơi,
té sấp. Thái tử bước xuống, chậm rãi đến bên Kaṇṭhaka, ôm đầu
nó rồi nói rằng:
- Ta vô cùng cảm ơn con, Kaṇṭhaka! Con
đã đưa ta qua sông một cách uy dũng và ngoạn mục. Còn cả chuyến đi nữa. Đấy là
chuyến đi hệ trọng, chuyến đi định hướng cuộc đời của ta đó. Con đã nhiệt tình
giúp ta trong bước đầu trên lộ trình bất tử. Một lần nữa, ta cảm ơn con! Phước
báu và công đức của con cao thượng lắm, con biết không?
Kaṇṭhaka dường như nó hiểu. Nó đưa đôi mắt buồn buồn nhìn thái tử,
rồi nó lại đưa lưỡi liếm liếm vào bàn tay chàng.
- Ta ra đi, ta xuất gia, lìa khỏi tất cả, Channa ạ!
Ta cũng rất cảm ơn con đã hết lòng hầu hạ ta bấy lâu mà lúc nào cũng nhiệt
tình, vui vẻ. Cái đức tính ấy rất quý hiếm đấy, Channa!
Channa chỉ biết nhỏ lệ, nghẹn ngào.
Thái tử quay lại nhìn dòng sông, nói tiếp:
- Sở dĩ ta chọn con sông này là có lý do! Nếu
kiến thức về địa lý của ta không lầm thì nó đúng là sông Anomā, không
thể là con sông khác được. Anomā với nghĩa cổ xưa là cao
thượng, cao quý tột cùng. Từ đây, từ Anomā, ta sẽ đi theo lộ
trình cao thượng, cao quý tột cùng: Ấy là lộ trình xuất thế vậy.
Lại quay nhìn trước mặt, núi tiếp núi, rừng tiếp
rừng, cây xanh phơi phới, những cụm đá trầm mặc... mà lòng dâng lên một cảm
giác rất kỳ lạ - một cảm giác chưa hề có trong đời!
Giọng bùi ngùi của Channa thoảng
bên tai thái tử:
- Thái tử đi hẳn, không trở về sao?
- Ta sẽ trở về khi nào tìm ra Đạo lớn, Channa!
Channa xót xa:
- Mọi người sẽ buồn lắm, thái tử! Ngài là ngôi
sao sáng, là linh hồn của Kapilavatthu. Ngài còn là mặt trời,
mặt trăng của muôn dân bá tánh nữa! Ôi, công chúa Yasodharā sẽ
sầu khổ biết bao nhiêu! Rồi còn đức vua, lệnh bà Gotamī cùng
các ông hoàng cũng vậy nữa. Ai cũng nhớ thương thái tử như trái tim của mình!
- Ta biết, Channa - Thái tử nói
như phân trần - Ta phải hy sinh tình thương nhỏ hẹp để hướng đến tình thương
cao cả, rộng lớn hơn, Channa! Ta phải tìm cho ra con đường cứu
khổ tất cả chúng sanh.
Channa cúi đầu, những giọt lệ tuôn
chảy lặng lẽ. Kaṇṭhaka đưa đôi mắt đỏ lệ nhìn thái tử. Nó cũng
đứng im, bất động.
Thái tử chợt cất những bước dài, đến đứng trên
một tảng đá tại một mô đất cao. Với một cử chỉ dứt khoát, cạo bộ râu lún phún,
sau đó, tay trái nắm búi tóc, tay phải đưa cao gươm báu, đoạn lìa mái tóc xanh.
Thái tử ngước nhìn lên hư không, phát lời đại nguyện:
“- Nếu quả thật, ta tu hành đắc quả Chánh Đẳng
Giác - thì nắm tóc này xin nằm lại giữa hư không. Nếu không phải thế, nghĩa là
chẳng thành tựu Phật quả - thì cho nắm tóc này rơi trở lại xuống đất.”
Nói xong, thái tử quăng nắm tóc lên hư không...
rồi nó cứ lên cao mãi, lên cao mãi rồi biến mất giữa mây xanh. Lý do là, lời
phát nguyện vô thượng của thái tử làm cho ngai vàng của Đế-thích (Sakka) chợt
trở nên nóng bỏng. Ông ta hối hả dùng oai lực hút nắm tóc lên tận cõi trời Ba
mươi ba, hứng bằng chiếc khay vàng, sau đó đem tôn thờ tại bảo tháp Cūḷāmāṇi. [2]Channa thấy
hiện tượng lạ lùng quá, chắp hai tay lên trời vái mãi. Thái tử biết là mình sẽ
thành Phật, hoan hỷ trong lòng, lấy kiếm, xâu chuỗi ngọc, cái đai bào đính bảo
ngọc lưu ly... ân cần trao cho Channarồi nói rằng:
- Bảo kiếm, đai bào lưu ly này là vật hộ thân
của ta, luôn ở bên ta chưa hề rời xa; ngươi hãy mang chúng về trình lên phụ
vương, nói rõ chí nguyện bất thối của ta, đảnh lễ người giùm ta và nói rằng: “Siddhattha
bất hiếu, chưa báo đáp ân sâu, chưa xin phép người mà đã ra đi xuất gia tầm
đạo. Nguyện đắc thành Phật quả, Siddhattha sẽ về tạ tội với phụ hoàng sau”
Channa tay nắm di vật, đỏ lệ, gật đầu.
Thái tử tiếp:
- Còn chuỗi ngọc này chính là chuỗi ngọc ân
tình, trong cuộc thi sắc đẹp năm xưa, ta đã ưu ái ban tặng cho Yasodharā... Nhưng
năm sau, Yasodharā lại đeo lại cho ta, nói rằng: “Thiếp
ở bên chàng nhưng không bao giờ gần chàng được, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Trí óc và tâm hồn thái tử - luôn ở cảnh giới nào đó rất xa xăm. Vậy chàng hãy
mang lại xâu chuỗi ngọc này để thiếp cảm thấy ấm áp vì nó luôn tiếp xúc với hơi
ấm và sự sống của chàng.” Vậy, này Channa,hãy mang xâu
chuỗi ngọc này về giao tận tay công nương Yasodharā, và nói
rằng: “Thái tử luôn yêu thương công chúa cùng đứa con trai bé bỏng.
Công chúa là người nữ duy nhất trên thế gian đã cảm thông, đã âm thầm nâng đỡ
cho chí nguyện tối thượng của ta. Bao giờ thành đạo, ta sẽ trở về gặp lại hai
mẹ con nàng.”
Thái tử chợt vỗ vai Channa:
- Ta biết, Channa! Chỉ cần để
tâm một chút là ta biết Yasodharā đã tiên liệu giờ giấc ra đi
của ta. Có phải nàng đã lén gặp ngươi, bảo ngươi chuẩn bị yên cương, nước uống,
kể cả đậu xanh, đường, mật cho Kaṇṭhaka?
- Dạ... dạ phải!
Thái tử lại thở ra:
- Thôi, ngươi đừng bịn rịn nữa! Sự giác ngộ của
ta sau này có công đức của ngươi dự phần!
- Dạ... Dạ!
Channa nước mắt rơi lã chã. Hai con mắt của Kaṇṭhaka cũng
đẫm ướt như chủ của nó. Thái tử bước tới lại một lần nữa vuốt ve, vỗ về. Nó cúi
xuống, liếm tay thái tử và với nước mắt tuôn chảy thành dòng.
Thái tử cảm động, cất giọng dịu dàng:
- Con cũng vậy, hãy về đi, Kaṇṭhaka! Công
đức của con cũng không thua gì Channa đâu. Sau này ta cũng sẽ
cứu độ cho con!
Channa nghẹn ngào không nói được một lời nào, cúi đầu, nắm cương Kaṇṭhaka, kéo
đi... Cuộc chia tay nào cũng bịn rịn, xót xa...
(Kinh và chú giải kể rằng, ngựa Kaṇṭhaka quay
lưng đi vừa được bảy bước, nó liền đứt ruột, vỡ tim mà chết. Chỗ khác giải
thích, do tận dụng toàn vẹn sức lực để bay qua sông - nên ruột nó đã đứt từng
đoạn rồi - tuy nhiên, đợi giã từ thái tử xong, nó mới chết; sau đó, Kaṇṭhaka
tức khắc hóa sanh lên cõi trời Tāvatiṃsa, làm một vị thiên nam, có tên là
Kaṇḍaka. Một nơi khác, bảo Kaṇṭhaka đưa Channa về đến khu vườn cũ, nó nhịn ăn
suốt một tuần lễ ở trong chuồng, sau đó mới thanh thản chấm dứt hơi thở.
Kaṇṭhaka cũng hóa sanh lên cõi trời Tāvatiṃsa, làm vị thiên nam có tên là
Kaṇḍaka như trên.
Mặt trời đã lên cao, nắng vàng long lanh như ánh
mật. Chim bay lượn nhởn nhơ giữa hư không thoáng rạng. Chim ca hót râm ran trên
những tàn cây rậm. Gió mát thổi rì rào. Dòng sông xanh in bóng mây trời thênh
thang, nhẹ hẫng. Thiên nhiên cây cỏ yên ổn, vắng lặng làm cho bao mối ưu tư,
phiền não của Siddhattha chợt như tan biến mất cả.
Siddhattha quay lưng lại bờ sông, nhìn vào khu rừng già
trước mặt. Từ đây, không cửa không nhà, không hành trang, tư lương, sở hữu...
Hốc đá, cội cây, non cao, động vắng... là quê hương! Trăng sao khói mây, gió
sương... là bạn lữ. Phải lấy nỗi khổ chung của sanh loại làm mục đích kiếm tìm.
Phải đào bới tận nguyên nhân, gốc rễ của tử sanh và luân hồi vô tận. Từ đây, ta
không còn thao thức, trăn trở... chuyện tế thế an bang; chuyện quốc gia chủng
tộc; chuyện miếng cơm manh áo đời thường. Hãy để cho các ông vua làm việc ấy.
Hãy để cho kẻ chạy theo danh lợi thế phàm quẩn quanh với đủ mọi danh nghĩa hay
ho “sặc mùi chân lý” – tha hồ cho họ dựng cờ múa kiếm. Ta đã
chán mứa mọi thứ vinh quang - mà bên sau ngầy ngật xú khí hão huyền, rỗng không
và hạ liệt. Ta đi. Phải xé bức màn hư vô ngàn đời để tìm cho ra sự thật...
Một tiếng động. Hóa ra một chú nai tơ làm gãy
cành khô đang đưa mắt trẻ con nhìn chàng.Siddhattha ngồi xuống. Ôi!
Chú nai có đôi mắt tròn xanh, ngây thơ, hồn nhiên, đáng yêu vô cùng. Chàng nhìn
quanh, có bẫy sập hoặc chú thợ săn nào độc ác ở đây chăng? Quạnh vắng. Chàng
cảm giác như mình vừa được thoát nạn, được bình yên chứ không phải là chú nai
con dại khờ này. Sột soạt. Hai chú sóc rượt đuổi nhau chạy lên vòm cây cổ thụ,
cái đuôi xòe nở ra trông giống cái chổi lông! Ồ! Thiên nhiên bình yên quá. Sự
sống yên bình đang diễn khắp mọi nơi! Ừ!Siddhattha ngẫm nghĩ, bạn
bè ta còn nhiều lắm, còn biết bao nhiêu là động vật hiền lành...
Siddhattha đứng dậy, nhắm hướng Đông nam, đi theo mé rừng cây cối thưa
thớt. Hoa nở từng lùm, từng khóm đủ sắc màu rực rỡ. Hương rừng thơm quá, cái
thơm tĩnh lặng, dịu dàng, lan tỏa... mà không phô trương, kiêu kì, gượng gạo...
như tại chốn cung đình...
Đây là khu rừng Anupiyāvara, chàng
biết, thế là đã đi vào địa phận của vương quốc Mallatrù phú. Khu rừng
này chạy dài nhiều dặm, sau đó là đồng bằng và thảo nguyên. Anupiyāvarakhông
có nhiều lâm sản quý hiếm nhưng có nhiều voi, báo, sư tử, cọp, nai, hươu, linh
dương, ngựa vằn... Có lẽ có ít người khai thác gỗ nên còn nét nguyên sinh,
nhưng thợ săn thì chắc nhiều.
Vừa đi, vừa suy nghĩ miên man, lúc ngửng lên thì Siddhattha trông
thấy một đạo sĩ! Ồ! đạo sĩ mà tay sao lại cầm cung và sau lưng đeo một bó tên
sắt? Chàng dừng lại.
- Xin hỏi, ông là thợ săn, phải không?
Người đàn ông tóc râu xồm xoàm, gật đầu “phải
phải”, rồi tò mò nhìn ngắm Siddhattha từ đầu đến
chân.
- Đúng là một bậc vương giả, quý tộc...! Mà sao
lại đi lang thang nơi xó rừng hẻo lánh này...? Ác thú nhiều lắm đó nghe!
Siddhattha lại chăm chú nhìn tấm áo màu vàng đất của người
thợ săn, ngạc nhiên, nói:
- Ừ! Ta từ chốn kinh thành đến đây, muốn tập
tành đời sống sa-môn, đạo sĩ. Nhưng còn ông, là thợ săn sao lại khoác chiếc áo
của kẻ tu hành?
Người đàn ông cười ha hả, vô tư nói:
- Khu rừng này nhiều ông sa-môn, đạo sĩ mặc tấm
áo như thế này; không biết sao mà họ không sợ thú rừng và thú rừng không hề sợ
họ. Đôi khi lại có những chú hươu, chú nai, thỏ, linh dương... thản nhiên lui
tới gần bên họ nữa mới kì chứ!
Siddhattha nhíu mày:
- Vậy là ông đã giả trang làm đạo sĩ để giết
chúng?
- Ồ! Đúng vậy! Kiếm cái ăn thôi mà, công tử! Khổ
quá, đói quá mà!
Siddhattha cởi chiếc hoàng bào có đính kim cương, có dệt những sợi chỉ
vàng lóng lánh rồi trao cho người thợ săn:
- Thôi! Ông đổi cái áo ấy cho ta. Ta cần có nó
hơn là ông. Còn chiếc hoàng bào này cũng khá đắt giá, cỡ mấy trăm đồng tiền
vàng đấy. Ông có thể bán nó, lấy tiền để mở một cửa tiệm nhỏ hoặc làm vốn liếng
mưu sinh. Hãy kiếm một nghề nghiệp chơn chánh, lương thiện. Là thợ săn, nghiệp sát
đã nặng rồi - mà ông còn cái nghiệp giả mạo làm đạo sĩ để giết vật nữa, tội
càng lớn hơn, ông biết không?
Người đàn ông mừng quá, lắp bắp:
- Đổi thật à? Công tử có giỡn không đấy?
Siddhattha không nói gì, cúi xuống cởi luôn đôi giày vương giả - cũng
đính trân châu, bảo ngọc - rồi nói:
- Đôi giày này cũng vậy. Nó cũng là nửa gia tài
của ông đấy. Ta đổi luôn đôi dép da trâu của ông. Nhớ nghe lời ta, hãy sống một
đời hiền lương, vô hại!
Người đàn ông “dạ dạ” rối rít,
cứ tưởng mình nằm mơ! Trong một lúc mà được đổi đời, sung sướng quá, ông hối hả
bước đi như sợ chàng đổi ý.
Siddhattha nhìn lại mình. Ồ! Trông giống một sa-môn thật sự rồi! Chàng
ngồi lại dưới bóng cây mát mẻ, lắng dứt mọi ý nghĩ, lắng nghe hơi thở để nghỉ
ngơi... lần đầu tiên sống đời lang thang không cửa không nhà.
Lúc Siddhattha mở mắt ra, không
biết thời gian trải qua bao lâu, chàng đã chìm sâu vào cảnh giới nào đó, thâm
sâu lạ lùng, yên tĩnh lạ lùng. Siddhattha cảm nghe cả thân tâm
đều khỏe khoắn, no đầy. Từng chân tơ kẽ tóc dường như cũng an lạc. Nửa cuộc đời
vương giả, với ngũ dục tối thượng, chàng chưa bao giờ hưởng được cảm giác an
lạc, thanh thoát, êm đềm như thế này. Sau các cuộc hưởng thụ ngũ dục là chán
nản, mệt mỏi, ngao ngán. Nhưng sau sự phúc lạc, an bình của nội tâm thì nó còn
lan tỏa năng lượng mát mẻ, vui tươi, dịu dàng và yên ổn.
Siddhattha đứng dậy, khẽ vươn vai rồi bước đi. Nắng chảy tràn trên
thung lũng xanh, trên đọt cây, đầu lá. Đến một gốc cổ thụ, thấy trái chín rơi
rụng đầy do chim chóc ăn rơi vãi, chàng cảm thấy đói bụng, bèn cúi xuống lượm
ăn. Trái ngọt như mật ong. Cũng thú vị, chàng nghĩ. Từ đây, ta không còn sơn
hào hải vị, chẳng còn thực phẩm cứng mềm thượng vị nữa. Các sa-môn, đạo sĩ ở
Tuyết Sơn, lâu lâu về thành, họ chỉ cần dầu và muối - còn thức ăn có lẽ chỉ có
lá, rễ, củ và trái cây. Bắt đầu từ nay, ta cũng phải sống như vậy. Ồ! Nhưng ta nào
biết là rễ, củ, lá, trái nào ăn được và thứ nào không ăn được? Vậy phải học hỏi
từ từ. Học hỏi trên con đường từ đây...
Đến một vũng nước nhỏ, trong như mắt mèo, Siddhattha đứng
lại, nhìn mình trong vùng nước lặng.
Chàng nhìn không ra, đúng là của một sa-môn nào!
Chàng chăm chú nhìn kỹ, lại có một vị đạo sĩ lạ mặt đứng sau lưng chàng nữa. Siddhattha quay
lại. Khuôn mặt vị đạo sĩ gầy gò, khắc khổ, da sạm đen phong trần, tấm áo vá
nhiều mảnh, một bình bát nhỏ bên hông, một ấm nước, tay cầm chiếc gậy trúc.
- Hiền hữu! Vị đạo sĩ gọi chàng - Hiền hữu vừa
mới xuất gia làm đạo sĩ phải chăng?
Siddhattha chấp tay xá chào rồi đáp:
- Phải, thế còn tôn huynh? Trông dáng dấp phong
sương, y áo bạc màu thời gian; chắc xuất gia đã lâu lắm rồi nhỉ?
Đôi mắt vị đạo sĩ sâu hoắm, tóc râu xanh, đậm,
thân thiện nói:
- Cũng chưa lâu lắm! Nhưng đời lang thang sương
gió nó như vậy đấy!
Họ cùng ngồi xuống bên một tảng đá, đàm đạo.
- Tôn huynh tu học theo ai? Siddhattha hỏi
- và pháp môn tu đó ra sao?
- Trước đây, tôi ở đạo tràng của đạo sư Ālāra, dòng
dõi Kālāma. Pháp môn tu là các tầng thiền định cổ truyền.
Nhưng tôi tu hoài cũng không chứng đắc được gì cả, bèn tìm đến ngôi rừng vắng
lặng này cùng mấy bạn đồng tu - Vị đạo sĩ chỉ tay ra phía sau góc rừng - ở
trong đó, trong đó có nhiều hang động mát mẻ và thanh tịnh.
Siddhattha nói:
- Trước đây, tôi có nghe danh đạo sư Ālāra Kālāma từ
các phái đoàn khất sĩ. Họ coi vị ấy như một vị thánh sống. Tôi có thể đến đó để
học hỏi được không, hả tôn huynh?
- Được thôi - đạo sư Ālāra bây
giờ đang ở trong một ngôi rừng phía bắc thành phố Vesāli, hiền hữu!
Vượt qua khu rừng Anupiyāvara này, cứ nhắm hứng Đông nam mà
tiến. Đi hết mấy cánh đồng, mấy thôn làng sẽ gặp một xa lộ của khách thương,
khoảng chừng trên mười do-tuần(trên một trăm hai mươi km) là
đến thành phố Vesāli trù phú và thạnh mậu. Nếu đi chậm, mất
trên mươi ngày, tức là vừa đi vừa khất thực, nghỉ ngơi, tọa thiền... Có thể
dừng chân ở thành phố ấy mấy ngày nếu hiền hữu thích. Tại đây có nhiều giáo
phái trong và ngoài truyền thống. Một kinh thành nổi tiếng có thành phần giai
cấp chiến sĩ - phục sức và khí giới chói lòa - đẹp như thiên binh nhà trời.
Sa-môn, đạo sĩ được tự do hành đạo. Quần chúng hoan hỉ cúng dường và khoái
thích các cuộc luận tranh, đấu khẩu của các luận sư, lang thang sư, ngụy biện
sư! Thật là hoạt náo, ồn ỉ và yên bình của tự do tư tưởng! Tuy nhiên, đấy là
mặt nổi của hiện tượng, còn các nhóm tu hành chân chính đều rút vào rừng sâu
cả. Từ Vesāli, đạp về hướng Đông nam, chừng hơn ba do-tuần sẽ gặp
những quả đồi và những cánh rừng già. Đạo tràng của đạo sư Ālāra ở
đấy. Là địa chỉ mà hiền hữu muốn tìm. Hỏi bất cứ ai, người ta đều biết và sẵn
sàng chỉ đường! Ngài có năm trăm đệ tử ở lác đác các vùng đồi và những ngọn núi
kế cận... Hiền hữu nên đi ngay, vì nghe nói đạo tràng của đạo sư Ālāra sắp
dời về Māgadha, phía Tây ngoại thành Rājagaha!
Đạo sĩ say sưa nói, rõ ràng, phân minh từng chi
tiết một. Tuy chỉ là bản phác thảo sơ lược nhưng đã giúp cho Siddhattha khái
quát toàn bộ những điều cần biết. Vị này tiềm tàng học vấn thâm sâu, quảng bác
chứ không đơn giản đâu - Siddhattha thầm nghĩ.
- Thật vô cùng cảm ơn tôn huynh - Siddhattha nói.
Vị đạo sĩ quan sát chàng một hồi rồi nói:
- Hiền hữu có nước da sáng như mạ vàng ròng,
tướng mạo uy nghi như chúa sư tử. Đôi mắt của hiền hữu xanh trong như mặt nước
hồ thu không gợn. Vừng trán của hiền hữu nhẵn bóng như vách đá cẩm thạch. Hiền
hữu lại cao lớn, phương phi, cốt cách cao nhã như quý tộc của giống dòng Aryan thượng
đẳng từ ngàn xưa còn lại. Tôi không dám hỏi gốc gác của hiền hữu, nhưng rõ ràng
hiền hữu không phải kẻ tầm thường. Cả hiện tại cũng như tương lai, hiền hữu là
bậc phi phàm không ai dám sánh... Nhưng mà nắng gió, tuyết sương, giường cây,
gối đất... cỏ lá, rễ, củ, trái cây... lót dạ qua ngày... ngại rằng hiền hữu
chịu đựng không nổi chăng?
Siddhattha thầm nghĩ rằng: “Anh chàng đạo sĩ này nhìn ta rất
kỹ, nói năng giống y nhà nhân tướng học. Tuy nhiên, ngôn ngữ lưu loát, lời ý
chí tình... thật đáng trân trọng vậy thay!”Bèn cung tay, lễ độ:
- Rất cảm ơn tôn huynh những lời chỉ dạy quý
báu. Tôi sẽ chịu đựng được, thưa tôn huynh!
Vị đạo sĩ cười ha hả, gật đầu:
- Đúng vậy! Đôi mắt, vừng trán, cặp chân mày của
hiền hữu đã nói lên điều ấy. Tôi đọc được. Có một cái gì đó bất khuất, kiên
định và dũng cảm tột bực ở đấy.
Nói xong, đạo sĩ tháo dây buộc vai, trao cho Siddhattha chiếc
bình bát:
- Áo nhuộm màu vàng đất kia là đôi cánh, còn
chiếc bình bát tầm thường này là chiếc mỏcủa con chim. Tôi tặng
hiền hữu như một món quà tri ngộ. Cầu nguyện cho hiền hữu bay qua biển rộng,
sông dài, bay qua muôn dặm trường gian lao, khổ ải trước mặt...
- Thế còn...?
- Không sao! Vị đạo sĩ cất tiếng cười hào sảng -
Tôi có người bạn đồng tu, bị bệnh thương hàn chết tháng trước, sau khi hỏa
thiêu, còn thừa một chiếc bát ở trong hang động.
Khi từ giã, vị đạo sĩ còn quay lại dặn dò thêm:
- Hãy kiếm thêm một cây gậy, hiền hữu, khi đi
trong núi rừng hoặc qua miền cỏ rậm! Là sa-môn thì không đao, không gậy[3] -
nhưng qua suối thì ngại đá trơn, qua lau lách thì có nhiều rắn độc. Gót chân
sa-môn thì vô hại nhưng da thịt thì mềm yếu lắm... phải tập qua lần lần, từ
từ... rồi hiền hữu sẽ vượt qua tất cả.
- Một lần nữa tôi rất cảm ơn. Tôn huynh tên là
gì, để tôi còn ghi khắc vào lòng.
- Thật không đáng gì! Tôi là Vappa, dòng
dõi bà-la-môn, còn tôn huynh?
- Tôi là Siddhattha, dòng dõi
sát-đế-lỵ!
Chợt Vappa reo lên:
- Ồ, đúng rồi, tôi đã ngờ ngợ. Đúng là vị thái
tử tài đức, văn võ song toàn ở kinh thành cổ kính của dòng dõi Sākya anh
hùng - mà chúng tôi đã nghe danh thơm tràn qua tai, tràn qua cả trong những
giấc ngủ! Ôi! Thật là nhiệm mầu! Nhưng mà thôi, hiền hữu nên đi theo con đường
của mình. Chúng ta còn gặp lại, chắc chắn là vậy, bắt buộc, nhất định là vậy!
Siddhattha ngơ ngẩn một lúc. Tuy nhiên sau giây phút ngẫm
ngợi, thái tử đã đoán ra. Chàng nhớ, lúc chàng vừa sinh được năm ngày, đạo sĩ Asita tiên
đoán quả quyết, sau này, chàng sẽ đắc quả Phật. Trong tám thầy bà-la-môn thì có
bảy người đưa lên hai ngón tay, ý nói, một, ở tại vương vị thì làm Chuyển luân
Thánh vương, hai, nếu xuất gia thì đắc quả Phật. Riêng bà-la-mônKoṇḍañña, rất
trẻ, chỉ đưa lên một ngón tay, khẳng định thái tử chỉ chọn một con đường và
chắc chắn đắc quả Chánh Đẳng Giác. Mấy năm trước đây, trong giới bà-la-môn ở
kinh thành, có tin đồn, Koṇḍañña đã rũ bốn người con của bảy
vị bà-la-môn năm xưa đi xuất gia, tập sống đời phong sương khổ hạnh để sau này
gặp lại thái tử. Như vậy, họ có cả thảy năm người. Koṇḍaññabây giờ
có lẽ đã lớn tuổi, tối thiểu là đã gần sáu mươi, còn bốn vị còn lại có thể đều
trên dưới năm mươi tuổi cả. Đạo sĩ Vappa là một trong bốn vị
còn lại.
Đội sương, đội nắng, đạp núi, đạp rừng, dẫm qua
suối khe, triền non, vực thẳm... lòng thái tử vô cùng thanh thản, cứ nhàn hạ
bước đi, không nôn nóng, không vội vã. Lâu lâu, Siddhattha gặp
một đạo sĩ. Có vài đạo sĩ mình gầy trơ xương ngồi dưới gốc cây hoặc cạnh một
hang đá. Một vài vị khác đang kiếm trái cây rừng qua bữa. Siddhattha đến
làm quen, học cách quan sát màu sắc thân, lá, trái...Loại này ăn được, loại kia
thì không. Có đạo sĩ ân cần chỉ cho chàng các loại củ ăn vào sẽ tăng thêm sức
lực. Loại lá này ăn vào sẽ nhuận trường, khí huyết mát mẻ. Lại còn có loại
chống tháo dạ, giải độc hoặc tiêu trừ nhức đầu, cảm sốt... Đến đây thì kho tàng
kiến thức y học cổ truyền mà Siddhattha đã học từ nhỏ, được
dịp khai thông. Siddhattha vô cùng sung sướng. Có lẽ đây là
bài học thú vị nhất trong cuộc đời chàng: bài học tự mưu sinh để tồn
tại!
Siddhattha cứ đi mãi. Chàng còn học được trên đường những loại cây có
nước ngọt. Có những đọt cây có chất béo bổ. Có những thân cây, bẻ ra, nước nhỏ
giọt, có tính năng giải khát, tăng năng lực. Có những dây leo bền chắc có thể
kết thành võng nằm, làm dây buộc lều, dây đi qua vực thẳm. Các loại lá có thể
kết lại, che mưa đỡ nắng nhiều tháng dài mà không hư mục! Ồ! Là cả một thế giới
đang trùng trùng bí mật, với thời gian, chúng hé lộ dần dần. Dường như khởi
nguyên của các bộ tộc, người ta sống như thế này đây, chẳng ai tranh chấp ai.
Thiên nhiên hào phóng đã ban tặng cho con người tất cả. Nhưng từ khi khám phá
ra sắt và đá lửa thì đời sống đã khác đi. Có vũ khí, người ta làm tên, giáo
mác... để săn bắn và cũng để giết nhau, tranh rừng, tranh đất. Có lửa để nấu
chín thịt, để chống cơn lạnh giá mùa đông và cũng để tế thần! Các bộ lạc phát
triển, sinh sôi các nhu cầu về tư hữu, của cải tài sản, đòi hỏi họ phân chia
nhiệm vụ lao động, sản xuất. Nhu cầu vật chất cùng nhiều thứ tham muốn càng
tăng... và thế là, càng văn minh, tiến bộ... thì nhu cầu thỏa mãn dục lạc càng
là cái mục đích hướng đến của con người.Từ đấy mà sinh ra cướp bóc, giật giành,
bạo lực, đàn áp, bóc lột, chiến tranh, đau khổ, phiền não! Sắc tộc Aryan -
dòng dõi của Siddhattha đã không từ miền Tây bắc xa xôi, xâm
chiếm bình nguyên xứ này để chăn thả cừu, dê, bò đó sao? Chúng đẻ ra các giai
cấp, ưu đãi giới cầm quyền có học, để áp bức đám tiện dân nô lệ cùng khổ đó
sao?
Siddhattha trầm tư nhiều đêm vì lẽ công bằng trên trần thế, cũng không
có lời giải. Có một đêm nọ, trời đổ cơn mưa rừng lạnh lẽo, Siddhattha tìm
ẩn tại một hang động có một đạo sĩ tu khổ hạnh. Tấm áo của chàng mong manh, ướt
át... cộng thêm khí đá khiến chàng lạnh quá, run cầm cập. Lại nữa - nhiều ngày
ăn trái, lá, chưa quen... đã nhiều lần bị tháo dạ... nên sức khỏe sa sút rất
nhanh. Vị đạo sĩ thấy vậy, bước đến vách đá, lấy hai viên đá lửa cọ xát vào một
chất dẫn cháy. Góc động có sẵn củi, đạo sĩ lấy từng hanh dựng lên. Lát sau lửa
tỏa bập bùng, ấm nóng, reo vui tí tách... Siddhattha học thêm
cách lấy lửa.
Bên lửa ấm, chàng hỏi đạo sĩ cách tu. Đạo sĩ hỏi
chàng lý do xuất gia, xuất thân, dòng dõi.Siddhattha kể thật, và
rồi chàng nói ra luôn tình trạng sức khỏe sau mấy ngày ăn cây trái chưa quen
của mình. Đạo sĩ mỉm cười, có vẻ thông cảm, sau đó chỉ chàng một số cách thức
bấm huyệt trên cơ thể, nhất là xoa ấm vùng bụng dưới, xoa thật lâu, một trăm lẻ
tám lần.
Siddhattha thấy người khỏe hẳn.
- Đi khất thực ở các thôn làng thì tương đối đủ
chất nuôi cơ thể, nhưng ở rừng thì thường thiếu tinh bột, đường, chất béo,
muối... Ta tu khổ hạnh, lại có thiền định nên dễ dàng vượt qua. Lại nữa, cái cơ
thể chúng ta nó cũng sống bằng thói quen. Cái gì cũng tập cả. Từ từ mà tập. Lâu
dần thì nó tự thích ứng lấy.
Đạo sĩ thò tay vào hốc đá, lấy ra một nắm củ, củ
tròn, dài cỡ bằng ngón chân cái, khều một đống than, bỏ vào... Lát sau, củ
chín, thơm lừng lựng. Đạo sĩ nói:
- Đây là củ thuốc (hoài sơn) -
có tính năng tăng lực và điều hòa khí huyết cơ thể. Hiền hữu bị tháo dạ, nên
dùng chúng để mai có sức mà lên đường...
Khẽ tri tạ tấm lòng tốt của đạo sĩ, Siddhattha ăn
từng củ một. Ngon, thơm, bùi béo quá! Còn hơn tất cả thượng vị trên đời... Siddhattha hỏi
tên củ, đạo sĩ đáp:
- Ta không biết tên, mà cũng chẳng ai biết tên
cả! Các đạo sĩ ở rừng đều gọi là “củ thuốc”vậy thôi!
Một đêm yên tĩnh trôi qua. Siddhattha cảm
thấy cơ thể khỏe khoắn như vừa được uống một liều thần dược. Khi từ giã, đạo sĩ
tặng chàng hai viên đá lửa, một ít chất dẫn cháy. Chàng cũng không khách sáo
gì, thọ nhận bằng đôi mắt biết ơn, thầm lặng.
Đi thêm nhiều ngày qua những đồng ruộng những
làng mạc đến biên địa Malla; lại thêm chín mười ngày đường nữa thì
thành phố Vesāli đã hiện ra. Trên đường, đều thấy đạo sĩ đi chân
không, không có gậy - nên Siddhattha cũng bắt chước y như thế.
Chàng cũng tập sự đi khất thực khi đi qua những xóm nhà, nhận được cơm vắt, cơm
sữa, xôi, ca-ri, khoai, chuối... vật thực đủ dùng. Lựa một gốc cây, một lùm cây
hoặc một cái hang nào đó, bất kỳ, chàng ngồi xuống, quán tưởng rồi chánh niệm,
bốc ăn ngon lành. Từ lúc rời vương cung đến nay, ngoại trừ mấy củ thuốc kỳ diệu
- thì những ngày qua xóm làng - mới thật sự có được bữa ăn đúng nghĩa, của nhân
gian. Đêm, chàng ngồi thiền chừng một canh, sau đó, nằm nghiêng đi vào giấc
ngủ. Tuy nhiên có đêm ngủ được, có đêm thao thức, trằn trọc. Vì chưa quen nằm
đất, gối sương... nên sức khỏe sa sút, đã thế, cơ thể rất nóng, tấm áo tẩm mồ
hôi, nhớp nháp khó chịu. Vài ba hôm, Siddhattha trốn vào một
góc suối, mương nào đó vắng người để tắm giặt, phơi khô rồi mặc lại. Chỉ với
hai manh áo, tấm trong và tấm ngoài, cứ thế đắp đổi qua ngày... cũng là vấn đề
lớn mà chàng tâm niệm phải vượt qua, phải chịu đựng. Và quả thật, “cơ
thể cũng có thói quen thích ứng của nó”, gần một tháng sau, chàng mới
thấy quen, mới thấy tạm thời dễ chịu!
Đúng như lời tả của Vappa, Vesāli đông
đúc, thạnh mậu quá, nhưng tươm tất và sạch sẽ thì không bằng Kapilavatthu của
chàng. Vài ngôi làng gần Vesāli, đời sống no đủ nhưng ở đâu
cũng thấy dê, bò và nước tiểu, phân của chúng. Súc vật sống cùng người, ở luôn
với người, tương tự các thôn xóm nghèo nàn của Sākya. Ở đâu
cũng rác và xú khí. Tại thành phố thì khá hơn - nhưng bụi rác và bẩn thì còn
nhiều. Ở đâu, đường nào, góc nào, phố nào cũng gặp đạo sĩ... nhưng trông chẳng
ra hồn, ra dạng. Chỉ thấy tóc râu và lếch thếch, dơ dáy... Nhìn họ, chàng chưa
dám đi chung. Họ giống với kẻ lang thang, hành khất xin ăn hơn là một đạo sĩ
chân chánh. Các vị đạo sĩ gặp ở các hang động thì có cốt cách, phong thái chững
chạc, thanh cao hoàn toàn khác biệt nơi này.
Ở Vesāli chỉ hai hôm là Siddhattha lại
lên đường. Buổi cuối cùng, chàng nhận được thực phẩm thượng vị của hai vị chiến
sĩ xuống ngựa đặt bát. Đúng là như thiên binh, thiên tướng với quân bào, nai
nịt, gươm giáo chói lòa. Họ tò mò, nhìn ngắm rồi cúng dường cho chàng. Họ thưa:
- Đạo sĩ có phải từ phương Bắc xuống?
- Vâng!
- Ngài đẹp quá! Ngài khác xa đạo sĩ ở xứ này!
Chẳng hay đạo sĩ thường lưu trú ở đâu để chúng tôi còn có dịp cúng dường?
Siddhattha mỉm cười, từ tốn đáp:
- Tôi chỉ mới là kẻ sơ tu, đang lang thang tầm
đạo; mai tôi đã xuôi về Đông nam, đến đạo tràng của đạo sư Ālāra. Xin
cảm ơn lòng tốt của quý vị.
Hôm ấy, ngay lúc ấy, lại có thêm một kỹ nữ từ
kiệu bước xuống, đẹp lộng lẫy, phục sức sang trọng, xa hoa, trang điểm sáng
ngời châu báu... Cô ta cũng muốn đặt bát, nhìn Siddhattha rất
lâu, thỏ thẻ nói:
- Tiện thiếp cũng muốn cúng dường!
Hai vị chiến sĩ sát-đế-lỵ bước lui, vòng tay mỉm
cười.
Siddhattha lấy tay ngăn bình bát, đầu cúi xuống, nghiêm
trang:
- Hôm nay vật thực tôi đã đủ dùng, xin cảm ơn
thí chủ.
Người kỹ nữ nói tiếp:
- Thỉnh đạo sĩ một tháng đặt bát cúng dường tại
biệt điện tư gia, xin ngài chấp nhận cho!
Siddhattha nghĩ là nên nói vài lời, không những với nàng kỹ
nữ xinh đẹp mà còn với hai chiến sĩ sát-đế-lỵ:
- Tôi đã từ phú quý, vinh hoa mà từ bỏ. Tôi đã
từ ngũ dục tối thượng mà từ bỏ... Vậy chẳng lẽ nào, hôm nay, ở đây, tôi lại
loanh quanh, luẩn quẩn với những chuyện tượng tợ như thế này. Xin cảm ơn sự
chân tình của quý vị.
Nói xong, chàng chậm rãi bước đi. Mọi người tò
mò trông theo. Chàng suy nghĩ suốt mấy hôm. Cạm bẫy, chông gai trên đường
trường, trên từng bước chân thì dễ; nhưng cạm bẫy chông gai nơi sự cung kính,
trọng vọng, mến thích... thì nguy hiểm hơn nhiều. Siddhattha hiểu
thêm điều đó, và chàng biết mình chỉ cần tỉnh niệm, trực thức là có thể dễ dàng
vượt qua được...
Siddhattha - với gót chân khất sĩ, còn phải lang thang nhiều giữa gió
sương và cát bụi...
Vẫn nhắm hướng Đông nam, theo con đường của khách
thương, bộ hành đầy bụi bặm,Siddhattha đi mãi. Cứ khoảng xế trưa là
chàng đi khất thực ở những xóm nhà. Lại thấy dê và bò. Ở đâu cũng dê và bò,
phân và rác. Ngoài những cánh đồng lúa bạt ngàn, ngoại ô Vesāli còn
có nhiều khu vườn trồng ớt, rau cải, xoài cùng các loại cây ăn trái khác. Đời
sống muôn dân tương đối no ấm. Thực phẩm họ cúng dường cũng đa dạng, đầy đủ
chất, bảo đảm dinh dưỡng cho các sa-môn, đạo sĩ. Tuy nhiên, giới cấp lao động
vẫn đầu tắt mặt tối, còn giới quý tộc, thương gia lại phởn phơ, sung mãn, lợi
dưỡng. Ấy là hai cực đoan mà Siddhattha thấy rất rõ. Còn quần
chúng chung chung thì thất học, nghèo nàn và cuồng tín. Chỉ thấy lạ một điều:
Ai cũng vui vẻ, rộng rãi, cung kính các bậc tu hành! Quả thật là một điểm son
đáng tự hào!
Theo chân các đạo sĩ, ba hôm sau, Siddhattha tìm
được ngôi rừng như dự kiến. Đây là khu rừng trấn ngự phía bắc thành phố Vesāli, có
ba hướng đến, từ những thôn làng nhà cửa san sát có vẻ sầm uất, thịnh vượng. Sự
thuận lợi ấy có lẽ là điều kiện mà đạo sư Ālāra chọn lựa để
thiết lập đạo tràng: Các đệ tử của ông dễ dàng trong việc khất thực.
Len lỏi trong rừng cây rậm rạp, qua mấy ngọn
đồi, lơ thơ đá tảng xanh rêu, vài ba con suối nước trong vắt, Siddhattha thấy
hiện ra một thung lũng tươi mát, khí hậu trong lành. Chòi lá của đạo sĩ Ālāra nằm
trên một ngọn đồi thoai thoải, dưới mấy cội cây cổ thụ tàn lá che phủ sum sê.
Ông chừng trên bảy mươi tuổi, rắn rỏi, quắc thước, đang ngồi trên tấm nệm cỏ.
Xung quanh ông, ước chừng mấy chục đạo sĩ đang nghe pháp. Yên lặng như tờ. Chỉ
có giọng trầm ấm của đạo sư là vang vang giữa núi rừng.
Buổi giảng pháp chấm dứt. Các vị đạo sĩ đảnh lễ
thầy rồi chậm rãi đứng dậy, tản mạn ra các hướng ở trong khu rừng để tu tập.
Siddhattha bước lại, cung kính lễ bái theo cung cách của
một môn sinh đến yết kiến bậc thầy rồi chàng nói:
- Thưa đức đạo sư! Xin cho phép đệ tử gia nhập
hội chúng để tu tập dưới sự dìu dắt của ngài.
Lặng lẽ nhìn vị sa-môn trẻ - thật ra không còn
trẻ nữa - tướng mạo đàng hoàng, ăn nói lễ độ, toát ra một cái gì rất thoát tục,
đạo sĩ Ālāra cất giọng đầm ấm, chan hòa, thân thiện:
- Ừ, con cứ tu! Ta chấp nhận con. Nhưng con tên
gì? Đã từng tu học với ai chưa?
- Thưa, con tên Siddhattha, họ Gotama.
Con chưa tu tập dưới sự lãnh đạo của ai cả.
Đạo sư Ālāra vui vẻ gật gật:
- Ừ! Tốt, tốt lắm! Vậy hãy cố gắng tu tập nhé!
Pháp và luật của ta cũng khá nghiêm túc đấy. Tuy nhiên ai chịu khó hành trì đều
có chỗ an trú cả.
Siddhattha thành kính đảnh lễ rồi lui ra. Lúc ấy trời đã xế chiều, im
mát, gió thổi hiu hiu, chàng lần đến một cội cây, kiếm tạm lá cỏ làm chỗ ngồi.
Thế là bây giờ Siddhattha mới tìm ra chỗ dừng chân cho mình
trên bước lang thang tìm đạo. Vị đạo sư này nổi danh nhiều phương; và chỉ cần
nhìn thần thái, phong cách, giọng nói tự tin, chàng biết đấy là bậc chân tu có
sở đắc.Siddhattha cảm thấy yên trí. Chàng ngồi thiền một thời như
lệ thường, sau đó đi vào một giấc ngủ khá sâu.
Sáng ngày, chim hót râm ran bên tai. Siddhattha mở
bừng mắt dậy thì mọi người đã đi đến các thôn làng để khất thực cả rồi. Có một
đạo sĩ từ chiếc lều bên kia con suối bước sang, nhìn chàng, tỏ mối quan tâm:
- Mới đến tu hả? Vậy hiền hữu hãy ôm bát đi theo
tôi. Ở đây thì không lo cái ăn. Các thôn làng quanh đây đa phần đều là đệ tử
của đạo sư chúng ta cả. Chỉ cần gắng tu cho tốt thôi.
Họ đi vào làng. Siddhattha cũng
đã khá quen việc trì bình khất thực nên cách ôm bát, cách đi đứng... có vẻ
thuần thục.
Vị đạo sĩ bắt chuyện:
- Có vẻ hiền hữu xuất gia đã nhiều năm. Vậy
chẳng hay đạo hữu đã từ đạo tràng nào mà đến đây?
Siddhattha thật tình kể lại một vài chi tiết cần thiết, vừa đủ. Vị đạo
sĩ có vẻ mến chàng nên tận tình hướng dẫn. Ông ta vui vẻ cho biết, nếu cần các
loại trái cây thì nên đến miền nào, thôn nào. Các loại chất ngọt như đường cục,
mật ong, mật mía, đường thốt nốt thì ghé chỗ nào, làng nào. Quả là lời chỉ dẫn
quý báu. Tuy nhiên Siddhattha lại nghĩ khác, chàng chỉ muốn đi
xin ăn bình đẳng và không chọn lựa. Chàng chỉ thầm cảm ơn người bạn có bụng
tốt...
Lúc ôm bát vật thực vừa đủ dùng trở về rừng thì
mặt trời đã gần đỉnh đầu. Mọi người đang lặng lẽ ngồi thọ thực nơi này nơi
khác. Siddhattha trở về cội cây của mình, ngồi xuống, nghĩ
tưởng ân đức của thí chủ, cầu nguyện cho họ; đồng thời, tự khuyên mình đừng nên
mê đắm cái ăn, chỉ nên xem đây là năng lượng vật chất để duy trì mạng sống mà
thôi. Độ thực xong, chàng đến bên suối, rửa bát rồi tìm đổ nước nơi không có cỏ
xanh. Điều này chàng làm tự nhiên thôi, nghĩ là phải làm như thế chứ chưa có ai
chỉ dạy cả. Vị đạo sĩ bên kia suối quan sát việc làm của chàng, gật gật đầu,
mỉm cười.
Sau khi đi tản bộ kinh hành năm bảy vòng, Siddhattha trở
lại gốc cây ngồi thiền định. Khi xả thiền thì đúng vào giờ đạo sư Ālāra giảng
pháp và dạy cặn kẽ pháp môn tu cho từng người.
Đến bên đạo sư, chàng được ông ta dạy:
- Này, người bạn trẻ! Thứ nhất là
phải có lòng tin đối với thầy, lòng tin đối với bạn đạo,
lòng tin đối với các giá trị tinh thần thiêng liêng. Thứ hai là
phải hành trì học giới. Học giới có nhiều lắm. Cuối mỗi nửa tháng
sẽ có một vị luật sư tuyên đọc cho hội chúng nghe. Nhưng có những học giới quan
trọng, có lẽ người bạn trẻ cũng hiểu rồi, đó là không được giết hại sinh mạng
chúng hữu tình, không được dâm dục, không được trộm cắp và không được tà
mạng... Thứ ba làcách đi đứng, ăn nói khi giao
tiếp với bạn đạo, khi vào trong các xóm làng... Và cuối cùng là phải nghiêm
túc trong hành trì, tu tập thiền định ngày đêm không được lơ là, ngoại
trừ lúc đi khất thực, tắm giặt, vệ sinh thân thể và ngủ nghỉ. Nên ngủ rất ít.
Đêm ba canh chỉ nên ngủ một, hai canh... Sau đó, đạo sư Ālāra ân
cần hướng dẫn cách theo dõi hơi thở, chú niệm vào hơi thở như thế nào...
Siddhattha kính cẩn lui ra. Việc trước nhất là phải làm một cái chòi
lá. Chàng đi vào rừng, lát sau mang về một vác nặng. Nhờ đã học hỏi trên đường
nên Siddhattha dễ dàng tìm cây và lá cần thiết. Rồi vác thứ
hai, vác thứ ba. Siddhattha thú vị, say mê công việc mới của
mình. Đến chiều tối thì mái vòm lá của chàng khá đẹp, khá tiện nghi. Ông bạn
đạo sĩ bên kia suối đứng ngắm nhìn, cứ tấm tắc khen ngợi mãi.
Việc tọa thiền điều hòa hơi thở, chú niệm vào
hơi thở thì Siddhattha đã quen. Khuya, chàng xả thiền và nằm
nghiêng lưng trên đám lá. Ngày mai phải làm một sạp cây ngăn khí đất để giữ gìn
sức khỏe, chàng thầm nghĩ.
Khoảng đầu canh ba, Siddhattha thức
dậy, tọa thiền rồi đi kinh hành, chú niệm vào từng bước chân, trời sáng hồi nào
không hay. Buổi sáng, Siddhattha đi khất thực rồi với những
công việc như lệ thường. Buổi chiều, Siddhattha lại vào rừng,
lấy cây kết làm giường nằm, cùng vài đồ dùng cần thiết khác. Lúc tắm giặt,
người bạn đạo sĩ tặng chàng một tấm vải cũ, có lẽ là tấm vải bó tử thi đã giặt
sạch. Siddhattha hoan hỷ, cảm ơn - vì quả thật, chàng cần một
tấm để mặc trong mỗi khi giặt giũ. Và cứ thế, Siddhattha quen
dần với đời sống tại nơi này. Vài ba ngày, chàng tìm đến đạo sư trình pháp một
lần.
Đạo tràng của đạo sư Ālāra vào
các ngày giữa và cuối tháng, cư sĩ nam nữ các thôn làng đến rất đông. Những khi
như vậy thì đạo sư Ālāra thuyết pháp, giảng đạo suốt ngày.
Thỉnh thoảng, có vài vị đệ tử lớn tuổi thay thầy vài thời pháp. Họ nói nhân
quả, thiện ác, nghiệp báo, luân hồi tử sanh, phước báu, các cảnh trời... Nói
tóm lại Siddhattha nghe rất thuận tai. Có điều chàng thấy giáo
lý tuy đúng nhưng có nhiều kẽ hở, nhiều chỗ còn mù mờ, chưa được rõ ràng, chưa
được sâu sắc. Nó không được minh nhiên cho lắm. Siddhattha chỉ
thầm nghĩ như thế, chẳng dám nói với ai. Mỗi tháng có hai buổi tối, mấy trăm
đạo sĩ tập trung lại - dưới trăng, những bó đuốc cháy bập bùng - nghe các vị
luật sư thay phiên nhau tuyên đọc học giới. Ồ! Hóa ra cũng hay lắm. Cách đi
đứng, ăn nói, ngủ nghỉ, nằm ngồi... đều có học giới cả. Rồi còn cách giao tiếp,
ứng xử đối với mọi người, từ vua chúa, quý tộc, các giới cấp xã hội phải như
thế nào cũng có những chế định. Khá toàn hảo, chàng nghĩ, nhưng dường như muốn
cho toàn thiện, toàn mỹ hơn thì còn cần nhiều và nhiều nữa. Như cách mặc y,
mang bát, cách giữ tâm bình đẳng, mắt phải cúi xuống nhìn phía trước một đòn
gánh, hai đòn gánh. Bạn đạo thì phải sống với nhau như thế nào, ví dụ như thân
cần phải hòa hợp, lời nói cần phải hòa hợp, ý nghĩ cần phải hòa hợp, tri kiến
cần phải hòa hợp... Nếu đi sâu hơn nữa, muốn giáo pháp được hưng thịnh thì phải
như thế nào nữa; cả thầy và trò còn cần phải có những quy định cho người sống ở
rừng, ở thành phố, làng xã nữa. Mà thôi, chàng nghĩ, tìm được một đạo tràng
chân chính như thế này là quý lắm rồi.
- Đệ tử theo sự chỉ dạy của thầy để điều tức.
Ban đầu, đệ tử theo dõi hơi thở, sau đó, bám sát, dính chặt vào hơi thở một
cách liên tục, không gián đoạn. Khi đã an trú được rồi thì tất cả mọi tạp niệm
lao xao đều lắng dứt. Theo đó, hơi thở của đệ tử càng lúc càng nhẹ nhàng, chỉ
còn như làn khí mỏng manh tới lui. Kiên định theo dõi làn khí ấy thì thấy nó
càng lúc càng trong và sáng ra. Cứ chú mục mãi vào cái trong và cái sáng ấy thì
lát sau, ngoại giới vong bặt, cái “tướng sáng” của hơi thở
càng lúc càng trong. Trú tâm, an trú tâm vào cái tướng sáng trong ấy, giây
khắc sau, đệ tử cảm nhận một trạng thái tịnh định với phúc lạc chưa từng có
trong đời. Đệ tử có thể ngồi một canh, hai canh với niềm tịnh định, phúc lạc
ấy. Đó là cái gì, thưa đạo sư?
- Hoàn toàn đúng, này người bạn trẻ! Đấy là tầng
thiền thứ nhất. Bây giờ con vẫn cứ vào ra tầng thiền ấy cho thuần thục. Vài ba
hôm nữa, con hãy đến trình ta, thử xem thế nào!
Y lời thầy, Siddhattha đi vào,
đi ra thiền ấy. Hôm sau, chỉ cần chú tâm vào hơi thở là chàng đi vào định với
thời gian rất ngắn. Rồi chàng muốn trú vào phúc lạc, tức khắc có ngay phúc lạc
- và giữ nguyên trạng thái an tĩnh thâm sâu ấy đôi khi cả đêm. Sáng ngày, tinh
thần phơi phới, an lành, như qua một giấc ngủ ngon không mộng mị.
- Con đã qua tầng thiền thứ hai, tầng thứ ba của
thiền định. Tuy nhiên, này người bạn trẻ, trạng thái phúc lạc của định tam
thiền, đã rất thâm sâu, nhưng vẫn còn thô tháo; con hãy bỏ nó để bước lên một
cảnh giới cao hơn: ấy là thấm sâu vào trạng thái thanh tịnh, yên ổn, trầm lặng
cùng sự quân bình tâm hồn một cách tuyệt hảo. Con đã tiến bộ vượt bậc chưa từng
thấy, nhưng còn phải nỗ lực tinh cần nữa.
Chỉ một hôm sau là Siddhattha đến
trình pháp – và đây thiền chứng thứ tư.
Đạo sư Ālāra nói:
- Thật là tuyệt vời, người bạn trẻ! Bây giờ, con
hãy từ bỏ hơi thở, chỉ chú tâm vào cái tướng sáng tròn lặng ban đầu. Chỉ chú
tâm miên tục vào nó thôi, đến lúc nào con thấy mọi vật chất, mọi hình sắc đều
tan biến, chỉ duy trì cái tưởng hư không rộng
lớn, mênh mông, vô biên. Tất cả con, vũ trụ, vạn hữu không còn nữa.
Tất cả chỉ còn “hư không vô biên” mà thôi.
Chỉ ít hôm sau là Siddhattha đạt
được tầng thiền ấy. Ở đây mọi cảm giác không còn nữa, mọi ý niệm khổ và lạc
trong tâm cũng vắng bóng, chỉ còn hư không vô biên, vô hạn là
tồn tại. Càng chú mục vào thêm nữa thì nội tâm và ngoại giới càng vong bặt,
không còn ý thức ngã và ngã sở, chúng chìm mất vào miền hư tĩnh của “hư
không vô biên” ấy. Lúc xả thiền, cái “tưởng”ấy vẫn còn mạnh,
mọi hiện tượng xung quanh như người, vật, cây cối... thảy đều mơ hồ.Siddhattha lắng
nghe hơi thở, nhịp đập của tim... thì mọi cảm giác, ý thức mới bắt đầu hoạt
động trở lại. Lúc đi vào xóm làng khất thực, Siddhattha lắng
nghe mình có thay đổi gì không, qua mắt nhìn, qua tai nghe... Rồi mọi ký ức,
hồi tưởng, suy nghĩ có sự chuyển hóa nào chăng? Chúng vẫn vậy. Chúng vẫn lăng
xăng, lao xao qua lại, tuy có yên lắng, trong sáng hơn - nhưng tâm trí vẫn còn
nguyên những câu hỏi, những khát vọng gì đó chưa thỏa mãn... Trên lối mòn về
rừng,Siddhattha chợt đứng lại, chú tâm vào tưởng định đã đạt, một
lát “hư không vô biên” lại hiện ra, chàng và mọi hiện hữu
không còn nữa. Xả thiền, Siddhattha chậm rãi bước đi, lắng
nghe... thì cảm giác, ý thức, tâm trí trở lại như cũ...
Giờ trình pháp, Siddhattha nói
ra tất cả mọi cảm nhận của mình, kể cả hoài nghi các ý thức thường nghiệm:
“- Không ai có sự cảm nhận sâu sắc, diễn đạt
trạng thái trong định, ngoài định rõ ràng, chân xác, như chàng trẻ tuổi này.” - Đạo sư Ālāra thầm nghĩ.
Tuy thế, ông nói:
- Không sao đâu con. Đấy là tầng thiền vượt qua
mọi sắc tưởng. Khi ở trong định ấy thì thế gian, vạn hữu, tất cả mọi sắc pháp
không tồn tại. Con đã tiến bộ một cách phi thường. Nhưng bây giờ, con phải rời “tưởng
hư không” ấy. Đúng, con nói đúng. Hư không ấy có được là do“tưởng” của
ta cảm nhận, do “tưởng” của ta biến hiện ra. Tầng thiền cao
hơn mà con phải bước lên là chỉ có thức, chỉ có ý thức. Thức
vẫn là nền tảng của mọi hiện tượng, đồng với vạn hữu. Thức tràn ngập, châu
biến, không có ngằn mé...
Lại chỉ vào hôm sau, Siddhattha đạt
tầng thiền “thức vô biên” ấy. Chỉ có thức, thức vô biên, vô
tận. Vậy nó là kinh nghiệm, là trạng thái? Nếu rời bỏ kinh nghiệm và trạng thái
ấy, toàn bộ cảm giác và tri giác của ta ra sao? Siddhattha suy
nghĩ. Lúc xả thiền, chàng lại tập nhìn, lắng nghe. Do năng lực của thiền còn được
duy trì, Siddhattha tiếp đối ngoại cảnh, chàng thấy rằng ở đâu
cũng có thức, do thức, không có thức thì không có gì cả. Một hạt cát, một làn
gió, một tiếng chim, một chiếc lá rơi, một giọt sương... cũng do thức cảm nhận.
Một ý tưởng nhỏ nhiệm, vi tế... cũng như vậy. Cả sơn hà, đại địa, nhật nguyệt,
thiên hà... cũng bởi thức mà hiện hữu. Tuy nhiên, nếu thức là vô biên,
nền tảng như thế, thì vui buồn, khổ lạc, tham sân, những vướng kẹt tri kiến của
ta ra sao? Ồ, chúng có thay đổi do tâm và trí được trong sáng, thanh
lặng hơn; nhưng ta vẫn là con người cũ, mọi căn để phiền não vẫn chưa được xa
lìa. Có thể nó yên lắng nhưng chưa thật sự đoạn trừ được.
Siddhattha lại đến trình pháp với những cảm nhận riêng tư cùng thắc mắc
của mình. Đạo sưĀlāra vô cùng khen ngợi, gật đầu lia lịa. Rồi bậc
thầy khả kính ấy lại hướng dẫn chàng một loại định cao hơn. Ông nói:
- Khi nghĩ là “không vô biên” -
thì chỉ có “không vô biên” là nền tảng của vạn hữu. Khi nghĩ “thức
vô biên” - thì “thức vô biên” là nền tảng của mọi
hiện tượng. Con biết sao không? Định trước thì ta vướng “đối tượng
không vô biên ngoại giới”, định sau thì ta kẹt “năng tri thức vô
biên nội tâm”. Vậy thì phải xả bỏ đối tượng, xả bỏ năng tri, lìa “không
vô biên” bên ngoài,“thức vô biên” bên trong để bước đến
một cảnh giới cao hơn: “Không có gì cả”. “Không có gì cả” là không
còn năng sở, chủ khách, trong ngoài, đối tượng và nhận thức.
Thật là quá rõ ràng, Siddhattha nghĩ,
chàng bái tạ đạo sư. Ālāra rộng mở thêm cho chàng một chân
trời mới. Và lộ trình tu tập từ bước đầu cho đến bây giờ, chàng thấy thật là
chặt chẽ, minh nhiên; là sự viễn ly từng bước một, từ cạn vào sâu, từ trạng
thái thô tháo đến vi tế, từ cảm giác, tri giác... nó lộ ra từng nấc, từng nấc
trên chiếc thang bước đến giải thoát... Siddhattha có lòng tin
đối với đạo sư, trở về góc lều của mình, chàng lại công phu tinh cần, miên mật.
Trong thời gian tu tập ở đây, lần hồi có khá
nhiều đạo sĩ tìm đến làm quen với chàng. Nhìn vóc dáng cao lớn, uy nghi, đường
bệ của Siddhattha thì ai cũng ngần ngại, nhưng khi trao đổi
chuyện, họ không ngờ chàng vui vẻ, hòa nhã, lịch thiệp... rất dễ thân cận. Nhất
là ông bạn ở bên kia suối. Thấy chàng tiến bộ quá nhanh chóng; và sự ổn định,
trầm tĩnh thanh thoát ở nơi chàng, cuốn hút mãnh liệt nên ông ta thường tìm đến
học hỏi. Siddhattha - ngoài thời gian công phu tọa thiền hay
kinh hành, hễ rảnh rỗi là chàng tận tình hướng dẫn người bạn đồng tu. Nhờ kiến
thức uyên bác từ quá khứ, nhờ lộ trình, bước đi thật sự vững chắc, nhờ nghiêm
túc hành trì lẫn chiêm nghiệm cá nhân, Siddhattha đã cặn kẽ
hướng dẫn với lối giải thích rõ ràng, khúc chiết... dễ nghe, dễ hiểu, dễ hành
trì. Vị đạo sĩ sung sướng, hân hoan vô cùng. Đúng là “học thầy không
tày học bạn”. Siddhattha có kiến thức như biển rộng, trời
cao; lại có cách nói bằng lời, bằng ánh mắt, bằng nụ cười, bằng cử chỉ... giúp
cho đạo sĩ lãnh hội rất nhanh chóng - hơn cả đạo sư Ālāra của
ông. Nhờ vậy, đạo sĩ hành trì có hiệu quả trông thấy.
Chỉ non tuần lễ, Siddhattha đã
đi vào định “vô sở hữu xứ” - là định không còn dính mắc bên
trong, bên ngoài khi khởi lên tưởng “không có gì cả”. Siddhattha chưa
đến trình pháp vội, chàng cần có thời gian đi vào, đi ra định ấy cho thuần
thục, đồng thời chiêm nghiệm nó, giác tri nó ra sao. Vị đạo sĩ bạn đã vào được
tầng thiền thứ hai, hoan hỷ lắm, lúc này thường cận kềSiddhattha, tìm
cách giúp đỡ việc này việc kia, tự coi mình như đệ tử, phải quan tâm hầu hạ“thầy”.
- Tôi là Pukkusa. Hôm kia, đạo
sĩ nói - Đạo sư Ālāra Kālāma đạt được sở đắc rất cao. Một lần
nọ, ngài ngồi dưới gốc cây bên cạnh đường, lúc ấy có mấy trăm cỗ xe bò đi ngang
mà đạo sư không hề nghe biết. Thật là hy hữu! Thật là vĩ đại!
Siddhattha mỉm cười:
- Ừ, đúng vậy, ông bạn. Đạo sư của chúng ta trú
định rất sâu nên mới làm được vậy. Cả tôi, cả bạn, ai cũng có thể bước vào cảnh
giới mà bạn gọi là hy hữu, là vĩ đại ấy!
Pukkusa tròn mắt:
- Thật thế sao?
Siddhattha giải thích:
- Đấy là định “vô sở hữu xứ”. Tôi đã
kinh qua định ấy. Và khi trú thâm sâu thì có lẽ năm trăm cỗ xe đi qua vẫn không
hay biết - là chuyện bình thường. Vào định ấy, ta dường như đóng cửa tất thảy
mọi cảm giác, tri giác, tâm hành, ông bạn ạ!
Vị đạo sĩ há hốc miệng.
Siddhattha lại thở dài:
- Tôi đã rà soát, xem xét, chiêm nghiệm định
ấy... và thấy rõ rằng: khi ở trong định ấy thì ta an ổn, vắng lặng, trong sáng,
vô nhiễm; nhưng khi rời nó, trong tôi, vẫn ray rứt những câu hỏi, những nhức
đau về lẽ tử sinh, về sự giới hạn của đời người. Trong ta, xung quanh ta, vạn
hữu vẫn tồn tại sự bất toàn, đổ vỡ, trống không... chẳng có cách gì vượt qua,
giải thoát chúng được, ông bạn thân mến ạ!
Vị đạo sĩ sững sờ. Quả thật ông ta không ngờ vị
sa-môn dáng dấp rồng phượng, quý tộc, vương giả ấy, trong thời gian chỉ hơn
tháng đã có những sở đắc ngang với đạo sư của y. Và bây giờ lại còn tỏ vẻ hoài
nghi, còn tìm cách vượt qua đạo sư Ālāra nữa chứ!
Hôm ấy là đêm rằm, trăng trong vằng vặc, sau khi
hàng cư sĩ đến cúng dường, thính pháp ra về hết, Siddhattha vào
gặp đạo sư Ālāra Kālāma, trình bày thiền chứng của mình, rồi
mong ngài hướng dẫn cho một sự tu tập cao hơn.
Nỗi vui mừng rạng rỡ trên khuôn mặt già nua, đạo
sư tán thán:
- Thật là hy hữu thay, Siddhattha! Thật
là vĩ đại thay, Siddhattha! Cái mà ta tu tập một đời, hành trì
một đời, người bạn trẻ chỉ hơn một tháng công phu! Trong số đệ tử của ta - chưa
ai được như thế!
Siddhattha cúi đầu, nhũn nhặn:
- Xin thầy mở lượng quảng đại đưa đệ tử bước lên
một cảnh giới quang rạng hơn nữa. Thiền định “vô sở hữu xứ” này
tuy tròn trặn, sáng trong như lưu ly nhưng lúc trở về với cảm thức thường niệm
thì mọi lợn cợn, vẩn đục, mọi thao thức, trăn trở về chuyện sống chết, nguyên
nhân tối hậu của trầm luân... trong đệ tử vẫn còn y như cũ.
- Này Siddhattha! Nói thật, ta cũng
chỉ có chừng ấy. Ta cũng chỉ có được chừng ấy. Ta chẳng có gì phải giấu giếm
người bạn trẻ. Cái mà ta chứng đạt thì Siddhattha cũng đã
chứng đạt, không hơn ta mà cũng không thua ta.
Chợt ông hỏi han, thân mật:
- Vậy xuất thân, dòng dõi thế nào, hở Siddhattha?
- Đệ tử thuộc giòng dõi sát-đế-lỵ, vương triều Sākya, là
thái tử con vua Suddhodāna, mẹ là hoàng hậu Mahāmāyā. Sắp
đến ngày đăng quang vương vị, đệ tử từ bỏ tất cả để xuất gia tầm đạo, thưa đức
đạo sư!
- Ồ, thật là đáng kính phục! - Đạo sư Ālāra tấm
tắc khen ngợi - Tất cả những gì toát ra nơi người bạn trẻ đều phi phàm. Muôn
triệu năm may ra mới có một. Bây giờ, cái gì ta thành tựu thìSiddhattha cũng
đã thành tựu rồi. Vậy, hãy ở lại đây, Siddhattha, con rồng vương
giả! Hãy ở lại đây để cùng ta chăm sóc hội chúng này. Ta sẽ xem Siddhattha như
một người bạn vong niên. Ta già rồi. Và dưới ta, kể cả đệ tử lâu năm, chẳng ai
có thể ngang bằng Siddhattha để có thể kế thừa sự nghiệp được
cả.
Siddhattha chưa dám trả lời thẳng thắn, là không thể, sợ
đạo sư Ālāra buồn. Chàng cúi đầu, lặng lẽ. Nhưng khi thấy đạo
sư muốn triệu tập hội chúng để tuyên bố sở đắc của chàng, cùng tư cách kế thừa
bậc đạo sư, chàng nghĩ là nên nói thật, tốt hơn. Nghĩa là chàng đã từ chối rất
lễ độ:
- Rất tri ân đạo sư - Siddhattha nói
- Đệ tử không thể kế thừa sự nghiệp vinh quang mà đạo sư đã hứa khả. Đệ tử chưa
đủ đức, đủ trí, đủ tuổi tác, đủ kinh nghiệm, đủ kiến thức, đủ sở hành để hướng
dẫn hội chúng đông đúc này. Đệ tử còn trẻ quá về mọi phương diện. Lại nữa, đệ
tử còn cần phải hành trì, phải tu tập, phải tìm cho ra lộ trình bất tử, giải
thoát toàn vẹn và toàn mãn mọi khổ đau sinh tử và của rối bời tri kiến. Đệ tử
còn cần phải lên đường. Xin đảnh lễ từ tạ đức đạo sư, người đã quan tâm, ưu ái,
chiếu cố đệ tử bấy lâu nay.
Tuy rất buồn vì sự ra đi của người học trò ưu tú
nhưng đạo sĩ Ālāra biết là sự chứng đắc của mình còn nhỏ bé,
trí tuệ của mình còn giới hạn, quả thật không thể giữ cánh chim bằng đang khao
khát tuyệt đối.
Cả đạo tràng hay tin, ai cũng bàng hoàng, sững
sờ: Hóa ra Siddhattha mới đó mà sở đắc đã bằng đạo sư Ālāra nổi
danh, lại còn hướng đến chân trời khác nữa. Bốn, năm mươi năm nay mới có một
người, một nhân cách siêu việt.
Trăng đã về khuya, cả mấy cánh rừng dường như
không ngủ: Mấy trăm đạo sĩ còn thầm thỉ nói chuyện về một sự kiện hy hữu, phi
thường cùng nhân cách cao diệu của Siddhattha khi chàng từ
chối chức vị lãnh đạo hội chúng.
[1] Xa luân báu, ngọc báu (maṇi), hoàng hậu
báu, bá hộ báu (triệu phú), voi báu, ngựa báu, tướng quan báu (đại thần).
[2] Kinh sử nói rằng, sau khi cạo râu và cắt tóc
xong, cho đến trọn đời, râu của ngài không bao giờ mọc nữa. Còn tóc, sau khi
cắt xong, chừa khoảng hai lóng tay - thì tất cả chúng đồng xoăn lại về phía bên
phải như hình xoắn ốc; và giữ nguyên hình dáng ấy cho đến lúc Nhập diệt. Đức
Phật suốt đời không cạo râu tóc lần nào nữa.
[3] Cây, gậy thuở đó được xem như khí giới.
GẶP GỠ ĐỨC VUA SENIYA BIMBISARA
Mờ sáng hôm sau, Siddhattha lên
đường. Các đạo sĩ đã đứng lố nhố nơi này, nơi khác. Một vài vị đứng xa, lặng lẽ
nhìn. Những đôi mắt thân thiện. Vài đạo sĩ khác quyến luyến đến gần, ôm vai,
buồn bã. Đạo sĩ Pukkusa cụ bị y bát muốn đi theo nhưng Siddhattha bảo
không nên, hẹn lúc nào tìm được đạo lớn, giải thoát trọn vẹn sinh tử khổ đau,
lúc ấy hãy hay.
Len lỏi giữa mấy khu rừng, Siddhattha nhắm
hướng Đông nam. Sương mai lành lạnh bờ vai. Nắng nhẹ, mỏng đã hừng lên từ
phương Đông. Lâu sau, Siddhattha đã bước vào xa lộ, bỏ bắcVesāli đạp
xuống sông Gaṅgā. Nhìn xóm làng, sinh hoạt, người và cảnh, Siddhattha thấy
đây đúng là một quốc độ giàu mạnh. Chốc chốc, Siddhattha bắt
gặp một vài đoàn thương buôn, hoặc xe ngựa, xe bò hoặc lạc đà... chất đầy hàng
hóa đổ xuống Māgadha . Chốc chốc có vài toán kỵ mã lướt qua,
phục sức giáp bào, đai hia, mũ miện, vũ khí chói ngời - Siddhattha biết
rằng đấy là giai cấp chiến sĩ oai hùng của dòng dõi Licchavī. Họ
có từng toán mặc toàn xanh, toàn đỏ, toàn vàng... trông đẹp đẽ, quy củ... và
nghe đâu quân đội của họ rất nghiêm minh, kỷ cương.
Trưa, Siddhattha đi bát ven một
xóm chợ. Dân chúng đặt bát rất tôn kính và thân thiện. Một, có lẽ là nhờ đức
cảm hóa của đạo sư Ālāra, hai là nhờ truyền thống giáo dục tâm
linh của vương triều. Lúc dừng chân độ thực hoặc nghỉ ngơi tại các lùm cây mát
mẻ bên vệ đường, Siddhatthagặp các đạo sĩ khổ hạnh. Họ vẫn có bát
xin ăn nhưng chỉ cần một vá, một muỗng... mà thôi! Với hình hài khô gầy, đôi
mắt sâu hoắm, râu ria xồm xoàm, tóc tai như tổ quạ, với tấm y dơ dáy, rách nát,
họ dường như chỉ chú trọng vào việc làm cho khô kiệt nhu cầu thân xác. Một vài
góc rừng,Siddhattha gặp mấy đạo sĩ lõa thể... họ cố tránh nơi làng
xóm hoặc có người qua lại..., chỉ dùng củ, trái, lá cây qua ngày... để tu hành
ép xác, hành thân hoại thể.
Một vài lần đàm đạo xảy ra trên đường. Siddhattha biết
rằng, dân chúng các nơi rất kính trọng các bậc tu khổ hạnh. Và quan điểm chung
chung của các đạo sĩ này tương tợ nhau. Thân xác nhiều tham muốn quá cho nên
khổ. Vậy muốn chấm dứt khổ thì phải triệt tiêu nhu cầu của thân xác, làm cho
mọi cảm giác đều phải trơ lì, yên ngủ. Khi mà tinh thần con người không còn nô
lệ thân xác nữa, nó sẽ thăng hoa, nó sẽ giải thoát, nó sẽ thể nhập làm một với
đấng Tuyệt đối, với Phạm thể vô biên! Siddhattha không góp ý,
không tranh luận, chàng chỉ lắng nghe, học hỏi, chiêm nghiệm. Có rất nhiều pháp
môn lạ lùng, Siddhattha đã gặp gỡ trên đường, nói không hết,
kể không hết - chàng tự nghĩ, chưa vội tin mà cũng chưa vội bỏ - phải nghiên
cứu toàn bộ, sau này.
Do chẳng có gì phải vội vã nên chỉ sáu do-tuần
mà Siddhattha đi mất mười hôm mới đến được bên này sông Gaṅgā. Tại
một bến thuyền, Siddhattha chứng kiến một cảnh tượng huyên
náo, lạ lùng chưa hề thấy ở trong đời. Không biết bao nhiêu là đạo sĩ, tu sĩ
phục sức, y áo khác nhau, với những sinh hoạt khác nhau. Có nhóm đứng bên sông
lầm thầm chắp tay cầu nguyện. Có nhóm xuống tắm nước sông thiêng để rửa sạch
cho kỳ hết bao nhiêu tội lỗi, nghiệp chướng tiền khiên. Có nhóm người nhập
định, phơi xác trần dưới sự nung nấu của mặt trời. Siddhatthathanh
thản dạo gót ven bờ nước đục đỏ ngầu, trên bãi cát vàng mênh mông, vô tận...
Đâu cũng là người, đủ mọi màu da, mọi giai cấp, mọi tuổi tác. Tất cả là đàn
ông. Đàn bà chỉ lác đác một vài. Ai nấy đều thản nhiên. Dường như chẳng ai chú
ý đến ai. Ai có công việc nấy. Một số đàn ông đang sắp xếp một giàn hỏa thiêu.
Vài ba đám ma đang đặt xác tử thi trên một bãi đất trống. Từng đàn bò, ngựa,
lạc đà xuống sông uống nước. Những sạp hàng lớn, nghễu nghện hàng hóa đang rục
rịch chuẩn bị xuống thuyền sang sông. Có năm, bảy người đàn ông phục sức y áo
lòe loẹt, diện mạo lạ hoắc... đang cân đo đong đếm bên những kiện hàng. Họ có
thể là từ các xứ Ba Tư, Ả Rập sang đây giao thương, buôn bán làm ăn.
Đây đúng là một xứ sở năng động, phồn vinh với
những sinh hoạt phong phú, đa diện, còn Kapilavatthu chỉ như là một quận huyện
nhỏ bé. Siddhattha nhờ một thuyền buôn sang sông. Ôi, sông
rộng mênh mông, lềnh bềnh xác tử thi và rác rưởi. Thuyền qua, thuyền về tấp
nập. Có những chiếc thuyền lớn chở luôn cả cừu, dê, bò, ngựa, lạc đà... cùng
với hàng hóa nặng trĩu...
Phía Nam sông Gaṅgā trông
nhộn nhịp, tấp nập hơn cả bờ Bắc. Siddhattha dừng chân giây
lát nơi bến sông để chứng kiến một cảnh hỏa thiêu, chứng kiến một xác người -
chưa cháy hết - được thả trôi. Cũng giống như ở Kapilavatthu, chẳng
ai khóc lóc, tiếc thương những người thân thuộc. Ai cũng quen với sự sống, sự
chết. Là lẽ thường. Thần Agni sẽ đưa linh hồn lên mây xanh.
Thần Rāma sẽ cho hóa sanh một kiếp khác hay cho về ở với
người. Niềm tin ấy cho họ sự bình thản, an nhiên. Chết đi, nghĩa là từ bỏ thân
xác bệnh tật, già nua, hủy hoại, tan rã... để mượn lại một thân xác mới trẻ
trung hơn, tràn trề sinh lực và sự sống hơn. Quan niệm chung của tôn giáo ngàn
đời hóa ra cũng giải tỏa được nỗi khổ trước lưỡi hái của tử thần.
Dừng chân tại thị trấn Pāṭaligāma thương
mãi phồn vinh vài hôm, Siddhattha quan sát, ngắm nhìn, lắng
nghe mọi sự. Nhất là dân tình, quan niệm sống của họ cùng sinh hoạt các tôn
giáo. Qua tiếp xúc với một số đạo sĩ, Siddhattha biết rằng,
tại quốc độ Māgadha tồn tại nhiều giáo phái, cả trong và ngoài
truyền thống. Hóa ra đạo sư Ālāra thuộc một phái nhỏ - Saṅkhya -
một trong sáu phái bà-la-môn hưng thịnh ở đây. Có một số giáo phái không chấp
nhận quyền uy của thánh kinh Vệ-đà, của Áo nghĩa thư, họ
tự lập ra từng nhóm riêng, có quan niệm và cách thức tu tập riêng. Tuy nhiên,
bất kể sa-môn, bà-la-môn, đạo sĩ nào thì dân chúng đều ủng hộ, đều đặt bát cúng
dường. Đây là xứ sở tự do tôn giáo, tín ngưỡng đúng nghĩa; nhờ mưa thuận gió
hòa dân chúng an cư lạc nghiệp, theo đó, các giáo phái phát triển khắp mọi nơi.
Vật thực của cư dân mộ đạo xứ này còn phong phú
hơn cả Vesāli. Cứ vừa khất thực vừa nghỉ ngơi, Siddhattha lại
xuôi theo xa lộ thương mãi về thủ đô Rājagaha (Vương Xá). Chàng
nghe đồn phương Nam Rājagaha có đạo tràng của đạo sư Uddaka
Rāmaputta nổi danh nhiều phương. Ông ta có bảy trăm đồ chúng đoanh vây
tu học. Chàng phải đến đấy để chiêm bái và học hỏi.
Bảy, tám hôm sau, Siddhattha đã
đi vào thủ đô của nước Māgadha (Ma-kiệt-đà), một kinh
đô hoa lệ, giàu sang, cực thịnh nhất thời bấy giờ. Dù kiến thức địa lý của Siddhattha có
sâu rộng cũng không hình dung được thế núi, thế sông hùng vĩ như thế này. Hóa
ra kinh thành Rājagahanằm giữa một thung lũng mênh mông được bao
quanh bởi nhiều dãy núi. Kéo chênh từ hướng Tây nam lên hướng Đông bắc là hai
dãy núi Vaibhāra và Virgāla như một bức tường
thành. Phía cuối của núi Virgāla lại mọc ra dãy núi Rāma đâm
thẳng góc xuống hướng Nam . Sau đó, dãy núi Chattha lại
đâm thẳng góc với Rāma rồi đổ về hướng Đông. Xa về phía Nam là
dãy núiUdāya, đổ xuôi về Tây nam lại bắt gặp núi Sona hùng
vĩ. Cả hai dãy núi này dường như song song với hai dãy núi Vaibhāra và Virgāla -
nghĩa là kéo dài từ Đông bắc xuống Tây nam.
Vậy là kinh thành Rājagaha nằm
trong một thung lũng hình chữ Z, được bao bọc bởi hai bức tường thành. Bức
tường ngoại thành là vành đai khổng lồ, đá dựng lô nhô cùng với rừng xanh mát
mẻ. Với sức người, sức của, thời gian, công phu xây dựng bức tường đá vĩ đại
như thế quả thật chỉ có ý chí của một đế quốc mới làm nổi. Nó bạo liệt cắt
ngang núi Sona, chạy dài qua sông suối, bình nguyên, vượt lên
núi Vaibhāra, chạy theo đường “giông” của núi
này, đến hết núi Virgāla. Từ đây, đổ về Nam , nó xuôi
mãi, trượt lên núi Udāya, rồi theo đường “giông” của
núi này xuôi về Tây nam. Chu vi bức tường ngoại thành nghe đâu không
lớn lắm, chỉ độ chừng ba bốn do-tuần nhưng có lẽ là công trình vĩ đại thời bấy
giờ.
Bức tường nội thành bao quanh cổ thành Giribbāya, là
nơi biệt lập của hoàng cung, kế đó là dinh cơ của hoàng gia, quý tộc, các đại
thần, quan lại, võ tướng... Từ đó, các con đường lát đá, xa rộng ra là phố
phường sầm uất của giai cấp Vệ-xá, quý tộc làm thương mãi, thị dân giàu có với
hàng trăm, hàng ngàn tiệm tạp hóa. Rồi còn xưởng rèn đúc vũ khí, dinh xưởng
quân trang, quân dụng của hoàng gia, chiến sĩ. Cung vua được xây dựng bằng nền
đá, tường đá; nhưng kết cấu các tòa nhà, dinh thự, lâu đài lại bằng gỗ quý.
Vùng thung lũng trải rộng giữa nội ngoại thành
là làng xóm, nhà cửa của giới trung lưu, gồm tất cả mọi ngành nghề khác. Đây là
vựa lúa, vựa trái cây, rau cải... cũng là nơi chăn thả gia súc như dê, bò,
cừu... Có cả những trại nuôi ngựa, voi cho hoàng gia và chiến sĩ. Điểm xuyết
giữa thung lũng này là trang trại lớn của một số đại thần, quý tộc, kỹ nữ, võ
tướng... Nhiều nhất là những vườn xoài, vườn cây thuốc, vườn đinh hương, hồi
hương, chà là, các loại đậu, củ... Riêng cây thốt nốt làm đường, mật thì ở đâu
cũng có, hàng hàng lớp lớp bao quanh xóm nhà, quanh công viên, dọc theo xa lộ
thương mại...
Giữa khoảng hở của các ngọn núi là những cổng
thành cao lớn, kiên cố. Cổng đi lên phía Bắc được gọi là cổng Bắc. Tương tợ
thế, cổng Đông, cổng Nam ...
Như vậy, địa thế của Rājagaha được
phòng thủ một cách kiên cố và vững mạnh, không có quân đội nước nào xâm nhập
nổi nên tạo được thế hùng cường và giàu mạnh dài lâu.[1]
Nhờ giàu sang và thịnh vượng như vậy nên đất
nước này là nơi hội tụ nhiều sắc màu của các giáo phái khác nhau. Cứ hễ nghe
đâu có các nhóm tu tập là Siddhattha tìm đến. Quả thật là nơi
này quyền uy của thánh kinh Vệ-đà và Áo nghĩa thư đã
bị lung lay. Có những phong trào muốn đi tìm những giá trị tâm linh mới, con
đường mới. Một số đã đi quá đà, rơi vào duy vật luận thô thiển, ngụy biện, hý
luận, đoạn diệt kiến - trở thành tà đạo nhưng vẫn tồn tại, vẫn được rao giảng
đó đây. Ai nghe thì nghe. Ai tin thì tin. Ai không nghe, không tin thì thôi,
chẳng đụng chạm đến ai cả. Đúng là trăm hoa đua nở, nên kinh thành này, thời
này được xem là đỉnh cao của triết đạo học.
Siddhattha đã đến nhiều nơi để nghe các đạo sĩ trong truyền thống rao
giảng. Gọi là truyền thống nhưng họ đã giảng giải lại Vệ-đà -
nên được gọi là Vedantā - cho phù hợp với thời đại mới. Một số
trong các vị này muốn giữ lại một ít “mật truyền” có lợi cho
các tế sư - để họ độc quyền liên hệ với thần linh. Nói chung, họ cũng tìm về
Nhất thể nhưng do lý luận dài dòng, úp mở, mâu thuẫn, nhiều kẽ hở... nên chẳng giúp
gì thêm cho kiến thức của chàng cả. Vả lại, kể cảVệ-đà, kể cả những
quyển kinh cổ xưa của dòng dõi Aryan, Siddhattha đã thông
thuộc - nên chàng thấy kiến thức của bọn họ chắp vá, đứt nối, nghèo nàn...
chẳng có giá trị gì. Nếu nghe ai nói đến Brāhman, Ātman... những
cái ngã thường tại, bất tử... đồng với hư không, đồng một với hạt cải, hạt
sung, hạt mè gì gì đó thì chàng không muốn nghe nữa. Siddhattha đã
đầy mứa, no ứ loại kiến thức cũ xưa ấy. Một vài nơi nói về nghiệp, tham dục, vô
minh... là công của các nhà luận giải đi sau Vệ-đà, thì nghe
được, nhưng vẫn còn nông cạn, mù mờ.
Siddhattha chán nản nhất là miệng lưỡi của một số đạo sĩ
duy vật luận, đoạn kiến, hư vô chủ nghĩa... Họ phủ nhận sự hiện hữu của Thượng
Đế, linh hồn, chủ trương không có thiện ác, khi thân xác thiêu rồi thì chẳng
còn gì nữa. Vậy hãy hưởng thụ dục lạc cho sung sướng. Họ chỉ trích các đạo sĩ
khổ hạnh diệt dục: “Này bạn! Bạn muốn quăng bỏ cả hạt thóc vì bên ngoài
bao bọc vỏ trấu chăng? Hành hạ thân xác quả là đồ khùng, đồ điên!” Lạ lùng
làm sao - là với chủ trương như vậy - họ vẫn không được mọi người xem là đối
kháng xã hội, hoặc “phi đạo đức”,có hại cho nhân sinh. Một số khác
tuyên bố xanh rờn về học thuyết “hoài nghi chủ nghĩa”. Họ
hoài nghi linh hồn, Thượng Đế, thánh thần, thiện ác, các giá trị đức lý, định
mạng... Họ hoài nghi tất tần tật. Chúng nhung nhúc, nhan nhản..., mọc lên tươi
tốt như nấm sau vài trận mưa cuối mùa hè. Họ đi từng đoàn, từng lũ, đả phá giáo
phái truyền thống, đền miếu, tập cấp bà-la-môn và các tế sư. Nhưng quả lạ lùng
làm sao, dân chúng lại thích nghe họ nói, khoái chí cúng dường, cung cấp tứ sự
đầy đủ. Có lẽ đây là phản ứng nghịch để tạo sự quân bình cho xã hội. Các ông
bà-la-môn trịnh trọng, đạo mạo, nghiêm trang từ lâu đã bóc lột họ quá nhiều
trong các cuộc tế lễ, ma chay; chủ ruộng đất, chủ các trang trại của các
bà-la-môn lại sử dụng sức lao động của nông nô với giá chết đói – cũng thế.
Còn ta-bà khổ hạnh sư thì quá nhiều, từ khổ hạnh
thô tháo đến khổ hạnh cực đoan nhất. Và nói chung, mọi hình thức khổ hạnh đều
được dân chúng trọng vọng, sùng mộ. Dấu hiệu chung của các đạo sĩ khổ hạnh là
từ bỏ gia đình, vợ con, tài sản, tự do để râu tóc, tự do mặc nhiều kiểu y áo
khác nhau, hoặc tự do chỉ che chút ít cho có lệ! Tùy. Riêng có nhóm cứ để trần
truồng - lõa thể - thì họ thường ẩn dật trong rừng rậm hoặc nơi xa xóm làng để
khỏi quấy rầy mọi người, nhất là đàn bà, con gái. Vị nào khổ hạnh kỳ quái nhất,
dị hợm nhất thì được mọi người nể trọng nhất. Làng xóm sẽ tự hào về họ, xem họ
như bậc thánh.
Có vị tu khổ hạnh với mục đích chẳng tốt đẹp gì:
Chỉ để cho oai, cho ghê gớm - một cách hiếu danh, một cách phô trương bản ngã.
Có vị tu khổ hạnh với mục đích mong cầu đánh đổi
phúc lạc ở đời sau, sung sướng gấp trăm ngàn lần bây giờ.
Có vị tu khổ hạnh thiền định để sau này bay được
như chim, qua sông không cần đò, thuyền. Hoặc đi xuyên tường, độn thổ, biết rõ
chuyện quá khứ, vị lai.
Có những vị cao thượng hơn - là khổ hạnh để diệt
dục, để giải thoát kiếp người, mong sau này cộng trú với chư thiên, phạm thiên
hay thể nhập với Thượng Đế.
Tất cả họ có nhiều cách hành hạ thân xác thật
khủng khiếp. Khổ hạnh như bò thì làm hai cái sừng bò trên đầu, cột đuôi bò phía
sau, sống giữa bầy bò, ăn như bò, đi như bò, ngủ như bò. Khổ hạnh như chó thì
sống như chó, đi như chó, ăn dưới đất, sủa hâu hâu và nằm ngủ cũng cuộn mình
như chó. Khổ hạnh kiểu nhịn ăn thì nhịn ăn cho tới chết. Có vị nửa tuần trăng
mới ăn một lần. Có vị chỉ ăn một lần vào cuối mùa trăng. Có vị ngâm dưới nước
suốt ngày. Có vị tự treo chân, treo tay lên trên cây cho đến khi teo chân, teo
tay luôn! Có người cột mình lên cây bằng một sợi dây, mỗi ngày vài khắc như
thế. Có vị luôn luôn ngồi chồm hổm và chỉ ăn cái gì rơi vãi xung quanh. Có kẻ
đứng một chân, đứng mãi đứng hoài mặc cho cây leo mọc xung quanh, chim làm tổ
trên đầu. Có kẻ suốt đời không ngủ. Có người nằm trên giường đinh hoặc nằm trên
đống gai tua tủa. Có vị tự cắt bớt một tay, cắt bớt một chân. Có kẻ bẻ gãy nó
rồi lấy giây cột lại mặc cho nó thối rửa với dòi bọ đục khoét... Tuy nhiên, đa
phần các khổ hạnh sư này có tu tập thiền định, họ có tự chủ - nên sự đau đớn về
thể xác họ chịu đựng được. Người ta nể sợ họ về khả năng đó.
Khắp xứ Māgadha , các
đạo sĩ lang thang với cái bát xin ăn đã trở thành hình ảnh quen thuộc. Thỉnh
thoảng, vì tranh danh, đoạt lợi lại có vài ba cuộc đụng độ. Hãy lắng nghe họ
nói, họ ngụy biện, họ bài bác, xách mé người khác mà chẳng đưa ra một ý tưởng
khả dĩ là có kiến thức. Có kẻ say sưa nói về định mệnh thuyết. Theo đó, cái ăn,
cái mặc, ngủ nghỉ, tư duy, vui khổ... không thể cải biến, không thể thay đổi
được. Tuy nhiên, chẳng ai trung thành với ai cả. Họ tùy nghi gia nhập nhóm này,
một thời gian lại chạy sang nhóm khác. Họ thay đổi “guru” (bậc thầy)như
thay đổi món ăn. Tại kinh thành Rājagaha và các thị trấn
thường có những căn nhà hội, là tụ điểm để cho muôn phương du sĩ, khất sĩ lang
thang trú mưa nắng. Và thường là nơi xảy ra các cuộc tranh luận. Ai nói hay,
thắng cuộc thì được vua chúa, các triệu phú gia, chủ ngân hàng, đại thương gia
tặng nhiều vàng bạc, gia súc...
Siddhattha lắc đầu, vừa ngao ngán vừa mỉm cười. Quả là “đi
một ngày đàng học một sàng khôn”. Chỉ mới non nửa tháng ở
đây - kinh thành tâm linh này mà Siddhattha đã có thể khái
quát, hình dung toàn bộ sinh hoạt tôn giáo, chí hướng, mục đích, con đường của
giới xuất gia đạo sĩ.
Hôm kia, nghỉ ngơi trên núi Paṇḍavā, không xa
kinh thành Rājagaha bao nhiêu, Siddhatthangồi
thiền nhưng tâm không an trú. Do kinh thành Rājagaha với những
sinh hoạt của nó nên hình ảnh Kapilavatthu hiện ra. Rồi hình
sương bóng khói quê nhà, phụ vương, di mẫu,Yasodharā, Rāhula... từ chập
chờn đi đến rõ nét. Một dòng xúc cảm khởi sanh làm choSiddhattha lao
chao, không yên lắng được... Đã suốt đêm như thế.
Nắng sớm đã lên. Siddhattha ôm
bát, thong thả đi theo con đường ruột dê xuống chân núi. Vừa đi chàng vừa trú
niệm hơi thở để tìm lại sự thanh thản tâm hồn. Phải đi con đường mới, tức là
con đường dẫn đến cổ thành Giribbāja có hoàng thành, cung điện
của đức vua Seniya Bimbisāra nổi danh. Ở đây, dinh thự tiếp
dinh thự, lâu đài tiếp lâu đài. Hình ảnh mấy tòa Cung Vui lại hiện ra nhưng Siddhattha an
trú niệm được ngay.
Dáng dấp Siddhattha cao to,
sang trọng, nước da như mạ vàng ròng, lại với bước đi trầm tĩnh, uy nghi... làm
cho ai cũng phải chú ý, ngước đầu lên nhìn. Ở kinh thành này chưa có bóng dáng
vị đạo sĩ nào khả dĩ thu hút mọi người đến thế! Là một vị xuất gia với giống
dòng thượng đẳng, với bước đi khoan thai, ổn định, kiêu hùng như chúa sơn
lâm... thế kia thì mọi người mới thấy lần đầu.
Siddhattha dừng lại, tầm mắt nhìn xuống, nghiêng người, đứng trước một
ngôi nhà, không phân biệt họ giàu nghèo ra sao. Chàng trú niệm, không gian xung
quanh bỗng yên lặng. Dường như những giọng nói, tiếng cười từ đâu đó cũng ngưng
dứt. Một người, hai người, ba người rồi bốn người lặng lẽ ra đặt bát. Có lẽ là
những món thượng vị đầy trân trọng. Thấy đã vừa đủ,Siddhattha lấy
tay ngăn lại, thầm đọc vài ba lời quán tưởng và chú nguyện rồi quay lưng, bước
đi, trở về bằng lối khác.
Siddhattha thoáng nghe từ sau gáy, từ bên tai... những cái
nhìn, những lời bàn tán, xầm xì nho nhỏ: “Vị sa-môn này có lẽ không
phải người mà là thiên thần.”
Đúng vậy! Cỗ xe bốn ngựa trắng đang chậm rãi đi
ngang, đức vua Seniya Bimbisāra vén rèm, chăm chú nhìn tướng
mạo, phong thái, bước đi của Siddhattha cũng tưởng là vị thiên
thần nào. Ông ngẩn ngơ. Sao trên đời lại có vị đạo sĩ đẹp đến thế! Như sực
tỉnh, đức vua Seniya Bimbisāra sai một tên quân hầu bí mật
theo dõi Siddhattha xem chàng về đâu, nghỉ ở đền miếu, quán xá
nào... rồi về tâu lại cho đức vua hay.
Xế chiều hôm đó, đức vua Seniya
Bimbisāra thắng cỗ xe bốn ngựa trắng, dừng lại dưới chân đồi Paṇḍavā. Đức
vua chậm rãi leo lên núi cùng với một tên thị vệ.
Siddhattha đang ngồi thiền trong bóng râm, hào quang như
tỏa sáng từ khuôn mặt. Có một cái gì tôn nghiêm, tĩnh lặng tỏa ra xung quanh
làm cho đức vua không dám cất tiếng. Ông đứng vòng tay tỏ vẻ kính cẩn. Lát sau,
như có con mắt thứ ba, Siddhattha biết có khách nên chàng xả
thiền. Nhìn vóc dáng bệ vệ, oai nghiêm, trang phục sáng ngời châu báu như...
mình thuở nào,Siddhattha biết đấy là đức vua Seniya
Bimbisāra nổi tiếng châu Diêm-phù-đề.
Rất tự nhiên, Siddhattha gật
đầu chào, mỉm cười, chỉ cho đức vua chỗ ngồi trên phiến đá phẳng, còn chàng thì
tìm chỗ ngồi đối diện.
Siddhattha điềm đạm nói:
- Phải chăng điện hạ là quốc vương Māgadha nổi
danh đương đại? Xin ngài bỏ lỗi, là sa-môn nên tôi không thể làm lễ ra mắt như
kiểu quần thần.
Đức vua gật đầu:
- Phải vậy. Trẫm là Seniya Bimbisāra, hôm
nay đến đây rất lấy làm vinh hạnh được thăm viếng ngài sa-môn. Chẳng hay, ngài
là ai? Là thọ thần? Là chư thiên? Là phạm thiên? Tướng mạo của ngài rất phi
phàm, rất khác tục vậy.
Siddhattha cười nhẹ:
- Tôi là người phàm tục, tâu đại vương. Lại nữa,
lộ trình tầm đạo còn nhiêu khê, tối tăm - đâu xứng đáng để đức vua oai hùng coi
trọng đến thế!
Thấy lời lẽ thanh cao, ngôn ngữ lưu loát, lịch
thiệp..., đức vua đoán đây không phải là kẻ tầm thường, bèn tâm sự:
- Ôi! Trẫm lên ngôi từ tấm bé - lúc phụ hoàng
của trẫm mất. Mới mười bốn tuổi mà phải làm người lớn, phải chính đính, trang
nghiêm, mẫu mực để cầm quyền trị nước. Năm nay trẫm hai mươi bốn tuổi. Vậy là
đã suốt mười năm, trẫm không có tuổi thơ, không có sự hồn nhiên; lúc nào cũng
phải lo nghĩ, tính toan trăm việc, không có niềm vui, không có nụ cười! Bao
nhiêu năm qua, trẫm không hề có một người bạn để hàn huyên tâm sự. Xung quanh
hàng trăm người, lúc nào cũng khúm núm, chào thưa, tuân phục, bách tuế, vạn
tuế... Cũng chẳng trách họ được vì đó là luật lệ của triều đình, vì quyền uy
của trẫm là tuyệt đối. Nhưng mà kỳ lạ làm sao, sáng nay, vừa thoáng thấy
sa-môn, trẫm liền có cảm giác như là một người bạn thân lưu lạc từ kiếp nào.
Trẫm ước ao rằng, sa-môn hãy cùng về với trẫm, làm bạn với trẫm. Với vừng trán,
đôi mắt, ngôn ngữ, nụ cười... ở nơi sa-môn - trẫm biết chắc sa-môn là người ưu
việt, thông tuệ, trí tài, đức hạnh đều vượt bậc, vượt xa con người. Nếu có
sa-môn bên cạnh tham mưu, cố vấn, trẫm biết chắc nước nhà sẽ hùng cường và muôn
dân sẽ ấm no, hạnh phúc hơn nữa.
Siddhattha quan sát đức vua, thấy ông ta có vẻ chí tình,
lại có phong độ của bậc minh quân, chàng dịu dàng nói:
- Cảm ơn những lời vàng ngọc của đại vương!
Nhưng tôi đã quen đời sống độc cư, thích chỗ hoang vu, u tĩnh của núi rừng mất
rồi. Chốn hoàng thành hoa lệ không còn thích hợp với tôi nữa đâu.
- Đời sống sa-môn không cửa, không nhà cực khổ
quá. Vật thực xin ăn tùy thí chủ, đâu có đủ dưỡng chất cần thiết cho cơ thể.
Mặc thì chỉ có một manh áo mỏng. Nằm ngủ thì chẳng có giường chiếu, chăn màn.
Thôi, hãy về thành với trẫm đi, trẫm sẽ tặng một cung điện cao sang và tiện
nghi nhất. Trẫm lại còn lựa chọn cho vài chục mỹ nữ xinh đẹp nhất thành Rājagaha làm
kẻ hầu người hạ xung quanh. Họ sẽ nâng khăn, sửa túi, xếp gối, giăng màn...
Siddhattha cúi đầu, nhũn nhặn:
- Xin trân trọng tấm lòng và thiện ý của đại
vương. Quả thật đấy là đặc ân tối thượng của đại vương. Nhưng tôi không quen
với đời sống ấy. Tôi đang đi tìm ý nghĩa và giá trị vĩnh hằng của đời sống con
người. Tôi sẽ tìm cho ra đạo lộ bất tử để cứu khổ cho muôn sinh. Đấy mới là mục
đích của tôi, tâu đại vương!
Đức vua Seniya Bimbisāra vẫn
chưa chịu thua, muốn thuyết phục nữa, nhưng chậm rãi hỏi:
- Sa-môn năm nay bao nhiêu tuổi rồi?
- Thưa, hai mươi chín tuổi.
- Ồ, vậy là còn trẻ quá. Chỉ lớn hơn trẫm có năm
tuổi. Thôi, thế này vậy. Cùng về với trẫm đi, trẫm sẽ chia cho sa-môn một nửa
giang sơn, cả hai ta sẽ cùng nhau cai trị và hưởng phúc. Ít chục năm sau, khi
tuổi già, sức yếu, mọi lạc thú trên đời đều đã nhàm chán - thì cứ giao lại hết
cho trẫm, rồi đi xuất gia cũng chưa muộn gì.
Siddhattha mỉm cười nụ, phê bình nhẹ nhàng:
- Đại vương nói không được đúng rồi! Con đường
tu tập không đơn giản. Là lộ trình của chông gai, khổ luyện. Cần phải có sức
vóc, ý chí, nghị lực... mới đi được tới nơi, tới chốn. Vậy đi xuất gia phải cần
có nhiệt huyết và sức thanh xuân của tuổi trẻ. Nếu để già mới đi xuất gia, sẽ
không thành tựu được gì, chỉ tìm được chút nhàn cư và bình an, tĩnh tại bên
ngoài mà thôi. Còn khó khăn hơn nữa là hiện nay, sự tìm kiếm của tôi - mục
đích, con đường - chưa hề có trên thế gian này, nên hành trang, tư lương lên
đường cần có ý chí và nghị lực bất thối. Còn khó khăn vạn trùng. Và chỉ có tuổi
trẻ mới làm được. Xin bệ hạ hãy tha thứ cho tôi, hãy cho tôi đi theo con đường
mà mình đã chọn.
Đức vua Seniya Bimbisāra gật
gù:
- Quả là hùng biện! Quả là hay! Thật là ngôn lời
kiên định như đá tảng! Trẫm mới nghe lần thứ nhất trong đời. Và cũng là lần thứ
nhất trong đời, có người được chia cho nửa giang sơn, cung điện, mỹ nữ, quyền
uy mà không hề động tâm.
Nghĩ ngợi một lát, đức vua tiếp:
- Với con người như sa-môn, lập luận đanh thép,
ý chí đanh thép, vừng trán cao phẳng, đôi mắt xanh trong thế kia... thì chẳng
có khó khăn nào mà sa-môn không thành tựu được - kể cả là làm Chuyển luân Thánh
vương toàn cõi châu Diêm-phù-đề này. Trẫm không bắt lỗi đâu, trẫm kính trọng và
sự ngưỡng mộ được nhân lên nhiều lần nữa là khác.
Nhìn thần sắc an nhiên, trầm tĩnh của Siddhattha, đức
vua chợt hỏi:
- Trẫm hơi tò mò, vậy chẳng hay sa-môn là người
xứ nào, xuất thân, dòng dõi như thế nào - có thể cho trẫm biết với chăng?
- Dạ được, không sao! Siddhattha nói
- Xa về hướng Tây bắc, dưới chân Himalaya hùng vĩ, có một gia
tộc Sākya cổ kính, dòng dõi Thái dương anh hùng, kinh thành Kapilavatthu nhỏ
bé, hiền hòa - là quê hương của tôi đấy!
- Ồ!
- Tên tôi là Siddhattha, họ Gotama,
là thái tử con vua Suddhodāna còn tại tiền, mẹ là hoàng hậu Mahāmāyā đã
mất sớm. Tôi lập gia đình lúc mười sáu tuổi, có được một con trai nối dõi...
- Cứ kể tiếp đi, sa-môn, trẫm muốn nghe!
- Từ lâu, tôi đã chán nản xa hoa ngũ dục ở ba
tòa Cung Vui; lại còn sợ buộc ràng lúc phụ hoàng chọn ngày đăng quang vương vị
- nên đã trốn mọi người, rời khỏi kinh thành, xuất gia tầm đạo - lúc nửa đêm,
cách đây non vài tháng thôi, tâu đại vương!
Vua ngạc nhiên quá, thốt lên:
- Hóa ra sa-môn là một vị vua! Một vị vua đã
khẳng khái phất tay từ bỏ vương vị, vợ đẹp, con xinh! Vậy là trẫm đã thất lễ.
Trẫm đã lấy lợi danh, quyền uy, ngũ dục để quyến rũ người đã từ bỏ ngũ dục,
danh lợi và quyền uy.
Đức vua lại xuống giọng, thân thiện:
- Vương quốc Sākya hiền hòa...
với Māgadha của trẫm là chỗ thân quen từ nhiều đời. Từ đây đến
đó chừng sáu bảy mươi do-tuần, không xa lắm. Vị đại vương Kosala oai
hùng kế cạnh, đức vua Pāsenadi, cũng là chỗ thâm giao. Không giấu
gì sa-môn, hoàng hậu của trẫm là em ruột của đức vua Pāsenadi. Lại
nữa, trẫm sẽ có một chính sách ngoại giao với Kosala để choKapilavatthu được
yên bình. Sa-môn đừng ngại gì cả. Hãy đi theo con đường của mình. Nhưng trẫm
mong rằng, sa-môn hãy xem trẫm là bạn. Sau này, lúc nào tìm ra đạo lớn, sa-môn
hãy ghé thăm quốc độ của trẫm, thăm trẫm và để cho trẫm được cúng dường tứ sự.
Trẫm sẵn sàng cất lời hứa thiêng liêng, là sẽ ở bên cạnh, làm cánh tay phải, hộ
trì “cái đạo bất tử” của sa-môn, được phát triển mạnh mẽ trong
quốc độ này.
Siddhattha thấy vị vua trẻ tuổi, đầy quyền uy hiển hách mà hạ mình như
vậy, bèn vô cùng trân trọng hứa khả, sau này đắc đạo sẽ trở lại xứ sở phồn vinh
này.
Đức vua Seniya Bimbisāra cúi
chào, từ giã, xuống núi. Siddhattha cũng chuẩn bị rời chỗ,
chàng không muốn nhận thêm một ân sủng nào nữa của đức vua cũng như hoàng gia
của xứ sở này. Biết chỗ, họ sẽ thăm viếng, tới lui. Rồi phải nói chuyện, chào
hỏi, lắng nghe... làm mất của chàng biết bao thì giờ quý báu.
Chàng bước đi, lại theo đường mòn ruột dê, đến
cổng thành phía Đông nam, từ giãRājagaha, đến núi khác: Có một đạo
sư ở không xa đây lắm, chàng phải tìm đến.
Khu rừng của đạo sư Uddaka Rāmaputta trải
dài ở sườn núi phía nam thuộc dãy núi Udāya, nằm ngoài bức tường
thành thứ hai của kinh đô Rājagaha. Rừng cây với những gốc cổ thụ
to lớn, mật độ thưa thớt, có vẻ nóng bức, vì thời tiết đang đi vào cuối hạ.
Thỉnh thoảng, có vài cơn gió mang hơi lửa từ phương Nam thổi tràn lên, lá vàng
rụng xào xạc. Vài con suối đã cạn khô, nước chảy róc rách len lỏi giữa các lèn
đá, tụ thành từng vũng xanh trong đủ nước dùng cho người và vật. Đây đó từng
cốc lá che dựng tạm thời lấp ló sau các hàng cây. Vài bóng đạo sĩ tới lui, tọa
thiền hoặc kinh hành - trông thanh bình và yên ổn.
Đạo sư Uddaka năm nay chừng tám
mươi tuổi, quắc thước, rắn rỏi, vầng trán cao rộng. Đặc biệt có đôi mắt sâu
hoắm, nhãn quan lóng lánh có thần, biểu hiện một sức sống nội tâm có tu chứng,
có sở đắc. Giáo pháp của đạo sư ảnh hưởng một vùng lớn rộng. Hội chúng có chừng
bảy tám trăm người, kể cả xuất gia và tại gia.
Ông tiếp Siddhattha như một
người học đạo bình thường, không hỏi xứ sở, gốc gác, dòng họ...; chỉ hướng dẫn
những pháp sơ cơ. Siddhattha chưa muốn đi sâu, nghĩ là thời
gian còn nhiều, chàng dự định xem xét một vài vấn đề nội tâm đang còn máy động,
lao xao... Cũng giống như ở khu rừng của đạo sư Ālāra, Siddhattha phải
tự mình làm một lều cây để che sương, đỡ gió. Sau đó, nhìn quanh bạn đồng đạo,
ai làm gì thì chàng làm nấy, tìm cách hòa nhập với học chúng. Siddhattha lúc
này đã thuần thục mọi sự - nên thấy cái gì cũng dễ dàng thông thuận, khế hợp.
Đạo sư Uddaka Rāmaputta, nghe
nói không phải tự tu, tự chứng như đạo sư Ālāra Kālāmamà được học hỏi
từ cố đạo sư Rāma - thiền phi tưởng, phi
phi tưởng - là định cao nhất, lôi cuốn rất nhiều đạo sĩ tìm đến tu
học.
Chương trình trong ngày, Siddhattha sử
dụng giờ giấc tương tự trước đây. Đêm, hành thiền hai canh, nghỉ một canh.
Ngày, theo bạn đạo đi khất thực các thôn làng ngoại ô Rājagaha; chiều,
nếu rảnh rỗi chút ít, tìm khe suối xa vắng để tắm giặt, nằm nhìn ngắm mây trời,
lắng nghe sự va động, các cảm giác tương giao phát sanh. Tất cả đều bình hòa,
lắng trong, yên tĩnh. Đôi khi, sự an lạc kéo dài, thấm đẫm từ chân tơ kẽ tóc.
Nhưng thỉnh thoảng, những câu hỏi, lẽ tử sinh, giá trị nền tảng của cuộc sống -
lại trở về như một đám mây u ám đi qua vùng trời tâm thức. Dù trú các định,
xuống lên các định khá thuần thục nhưng khi trở lại với ý thức thường nghiệm, Siddhatthathấy
mình vẫn còn bất an, vẫn còn những phiền não vi tế.
Nửa tháng trôi qua lặng lẽ, hôm kia Siddhattha tìm
gặp đạo sư Uddaka, chàng cặn kẽ trình bày lộ trình tu tập bấy
lâu của mình - các tầng thiền, an trú và chứng nghiệm - những mong sự chỉ dẫn
đúng đắn và cao minh hơn.
- Sao? Đạo sư Uddaka ngạc nhiên
- trong vòng nửa tháng mà chàng trai trẻ đã đã lên đến thiền “vô sở
hữu” à?
- Dạ thưa không - Siddhattha đáp
- Tất cả các tầng thiền ấy, đệ tử đã học được từ đạo tràng của đạo sư Ālāra; và
đệ tử đã đi xuống, đi lên, vào ra khá thuần thục.
Vị đạo sư già nua bây giờ mới chăm chú quan sát
tướng mạo của chàng trai đối diện. Ồ, tướng mạo đẹp đẽ, tỏa ra sự trang nghiêm,
chững chạc. Lại nữa, chàng ta có giọng trầm ấm, có ngôn ngữ trôi chảy lưu loát,
có cách diễn đạt ý tưởng chân xác, sâu sắc. Đây là người có học vấn uyên bác,
thâm sâu, không phải là kẻ tầm thường.
Thế là đạo sư ân cần trao đổi:
- Này, người bạn trẻ! Cái định “vô sở
hữu” mà bạn chứng đạt từ đạo sư Ālāra khả kính - là
một loại định bậc cao. Tuy nhiên, cái “vô sở hữu” ấy là một
loại tri giác, một loại tưởng, chính xác là “tưởng không” đấy
thôi. Lúc nào còn “tri giác”, còn “tưởng” thì vẫn
còn năng tri và sở tri. Muốn bước lên một loại định cao hơn thế nữa - thì người
bạn trẻ cần phải rời luôn cái tưởng ấy, cái tri giác ấy.
Siddhattha nhíu mày:
- Phải rời luôn? Phải rời luôn, phải lìa
bỏ tri giác - nghĩa là “không còn tri giác” - thì có
đồng nghĩa với gỗ đá không, thưa đức đạo sư?
- Hay, câu hỏi hay! Lìa tri giác, lìa
tưởng - nhưng không phải là “không có tri giác”,“không
có tưởng” như gỗ đá vô tri!
Siddhattha nói:
- Nhưng có một đạo sư khá nổi danh nói rằng: Gỗ
đá vô tri cũng không phải là không có tri giác, vẫn là tri giác! Điều
ấy phải được hiểu như thế nào?
- Đừng có tin vào những phát ngôn ngốc nghếch!
Đấy là hý luận. Là mép rìa của duy tâm, duy vật cực đoan. Ngay cõi “vô
tưởng” của chúng sanh “không có tưởng”, chỉ còn sự diễn
tiến của sắc uẩn, vẫn không đồng với gỗ đá vô tri - vì bên trong nó vẫn tiềm
miên danh uẩn.
- Nhưng lìa tri giác, lìa “tưởng không” -
mà “không phải vô tưởng”, không phải gỗ đá vô tri, thì nó là cái
gì, thưa đức đạo sư?
- Điều ấy không nói được, này người bạn trẻ!
Ngôn ngữ bất lực. Phải cần sự thực nghiệm, chứng nghiệm, nóng lạnh khắc biết!
Siddhattha lĩnh ý, rút về lều của mình. Vậy là phải lìa “vô sở
hữu”, phải lìa “ý niệm không có gì cả”.
Chỉ mươi hôm sau, Siddhattha đến
trình pháp:
- Để tử đã viễn ly được “tưởng không” ấy.
Bây giờ đệ tử đã an trú vào một trạng thái mà không biết nó là cái gì. Nói “có
tưởng”, không đúng; nói “không tưởng”, cũng không
đúng. Cả hữu lẫn vô đều bất xác. Cũng không phải phủ định hay xác lập hai mặt
nhị nguyên “có - không”của tưởng... mà là cái gì đó, đệ tử không
nhìn rõ mặt!
Đạo sư Uddaka chăm chú hỏi:
- Vậy, người bạn trẻ đã trú vào cái gì?
- Thưa, có lẽ cũng là “tri giác”,
cũng là “tưởng” thôi. Nhưng cái này nó vi tế quá, chẳng
xác định được là nó có hay không.
- Đúng vậy - Đạo sư Uddaka gật
đầu - Vì đấy là định phi tưởng, phi phi tưởng (nevasaññānāsaññā),
là bậc thiền cuối cùng trên lộ trình tu tập. Ở châu Diêm-phù-đề này, đó là
thành tựu cao nhất, xứng đáng cho những ai cần cầu xuất gia phạm hạnh.
Siddhattha cúi đầu.
Đạo sư Uddaka chợt đứng dậy, ưu
ái nắm tay Siddhattha, bảo chàng ngồi vào bồ đoàn bên cạnh,
rồi mở lời khen ngợi:
- Người bạn trẻ đã tiến bộ phi thường, vượt bậc,
không thể có người thứ hai trên đời này. Công phu tu tập hơn nửa thế kỷ của ta
cũng chỉ có chừng ấy, chỉ có định ấy. Ta có tín, tấn, niệm, định, tuệ như
vậy thì người bạn trẻ cũng có tín, tấn, niệm, định, tuệ như
vậy. Không hơn, không khác.
Siddhattha lắng tai nghe, nghiêm cẩn.
Đạo sư Uddaka chăm chú quan sát Siddhattha một
hồi nữa rồi cặn cặn kẽ hỏi tên họ, dòng dõi, quê quán, xuất thân... Siddhattha tình
thật trả lời, ngắn gọn nhưng đầy đủ. Nghe xong, đạo sư có vẻ vui mừng:
- Ồ, có thế chứ! Phải là dòng dõi thượng đẳng
mới xuất sanh được một nhân cách phi phàm như thế chứ! Đúng là rồng phượng giữa
loài người!
Chợt đạo sư Uddaka xuống giọng:
- Này người bạn trẻ, này Siddhattha! Ta
đã già rồi. Sự sống của ta chỉ còn đếm trên từng hơi thở. Đệ tử dưới trướng, kể
cả người cao niên, hạ lạp lớn - kiến thức thì nông cạn, sở chứng thì giới hạn,
nhân cách thì tầm thường. Chẳng có ai để sở cậy cả. Chẳng có ai có đủ khả năng,
bản lãnh, trí tài, sở học, sở tu... để ta có thể giao phó kế thừa sự nghiệp.
Vậy, bắt đầu hôm nay,Siddhattha hãy ở lại đây, hãy ngồi ở chỗ này
để dẫn dắt hội chúng. Đạo tràng này là của bạn, nàySiddhattha! Hãy
vì ta mà phát triển giáo pháp cao thượng để lợi lạc cho phần đông...
Lúc hai người nói chuyện, ban đầu, chỉ vài người
nghe, lát sau, cả hội chúng đều hay tin. Thế rồi, miệng truyền miệng, tai
truyền tai, bây giờ, các đạo sĩ đã đứng lố nhố vòng trong, vòng ngoài để chứng
kiến sự việc hy hữu. Họ yên lặng như tờ. Hình ảnh một đức đạo sư, tám mươi
tuổi, đáng kính của họ - mà lại ân cần nắm tay một người trai trẻ, xem là bạn,
lại giao phó toàn bộ đạo tràng cho chàng nữa - làm cho hội chúng bàng hoàng.
Trình độ tu tập của chàng đã ngang hàng với sư phụ họ. Nhân cách, kiến thức và
trí tài cũng được đạo sư trân trọng, ưu ái đặc biệt như thế kia...
Chợt, Siddhattha bái tạ đạo sư Uddaka, rồi
thành khẩn nói:
- Tri ân sự tin cậy đầy nồng hậu của đức đạo sư.
Đệ tử dù được đức đạo sư dẫn dắt tu tập đến định cao nhất - nhưng sau khi rời
định, tâm đệ tử vẫn có cái gì đó còn lao xao, bất an. Dường như mọi tham sân,
phiền não tế vi vẫn còn nằm ở đâu đấy, lúc duyên cảnh, chúng sẽ phát sanh trở
lại...
Nghỉ hơi một lát, chàng tiếp:
- Thưa đức đạo sư tôn kính! Được đức đạo sư giao
phó trọng trách hướng dẫn đạo tràng là một đặc ân, một nghĩa cử thiêng liêng -
đệ tử xin ghi khắc tận đáy lòng, nhưng không thể thọ lãnh. Đệ tử còn cần phải
ra đi, còn cần phải tìm kiếm. Cứu cánh của lộ trình phải là bất tử, phải bước
ra khỏi vòng trầm luân, sinh diệt; phải đoạn tận tham sân si ở ẩn trong vô thức
tối tăm. Dù còn hơi thở cuối cùng, đệ tử quyết không thối thất con đường mà
mình đã chọn lựa.
Sau vài lần thuyết phục nữa, Siddhattha vẫn
một mực lễ độ từ chối, đạo sư Uddaka biết là không thể giữ
chân được chàng trai trẻ - một nhân cách siêu việt - ông thở dài. Hơn ai hết,
đạo sư Uddaka biết là Siddhattha nói đúng,
cái gì gọi là lộ trình bất tử vẫn nằm đâu đó ở phía trước, chàng ta ra đi là
phải. Chính ông, ông vẫn còn nhiều hoài nghi và nhiều câu hỏi. Sau này,Siddhattha chắc
hẳn sẽ tìm ra lời giải cuối cùng, sẽ thành tựu cái gì đó rất phi thường, chưa
hề có trên thế gian. Riêng hội chúng của đạo sư Uddaka đã kính
trọng lại tỏ ra càng kính trọngSiddhattha hơn khi chàng từ chối
chức vụ lãnh đạo, kế thừa sự nghiệp. Rõ ràng người bạn trẻ này đã không màng
địa vị, quyền uy và danh vọng. Một vài vị phàm tâm nổi lên, lấy bụng ta suy
bụng người - bây giờ mới vỡ lẽ ra Siddhattha không tranh giành
với ai cái gì cả, họ lại càng kính yêu và ngưỡng mộ chàng hơn.
Lúc trở về lều, người này người kia nắm tay
chàng ra chiều bịn rịn. Nhiều đạo sĩ đến ngồi quanh lều của Siddhattha, họ
muốn hiểu sự hoài nghi của chàng và lộ trình mai sau. Chàng tâm sự:
- Này các bạn! Siddhattha ôn
tồn nói - Tôi không tỏ vẻ cao đạo khi từ bỏ sự kế thừa một gia sản tinh thần
cao quý ấy. Quả thật, tâm tôi chưa yên, trí tôi chưa thông - dù đã đắc được
định cao nhất. Tôi phải ra đi. Đấy là tiếng gọi thiêng liêng và vô thượng của
đời mình. Tôi phải gỡ thoát tuyệt đối và trọn vẹn mọi ràng buộc ngoại giới cũng
như nội tâm. Tôi phải tìm cho ra đáp số chung cùng của mọi định phận tất hữu.
Sự giải thoát tối hậu mới là mục đích rốt ráo của tôi, thưa các bạn!
Khi Siddhattha thu xếp y bát và
một vài dụng cụ lặt vặt, chuẩn bị lên đường thì đạo sĩ Vappatìm
đến, đi theo sau còn bốn đạo sĩ khác nữa. Có một đạo sĩ lớn tuổi, tuy gầy gò
nhưng dáng dấp nhanh nhẹn bước tới, chăm chú quan sát Siddhattha từ
đầu đến chân rồi mừng rỡ thốt lên:
- Đúng rồi! Đúng là thái tử Siddhattha của
chúng ta rồi! Ôi! Lạy đức Rāma! Chúng ta đã gặp, chúng ta đã
gặp người xưa ở đây rồi!
Họ cùng ngồi xuống, hàn huyên tâm sự.
Hóa ra Siddhattha đã nghĩ đúng.
Đạo sĩ lớn tuổi chính là Koṇḍañña, vị bà-la-môn trẻ tuổi thông
thái thuở nào. Người đã quyết chắc chàng sẽ trở thành Phật Chánh Đẳng Giác. Bốn
vị còn lại là Bhaddiya, Vappa, Mahānāma[2] và Assaji -
chính là con của các thầy bà-la-môn tướng pháp. Họ đã cùng rủ nhau xuất gia làm
đạo sĩ, hy vọng sẽ gặp được Siddhattha trên lộ trình này khi
nhân duyên chín muồi. Và họ đã nghĩ đúng.
Đạo sĩ Vappa sau khi gặp Siddhattha tại
khu rừng Anupiyāvara, về sơn động, kể chuyện lại. Cả nhóm rất
vui nhưng họ chưa lên đường được vì Bhaddiya đang cảm sốt. Hơn
nửa tháng sau, cả năm người lại tìm đến đạo tràng của đạo sư Ālāra -
thì Siddhattha đã rời khỏi đấy nhiều ngày trước. Qua đàm đạo,
đạo sĩ Koṇḍañña được nghe thầy và bạn tán thán, khen ngợi Siddhatthakhông
hết lời. Ngoài thời gian ngắn nhất, Siddhattha đã chứng thiền
ngang bằng với đạo sưĀlāra, chàng lại còn biểu hiện rạng rỡ về tư
cách, phẩm hạnh và trí tuệ nữa. Việc từ chối kế thừa lãnh đạo không phải ai
cũng làm được.
Koṇḍañña rất hân hoan, rạng rỡ:
- Này chư hiền giả - Ông nói với bốn đạo sĩ đồng
tu - Thuở xưa ta đã không sai lầm, và bây giờ ta cũng không sai lầm! Chỉ nhìn
thấy dấu chân to lớn của Siddhattha ở nơi này, ở nơi kia - ta
biết rằng đấy là dấu chân voi của đức Chánh Đẳng Giác.
Đội nắng, dầm sương, năm vị đạo sĩ tìm đến khu
rừng Udāya - thì hay tin Siddhattha đã đắc
định cao nhất, lại vừa từ chối kế nghiệp đạo sư Uddaka. Danh thơm
của Siddhattha tràn qua tai mọi người, thơm ngát cả khu rừng
tĩnh mịch.
Vì biết cả năm vị đạo sĩ đều đặt để lòng tin nơi
mình nên Siddhattha đã không quản ngại nói chuyện lâu; trình
bày hết những sở đắc, sở kiến, những câu hỏi, những hoài nghi; sau rốt là dự
định khai mở con đường của chính mình như thế nào. Phải tự bước đi bằng đôi
chân đất rướm máu, hằn đau hữu hạn của chính mình như thế nào. Phải kinh nghiệm
chúng, phải cùng với nhịp đập, hơi thở và trái tim trên từng bước đi sáng tạo
của đời mình.
Các đạo sĩ há hốc lắng nghe. Tất cả đều là những
điều họ chưa biết. Kinh điển và tôn giáo truyền thống chưa ai nói như vậy. Có
cái gì rất mới mẻ, rất sáng sủa - dù lộ trình chưa được phong quang.
Đạo sĩ Koṇḍañña dè dặt hỏi:
- Tôi hiểu. Ồ, không phải hiểu - mà mơ hồ tôi
cảm nhận được. Nhưng bây giờ, ngài sẽ đi đâu?
Siddhattha thở dài:
- Chính tôi, tôi cũng chưa biết, chưa rõ. Nhưng
tôi sẽ đi, thưa chư tôn giả!
Đạo sĩ Koṇḍaññachợt cất tiếng to:
- Đừng, đừng nên như thế! Đừng gọi chúng tôi là
chư tôn giả! Ngay cả một vài tầng thiền thấp nhất của đạo sư Ālāra mà
chúng tôi, do ngu muội, vẫn đang còn lẩm ca lẩm cẩm. Rõ ràng, chúng tôi tu tập
vài năm vẫn không bằng ngài tu tập mấy ngày. Rồi còn thiền định bậc cao của đạo
sư Uddaka nữa - cả một thế giới mênh mông, chúng tôi chưa héo
lánh tới nơi mà ngài đã vượt qua rồi. Trong tương lai không xa lắm, ngài sẽ đắc
quả Phật. Vậy từ nay chúng tôi nguyện đi theo ngài như là những đệ tử. Xin
sa-môn Siddhattha Gotama chấp thuận cho!
Siddhattha nhăn mày nói:
- Tôi biết con đường của tôi còn nhiều chông
gai, gian khổ. Sợ rằng tôi chưa xứng đáng với sự mong mỏi của quý vị, sự kỳ
vọng của quý vị; và ngay chính tôi, tôi cũng chưa rõ lộ trình mai sau!
Đạo sĩ Koṇḍañña đáp:
- Không sao! Sa-môn Siddhattha Gotama đừng
quá tự khiêm. Ngài đi đâu cứ mặc, chúng tôi đi theo mà không nghi hoặc, đắn đo.
Chúng tôi phó thác toàn bộ đời sống tâm linh này cho sa-môn Gotama định đoạt.
Ôi, chỉ riêng cái bóng của sa-môn Siddhattha Gotama thôi - là
chúng tôi đã có đủ niềm tin, an tâm và mát mẻ rồi! Chúng tôi không ngại bất cứ
một khó khăn, gian khổ nào.
Siddhattha vui vẻ nói:
- Ồ, vậy thì tốt! Vậy thì chúng ta sẽ cùng ra
đi!
Họ từ giã khu rừng Udāya.
Mùa mưa cay nghiệt lại sắp đến rồi.
Từ ngoại ô Rājagaha, đi chênh
về hướng Tây nam, sáu bảy hôm sau là họ gặp dòng sôngNerañjarā. Đây là
cả vùng đồng ruộng, ao hồ, đầm lầy nên sự bộ hành khá vất vả. Lác đác đó đây là
xóm làng, cư dân khá đông đúc mà đời sống có vẻ no đủ hơn miền quê bên ngoàiKapilavatthu của
chàng.
Siddhattha đã đi tham vấn nhiều nơi, đại biểu cho nhiều học
phái, nhóm tu khác nhau; nhất là vừa bước qua hai thiền chứng cao nhất đương
thời - thế mà vẫn chưa giải quyết được những vấn đề sâu thẳm nhất của nội tâm.
Có lẽ học hỏi ở đâu cũng thế thôi, sao không tự tìm kiếm nơi chính mình, khai
phá con đường bằng nỗ lực của chính mình?
Chỉ thời gian mấy ngày, như chiếc bóng theo chân Siddhattha
Gotama, năm người bạn đồng tu cảm thấy bị cuốn hút mãnh liệt bởi ngôn ngữ,
cử chỉ, phong thái của chàng. Chỉ riêngKoṇḍañña đã an trú được nấc
thiền thứ ba, bốn người còn lại mới đi vào được nấc thiền một, hai nên họ muốn
chàng dẫn lên những cấp độ cao hơn. Siddhattha hoan hỷ chỉ
bày.
Thế là cứ mỗi độ đêm về, trong miếu hoang, dưới
những lùm cây, Siddhattha Gotama hướng dẫn bạn hữu một cách
tận tình, lại còn giảng giải rất chi li, khúc chiết, còn dễ dàng nắm bắt hơn
các bậc thầy của họ.
Tìm một đoạn sông cạn, họ vượt qua sông Nerañjarā,
đi một đỗi đường nữa, họ đến một dãy núi thuộc tụ lạc Uruvelā. Phía
xa dưới chân núi là một thị trấn sầm uất có thành lũy của quân đội thuộc đế
quốc Māgadha, trấn giữ phía Tây nam kinh đô. Đưa mắt nhìn tổng quát
địa thế sông núi, những sườn đá chớn chở - có lẽ là có nhiều hang động thiên
nhiên - Siddhattha Gotama nói với các bạn:
- Sắp đến thời kỳ gió mùa, mưa bão. Có lẽ đây là
nơi thuận lợi nhất cho chúng ta dừng chân. Vừa có thể tu tập vừa có thể đi khất
thực để nuôi mạng.
Chỉ một ngày sau là mọi người đã thu xếp ổn định
chỗ ở tu của mình. Ai cũng có hang động riêng không xa nhau lắm. Riêng Siddhattha Gotama thì
được Koṇḍañña nhường cho một cái hang tốt nhất. Nó có một mái
vòm dây leo hoa nở, trong động là một tảng đá bằng. Vất vả một chút là phải lo
quét dọn phân dơi.
Ngày thứ nhất họ đi khất thực. Thấy thức ăn
nhiều quá, nào cơm, bánh, chuối, xôi, nước sốt cà-ri... ăn không hết, phải đặt
trên tảng đá ngoài sơn động để bố thí cho khỉ, sóc, chim...Siddhattha đề
nghị ăn ít lại; từ nay, thay phiên nhau, chỉ đi khất thực hai người là có thể
tạm thời đủ cho sáu miệng ăn. Nên tiết kiệm thì giờ để tu tập. Ai cũng đồng ý
như thế. Họ coi Siddhatthanhư bậc thầy - nên muốn chàng chỉ việc
ngồi mà tu thôi.
Thế là ngồi tĩnh lặng trong sơn cốc tương đối
mát mẻ, suốt mấy ngày đêm liên tiếp,Siddhattha Gotama ôn lại tất cả
mọi kiến thức cũng như rà soát toàn bộ sự thực nghiệm tâm linh. Chàng thấy
rằng, tư tưởng Vệ-đà, thành tựu cao nhất là ở bộ Vệ-đàn-đà vẫn
còn nhiều thiếu sót ở lãnh vực tu chứng bản thân. Áo nghĩa thư rõ ràng là sự bổ
túc của người sau nên hệ thống triết lý có vẻ hoàn chỉnh hơn. Các giáo phái
thuộc truyền thống bị quy định bởi một Atman bất tử nên
không thể giải thích cho rốt ráo những thiện ác, phải trái, tốt xấu... trên đời
này. Riêng sự lập luận từ hệ thống tư tưởng của các học phái con đẻ của Vệ-đà thì
tương tự những người mù sờ voi, chúng chỉ là sự manh mún, chắp vá của thực tại
chứ chưa phải là thực tại. Đôi nơi cục bộ, áp đặt, một chiều. Ngoài truyền
thống, do phản ứng cực đoan nên nảy sinh quá nhiều biện thuyết ngông cuồng. Chỉ
có những kẻ ngu si mới tin vào các thuyết bất khả tri, hoài nghi, định mệnh, hư
vô, ngụy biện của họ. Và tệ nhất là anh chàng duy vật luận thô thiển, máy móc...
nhan nhản ở kinh thành Rājagaha.
Riêng sự thực nghiệm, Siddhattha thấy
rõ một điều: tư tưởng, nhận thức là cái dòng chảy trùng trùng, kế tục trùng
trùng giọt nước sinh và diệt. Từ chúng mà khởi sinh bất an, xao xuyến, lo âu,
phiền não, sợ hãi... Lúc đi vào các tầng thiền là các dòng nước cảm giác, tri
giác, tư tưởng lần hồi được yên lắng, yên lắng rồi ngưng dứt. Do ngưng dứt nên
được thanh tĩnh và phúc lạc. Nhưng khi rời thiền chứng thì các dòng nước kia
lại trôi chảy trở lại, chúng phan duyên với các đối tượng ngoại giới... rồi
tình trạng vẫn y hệt như cũ. Có lắng, có trong thật sự, nhưng cáu bợn vẫn còn
dưới đáy sâu tâm hồn.
Thế rồi Siddhattha Gotama vào
ra, lên xuống các tầng thiền để ngắm xem, một lượt, hai lượt nữa. Do khá thuần
thục nên bây giờ, chàng chỉ cần khởi tâm rồi trú tâm là có thể đi vào định dễ
dàng. Tại đây, chàng rút ra một kết luận: “Đây chỉ là trạng thái an
định tạm thời chứ chưa phải là cái rốt ráo, toàn diện. Ta phải thực tập nhiều
cách khác nhau để chiêm nghiệm xem thử cái gì là đúng, cái gì là sai, cái nào
giải quyết nội tâm rốt ráo và cái nào không rốt ráo?”
Siddhattha tiếp tục suy nghĩ: “Pháp môn khổ hạnh
chắc phải có một giá trị nào đó chứ? Nếu không có giá trị gì, tại sao nó lại
được duy trì, tồn tại, phổ biến trên thế gian như thế? Nó có dựa trên một sự
thực khả dĩ nào chăng?” Trong đầu óc Siddhattha Gotama chợt
hiện lên ba hình ảnh như ba tỷ dụ:
“-Thứ nhất là, như một cây còn tươi xanh, ngâm
trong nước - thì ta không thể nào cọ xát, để phát sinh ra lửa được. Tương tự
thế, người nào tự ngâm mình trong nước của dục lạc ngũ trần - thì tinh thần
người ấy không thể thăng hoa, nói gì chứng đắc những pháp cao thượng.
Thứ hai là, như một cái cây còn tươi xanh, nằm
trên bờ nước - thì cũng đừng hy vọng, đừng nỗ lực vô ích muốn cọ xát để lấy
lửa. Tương tự thế, có những sa-môn, bà-la-môn xuất gia, muốn thoát ly thế tục;
nhưng lại thường hay nằm gần dục lạc ngũ trần, khao khát dục lạc ngũ trần - thì
khó có thể đạt được những cảnh giới cao thượng.
Thứ ba là, như một thân cây khô, hoàn toàn không
còn nhựa, lại ở cao xa trên bờ nước; nếu muốn có lửa, người ta có thể cọ xát mà
mất rất ít công sức, chẳng mấy khó khăn. Cũng vậy, những sa-môn, bà-la-môn đã
lìa xa dục lạc ngũ trần, không còn bị chi phối của dục lạc ngũ trần, lại còn
muốn làm cho khô cạn nước dục lạc ngũ trần - thì người ấy sẽ chứng đắc những
pháp tối thắng, giải thoát toàn mãn.”
Sau rốt, Siddhattha Gotama lại
nghĩ: “Ta đã lìa xa dục lạc ngũ trần rồi. Xa nhưng chưa diệt. Vậy ta
hãy thử công phu tu tập rút cho cạn kiệt nước dục lạc ngũ trần xem sao! Phải
thực tập ngay chính nơi bản thân mình, sau đó mới biết là nó đúng hay sai!”
Siddhattha Gotama bèn tìm gặp các bạn, trình bày mọi lý lẽ,
nhận thức cùng kinh nghiệm tu chứng của mình, rồi kết luận:
- Ta muốn thực tập con đường điều phục thân xác,
chế ngự toàn vẹn mọi cảm giác theo truyền thống khổ hạnh tự ngàn xưa. Các bạn
nghĩ thế nào?
Vì tin tưởng vào thầy của mình nên những người
bạn đồng tu đều gật đầu đồng ý.
Là khu rừng nhiệt đới vào cuối mùa khô hạn nên
cây cối bắt đầu rụng lá. Đây đó, từng cụm, từng vùng là những thân cây sāla cao
lớn sừng sững là còn hiên ngang xanh lá. Ven khu rừng thưa, áp sát chân đồi ra
tận bờ sông Nerañjarā là những thảm thực vật lổ chổ xanh vàng.
Những cụm cây thảo, cây hoa... còn thưa thớt lá. Riêng các loại tre trúc thì
sâm si rậm rạp, mọc tràn lan, vô trật tự nhưng chúng lại rất xanh mát ở ven
sông.
Khái quát rừng cảnh như thế thì cũng chẳng có gì
là đẹp đẽ, hữu tình cho lắm; còn sự yên tĩnh thì cũng tương đối vì động vật các
loại lui tới, thăm viếng khá nhiều. Trên các hang động, trên các kẽ đá, vòm
cây... các chú dơi treo lủng lẳng những túi đen nhung, tối tối là chúng bay tản
mác, bay rần rật giữa không gian để săn mồi, chụp bọ, ăn trái... Thỉnh thoảng
các loại chồn bay, bay từ cây này sang cây khác. Sóc thì đủ loại, đủ sắc nhởn
nhơ chạy nhảy, leo chuyền hoặc túc tắc ăn hạt, cắn củ. Lâu lâu lại xuất hiện
một bầy khỉ đen, bầy khỉ nâu đỏ, bầy khỉ vàng xám đến phá phách, la hét chí
chóe... cõng con, dắt cái đùa giỡn khắp nơi. Chúng đến như một cơn bão và ra
đi, trả lại sự yên tĩnh cho rừng lặng. Trên đám đất bằng, cỏ vàng úa, bầy linh
dương ghé ngang, màu sắc rất đẹp, thanh thản gặm những chòm lá còn sót lại. Mấy
đàn nai cũng thế, hồn nhiên rảo qua, thân hình gầy khô vì khan hiếm cái ăn.
Chim chóc thì muôn loại, hót lưu liên, tấu nhạc từng khúc, từng hồi; một vài
giọng lanh lảnh, cao vút, réo rắt... rồi bay về phương khác.
Siddhattha Gotama ở riết trong hang suốt thời gian gió bão
và những trận mưa đầu mùa. Ngoại cảnh không dao động được chàng. Lúc này, chỉ
còn một người đi khất thực, họ giới hạn thức ăn nên khẩu phần của mỗi người chỉ
bằng nắm tay.
Mặc cho mưa gió gầm gào, Siddhattha tiếp
tục kiên trì cách điều phục xác thân. Chàng ngậm cứng hai hàm răng lại, chận
lưỡi trên nóc họng, để đè nén tâm. Ví như một lực sĩ dùng toàn bộ sức mạnh đè
đầu đè cổ một người yếu đuối, không cho vẫy vùng, không cho nhúc nhích. Cũng
vậy, chàng đè tâm, nén tâm, không cho bất cứ một tư tưởng lao xao nào khởi lên.
Khi làm như thế, do tổn hao quá nhiều sức lực nên cơ thể nóng ran lên, mồ hôi
tuôn chảy ra hai bên nách. Tuy nhiên, dù quyết chí có dũng mãnh, nghị lực có
phi thường nhưng tâm niệm lao xao vẫn không lắng dứt, sự an tĩnh tâm hồn cũng
không tìm thấy.
Siddhattha Gotama lại chuyển qua cách điều phục xác thân
bằng cách nín thở, nín thở càng lâu càng tốt. Khi thực tập như thế, chàng nghe
cơn đau khủng khiếp từ trong đầu, vì âm thanh của tiếng gió thoát qua hai lỗ
tai, giống như ống bệ thợ rèn thụt lên thụt xuống...
Lại nín thở nữa, trong đầu chàng, một cơn gió
hung dữ thốc lên, đâm sâu, khoét sâu vào óc - như ai đó lấy lưỡi búa bửa cái
đầu ra làm nhiều mảnh. Và hai lỗ tai máu rỉ ra, khốc liệt đau đớn! Tuy nhiên,
kiên trì, tăng thêm sức mạnh ý chí, chàng nín thở với thời gian lâu hơn nữa. Và
cái đầu của chàng nhức nhối như bị người ta lấy cái niềng sắt nung đỏ niềng
lại, siết chặt.
Tuy nhiên, Siddhattha Gotama vẫn
kiên cường chịu đựng, tìm cách nín thở lâu hơn thế nữa. Bây giờ, có lẽ cái đầu
đã tê liệt cảm giác, cơn đau chợt thọc sâu vào bụng. Như một tay đồ tể thiện
xảo mổ bò, y thọc lưỡi dao bén vào bụng, sau đó lách lưỡi dao đi sang hai mạng
sườn. Sự đau đớn tưởng như cùng độ rồi. Lại nín thở thêm nữa, từ bụng, cơn đau
kinh khiếp lan truyền ra cả toàn thân; y hệt như người ta túm lấy cái thân của
chàng, đem đặt trên một lò than hồng, quay lui quay tới để nướng trui. Mọi cảm
giác ở nơi thân, có lẽ đã quá sức chịu đựng của nó.Siddhattha thấy
mình vẫn còn bất khuất, nhưng chàng chỉ buồn là sự an tịnh tâm hồn vẫn không
tìm thấy.
Sau hơn bốn tháng thực hành hạnh nín thở, Siddhattha ngồi
trơ bất động như tượng đá. Có một số chư thiên ở gần đấy nói chuyện với nhau:
- Có lẽ sa-môn Gotama chết rồi
chăng?
- Không phải là chết rồi mà là đang chết.
- Chẳng phải chết rồi, chẳng phải đang chết; là
pháp hành của bậc A-la-hán đấy!
Riêng năm người bạn đồng tu, cũng thực hành nín
thở như vậy nhưng rất giới hạn, họ không thể đi đến tận cùng như Siddhattha
Gotama; do vậy sự kính trọng chàng trong lòng họ lại được tăng thêm một
bậc.
Thấy thực hành phép nín thở không mang lại hiệu
quả mong muốn, chàng từ bỏ hang động, tìm đến những chỗ hoang vắng, heo hút
trong rừng sâu. Bây giờ mùa mưa qua rồi - qua thật nhanh do chàng trú sâu trong
phép tu, không có ý niệm về thời gian - nên chàng muốn ngồi ở ngoài trời, dưới
cái lạnh đã gần đóng băng! Siddhattha Gotama nghĩ rằng, giữa
quạnh hiu của rừng già có cái gì đó làm người ta khiếp đảm, dựng cả tóc gáy.
Phải đến ngồi tại đó để xem sự sợ hãi nó đến như thế nào, nó đe dọa như thế
nào, nó khủng bố như thế nào. Phải vượt thoát tất cả mọi sự sợ hãi bất cứ từ
đâu đến, khi ấy mới nói đến chuyện tu tập để đạt được những thành tựu cao hơn.
Thế rồi chàng ngồi, trong đêm sâu mù mịt, không
trăng không sao, chỉ có những tiếng gió thổi rì rào và hơi lạnh càng khuya càng
buốt giá.
Một cành cây gãy lắc cắc... chàng lại tưởng một
con dạ-xoa hung dữ khua hai hàm răng đang từ từ, rón rén bước đến sau lưng
chàng. Sự sợ hãi ùa đến, lạnh buốt sống lưng rồi rần rần chạy khắp cơ thể, lên
đến đỉnh đầu, và hai hàm răng chàng tự dưng cứng lại. Siddhattha ngồi
yên, ý chí kiên định, vững vàng, nhất tâm ngồi yên... để lắng nghe sự sợ hãi
ấy... Lát sau, sự sợ hãi tan dần, nóng ấm trở lại với cơ thể, sự sợ hãi đã ra
đi...
Trong đêm tối đen, bóng con gì trườn xào xạc
trong lau lách! Con trăn chăng? Phải rồi, một con trăn to lớn làm cho những
cành cây, bóng lá lung lay... định đến nuốt chàng đây. Thế rồi một mùi nồng nặc
tanh tưởi lan tỏa... Sự sợ hãi ập đến chàng như cơn gió thốc mạnh, lát sau làm
cho chàng bủn rủn, tê liệt cả người. Bủn rủn, tê liệt... chàng kiên định lắng
nghe, sự sợ hãi đã đồng hóa cả thân tâm, chỉ còn một khối duy nhất. Lắng nghe,
lắng nghe, bất động, kiên trì... lát sau, sự sợ hãi giãn ra, như tự cởi nút
thắt buộc... từ giã chàng và ra đi không dấu tích.
Thế rồi, đêm này sang đêm khác, có những đêm
nhợt nhạt ánh sao trời... tiếng cú rúc, bóng một con nai đi ngang qua, tiếng
một con dơi vút qua đầu, tiếng hú của vượn, tiếng cọp “bép bép” đâu
đó bên tai...; chúng đều đem đến sự sợ hãi cho chàng. Lúc thì thót bụng. Lúc
thì quả tim đập thình thịch. Lúc thì toát mồ hôi. Lúc thì cứng như đá cả toàn
thân. Siddhattha Gotamaghi nhận hết, cảm giác toàn bộ chúng; và dẫu
sự sợ hãi có đến tột cùng, chàng vẫn ngồi yên lặng, không nhúc nhích.
“- Ồ - Chàng nghĩ - Khi sợ hãi tác động tâm lý,
nếu tâm lý yếu đuối, bạc nhược... thì thân thể sẽ bị cuốn theo. Như vậy, thân
tâm nằm trong định luật tương quan. Trường hợp khác, tuy thân tâm tương quan,
tâm sợ, thân ảnh hưởng; nhưng nếu ý chí kiên định thì sự sợ hãi sẽ được giải
tỏa; cả thân và tâm đều được giải thoát xích xiềng. Như vậy, có cái gì đó ở
trong tương quan mà
nhìn ngắm tương quan?”
Một chút tư duy lóe sáng lạ lùng ấy đã làm cho Siddhattha mỉm
cười. Quả thật, núi rừng quạnh hiu thật khó kham nhẫn, thật khó chịu đựng...
nhưng nó cũng là nơi tối thắng để trầm tư, chiêm nghiệm những máy động ẩn mật,
sâu hút trong lòng ta.
Mùa lạnh đã đến rồi, chỉ một manh áo mỏng, Siddhattha
Gotama vẫn dễ dàng duy trì khổ hạnh. Năm người bạn đồng tu đôi khi bất
kham, phải đốt một đống lửa. Họ thú nhận là không thể tinh tấn kiên định như
chàng được. Siddhattha Gotama nói với họ rằng, thật là may mắn
cho chúng ta tìm được một khu rừng thuộc Trung bắc Ấn Độ, nếu lên phương Bắc,
các đạo sĩ ở Tuyết Sơn còn phải chịu đựng cái rét cay nghiệt hơn nhiều.
Ngày tháng qua đi, thân thể của sáu người chỉ
còn là bộ xương còm cõi lui tới. Khi vật thực mỗi ngày chỉ còn bằng quả cam,
quả ổi thì năm người bạn, đều đã kiệt sức, lả đi. Riêng Siddhattha Gotama khuyên
các bạn, đừng chia phần cho chàng nữa, và chàng muốn chỉ ăn cái gì kiếm được
như vài nắm lá, rau hoặc củ trái đâu đó...
Chưa hết mùa lạnh, tấm áo năm xưa của Siddhattha đã
rách te tua và cái bát đất của chàng cũng đã bị lũ khỉ quăng vỡ. Hôm kia, từ
khu rừng đi ra gần tận mép sông, Siddhattha muốn ngồi thiền
giữa bãi nghĩa địa xương trắng, chợt chàng nhìn thấy một tấm vải bó tử thi.
Quan sát, đấy là xác của một người nữ không còn nhìn rõ khuôn mặt. Xác đã thối
rửa. Chàng kéo tấm vải ra, tấm vải còn tốt. Chàng xuống sông tắm, giặt tấm vải,
tạm thời vắt cho ráo rồi phơi trên khóm cây. Chỉ với một ít động tác mà chàng
đã run rẩy, quờ quạng, nằm lả bên mép bờ... Lúc nắng hanh lên, Siddhattha tỉnh
lại, quàng tấm vải vào người rồi thất thểu bước đến một khu rừng xa hơn nữa.
Mùa xuân qua đi, mùa hạ đến... ngày ngày Siddhattha chỉ
ăn uống rất ít và ngồi ngoài trời mặc cho nắng nung đốt. Cái lạnh qua được thì
cái nóng cũng phải qua được. Chàng thử nghiệm. Bây giờ chỉ duy trì chút nước để
xem thử cái đói, cái không ăn nó hành hạ xác thân như thế nào.
Thế rồi, cái thân khô đi, quắt lại. Cơ thể do ăn
quá ít nên đưa tay sờ bụng thì đụng lưng. Thò tay đến đâu thì lông rụng từng
đám. Tuy nhiên, Siddhattha còn thử nằm trên gai nhọn, còn thử
không ngồi mà chỉ đứng, còn thử ngồi chồm hổm trên gót chân nhiều ngày mà không
thay đổi oai nghi...
Đến năm ngày sau thì Siddhattha không
còn tắm rửa, nhưng có nguyện ăn vật gì trong tầm tay lượm được. Vải bó tử thi
đã rách, chàng lấy da cây, rơm, cỏ khô, lá... để kết quanh người. Đôi khi chàng
ngồi một đống, một hòn nơi nghĩa địa thiêu xác hay tại bãi cỏ chăn bò. Bọn trẻ
nghịch ngợm đến khạc nhổ trên người, tiểu tiện nơi mình chàng hoặc đứng xa để
ném đất, ném đá... Thấy hành hạ kiểu gì cái “ông người kia” vẫn
bất động, chẳng nói, chẳng la, chẳng phản ứng gì; chúng lại đến gần, lân la lấy
cọng cỏ ngoáy vào hai lỗ tai chàng...
Lại có lúc, chàng trốn vào rừng sâu, không còn
nghe, không còn muốn thấy bóng dáng của con người. Năm người bạn đồng tu còn
duy trì chút ít vật thực nên còn thấy một chút máy động của sự sống. Còn chàng,
qua nhiều năm đã khổ hạnh tận cùng, họ không còn nhìn ra Siddhatthanăm
xưa nữa. Tay và chân của chàng là các lóng tre đen đỉu, khúc khuỷu nối kết với
nhau. Hai bàn tọa của chàng trông giống như hai cái móng trâu. Xương sống và
cột tủy của chàng lồi ra trông giống như một cái chuỗi hạt. Xương sườn của
chàng lồi ra, lộ rõ như những hanh rui của một ngôi nhà đổ nát. Đồng tử của
chàng thụt sâu vào bên trong hố mắt như cái giếng sâu. Da đầu thì nhăn nheo như
trái mướp đắng phơi khô. Lưng và bụng dính làm một. Nếu muốn đại tiện hoặc tiểu
tiện thì chàng phải ngã úp mặt xuống đất, lâu lắm mới gượng dậy nổi.
Lúc này, năm người bạn đồng tu đã thán phục tận
cùng. Còn chư thiên thì bàn luận với nhau:
- Nước da của sa-môn Gotama màu
gì nhỉ?
- Màu xanh!
- Không, màu chàm!
- Không đúng, màu chàm đất!
- Không phải, cả màu đen, màu xanh, màu xám và
cả màu chàm đất hòa trộn với nhau!
- Còn thân thể thì sao?
- Là bộ xương khô!
- Bộ xương khô sao lại còn sống?
- Gọi là bộ xương khô sống!
Có một vị thiên lớn hơn, oai đức hơn thì nói:
- Các bạn đừng hý ngôn nữa. Hãy xem ý chí và
nghị lực tối thượng của Người. Mai sau, chắc chắn Người sẽ thành tựu Con đường
Bất tử.
Từ khi dùng miếng mồi Chuyển luân Thánh vương
vẫn không quyến rũ được Siddhattha Gotama ở ngoài cổng thành Kapilavatthu, Ma
vương theo dõi ngài từng bước chân, từng hơi thở, từng tâm niệm. Gần suốt sáu
năm ròng rã, Ma vương thấy người con trai bất khuất, kiên cường ấy chưa hề có
một giây phút nào là ngã lòng hay mềm yếu. Như một cội cây mà bộ rễ đã cắm quá
sâu vào lòng đất, khó có cơn gió bão nào lay động được. Rồi thời gian qua,
dường như ý chí kiên định, kiêu dũng ấy càng được củng cố chắc khỏe hơn... Hãy
nhìn kìa! Ma vương tự nói với mình, ngay khi khổ hạnh đã đến giai đoạn cuối
cùng, chỉ còn bộ xương khô, chư thiên bàn tán với nhau không biết sống hay chết
mà ông ta vẫn khư khư bất động như đỉnh Sineru. Thế là ông ta sẽ thành Phật mất
thôi! Bây giờ ta phải lựa lời ngon ngọt để ông từ bỏ khổ hạnh mới được.
- Này ông sa-môn - Ma vương nói - Hãy nhìn xem
thân hình tiều tụy, bạc nhược, còm cõi, xấu xí của ông kìa! Ở đấy, chỉ một phần
sống lắt leo trong một ngàn phần chết. Hãy tỉnh thức mà đứng lên, này ông
sa-môn. Sự sống quý báu vô cùng. Một cọng cỏ cũng muốn sống. Một cái kiến cũng
muốn sống. Có sống thì ta mới làm được việc này việc kia có ích cho mình và có
ích cho đời. Ông sa-môn có thể cứ sống đời đạo sĩ, bồi bổ lại thân xác và cúng
tế thần lửa. Cúng tế thần lửa là một hành động tín ngưỡng tối thượng đem lại
nhiều phúc lạc cao quý cho mai sau...
Chỉ nghe miệng lưỡi, không nhìn, không hướng
tâm, Siddhattha Gotama cũng biết đấy là Ma vương; ngài muốn
dạy cho nó một bài học:
“- Này, Namuci[3], ngươi là kẻ xấu xa, quỷ quyệt mà còn bày trò
giở giọng tốt lành, thân thiện. Ngươi là đại biểu cho bóng tối, ngu si, độc ác,
gian trá và tội lỗi. Ngươi đến đây không phải vì lợi ích cho ta, mà chính vì
dục vọng đê hèn và tham vọng quyền lực tối tăm của ngươi. Đừng nói chuyện công
đức và phước báu với ta. Ta tu hành như thế nào thì ta tự biết. Đấng thần lửa
là trò mê tín của thế gian do các ông thầy tư tế ngụy tạo ra. Đừng bày trò linh
thiêng để mê hoặc quần chúng ngu si. Ta có một đức tin rất vững chắc (saddhā),
ta có một sự nỗ lực, tinh cần rất quyết liệt (viriya), ta có một năng lực kiểm
soát, chú tâm, theo dõi tâm rất cẩn mật (sati), ta có một bình tĩnh, định tĩnh
khó gì có thể xao động nổi (samādhi), ta có một sự tỉnh thức, tỉnh táo, thông
tỏ toàn bộ vận hành của thân tâm (paññā). Với năm sức mạnh như vậy mà ngươi còn
đến đây muốn lung lạc, đường mật với ta sao?
Có một điều ngươi nói đúng, Ma vương ạ! Gió thổi
mãi hoặc lửa đốt mãi thì tứ đại sẽ bất hòa. Gió ngưng thổi, lửa tắt ngúm thì tứ
đại sẽ tiêu vong. Hiện tại, ta biết rõ lửa trong ta đã nguội, nước trong ta đã
khô. Nước khô, lửa nguội thì máu ta sẽ cạn. Máu cạn thì mật cũng cạn và thịt
cũng theo đó mà teo tóp, nhăn nheo như trái mướp khô. Điều ấy đúng với định
luật khi chẳng có gì nuôi dưỡng sắc chất. Tuy nhiên, thể xác được triệt tiêu
tham muốn thì tinh thần không còn bị ngục tù, nô lệ nữa. Và như vậy, tinh thần
sẽ được thăng hoa, nhẹ nhàng, thanh tịnh, vô nhiễm. Tâm càng thanh tịnh thì
định càng an trụ. Định càng an trụ thì tuệ càng sáng suốt. Chắc ngươi cũng biết
thế chứ? Ta là một hữu tình bằng xương, bằng thịt, ta cũng biết đau đớn, vật
vã, quằn quại khi cái đói giày vò, hành hạ. Tuy nhiên, ta sẽ chiến thắng! Ta
treo lên ngọn cờ ý chí một chùm cỏ Munja! Ta thà chết giữa chiến trường tâm
linh vinh quang còn hơn sống nhục nhã trong thất bại! Ngươi hãy đi đi thôi!”
Thế là Ma vương, một lần nữa, thua cuộc, thất
thểu bỏ đi.
Như được rèn thêm ý chí, con người kiên nghị,
bất khuất ấy không chịu bỏ cuộc; đôi khi chàng ngồi một chỗ để cho nắng, mưa,
gió, sương... hành hạ; chỉ lượm được cái gì trong tầm tay để ăn, kể cả phân bò
non. Nếu xung quanh không có gì thì chàng nhịn ăn từ ngày này sang ngày khác.
Siddhattha không ăn không uống gì trong nhiều ngày thì có tiếng nói
vọng rõ ràng bên tai:
- Nếu sa-môn Siddhattha không
dùng gì thì chư thiên sẽ cho thấm vật thực vào các lỗ chân lông.
- Như thế là không được - Siddhattha đáp
- Như thế chẳng khác gì ta là kẻ dối trá.
- Thế thì sa-môn Gotama hãy thọ
thực trở lại, nếu không, ba ngày nữa sẽ chết.
- Ta đâu có sợ chết.
- Sa-môn Gotama quả thật không sợ chết, nhưng
Con đường Bất tử thì sao? Sa-môn đã chứng đắc quả vị Vô thượng như lời nguyện
thuở xưa chưa?
Siddhattha rùng mình, người như tỉnh táo trở lại, một ý nghĩ khởi sanh
nơi chàng: “Sự khổ hạnh, ta cũng đã khổ hạnh tận cùng. Ta cũng đã vắt
kiệt nước dục lạc ngũ trần ở nơi ta để cho cái thân không còn một chút cảm giác
nào - thế nhưng nội tâm ta cũng không an ổn. Trong quá khứ, hiện tại hay vị lai
- các sa-môn, bà-la-môn nếu có hành khổ hạnh, chịu mọi sự đau đớn, quằn quại,
khốc liệt, kinh khủng - thì có lẽ cũng không hơn ta được. Ta đã cảm nghiệm sự
tương quan giữa thân và tâm; nó là cái gì không thể tách rời. Hành hạ xác thân,
như vậy cũng có nghĩa là hành hạ tâm trí. Khổ hạnh, theo sự thấy biết lẫn sự
chiêm nghiệm sâu sắc của ta - là một pháp môn sai lầm.”
Như đọc được ý nghĩ của Siddhattha,
trời Sakka muốn củng cố nhận thức đúng đắn cho chàng, nên như
viên lực sĩ co duỗi cánh tay, đã hiện xuống khu rừng Uruvelā trong
dáng dấp một gã chăn bò lang thang ôm cây đàn ba dây.
Chàng nhạc sĩ lang thang như vô tình ngồi nơi
tảng đá dưới gốc cây, bắt đầu thử dây đàn. Sợi thứ nhất, quá “chùng” nên
âm thanh “bùng bình... bùng bình” không ra gì cả.
Chàng nhạc sĩ mỉm cười, qua sợi dây thứ hai, hắn vặn “căng” lên,
căng mãi - nên sợi dây đứt phụp! Đến sợi dây thứ ba, hắn cẩn thận, từ từ, căng
ra nhưng căng từ từ, đến độ chừng mực, vừa phải... rồi hắn gảy một khúc nhạc.
Ôi, âm thanh như từng hạt bảo châu thanh trong va động giữa không gian; sau đó,
lại du dương, trầm bổng, thánh thót như giọng chim hòa tấu.. như cung đàn muôn
điệu của mùa xuân. Thế rồi, gã nhạc sĩ lang thang rời tảng đá, vừa đi vừa gảy
vừa hát. Ôi, tiếng đàn, khúc nhạc, lời ca... như quyện lẫn, chan hòa, vui tươi,
hoan hỷ... chảy tràn ra, len thấm vào mây trời, len thấm vào từng đầu cây, cọng
cỏ... xa dần rồi biến mất.
Siddhattha ngồi lặng. Nắng loãng nhẹ và mỏng, hiu hiu, mơn man, vuốt
nhẹ lên làn da khô gầy, đen đỉu. Một cảm giác dễ chịu, an bình đi sâu vào tâm
hồn. “Chùng quá thì không gảy được. Căng quá thì đứt. Khi nào sợi dây
đàn căng đúng độ, chừng mực... thì âm thanh mới tuyệt hảo.”
Siddhattha lại nhớ rằng, thuở ấu thơ, lúc đi dự lễ hạ điền với vương
phụ, chỉ cần ngồi hít thở thanh thản là đi được vào định sơ thiền. Trong tháng
năm thực tập thiền bốn nấc của đạo sưĀlāra, đôi khi chàng trú thâm
sâu vào hỷ lạc. Do thân an vui, tươi mát nên tâm cũng được an vui, tươi mát.
Như vậy là có một loại thực phẩm, đó là hỷ lạc, nó nuôi dưỡng tâm -
nên thân cũng được khỏe khoắn, nhẹ nhàng, dễ chịu.
Và kể từ khi đi lên các tầng thiền vô sắc là ta
đã từ bỏ hỷ lạc, chỉ còn cảm giác xả quân bình, và sống trong thế giới của
không, của thức, của tưởng vi tế.
Rồi chàng nghĩ tiếp: “Đời sống, cái được gọi
là đời sống là cái gì nhỉ? Nếu được gọi là đời sống thì phải là toàn bộ thực
tại, toàn bộ thân và tâm, nghĩa là toàn bộ thân sắc, cảm giác, tri giác, ý chí
và nhận thức. Vậy tại sao ta muốn từ bỏ cái này, tìm kiếm cái kia? Tại sao ta
đã có thời gian muốn từ bỏ cảm giác - chỉ sống với cái “tưởng” mà thôi? Còn khổ
hạnh là gì? Triệt tiêu thân xác chăng? Ta muốn diệt cái thân xác chăng? Và dẫu
ta đã tận trừ cảm giác và thân xác cho đến hồi gần như chết thì ta có được gì?
Dây đàn căng thì nó sẽ đứt.”
Như tìm ra đáp số. Chàng chậm rãi đứng dậy, dịu
dàng đưa mắt nhìn quanh. Hít một hơi thở đầy, chàng chợt nghe hương rừng thơm
ngát. Nhiều sắc hoa nở đẹp mà từ lâu chàng đã không thấy. Một chú sóc vàng chợt
xù đuôi trong hốc cây, thò lỏ mắt nhìn chàng. Siddhattha cúi
xuống nhìn mình. Thật là không còn nhân dạng gì. Tấm áo vỏ cây, lá cây... đều
rách nát tả tơi. Chỉ còn bộ xương khô lủng lẳng đeo dính các đốt xương lại với
nhau. Nước da vàng ròng mỹ diệu với sắc tướng phi phàm, bây giờ rõ là bóng ma
một con quỷ đói. “Ta phải tìm một tấm vải bó tử thi nào còn lành lặn,
xuống sông tắm rửa sạch sẽ rồi ta sẽ bắt đầu đời sống tu tập theo lời mách bảo
của gã nhạc sĩ lang thang - nghĩa là không “chùng”quá mà cũng không “căng”
quá!”
Kiếm một cây gậy, chàng chống từ từ và chậm rãi
lê từng bước qua bên kia nghĩa địa. Đi năm bảy bước, chàng phải dừng lại để
thở. Riết rồi cũng đến nơi. Tìm là có. Ồ, một tấm vải màu vàng đất bó gọn một
tử thi chẳng rõ nam nữ quăng bỏ đây đã lâu. Chàng nói nhỏ: “Hãy cho ta
tấm vải mà ngươi đã không còn sử dụng nữa. Ít hôm nữa thôi là thân xác ngươi
cũng trả về cho tứ đại.” Chàng rút tấm vải, phải dùng sức mạnh, thở
gấp mới lấy tấm vải ra được. Tấm vải dính máu, dính mủ đã khô.
Siddhattha lần đến bờ sông, dựa bên mép sông có mấy tảng
đá, chàng giặt sạch tấm y, phơi trên đá, sau đó tắm rửa, kì cọ rất lâu. Dừng
lại, thở một hồi rồi chà xát cho kỳ hết bụi đất, cáu ghét, lớp da chết trên
người. Sau đó, do mệt quá, Siddhattha nằm ngủ một giấc vô tư,
vô lự. Khi tỉnh dậy, chàng nghe tinh thần sảng khoái, lấy tấm y vàng đất đã khô
ráo, quàng vào người rồi cất bước lên hướng rừng. Do sức lực dường như đã sử
dụng hết năng lượng cuối cùng, chàng nằm gục trên đám cỏ. Nằm bất tỉnh như thế
không biết bao lâu - thì có một bé gái, theo lệ thường mang sữa đề-hồ, bánh,
hoa trái đến cúng cho thần linh tại gốc cây gần đó. Trông thấy một vị sa-môn
gầy khô, nằm thoi thóp thở, cô bé biết nhà tu khổ hạnh này do đói đã quá lâu
ngày nên kiệt lực. Động mối từ tâm, cô bé đã tự ý quỳ xuống bên cạnh, lấy ngọn
lá làm thìa, đổ chút ít sữa vào miệng. Khi những giọt sữa đầu tiên đi từ môi,
chàng nhắp nhắp, qua lưỡi, thấm xuống cổ họng rồi đi vào dạ dày; cảm giác dễ
chịu từ từ lan thấm cả châu thân. Cô bé mỉm cười, trao nguyên hủ sữa có nắp đậy
cho chàng. Chỉ lát sau là chàng uống hết hũ sữa, người tỉnh táo trở lại.
Chàng nói:
- Cảm ơn cháu gái. Cháu ở đâu? Đến đây có việc
gì, mà cho ta một bát sữa kỳ diệu đến thế?
Cô bé mỉm cười, rạng rỡ niềm vui:
- Cháu ở trong làng. Chủ của cháu, một bà chủ
tốt bụng thường sai bảo cháu đến gốc cây gần bờ sông để cúng sữa, bánh trái cho
vị thần linh.
Siddhattha mỉm cười:
- Rồi cháu thấy ta sắp chết nên đã tự ý dâng hũ
sữa cho ta, vậy không sợ bà chủ rầy la sao?
- Không - Cô bé mở tròn mắt đen láy - Bà chủ
cháu tốt bụng lắm. Bà chủ không rầy la đâu, mà còn khen ngợi nữa. Bà chủ thường
dạy: Giúp một người đói khổ, cứu một người sắp chết là sẽ được phước đức nhiều
lắm.
- Ồ, tốt lắm! Giỏi lắm! Cháu tên gì thế?
- Dạ, cháu tên Punnā. Bà chủ
của cháu là Sujātā, con gái của ông triệu phú Senānī,
ở tại làngSena cũng gần đây thôi.
Thế rồi, tất cả đề-hồ, bánh trái còn lại, cô bé
dâng hết cho Siddhattha Gotama; và nhờ thế mà chàng khôi phục
sức khỏe rất nhanh.
Ngày hôm sau, Siddhattha Gotama từ
bỏ hang động, xuống sống ở cội cây có tàn xanh bóng mát cạnh bờ sông. Chàng đã
quyết định từ bỏ khổ hạnh, sẽ đi theo lộ trình trung đạo.
[1] Chừng 168 - 180 năm sau Phật nhập diệt,
quân đội A-lịch-sơn đại đế ba lần tấn công ba lần bị đẩy lui, thất bại, phải
rút về.
[3] Tên khác của Ma vương. Có 5 loại Ma vương: Chư thiên
ma vương (Devaputta), phiền não ma vương (kilesa), pháp hành ma vương
(saṅkhāra), ngũ uẩn ma vương (pañcakhandha), tử thần ma vương (maccu).
TẤM NỆM CỎ KUSA
Đêm rồi, Siddhattha Gotama trải
qua một giấc ngủ ngon, sáng ngày chàng thấy sinh lực dồi dào chảy tràn trong cơ
thể.
Nắng sớm vàng trong, gió nhẹ lay động cành lá.
Với tinh thần phơi phới, chàng đi kinh hành lui tới ven sông. Xế trưa, cô bé Punnā lại
tìm tới với sữa, đề hồ và bánh trái.
- Cháu lại đến cúng thần linh nữa à?
- Dạ vâng! Rồi cô bé kể - Bà cháu lúc còn là con
gái, thấy cội cây Assattha to lớn, uy nghiêm này - nghĩ chắc
là có thần linh - nên thường đến đây cầu nguyện “xin cho tôi có được
một tấm chồng cùng dòng dõi huyết thống, vừa giàu sang vừa đẹp tính, đẹp người;
sau đó cho tôi sinh được một bé trai khôi ngô, kháu khỉnh, dễ dạy, dễ bảo. Tôi
sẽ lễ tạ thần linh bằng cơm, sữa, bánh trái trọng hậu nhất”. Thế rồi,
nguyện ước xưa giờ đã thành tựu.
Siddhatha Gotama ngồi xuống cho vừa tầm bé gái, mỉm cười.
Cô bé Punnā đều đều tiếp:
- Cái cội cây Assattha có thần
linh này đã cho bà chủ cháu một tấm chồng như ý, lại còn ban một bé trai đẹp đẽ
như con trời. Ngày rằm tháng Vesākha này, bà chủ cháu sẽ đến
đây tạ lễ chính. Còn trước ba ngày, cháu đến đây để cúng những lễ phụ.
- À ra là vậy.
- Ngài sa-môn biết không! Để chuẩn bị cho vật
thực cúng dường đầy trân trọng và đầy thành kính vào ngày trăng tròn này, bà
cháu đã vô cùng công phu...
- Ừ cháu kể, ta nghe!
- Bà chủ cháu giàu lắm. Ông chủ cháu lại rất tốt
bụng. Ông cười hiền lành khi thấy bà chủ chuẩn bị sữa để cúng tạ thần linh. Bà
nuôi mấy chục con bò sữa cao lớn, sung sức nhất; lấy sữa của mấy chục con bò
này để nuôi tám con bò sữa mập ú; lấy sữa của tám con bò sữa mập ú này chỉ để
nuôi hai con bò sữa đang tơ. Và sữa của hai con bò này chỉ dành riêng để cúng
thần. Sữa hôm qua sa-môn dùng là sữa tuyệt vời kia đấy!
Nghe đến đây, Siddhattha Gotama không
còn ngạc nhiên nữa. Sữa hôm qua đúng là dược phẩm, là thuốc bổ hồi sinh thật
sự. Siddhatha Gotama cười nói:
- Nó không những là thuốc bổ, nó còn là thần
dược.
- Đúng vậy - Cô bé gật - Bà chủ cháu còn hòa vào
trong biết bao nhiêu là thuốc quý đấy!
Bé Punnā lại nói tiếp:
- Đúng ngày lễ chính, bà chủ cháu sẽ lấy sữa kia
làm nước để nấu một mâm cơm đặc biệt; và ngay chính hạt gạo để nấu cơm cũng
không phải là gạo thường... Triệu phú mới có đấy!
Bé Punnā cười vô tư lự. Nó thấy
mình kính mến ông sa-môn hiền từ này. Sớm hôm ấy, béPunnā đã bẻ cây
làm chổi, quét dọn sạch sẽ từ trong ra ngoài, sạch từ kẽ đá, từng hang hốc rễ
cây cho đến tận bờ sông...
Thế rồi, qua mấy ngày được tẩm bổ, Siddhattha
Gotama đã có da, có thịt trở lại; ba mươi hai quý tướng và tám mươi vẻ
đẹp lần lần hiện ra.
Trong lúc ấy, năm người bạn đồng tu lặng lẽ bỏ
đi mất. Họ rất thất vọng khi thấy Siddhattha Gotama thọ thực
đầy đủ, lại còn trò chuyện vui vẻ với một cô bé gái.
“- Ông ta đã từ bỏ con đường tối thượng rồi -
Koṇḍañña buồn bã nói với các bạn - chúng takhông còn trông cậy, tin tưởng gì
nơi ông ta được nữa. Siddhattha Gotama của chúng ta đã trở về với đời sống lợi
dưỡng, tẩm bổ xác thân một cách dung tục. Chúng ta đi thôi.”
Nhận thấy sự hiểu lầm của họ, nhưng Siddhattha
Gotama chưa vội đính chính. Trong những ngày này, chàng đang có cuộc
chuyển hóa quan trọng về nhận thức, đã có cái gì đó đang xảy ra trong nội tâm. Siddhattha
Gotama đang dần dần hình thành lộ trình tu tập rất mới mẻ. Chàng từ bỏ
khổ hạnh, nghĩa là từ bỏ con đường truyền thống. Và chàng sẽ nương tựa các nấc
thiền hữu sắc, ở đó có pháp lạc, thanh tịnh, thuần thục và nhu nhuyến của tâm.
Nương tựa vào chúng để bắt đầu nhìn ngắm diễn tiến, vận hành của sự sống. Và
sự sống là gì? Sự sống là cái đang diễn ra, tương quan giữa toàn bộ con người
mình - thân tâm này - cùng với ngoại giới. Đau khổ, phiền não, sầu muộn, tham
sân gì gì cũng phát sanh từ đấy - thì sự tu tập của ta cũng phải được ngắm nhìn
từ đấy!
Đêm mười bốn tháng tư Âm lịch (Vesākha), dưới
cội cây Assattha hùng vĩ, Siddhattha an trú
các định hữu sắc, nuôi dưỡng phỉ lạc, khuya, canh hai, chàng nằm nghỉ. Khoảng
giữa canh ba, chàng nằm mộng...
Siddhattha Gotama thấy mình nằm trên mặt đất, đầu gối đỉnh
núi Himalaya, tay trái đặt vắt qua phía Đông đại dương, tay
phải đặt vắt qua phía Tây đại dương, hai chân duỗi thẳng, gác qua châu
Diêm-phù-đề, thòng xuống phía Nam đại dương.
Siddhattha Gotama thấy có một cây cỏ, tên gọi tiriyā mọc
từ lỗ rún và lớn lên. Nó to dần, cao dần lên một gang, một cùi, một sải... một
do-tuần đến trăm do-tuần... rồi đứng chật cả hư không, tỏa tám cành ra tám
hướng... xanh um, mát mẻ.
Siddhattha Gotama thấy một đám giòi đầu đen, mình trắng, lũ
lượt bò từ đầu đến chân, đến đầu gối rồi bao phủ đầy đặc cả ống chân.
Siddhattha Gotama thấy bốn loài chim có bốn màu xanh, đỏ,
vàng, đen từ bốn hướng cùng bay đậu nơi chân mình; bỗng nhiên, chúng hóa thành
màu trắng hết.
Siddhattha Gotama thấy mình đi qua đi lại, đi lên đi xuống
trên đống phẩn cao to như ngọn núi; nhưng hai chân không hề dính một chút dơ
bẩn, không lây một chút xú uế nào cả.
Lúc sao mai vừa mọc, Siddhattha Gotama tỉnh
dậy, giấc mộng đang còn mới mẻ, chàng tự đoán ngay rằng:
“- Điềm triệu thứ nhất: Ta sẽ thành bậc Chánh
Đẳng Giác, trở thành vị Phật trên quả đất này.
Điềm triệu thứ hai: Có một giáo pháp “trung đạo”
(vì cây mọc chính giữa lỗ rún), có tám nhánh - để giáo hóa chư thiên và nhân
loại (Bát chánh đạo).
Điềm triệu thứ ba: Hội chúng cư sĩ (tóc đen mặc
áo trắng) sẽ đến quy y, nương nhờ dưới chân ta, để tu tập.
Điềm triệu thứ tư: Những người có đức tin, đủ
thành phần trong bốn giai cấp sẽ đến xuất gia tu tập; rồi cả bốn giai cấp đều
được hòa tan, tẩy sạch trong biển pháp (màu trắng), chấm dứt kỳ thị.
Điềm triệu thứ năm: Nhiều người đến bố thí, cúng
dường; nhưng khi thọ dụng bốn món vật dụng, ta sẽ không say mê, không dính mắc
nó.
Sau khi giải minh năm điềm triệu, Siddhattha
Gotama thấy lòng hân hoan, phỉ lạc. Vệ sinh cá nhân xong, chàng đi kinh
hành một lát rồi xuống sông tắm.
Dòng nước ban mai mát lạnh, Siddhattha
Gotama tiếp nhận từ làn da, từ lỗ chân lông cảm giác dễ chịu ấy. Tai
chàng nghe được cả âm thanh lao xao của từng làn sóng nước... Mũi chàng ngửi
được cả mùi hương của rong rêu, của cả thiên nhiên hoang sơ... Ngũ quan và nhận
thức đã trở nên tinh tế. Không thể rời bỏ thế giới hiện tượng, sự sống mà phải
lắng nghe, cảm nhận hiện tượng, sự sống một cách trọn vẹn, sâu sắc... Từ cơ sở
ấy, cảm giác, tri giác, tâm hành, nhận thức cũng phải được lắng nghe một cách
chân thực. Như dòng sông này, các giọt nước kế tục trôi chảy như thế nào thì
cảm giác, tri giác, tâm hành và nhận thức của ta cũng trôi chảy như thế...
Lúc ngồi thiền dưới gốc cây, Siddhattha
Gotama duy trì, tăng cường sự chú tâm và tỉnh giác để lắng nghe toàn
thể thân, tâm cùng các đối tượng của chúng. Tất cả đều trôi chảy, tụ rồi tan,
đến rồi đi liên tục, không gián cách. Không một cảm thọ, tri giác, tâm
hành, nhận thức nào có thực tính, ngã tính... Cái mà Vệ-đà bảo
là tiểu ngã (Atman, atta), là linh hồn thường tại đồng một thể với
đại ngã vũ trụ (Mahātman) chợt rã tan như bong bóng nước...
Tất cả chúng đều là vô ngã(anatta)... Sự thấy rõ bằng thực chứng, bằng
quán chiếu tự thân này cho Siddhattha Gotama một phỉ lạc chưa
từng thấy...
Khi nàng Sujātā và cô bé Punnā mang
lễ vật đến gốc cây cúng thần linh thì họ thấy một vị thần hào quang sáng rực
đang tĩnh tại tọa thiền. Ngay cả cô bé Punnā cũng cảm nhận
khác lạ. Đây đúng là vị sa-môn gầy khô sắp chết đói mấy bữa trước - nhưng dường
như đã hóa sanh thành một con người khác. Đúng là có thần linh rồi! Đúng là
thần linh mới có dung sắc và hào quang như vậy.
Nàng Sujātā sai Punnā sắp
đặt lễ phẩm trên chiếc mâm vàng gồm cơm sữa và bánh trái khác, quỳ xuống, đội
lên đầu rồi thành kính nói:
- Thưa ngài, thưa vị thọ thần uy linh! Con là Sujātā, ngài
đã theo lời ước nguyện của con, ban cho con một tấm chồng đẹp đẽ, giàu sang và
tốt bụng; lại còn ban cho con một bé trai có tướng mạo, dung sắc như một tiểu
thiên thần. Vậy là con đã hoàn toàn mãn nguyện. Hôm nay, con đến đây để tạ lễ,
mong ngài chứng giám cho lòng thành của con...
Siddhattha Gotama xả thiền, mỉm cười nói:
- Ta chỉ là một sa-môn đang tầm đạo thôi, có
phải là thần linh gì đâu, cô bé Punnā biết kìa!
Cô bé Punnā vẫn đang quỳ mọp
bên chủ, bây giờ mới ngước đầu lên:
- Không, hôm nay ngài sa-môn đúng là thần linh.
Bà chủ con và con đều thấy rõ như vậy.
Riêng nàng Sujātā thì vô cùng
tri ân và xúc động, tự nghĩ: “Thần linh đã cảm ứng cho lòng thành của
ta nên đã hóa thân nơi vị sa-môn thân tướng cao sang, quý phái này.”
Siddhattha Gotama tự nghĩ: “Tất cả đều có nhân và
duyên. Ta hãy thọ nhận vì lợi ích cho nàng và cũng lợi ích cho cuộc chuyển hóa
vĩ đại đang ở nơi ta”. Khi nàng Sujātā và cô béPunnā - dâng
nguyên cả mâm bằng vàng[1] cho
trọn lễ - ra về rồi, Siddhattha Gotama đứng trầm tư,
quán tưởng giây lát... rồi chậm rãi từng bước một, ra bờ sông. Lựa một đám cỏ
sạch,Siddhattha ngồi xếp bằng, vo tròn cơm sữa thành bốn mươi chín
vắt to bằng trái thốt nốt. Chánh niệm, tỉnh giác, Siddhattha chú
nguyện rồi độ thực hết bốn mươi chín vắt cơm ấy. Cầm mâm vàng, đứng lên, Siddhattha phát
nguyện rằng:
“- Nếu dưới cội cây Assattha kia mà ta đắc thành
quả vị Chánh Đẳng Giác thì xin mâm vàng này trôi ngược dòng sông. Bằng không
thể đắc quả Phật thì mâm vàng này sẽ trôi xuôi.”
Nguyện xong, Siddhattha Gotama thảy
mâm vàng ra giữa sông. Lạ lùng thay, chiếc mâm vàng như tấm thia lia băng băng
trôi ngược nguồn, lên phía thượng lưu, khoảng chừng tám mươi hắc tay thì chìm
xuống.
Ngay lúc ấy, trên thế gian thì không có chuyện
gì, nhưng dưới thủy cung có chuyện lạ. Nguyên dưới cung điện của Long vương đã
có ba chiếc mâm vàng của ba vị Phật quá khứ, đó là đức Phật Kakusandha,
đức Phật Koṇāgamana, đức Phật Kassapa. Khi
chiếc mâm vàng củaSiddhattha Gotama chìm xuống, trôi về thủy cung,
đụng phải ba chiếc mâm vàng trước, tiếng ngân vang lên. Long vương Kāḷānaga lúc
ấy đang ngủ, nghe âm thanh của mâm vàng chạm nhau, thức dậy, mỉm cười nói rằng: “Chà!
mới hôm qua một vị Phật xuất hiện, hôm nay lại một vị Phật khác nữa ra đời!”
Siddhattha Gotama biết nguyện mình sẽ đạt, lòng hân hoan,
thư thái; và còn biết rõ rằng: Sự chuyển hóa của mình, cái nhìn mới mẻ của mình
về sự tu tập là chính xác, đúng đắn! Bước về cội cây Assattha, Siddhattha
Gotama rất tự tin khi thấy mình đã chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc hạ thủ
công phu mà không còn sợ phải lầm lạc nữa.
Bắt chước cô bé Punnā, Siddhattha Gotama đi
bẻ lá quét dọn rồi ôm một ôm lá khác sắp xếp lên nhau để làm một chỗ
ngồi. Khi đang hí hoáy với công việc, một cậu bé chăn bò đội một bó cỏ lớn đi
ngang. Cậu ta dừng lại, tò mò nhìn một lát rồi nói:
- Này ông sa-môn! Đám lá ấy không thể trải chỗ
ngồi được đâu, chỉ vài ba hôm là bầm dập, hư nát. Phải là cỏ này. Cỏ kusa này
để lâu nó sẽ khô và bốc mùi thơm dễ chịu. Con biếu tặng ông sa-môn đây.
Nói xong, cậu bé chăn bò đặt bó cỏ xuống. Nó gồm
có tám bó nhỏ đều đặn mà bề dài lại vừa khít, vuông vức một chỗ ngồi. Một lát,
cậu bé chăn bò đã làm xong, trông rất đẹp đẽ. Siddhattha Gotama cất
giọng thiện cảm:
- Cảm ơn bạn nhiều lắm!
- Dạ, không có chi.
- Bạn tên gì? Ở có xa đây không?
- Dạ, con tên là Sotthiya. Con
thuộc giai cấp Sudra, ở cũng gần đây thôi!
- Sotthiya biếu cho ta bó cỏ
quý này - thì lấy gì để mang về nhà?
- Dạ, không sao, con sẽ kiếm bó khác. Chỉ có một
con bò sữa què chân thôi mà!
Tuy chỉ là tấm nệm cỏ tầm thường làm tọa cụ,
nhưng dưới con mắt nghiệp cảm của phi nhơn, chư thiên, ma vương thì đấy là cả
một bồ đoàn quý báu, tên là Ratanapallaṇka, cao mười bốn cùi
tay, xung quanh đều được chạm khắc công phu, đính bảy báu - là phước báu trang
nghiêm của ngài được tích lũy Pāramī từ vô lượng kiếp.
Lúc Sotthiya vừa đi khỏi, Siddhattha
Gotama lên ngồi trên nệm cỏ, thấy êm ái và thoáng mát; ngài quay mặt
về hướng đông, thấy khí và lực của mình thuận hợp với khí và lực của vũ trụ.
Toàn thể tế bào, máu huyết như được tiếp thêm năng lượng. Nhiếp tâm thanh tĩnh,
điều hòa hơi thở, Siddhattha Gotama phát lời đại nguyện:
“- Dù máu huyết khô cạn, dù chỉ còn gân, xương
và da; ta quyết không rời khỏi nệm cỏ này nếu ta chưa đắc thành quả Phật”.
Sidddhattha Gotama vừa phát nguyện xong thì không gian như
chao đảo, quả địa cầu rung chuyển dữ dội. Tấm nệm cỏ tầm thường bây giờ đã biến
thành bồ đoàn chiến thắng (aparājata panllaṅka) sừng sững, bất
động như thách thức muôn ngàn bóng đêm của vô minh và si mê.
Vua trời Sakka, trong khi ấy,
phải tức tốc rời khỏi ngai vàng, sai vị thiên Pañcasikha mang
đàn beḷuva xuống nhân gian tấu nhạc cúng dường. Vua trời Suyāma ở
cõi Yama và vua trờiSantusita ở cõi Tusita hối
hả bay xuống cầm quạt đứng hầu hai bên. Phạm thiên Sāhampati -
là bạn của ngài từ thời đức Phật Kassapa - thì cầm chiếc lọng
trắng, đứng trang nghiêm, bất động... che mát cho Siddhattha Gotama.
Còn Long vương Kāḷānaga thì dẫn nguyên một đoàn mỹ nữ, tưng
bừng, rộn rã hát lên một ca khúc chưa từng được nghe:
“- Hỡi người con ưu tú, tinh anh của vũ trụ
Hỡi đấng vương giả cao sang, quyền quý
Mà ngũ dục tối thượng của cuộc đời
Cũng không thể ràng buộc được.
Hỡi bậc bồ-tát vô tỉ!
Mà sức mạnh và ý chí kiên cường
Thắng xa một ngàn con chiến mã Sindhu vô địch
Thắng xa một ngàn con voi trắng thuần chủng, oai
hùng.
Người đã tự mình vạch ra một lộ trình
Chưa hề có trên thế gian
Đã bắt đầu tìm kiếm, khám phá
Ý nghĩa và giá trị vĩnh cửu của cuộc sống
Lợi dưỡng - người đã từng lợi dưỡng tối thắng
Khổ hạnh - người đã từng khổ hạnh tối thượng
Người là sự kết tụ ánh sáng rực rỡ
Nóng ấm của mặt trời
Và ánh sáng dịu dàng, mát mẻ của mặt trăng
Người sẽ tìm ra con đường bất tử
Người sẽ tìm ra phương thuốc nhiệm mầu cứu khổ
cho muôn triệu sinh linh
Hãy rọi ánh sáng trí tuệ, giải thoát
Cho chúng sanh trong đêm đen trường mộng
Muôn ngàn cõi đang rung động, hân hoan
Muôn triệu chúng sanh đang khao khát ánh đạo
vàng”
Lúc tiếng hát lời ca của chúng long nữ vừa dứt
thì tại cõi trời Vasavatti, Chúa ma vương hoảng hốt, dựng tóc gáy.
Đúng là điềm triệu bất tường rồi. Cái ông Siddhattha Gotama sắp
bước ra khỏi uy lực của ta. Ông ta đang muốn dùng ánh sáng bé mọn ấy để thách
thức ta, muốn xuyên thủng bóng đêm sâu thẳm mà ta đã từng tung rải trên thế
gian từ vô thỉ đến nay!?
Ác ma thiên tự nghĩ:
“- Lợi dưỡng tối thượng không quyến rũ được ông
ta. Chuyển luân Thánh vương ông ta cũng không màng. Tế thần lửa ông ta xem là
mê tín. Khổ hạnh tối thượng ông ta cũng từ bỏ. Bây giờ, Siddhattha Gotama đang
ngồi tĩnh tọa trên chiếc bồ đoàn quý báu kia và phát lời đại nguyện bất thối.
Ông ta muốn thoát khỏi quyền lực của ta thật rồi! Vậy hôm nay, ta phải dùng uy
lực tối thắng, sức mạnh tối thắng để chiếm lấy cái bồ đoàn, hoặc đẩy bật ông ta
ra khỏi bồ đoàn - thì đại nguyện kia sẽ không thành tựu”.
Thế rồi, Ác ma thiên huy động toàn bộ thiên
binh, thiên tướng, trang bị tất cả mọi loại vũ khí hình thù quái dị có tính
năng kinh khiếp nhất, rầm rộ rời Tha hóa tự tại thiên, trực chỉ cõi trần, xuống khu
rừng Uruvelā.
Ác ma thiên đi đầu, cỡi voi Girimekhala, hóa ra
ngàn cánh tay đều cầm khí giới, với khuôn mặt dữ tợn cùng với mười đạo binh,
vây quanh cội cây Assattha kéo dài mười hai do-tuần, bên trên
hư không dày đặc chín do-tuần. Chúng la hét vang rền, chấn động khắp các cõi[2].
Phạm thiên, Long vương, các vị thiên vương Sakka, thiên
vương Suyāma, thiên vươngSantusita đang đứng hầu
xung quanh bồ đoàn, thoáng thấy Ác ma thiên với thiên binh, thiên tướng, vũ khí
hình thù quái dị, đằng đằng sát khí... bèn hội ý với nhau rất nhanh:
- Cả nội ma và ngoại ma đều ào ạt tấn công
Siddhattha Gotama, chúng ta phải làm sao?
Thế là họ trở về trú xứ của mình. Trong lúc ấy
Ác ma thiên dặn bảo thuộc hạ của mình: “Oai lực của Siddhattha Gotama rất
phi thường, thế gian không có ai sánh được, các ngươi chớ khá xem thường. Vậy
đừng có dại dột chiến đấu trực diện. Phải đánh lén hoặc đánh vào hướng sau lưng”.
Siddhattha Gotama suy nghĩ: “Những đạo quân ma vương
phiền não sẽ tấn công ta. Nó sẽ tấn công toàn diện bằng những vũ khí cực kỳ lợi
hại. Tại đây, ta chẳng có cha mẹ, bằng hữu hoặc bà con quyến thuộc. Tuy nhiên,
các toán binh ma đâu biết rằng, cuộc chiến này ta không hề đơn độc. Ta đã có
sẵn ba mươi pháp hành Pāramī. Chúng sẽ là những thuộc hạ thân tín mà ta đã dày
công nuôi dưỡng trải qua vô số kiếp. Chúng chính là đội quân thiện chiến, bất
khả chiến bại. Chúng sẽ bảo vệ ta một cách an toàn. Chúng sẽ vô hiệu hóa tức khắc các cuộc tấn công của ma quân.”
Nghĩ thế xong, Siddhattha Gotama trú
định, huy động sức mạnh cuồn cuộn của năng lựcPāramī - tạo nên sự
kiên định, vững vàng như đỉnh núi chúa Sineru - chờ đợi sự tấn
công của Ác ma thiên.
Đầu tiên, Ác ma thiên dùng vũ khí cuồng
phong, mà sức mạnh của nó hung tợn hơn cả ngàn con tuấn mã... đồng loạt lao
tới bồ đoàn. Dù trận cuồng phong thật là kinh thiên động địa - nhưng nó chợt
tan biến, không hề lay động chéo y của Siddhattha Gotama.
Ác ma thiên sững sờ, kinh ngạc; tức giận quá,
bèn sử dụng vũ khí nước lũ. Nó hóa phép làm một trận mưa lớn như thác đổ, xối
xả xuống cội cây Assattha. Nhờ oai lực Pāramī, chẳng
có một hạt nước nào rơi trúng vào ngài.
Ác ma thiên phùng mang trợn mắt đến tóe máu,
sử dụng vũ khí mưa đá than hồng, từng cục đá cháy đỏ hừng hực
rơi liên miên bất tận xuống bồ đoàn. Và rồi, ô kìa! Những viên đá cháy đỏ chợt
biến thành những đóa hồng hoa tươi thắm, nhẹ nhàng kết thành
từng xâu, từng chuỗi... trông đẹp xiết bao!
Nộ khí xung thiên, Ác ma thiên hóa hiện trận mưa
vũ khí. Đấy là những khí giới có răng cưa, có móc nhọn, có lưỡi bén, có tua tủa
móc... trăm trăm, ngàn ngàn như thế... dội xuống đầuSiddhattha Gotama! Ồ!
Kỳ lạ không, tất cả vũ khí quái dị ấy chợt biến thành những đóa hoa
kim loại với hình tướng, sắc vẻ lạ lùng!
Bốc giận tợ thiên lôi giáng, Ác ma thiên - hai
mắt đỏ rực như hai chậu máu - sử dụng vũ khí mưa lửa. Thế là từng
dòng mưa lửa đỏ rực cả vùng trời, đốt cháy cả không gian rồi ồ ạt tuôn đổ xuống
cội cây Assattha. Ồ! Mưa lửa lại hóa thành những chùm hoa lửa
đẹp vô cùng!
Ác ma thiên dường như đã hóa cuồng,
sử dụng luôn đồng loạt vũ khí mưa tro nóng, mưa cát cháy, vũ khí mưa
bùn, vũ khí không gian tối đen mù mịt... nhưng rồi cũng vô ích. Tro
nóng biến thành bột thơm. Cát cháy biến thành vật thơm. Bùn biến thành nước
thơm. Còn không gian dẫu có tối đen mù mịt - cội Assattha, bồ
đoàn chiến thắng và Siddhattha Gotama vẫn sáng rỡ như ánh
trăng rằm.
Đã sử dụng hết chín loại vũ khí hung dữ, bạo tàn
nhưng vẫn thất bại chua cay, vẫn không lay động Siddhattha Gotama -
Ác ma thiên tức giận quá, ra oai la mắng thuộc hạ:
- Các ngươi sao đứng im sững như thế? Sao không
cùng xông vào một lượt để đâm, chém, chặt, móc, cưa, xẻ ông ta ra? Sao không
đuổi ông ta ra khỏi cái bồ đoàn bất trị ấy?
Ác ma thiên hò hét đã khô hơi, rát cổ nhưng
chẳng có ma nào dám xông đến gần- vì oai lực của Siddhattha Gotama đã
tạo nên một vòng đai vô hình, một tường thành Pāramī kiên cố-
toát ra một năng lực làm cho chúng sợ hãi co rúm lại.
Chẳng biết sao hơn, Ác ma thiên cưỡi voi Girimekhala, đến
gần cội cây Assattha, mở lời tranh đoạt:
- Siddhattha Gotama! Ngươi hãy mau
mau rời khỏi cái bồ đoàn kia - vì nó là của ta!
Siddhattha Gotama bây giờ mới tạm rời xa năm sức mạnh nội
tâm - tín, tấn, niệm, định, tuệ- chậm rãi nói:
- Này Ác ma thiên! Trên đời này ta chưa thấy ai
ngu si, cuồng vọng và dai dẳng như ngươi, cứ bám sát theo ta mãi! Và bây giờ,
ta cũng chưa thấy ai trên đời nói ra lời cưỡng từ, đoạt lý như ngươi; loạn
danh, loạn thực như ngươi! Chiếc nệm cỏ này có được là do nhờ tám bó cỏ cúng
dường của cậu bé chăn bò Sotthiya; sau đó nó trở thành chiếc bồ
đoàn trang nghiêm, kỳ vĩ là do nhờ phước báu Pāramī sinh ra.
Từ vô số kiếp, ta đã dày công tu tập các công hạnh, nhất là bố thí bậc thượng,
bậc trung và bậc hạ - nên mới có được chiếc bồ đoàn thù thắng này. Còn ngươi,
do tham vọng mù quáng, do muốn củng cố địa vị, quyền lực và hư danh mà đến đây
muốn tranh đoạt với ta sao? Thật là ngông cuồng, xấc láo! Hãy biến đi!
Hãy tan vào bóng tối muôn đời của ngu si và kiêu ngạo của ngươi!
Ác ma thiên lầm lì không nói nữa, giận dữ rút vũ
khí vòng sắt cực kỳ nguy hiểm ra. Đây làvũ khí thứ mười, vũ khí tối
hậu, có năng lực khủng khiếp mà Ác ma thiên chưa bao giờ dùng tới. Nếu chiếc
vòng sắt này ném xuống đất - thì mặt đất sẽ bị thiêu cháy, suốt mười hai năm
không cây cỏ nào mọc được. Nếu vòng sắt này ném lên hư không - thì suốt mười
hai năm không có một giọt mưa nào rơi xuống. Nếu chiếc vòng sắt ném vào núi Sineru -
thì núi chúa sẽ bị cắt làm hai phần!
Với ý chí quyết thắng, vì muốn tiêu diệt Siddhattha
Gotama và chiếc bồ đoàn - Ác ma thiên phủ đòn tối hậu, quăng chiếc
vòng sắt đến cội cây. Chiếc vòng sắt phát ra tiếng sấm sét vang rền giữa không
gian...
Một số phạm thiên, chư thiên lo ngại cho sự an
toàn sanh mạng của Siddhattha Gotama.Một số khác, tin vào phước báu
và oai lực Pāramī của ngài, sẽ không có một loại vũ khí nào
xâm hại được; và cuối cùng ngài sẽ chứng đạo quả Phật.
Quả thật vậy, niềm tin ấy là đúng. Siddhattha
Gotama trú định, huy động toàn bộ sức mạnhPāramī để đón
nhận cơn phẫn nộ địa ngục của Ác ma. Cuối cùng, chiếc vòng sắt đe dọa khủng
khiếp kia - chợt biến thành chiếc khăn hoa, bay lượn phất phới, như đến lau
chùi chiếc bồ đoàn!
Vậy là Ác ma thiên hoàn toàn thua cuộc, tuy
nhiên, nó chẳng sượng sùng gì, vẫn tỏ ra ngang bướng, cứng đầu:
- Siddhattha Gotama! Hãy trả bồ đoàn
ấy cho ta?
Do cảm ứng tâm linh và cũng do đức tin bất thối, Siddhattha
Gotama chợt nói:
- Ta muốn ngươi thua cuộc một cách tâm phục,
khẩu phục. Nghe ta hỏi đây. Bồ đoàn này là của ngươi - thì lấy gì làm bằng
chứng?
Ác ma thiên đắc chí, cười ha hả:
- Tất cả thiên binh, thiên tướng này họ sẽ làm
chứng cho ta.
Bọn ma quân nhao nhao lên:
- Đúng vậy, tất cả chúng tôi đồng làm chứng,
chiếc bồ đoàn kia là sở hữu của thiên chúa chúng tôi.
Ác ma thiên thấy mình thắng thế, cười to lên:
- Siddhattha Gotama nói là có
ba mươi Pāramī... gì gì đó... nên bồ đoàn kia là sở hữu phước báu
của mình. Vậy thì bây giờ, ai là kẻ làm chứng cho ngài đây?
Siddhattha Gotama vẫn an nhiên, trầm lặng, bởi ngài tin vào
năng lực Pāramī của mình, tự nghĩ: “Trong thời gian
gần đây, ta phát sanh niềm tin chắc thật là từ vô số kiếp, ta đã tu tập tròn đủ
Pāramī. Ta biết ta đã có sẵn năm đại thí và ba pháp hành.”[3] Nghĩ
thế xong, Siddhattha Gotama bèn chỉ tay xuống đất,
tuyên bố bằng lời chân thật:
- Ta có ba mươi Pāramī, đó là
điều chắc thật. Riêng bố thí thì ta cũng đã tròn đủ năm đại thí. Tuy ở đây
chẳng có chúng hữu tình nào làm chứng cho ta điều ấy. Nhưng còn có quả đất. Quả
đất dẫu không có tâm thức, nhưng nó cũng có thể chấn động, rung động bảy lần để
làm chứng cho lời nói chân thật của ta!
Lạ lùng thay, Siddhattha Gotama vừa
dứt lời, lập tức quả đất chuyển mình dữ dội, rung động bảy lần, phát ra âm
thanh đì đùng như bão nổi tự trong lòng địa cầu. Nước biển đột ngột như long
vương quẫy mình,
sùng sục, ì ầm dâng lên cao, hất tung những quả núi sóng lên không gian. Mưa ào
ào như trút, nước đổ xuống, nước tràn lên, tràn lên mãi...
Ác ma thiên ngồi trên lưng voi Girimekhala cao
to như ngọn đồi cũng phải chao đảo, ngả nghiêng... rồi dần dần bị ngập
sâu trong nước, bị nước cuốn trôi phăng. Đến đây, mọi pháp lực của ma vương đã
trở nên vô dụng; nó hoang mang, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, ném bỏ tất cả vũ
khí, huy động tàn lực, thúc hối voi Girimekhala vọt khỏi dòng
nước dữ, hớt hải bay về cung trời Tha hóa tự tại không dám ngoảnh mặt nhìn lui. Quần
ma khiếp đảm, vội vã quăng bỏ vũ khí, mặt nạ... hỗn loạn chạy
trốn theo chân chủ soái.
Mười ngàn thế giới vui mừng, đồng thanh reo
vang, âm thanh như hải triều âm, vang vọng khắp cả mấy tầng trời để tán thán,
ca ngợi oai lực Pāramī bất khả chiến bại của Siddhattha
Gotama.
Cuộc chiến đấu lạ lùng ở trên - chỉ có một mình
Siddhattha Gotama, ở cõi người- cùng thế giới chư thiên, phạm thiên hay biết. Cội cây Assattha vẫn an tĩnh.
Trời đã ngả bóng về chiều. Chiếc bồ đoàn vẫn điềm nhiên, bất động. Siddhattha
Gotama suốt hai khắc giờ thiền định, lưu giữ cận định, soi chiếu nội
tâm, thấy rõ toàn bộ ma quân phiền não ngủ ngầm từ vô lượng kiếp đến nay. Đã
điểm mặt, chỉ tên từng phiền não một, thô tháo có, vi tế có. Như mặt trời rọi
đến đâu thì sương tan đến đấy, cũng vậy, lúc trí tuệ bừng sáng, những kiết sử, tùy miên
đều hiện rõ mặt mày. Chúng chẳng thể đeo mặt nạ, ngụy trang, đánh lừa ai được nữa.
Mặt trời sắp lặn. Siddhattha Gotama ngắm
nhìn quang cảnh một lát rồi trở lại lắng nghe dòng tâm đang trôi chảy an nhiên,
tĩnh tại, trong sáng - Siddhattha biết mình sẽ đi trọn đêm nay
để thực nghiệm bài toán tâm linh đã có cách giải. Lúc ấy là đêm mười bốn tháng
tư - Vesākha -Ấn Độ.
Đêm. Dòng sông Nerañjarā lấp
lánh ánh trăng. Gió thổi rì rào xuyên qua rừng cây trầm mặc. Hương hoa cỏ dịu
dàng, thoang thoảng giữa không gian. Siddhattha Gotama sau khi
chiến thắng nội ngoại ma, ngài ngồi yên tĩnh theo dõi hơi thở với tâm và trí
hoàn toàn tỉnh thức và thanh khiết...
Bây giờ, cả một khối thân tâm đã trở nên thuần
nhất, được giác niệm lung linh soi chiếu; không thấy trong, không thấy ngoài,
không thấy ngã, không thấy ngã sở; ngài chỉ thấy hơi gió vào ra, càng lúc càng
nhẹ, càng mỏng... Rồi dần dần, làn gió ấy chợt trở nên trong vắt, sáng như ánh
trăng rằm vừa ra khỏi sương mù... Siddhattha Gotama lần lượt
đi vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền một cách dễ dàng, không có một
gắng sức nào... Với năng lực của tâm định hoàn toàn vững chắc, kiên cố, Siddhattha
Gotama xuống cận hành, sử dụng tầm và tứ hướng tâm đến tiền kiếp...
Chỉ một sát-na sau, ngài lần lượt thấy rõ các kiếp sống quá khứ của mình. Từ
một kiếp, hai kiếp... mười kiếp, hai mươi kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, trăm ngàn
kiếp, kiếp quả đất, nhiều đại kiếp quả đất vô giới hạn... Ngài thấy rõ mỗi
kiếp, với hình ảnh rõ ràng, với vóc dáng như vậy, dòng họ như vậy, tuổi tên như
vậy, y báo, chánh báo như vậy, khổ vui như vậy, nghiệp đến đây như vậy, nghiệp
ra đi như vậy... Nhờ định tĩnh sâu xa, và cũng nhờ nội tâm đã lắng dứt mọi tùy
miên kiết sử nên Siddhattha Gotama không hề khởi
lên kinh cảm khi thấy mình từng mang lốt nhiều kiếp thú như chó, ngựa, voi,
chim, chuột... Còn làm cả dạ-xoa, a-tu-la, thọ thần, chư thiên, phạm thiên...
cũng rất nhiều kiếp nữa. Nhưng nhiều nhất là làm người: thương gia, triệu phú,
nông dân, tiều phu, giáo sư, vua chúa, quan đại thần, quốc sư... Và vô lượng
kiếp tu tập, xuất gia, hành các pháp ba-la-mật... Trong vô lượng vô biên kiếp
sống ấy, ngài không tìm thấy đâu là con người thực của mình. Tất cả chúng đều
do dòng nghiệp vẽ ra, tạo nên. Sự sinh, sự diệt trùng trùng, hóa thân trùng
trùng, sầu bi khổ ưu não cũng trùng trùng... Tất cả chúng đều như từ sương khói
mà hiện ra, từ sương khói mà diệt mất, dường như vô căn, vô cội nhưng chỉ có
một dòng chảy - dòng chảy của sinh mệnh, nghiệp lực - là liên lỉ từ vô thỉ đến vô
chung... Tuy liên lỉ nhưng không phải hằng hữu. Chúng chuyển biến, dịch hóa,
thay đổi liên tục, mới mẻ liên tục... Chẳng có gì mất đi mà cũng chẳng có gì
thường tại...
Siddhattha Gotama xả thiền, lúc ấy chỉ vừa qua canh một. Thế
là ngài đã chứng đắc Túc mạng minh (Pubbenivāsānussatiññāṇa) khi mặt
trăng từ hướng Đông mới lên đến đầu tàn câyAssattha. Mỉm nụ cười vi
diệu như nụ hoa hàm tiếu ở trong tâm, rồi không để uổng phí một sát-na nào, Siddhattha
Gotama lại nhiếp niệm đi vào tứ thiền sắc giới, kiên trú định; trở lại
cận hành, dùng tầm và tứ, hướng tâm đến sự sanh tử của chúng sanh. Thế rồi, như
cuốn phim quay nhân quả hiển hiện rõ ràng trong nội tâm, ngài thấy sự đi về,
tới lui, thấp hèn, cao thượng, xấu đẹp, khổ vui của tất cả chúng sanh từ quá
khứ, hiện tại hay vị lai. Nếu thân hành ác, khẩu hành ác, ý hành ác thì rơi vào
bốn cảnh khổ. Ngược lại, thân hành thiện, khẩu hành thiện, ý hành thiện thì
được sanh thú cõi người, cõi trời nào đó tương ứng với hành nghiệp ấy. Tiếp tục
đi sâu, đi xa, theo dõi dòng nghiệp của chúng sanh, Siddhattha Gotama còn
thấy được tâm hướng của từng chúng sanh một, với quả báo vị lai xa xăm cho đến
hằng sa sinh diệt của quả địa cầu! Vậy là tất cả tác nhân, quả báo tạo nên sanh
thú của tất cả chúng sanh đều được ngài nhìn thấy rõ như các đường chỉ trong
lòng bàn tay của mình. Như thế là vào cuối canh hai, khi mặt trăng vừa chênh xế
cội cây Assattha, Siddhattha Gotama chứng đắc Thiên nhãn minh (Dibbacakkhuññāṇa).
Trở lại tứ thiền, nuôi dưỡng phỉ lạc thâm sâu,
vào an chỉ định, trở lại cận hành, dùng tuệ minh sát quán chiếu tự thân; ngài
thấy rõ rằng, chẳng còn một phiền não nào liên hệ đến ngũ trần (kāmasavakilesa),
chẳng còn một phiền não nào liên hệ đến những chấp thủ ta, của ta, người và
chúng sanh (diṭṭhāsavakilesa), chẳng còn một phiền não nào liên hệ đến
những dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu (bhavāsavakilesa), chẳng còn một
phiền não nào liên hệ đến si mê, vô minh (avijjāsavakilesa). Khởi chánh
tư duy, Siddhattha Gotama tự nghĩ: Tất cả những phiền não ngủ
ngầm, vi tế ấy chẳng có ai hay biết dẫu loài người thông tuệ hoặc chư thiên,
phạm thiên có nhiều năng lực. Cho chí những đạo sĩ tuyệt luân đắc bát thiền và
ngũ thông như Kāḷadevila cũng đành chịu. Hai vị đạo sư nổi
danh về chứng đắc cùng với sự chấp thủ của họ cũng chỉ làm duyên nối dài cho sự
sanh tử, luân hồi vô tận mà thôi!
Thế rồi, với tuệ giác vô nhiễm, rạng ngời, trong
sáng như pha lê, Siddhattha Gotama thấy rõ gốc nguồn căn cội
của mọi khổ đau, phiền não là vô minh và ái dục. Nó tạo ra tất
thảy thế gian sinh tử. Vì vô minh, si mê, lầm lạc nên chúng sanh tạo tác các nghiệp
trắng, nghiệp đen, nghiệpkhông trắng không đen. Duyên các nghiệp ấy, và
cũng do năng lực của nghiệp ấy, một thức tâm tái sanh đi tìm
kiếm cảnh giới tương thích. Nó nương gá tinh cha và huyết mẹ để
tượng thành một thai bào, ở đấy có sự sống và ẩn tiềm dòng nghiệp riêng biệt
của chính mình. Khổ vui, hèn sang, giàu nghèo, trí ngu, thọ yểu... kể cả di
truyền, cá tính, thói quen, văn hóa, tín ngưỡng... đều được hạt giống ấy mang
theo, bất ly, bất hoại - để hình thành một chúng sanh mới, đời sống mới. Những danh
tâm và sắc tướng với đầy đủ chủng nghiệp sẽ tượng
hình nên mắt tai mũi lưỡi thân ý. Rồi, với thời gian, trong
tương quan xúc đối với ngoại giới, chúng sẽ xuất hiện cảm giác, tri
giác, tâm hành, nhận thức. Cái gì vừa lòng, thích thú thì ôm nắm, níu giữ;
cái gì không vừa ý, bất toại nguyện thì ghét bỏ, chối từ, phủ nhận. Tham
sân khởi sanh để tạo tác những nghiệp hữutrong ba cõi, sáu
đường. Rồi sanh, rồi già, rồi chết, rồi sầu, bi, khổ, ưu, não...
như một vòng quay tất định không bao giờ ra khỏi. Vòng luân hồi luẩn
quẩn loanh quanh ấy được kết nối với nhau bởi những chiếc khoen trong sợi xích
sắt vĩ đại... Vào giữa canh ba, Siddhattha Gotama đã
thấy rõ chúng. Muốn chấm dứt luân hồi sinh tử, khổ đau, phiền não thì phải biết
tháo gỡ những chiếc khoen- mà chiếc khoen vô minh, si mê, lầm lạc là
quan trọng nhất. Nếu sáng suốt, tỉnh giác, tỉnh thức, tuệ minh
chiếu soi thì sẽ không có hành nghiệp, tạo tác nhân để mai sau gặt quả. Thức
tìm kiếm tái sanh không còn thì ước vọng trở thành sẽ không có cơ hội nẩy mầm.
Và nếu không tham đắm, mê say các cảm thọ thì các chấp thủ làm sao hiện hữu
được? Thủ không có thì hữu, tái sanh, già lão, sầu bi khổ ưu não sẽ rã tan như
những hạt sương treo trên đầu nắng...
Khi thấy rõ toàn bộ sự vận hành duyên
khởi ấy- tâm và tuệ của Siddhattha Gotama sáng trong
như viên ngọc maṇi không tì vết. Ngài trú vào miền tĩnh lặng
thâm sâu với sự hỷ hoan, lạc phúc như tràn đầy nội tâm và cả hư không giới. Như
ai ăn người ấy no, như uống nước, nóng lạnh tự biết, Siddhattha Gotama chứng
nghiệm được điều mà thế gian chưa từng ai chứng nghiệm. Sự sinh, sự
diệt của từng sát-na duyên khởi vô ngã tính giải thích toàn bộ khối khổ đau,
nguyên nhân của nó, và con đường dập tắt mọi ảo tưởng, ảo giác của chúng hữu
tình. Khi ảo tưởng, ảo giác không còn thì những sanh niệm trôi lăn sẽ tự
động chấm dứt. Sự chấp thủ các uẩn, các hữu chợt rã tan như những đốm hoa,
không thực hữu - khi có tuệ nhãn, trí thông, trí minh chiếu soi. Mọi tham muốn
lầm lạc, sái với các định luật của nhiên giới, tâm giới, pháp giới sẽ
không còn ảo ảnh để đeo níu, mê đắm nữa. Tất cả đều được trả về nguyên trạng
khi nó chưa từ biệt cố hương. Chưa bị vấy bẩn bởi bụi đỏ, bùn đen và cát tía.
Trăng sáng. Hoa nở. Chim hót. Sương mù. Lá rơi. Suối chảy. Nhận biết. Lắng
nghe. Cảm giác... Tất thảy chúng đều hiện ra như chân như thực. Không cái gì bị
che kín. Không cái gì bị mất đi. Không cái gì thường còn. Bất tử là vậy. Giá
trị hằng cửu và ý nghĩa tối thắng của cuộc đời này phải được lập cước từ cái thấy
biết toàn diện và chơn chánh ấy. Và đó là chánh kiến. Có cái
thấy đúng ấy mới có cái suy nghĩ đúng -chánh tư duy. Có cái suy nghĩ
đúng mới có nói năng đúng - chánh ngữ. Có nói năng đúng mới có hành
động đúng - chánh nghiệp. Có hành động đúng mới có nuôi mạng đúng -
chánh mạng.Có nuôi mạng đúng mới có nhiệt tâm, nỗ lực, tinh cần đúng - chánh
tinh tấn. Có nỗ lực, tinh cần đúng mới có chú tâm, ghi nhận đúng - chánh
niệm. Có chú tâm, ghi nhận đúng mới có được yên tĩnh, bình tĩnh, định
tĩnh, trạm nhiên bất động trước mọi cơn gió bão của nội ngoại ma - chánh
định. Đấy là con đường. Là đạo lộ diệt tận khổ đau, phiền não.
Là yếu chỉ, bí quyết giải thoát tất cả mọi bộc, mọi lưu, mọi triền, mọi
phược, mọi kiết, mọi sử... ngủ ngầm trong hố thẳm vô thức từ vô lượng
kiếp. Là giáo pháp vô năng thắng. Là cái mà từ quá khứ, hiện tại, vị lai chưa
có mặt trên cuộc đời...
Như vậy là cái thấy của Siddhattha
Gotama đã ở ngoài sinh tử, đã vượt thoát sinh tử. Chẳng còn cái lưới
nào bủa vây, nhốt kín tuệ giác của ngài được nữa. Sáng trong vằng vặc. Ngài mỉm
cười như nụ hoa sen hàm tiếu. Hào quang từ nơi vầng trán của ngài chợt tỏa ra,
vừa rực rỡ, ấm áp như tia nắng mặt trời, vừa dịu dàng mát mẻ như ánh sáng mặt
trăng...
Thế là vào canh cuối, trăng sắp lặn, sao mai vừa
mọc, tháng Vesākha, dưới cội cây Assattha,bên sông Nerañjarā, gần
tụ lạc Uruvelā, Siddhattha Gotama đã chứng đắc quả
vị Đại A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; lúc ấy ngài vừa đúng ba mươi lăm tuổi...
Mười ngàn thế giới ngay sát-na ấy rung động dữ
dội, quả đất dày bốn mươi do-tuần chao qua đảo lại như địa chấn. Giờ phút ấy đi
vào vĩnh cửu. Chư thiên, phạm thiên hoan ca, vui mừng vì một đấng Toàn Giác đã
xuất hiện trên thế gian. Giữa hư không, hoa trời tung bay và nhạc trỗi để cúng
dường thời khắc linh thiêng và trọng đại này. Nếu ai có thiên nhĩ, sẽ nghe
những lời đồng vọng tự lưng chừng trời:
- Sādhu! Sādhu! Buddho uppanno! Sādhu! Sādhu!
Buddho uppanno! (Lành thay! Đức Phật đã xuất hiện trên thế gian rồi!)
Và cũng nhiệm mầu thay là những hiện tượng phi
thường ở ngoài mọi định luật tâm giới và nhiên giới, chưa từng có trên thế
gian, lại đồng lúc phát sanh một cách diệu kỳ. Đó là:
- Dẫu trái tiết, trái mùa nhưng muôn hoa đua
nhau nở rộ và tỏa sắc, tỏa hương...
Mọi quả trái dù đắng, dù chua, dù chát chợt trở
nên ngon, ngọt, thơm...
Những kẻ mù lòa, thong manh bẩm sinh, vui mừng
vì đôi mắt bỗng trở nên sáng quắc, thấy rõ mọi vật xung quanh mình.
Những kẻ điếc lãng từ lúc chào đời chợt nghe
được mọi âm thanh..
Những kẻ bại liệt, từ nay có thể đi lại một cách
dễ dàng...
Đặc biệt là tại địa ngục Lokantarika - cõi giới
có từ quả báo của những chúng sanh dày sâu tà kiến, dù bảy mặt trời cũng không
bao giờ rọi tới - hôm ấy, hào quang của đức Phật từ cội Assattha xuyên qua
những lớp bóng tối để chiếu soi tận ngục sâu âm u lạnh lẽo. Những chúng sanh
này bỗng thấy được lẫn nhau.
Đức Phật Gotama - bây giờ chúng
ta gọi ngài là thế - đang rọi ánh sáng để nhìn ngắm tự tâm nhưng đồng thời,
ngài thấy biết luôn toàn bộ thế gian, thế giới. Thật bi mẫn, thương xót thay
chúng sanh ngu muội. Chúng đã tạo tác những nhà tù thể xác rồi tự nhốt mình vào
đấy, rồi khóc lóc, rồi sầu bi khổ ưu não. Ta cũng đã lang thang muôn triệu kiếp
mới tìm ra khuôn mặt của kẻ tạo tác ấy. Nó chính là vô minh và ái dục. Chính nó
đã tạo nên các uẩn, chồng chất từ lớp này đến lớp kia. Nói rõ và chi tiết hơn,
người thợ - tên kiến trúc sư sinh tử - xây cái nhà tù chính là ái dục (taṇhā
- rāga), cái đòn dông chính là vô minh (vijjā). Còn
toàn bộ cái sườn nhà là những ô nhiễm, phiền não (kilesa) như: Tham
(lobha), sân (dosa), si (moha), ngã mạn (māna), tà kiến (micchādiṭṭhi), hoài
nghi (vicikicchā), tật (issā), hối (kukkucca), xan (macchariya), hôn trầm
(thīna), thụy miên (middha), phóng dật (uddhacca), không biết hổ thẹn tội lỗi
(ahirika), không biết ghê sợ tội lỗi (anottappa); rồi còn phỉ báng, cố chấp
(mukkha-thambha), sợ hãi (bhaya), bạc ơn, phản phúc... Khi có định lực
sung mãn, tuệ giác vằng vặc chiếu soi thì chúng hoàn toàn rã tan, rỗng không,
vô tự tánh... Bất giác, đức Phật Gotama thốt lên một cảm hứng
ngữ nội tâm trầm hùng, siêu thoát - có thể vang xa đến tận cùng vô lượng, vô
biên thế giới:
“- Anekajāti saṃsāraṃ
Sandhāvissaṃ anibbisaṃ
Gahakārakaṃ gavesanto
Dukkhā jāti punappunaṃ
Gahakāraka! Diṭṭho’ si
Puna gehaṃ na kāhasi
Gahakūṭaṃ visaṅkhitaṃ
Taṇhānaṃ khayam ajjhagā”
(Lang thang muôn kiếp luân hồi
Tìm không gặp kẻ xây ngôi nhà tù
Não phiền, đau khổ mịt mù
Vòng xoay, dòng chuyển thiên thu nhọc nhằn
Hỡi này anh thợ làm nhà!
Rui, mè, kèo, cột tiêu ma hết rồi
Đòn dông ái dục gãy đôi
Vô minh tạo tác muôn đời hoài công
Như Lai giải thoát sạch không
Niết-bàn vô lậu thong dong vĩnh hằng)
Đạo lớn đã tìm ra. Con đường bất tử đã được khai
quang. Đức Phật Gotama xả
thiền, rời cội cây Assattha - bây giờ được gọi là cây bồ-đề -
hoặc cây tuệ giác (bodhirukkha) - lúc ấy phương đông trời vừa
hửng sáng. Tràn đầy, sung mãn trạng thái giải thoát, ngài đi tới đi lui thọ
hưởng hạnh phúc siêu thế. Gió ban mai nhè nhẹ thổi, mát lạnh mang theo rất
nhiều mùi thơm hương rừng cỏ nội. Ngài cảm nhận rất vẹn toàn, sâu sắc và tinh
tế ngay cả những âm thanh cao thấp, gần xa của chim, của giun dế, của từng
chiếc lá rơi khẽ. Mù sương bàng bạc lan kín cả mặt sông. Hoa đủ màu, đủ sắc
từng chùm li ti chợt lay động, loang loáng nước. Dường như vạn vật xung quanh
đều hiển hiện những niềm vui thầm lặng, nhiệm mầu. Tất cả đều nhiệm mầu dưới
một ánh sáng khác lạ, mới mẻ. Có cái gì đổi mới, khoác lên cảnh vật một chiếc
áo phiêu diêu, nhẹ nhàng, thanh khiết. Khổ đau không có mặt. Phiền não không có
mặt. Nhưng cảm giác, tri giác, tâm hành, nhận thức đều trôi chảy hòa bình, an
lạc, trong lành và vô nhiễm. Sự sống bây giờ được vận hành trong dòng chảy tinh
khôi, trong lành và vô nhiễm ấy…
Suốt tuổi vị thành niên ưu tư, trăn trở, đến
tuổi lập gia đình thấy mọi niềm vui, khoái lạc đều phù du, trống rỗng; tháng
năm dài tìm cách giúp vua, cứu nước, đức Phật Gotama luôn cảm
thấy mình làm cái việc của con dã tràng xe cát - vì không giải mã được hố thẳm
của lòng người. Với ý chí kiên định, ngài thoát ly gia đình, vợ con, vương vị,
quyết tìm ra con đường thoát khổ, giải trình giá trị và ý nghĩa vĩnh cửu cho
nhân sinh. Suốt sáu năm dài đằng đẵng, nếm mật, nằm gai, chịu đựng sự khổ hạnh
tối thượng, với nỗ lực siêu phàm, bây giờ lộ trình bất tử mở toang cánh cửa, đã
được khai thông. Chưa có ai vĩ đại như ngài, chưa có ai kiêu dũng như ngài, và
cũng chưa có ai cô độc như ngài. Cho chí những giây khắc khó khăn nhất, bên
mình ngài cũng chẳng có ai, may nhờ những giọt sữa vi diệu của cô bé Punnā. Có
thể nói rằng, ngài đã nỗ lực tự mình, không nương nhờ ai mà cũng không có bất
kỳ một vị thầy nào trên lộ trình khám phá sự thật (Na me ācariyo atthi
- một đạo sư, ta không có - ngài đã từng nói vậy). Tuy thế, chẳng phải ngài
sáng tạo con đường, mà ngài chỉ tìm ra con đường xưa cũ, đã bị mù sương của vô
lượng thời gian che khuất. Ngài chỉ là một con người, sinh ra và lớn lên như
một con người, với xương thịt, ngũ quan, tình cảm, tinh thần cũng chỉ là một
con người; nhưng nhờ tư duy có chiều sâu, biết giữ cảm xúc chừng mực, biết tra
vấn và học hỏi, biết hoài nghi và biết trung thực; không dễ dàng chấp nhận
những chân lý có sẵn, những lối mòn sơn son thếp vàng; dám đơn độc chiến đấu
với cám dỗ, với truyền thống, với bản ngã cho đến lúc đứng trên đỉnh đầu sinh
tử để ca khúc khải hoàn. Vậy ngài đúng là một vị Toàn Giác, một bậc Chánh Đẳng
Giác do sự thấy biết chơn chánh và toàn diện. Ngài còn có khả năng truyền bá
giáo pháp nên người ta tôn xưng ngài là bậc Chánh Biến Tri, là người phi thường (Acchariya
manussa), là bậc làm chủ giáo pháp (Dhammassāmi -Pháp
vương), là người ban bố pháp bất tử (Amatassa dātā), là
người cho vật báu (Varado- vật báu chính là tâm từ bi thanh
khiết nhất, trí tuệ sâu xa nhất và chân lý vi diệu nhất). Ngài còn
được gọi Như Lai (Tathāgata - bậc đến như vậy), Ứng
Cúng (Arahaṃ - xứng đáng được cung kính, tôn trọng,
cúng dường), Minh Hạnh Túc (Vijjā-carana-sampanno - Trí
vô thượng, Đức vô thượng), bậc Thiện Thệ (Sugato - khéo
đi ra khỏi luân hồi), bậc Thế Gian Giải (Lokavidū - bậc thông suốt
tam giới), Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu (Anuttaro
Purisadammasārathi - bậc trượng phu vô thượng có khả năng chế
ngự, nhiếp phục thân, khẩu ý mình và chúng sanh),Thiên Nhân Sư (Satthādevamanussānaṃ - bậc
thầy của chư thiên và nhân loại), Thế Tôn (Bhagavā - xứng
đáng được xưng tán, tôn vinh), Phật (Buddho - bậc tỉnh giác,
sáng suốt, tỉnh thức).
Thế là một vầng nhật nguyệt vừa xuất hiện trên
thế gian. Lừng lững. Vằng vặc. Trí tuệ và từ bi. Còn soi sáng đêm ngày cho đến
hết năm ngàn năm cùng nhân duyên với chúng sanh hữu trí.
Giáo pháp vi diệu, sâu mầu vừa chứng đạt còn cần
phải chiêm nghiệm nên đức Phật Gotamachưa vội đi đâu, ngài còn cần
phải rà soát lại toàn bộ sự thấy biết ấy. Đây chính là thời gian mà ngài vừa
thọ hưởng hạnh phúc siêu thế vừa làm cho hệ thống lại, chi tiết thêm cái kho
tàng nội tâm vừa mới khám phá.
Tuần lễ thứ nhất, tại cội cây tuệ giác (Bodhirukkha), đức
Phật Gotama trú tâm vào hơi thở và lát sau, ngài nhẹ nhàng đi
vào tứ thiền; rời tứ thiền, ngài lên bốn tầng thiền vô sắc; rời phi tưởng, phi
phi tưởng, hai sát na sau, ngài đi vào diệt thọ tưởng định, yên lắng cảm giác
và tri giác để nghỉ ngơi, tịnh dưỡng trong cõi Niết-bàn, thọ hưởng hạnh phúc
siêu thế (Vimuttisukha). Bảy ngày qua đi nhưng thời gian chỉ như
cái chớp mắt, đức Phật Gotama xả định Diệt thọ tưởng, lần lượt
xuống Phi tưởng phi phi tưởng, xuống Vô sở hữu... rồi trở lại sơ thiền... lên
lại tứ thiền, xuống cận hành để chiếu soi, xem xét lại giáo pháp duyên khởi.
Đây là một loại giáo pháp tế vi, sâu nhiệm - phải cần được khám phá một cách
toàn diện và triệt để. Giáo pháp này rất mới mẻ, đi ngược với truyền thống ngàn
xưa từ suối nguồn kinh điển vệ-đà. Vậy muốn truyền bá cho nhân gian dễ thấy, dễ
biết, dễ thuyết phục thì phải tỏ tường tận chân tơ kẽ tóc mỗi sát-na tư tưởng,
tâm niệm, trạng thái - cái tạo nên dòng chảy duyên khởi phức tạp ấy. Vô thường,
vô ngã và dukkha cũng từ đây mà dấy sanh, mà nhận biết, mà
chứng nghiệm. Thế là trong minh nhiên vắng lặng và trong suốt, đức Phật Gotama thấy
rõ từng vòng khoen, dính trong nhau, tiếp lực cho nhau, tan hòa trong nhau; và,
quá khứ, hiện tại, vị lai dường như không có gián cách, chẳng có kẽ hở nào. Tùy
thuộc vô minh, hành sinh khởi. Tùy thuộc hành, thức sanh khởi. Tùy thuộc thức,
danh sắc sanh khởi. Tùy thuộc danh sắc, lục nhập sanh khởi. Tùy thuộc lục nhập,
xúc sanh khởi. Tùy thuộc xúc, các cảm thọ sanh khởi. Tùy thuộc cảm thọ, ái sanh
khởi. Tùy thuộc ái, các thủ sanh khởi. Tùy thuộc thủ, các hữu sanh khởi. Rồi
sanh, rồi già, rồi chết, rồi sầu bi khổ ưu não chi phối toàn bộ chúng hữu tình. Vòng
luân hồi thế là đã lập định. Muốn chấm dứt vòng tái sanh luân chuyển rối mù và
kiên cố ấy, ngài đã tìm ra. Cứ gỡ một khoen là chúng sẽ đứt lìa, nhất là cái
khoen vô minh. Chấm dứt vô minh thì hành chấm dứt. Chấm dứt hành thì
thức chấm dứt. Chấm dứt thức thì danh sắc không thể sanh khởi. Không có danh
sắc thì sẽ không có lục nhập. Chấm dứt lục nhập thì xúc chạm vào đâu. Không có
xúc thì làm sao có ái. Không có ái thì thọ đoạn trừ. Không có thọ thì không có
thủ. Không có thủ thì không có hữu. Không có hữu thì không có sanh. Với sự chấm
dứt sanh thì già bệnh chết, và toàn bộ khối đau khổ- sầu bi khổ ưu não - sẽ
chấm dứt. Muốn tỏ tường hơn nữa, ngài quán sát chiều xuôi và chiều
ngược vòng duyên khởi ấy nhiều lần. Chẳng có chỗ nào là không hiện ra một cách
thông tỏ, minh bạch. “Khi nhân này có thì có quả này. Có sự phát sanh
của nhân này thì có quả này phát sanh. Khi nhân này không có thì quả này không
thể có mặt. Nếu nhân này chấm dứt thì quả này chấm dứt.” Đức Phật Gotama vào
đêm cuối của tuần lễ thứ nhất ấy, ngài thốt lên câu kệ cảm hứng ngữ như một
khúc ca khải hoàn:
“- Quả thật là như vậy, chân lý đã hiển hiện
minh nhiên trước tuệ nhãn thâm sâu của ta. Bao nhiêu hoài nghi, tối tăm đã được
vén mở, phủi sạch. Toàn bộ khối đau khổ ta đã tìm thấy nguyên nhân và ta đã tận
diệt chúng không còn dư tàn.”
Tuần lễ thứ hai, lúc vầng dương vừa ló dạng, đức Phật Gotama xả
thiền, bước ra xa chừng hai mươi tầm thốt nốt, hướng đông bắc, đứng nhìn cội
cây ân nghĩa đã che sương đỡ nắng cho ngài suốt thời gian qua. Ngài biết là rồi
ngài sẽ ra đi, giã biệt người bạn vô tình này. Một cọng cỏ, một chiếc lá ở nơi
đây đã cùng với ngài mà hiện hữu, đã cùng với ngài mà nói lên sự sống vô cùng;
huống gì cội bồ-đề - cây tuệ giác này - là người bạn, là chứng nhân cho
sự giác ngộ viên mãn và rốt ráo của ngài. Thế rồi, đức Phật Gotama đứng
nhìn đăm đăm và bất động cộiBodhirukkha, không đổi oai nghi. Bảy
lần nắng, bảy lần sương, bảy lần mặt trời mọc và lặn, bảy lần mặt trăng lên và
xuống… ngài không chớp mắt, liên tục nuôi dưỡng những sát-na tâm tĩnh lặng,
thanh bình. Ngài muốn để lại cho thế gian một bài học về hạnh tri ân.
Tuần lễ thứ ba, suốt nửa tháng, thấy đức Phật Gotama cứ luẩn
quẩn loanh quanh tại cội bồ-đề, một số chư thiên hoài nghi không biết ngài đã
thật sự chứng đắc đạo quả hay chưa? Và pháp giác ngộ của một bậc Chánh Đẳng
Giác được nhiều vị trời có nhiều oai lực ca tụng, tán thán ấy ra sao? Thấy rõ
tâm ý ấy, đức Phật Gotama đã dùng thần thông, tạo một con
đường bằng ngọc (ratana camkamana) giữa hư không, từ chỗ ngài đứng
đến cội bồ-đề, rồi đi kinh hành lui tới suốt cả bảy ngày trên ấy. Chưa thôi,
ngài còn vận dụng một loại thần thông trao truyền tư tưởng cho số chư thiên ấy
biết rằng, ngài còn có chín đức tánh vô thượng, mười tuệ lực viên mãn,
bốn pháp vô úy siêu việt, bốn năng lực chở che bất hại, bốn trí biện thông vô
ngại, bốn vô lượng tâm với chúng sanh, ba mươi ba-la-mật tối thắng, tròn đủ sáu
thông, tám minh, mười lăm hạnh và còn nhiều hơn thế nữa. Hiểu xong,
biết xong, thấy xong, số chư thiên ấy hoan hỷ tán thán không hết lời. Hoa
mạn-thù tung bay phất phới.
Tuần lễ thứ tư, đức Phật Gotama dùng thần thông, kiến tạo một
ngôi lầu bằng ngọc(ratanaghara) ở hướng Tây bắc - tượng trưng cho
ngôi lầu giáo pháp - rồi ngài ngự ở trong ấy, quán chiếu, soi tỏ những trạng
thái sanh diệt của những sát-na tâm. Những dòng tâm đi qua mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân và ý. Những dòng tâm dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế giới. Sự
diễn tiến, vận hành của danh sắc từ thô đến tế. Tuệ soi đến đâu là ngài thấy rõ
đến đấy. Chỉ cần hướng tâm, là ngài thấy rõ dòng tâm của cả con kiến, con ruồi,
chim, thú dữ, kẻ đui mù, người điếc lãng, ngạ quỷ, chư thiên, địa tiên,
a-tu-la. Ôi, quả thật là vi diệu, sâu nhiệm, ngại rằng có giảng nói cũng chẳng
ai biết, ai thấy, ai tin! Các danh pháp sinh diệt nhanh quá, ngay một sát-na đã
có ba tiểu sát-na sanh, trụ và diệt. Ngay một sắc pháp, có cái còn tế vi tợ hư
không. Thế mà chính chúng, cái nhỏ nhiệm tưởng như không thấy ấy, nó là nhân,
là duyên, tương hệ duyên phức tạp để tạo nên thế gian, thế giới, nhân sinh, hữu
tình, vô lượng vô biên dòng chảy, những rừng thống khổ, những biển nước mắt!
Thế là suốt bảy ngày, đức Phật Gotama đã phác thảo bố cục, nội
dung, chi tiết toàn bộ tạng Abhidhamma. Thế rồi, ngài hình dung,
sau này, tòa nhà lầu giáo pháp, phải lấy bốn niệm xứ làm
nền móng, bốn cây cột vững chắc chính là bốn thần túc, vách tường phải được
dựng lên, ngăn chặn bất thiện pháp - chính là luật giới. Rui, mè, đòn tay, các
chi tiết phụ khác chính là tạng kinh. Abhidhamma chính là nóc lầu. Trong
khi tuệ đi sâu vào tâm để thấy những vi tế, phức tạp của những sát-na nhân
duyên và duyên hệ (sau này là bộ Paṭṭhāna - tinh hoa của tạng Abhidhamma)
cả thân và tâm đức Phật Gotama trở nên sáng trong và tinh
khiết, tỏa ra vòng hào quang sáu màu, đó là xanh dương (nīla), vàng (pīta), đỏ (lohita),
trắng (odāta), cam(majeṭṭha) và trộn lẫn năm màu thành
màu thứ sáu (pabhassara).
Tuần lễ thứ năm, đức Phật Gotama bước qua
hướng Đông của cội bồ-đề, tọa thiền dưới bóng cây Ajapālanigrodha, thọ
hưởng hạnh phúc vô vi, giải thoát. Vào ngày cuối, có một người bà-la-môn ngã
mạn (hukumkajātika) đi ngang, dừng lại hỏi:
- Này sa-môn! Ông hạ thủ công phu tu hành như
vậy, nhưng có biết, đứng ở phương diện nào ta có thể trở thành thánh nhơn? Nói
cách khác, có những điều kiện, nguyên nhân nào để trở thành bậc thánh nhơn?
Đức Phật Gotama đã trả lời bằng
bài kệ:
“- Xa lánh mọi điều xấu xa, tội lỗi, không còn
ngã mạn (hukumka), đã tịnh hóa mọi ô nhiễm, chế phục, điều ngự lục căn, thông
suốt pháp học và chơn chánh, sống đời phạm hạnh thiêng liêng - người ấy được
gọi là thánh nhơn. Vị ấy không còn tham sân, phóng dật dù ở đâu trên thế gian
này!”(Udāna)
Nội dung pháp thoại như đọc được tâm hành của
mình, sợ hãi quá, người bà-la-môn lủi mất.
Sau đó, còn một biến cố khác: Ba người con gái
của Ma vương là Taṇhā (tham ái), Arati (tật
đố) và Rāga (dục ái) đã dùng đủ mọi cách để quyến rũ
đức Phật Gotama nhưng thất bại.
Chuyện là, sau khi dẫn thiên binh, thiên tướng
thảm bại trở về, Ma vương rầu rĩ. Siddhattha Gotama đã chiến
thắng, có nghĩa là danh vọng, tiếng tăm, quyền uy của Ma vương từ nay sẽ bị suy
giảm. Thấy Ma vương cứ thở vắn, than dài, không thiết gì đến những thú vui ngũ
dục tối thượng của cõi trời, ba người con gái tìm hỏi đầu đuôi tự sự. Sau khi
hiểu rõ, họ đồng thanh cười phá lên. Nói rằng:
- Trên thế gian này, chẳng ai có thể thoát khỏi
quyền uy của nữ giới; trái tim người đàn ông dẫu sắt đá, dẫu như làm chủ được
mình, nhưng sẽ ngã gục bởi sắc đẹp thiên kiều bá mị, bởi tiếng nói hoa cười
ngọc thốt, bởi mùi hương nữ tính quyến rũ. Phụ vương hãy giao nhiệm vụ ấy cho
chúng con.
Ma vương dẫu không còn tin tưởng gì lắm - do
nghĩ đến ngũ dục tối thượng ở ba tòa Cung Vui, thái tử cũng không mê đắm -
nhưng chẳng có kế sách nào khác, đành phải gật đầu đồng thuận. Thế là ba cô
thiên nữ - vốn đã sẵn có sắc đẹp mỹ diệu, vóc ngọc, dáng ngà, đào tơ, sen ngó -
chợt biến hóa thành ba nữ vương sắc đẹp xứng đáng đội vương miện hoa hậu tam
giới, dẫn theo một đoàn ca nữ, nhạc nữ, vũ nữ cùng những nhạc khí tối thượng,
trong nháy mắt đã dập dờn xung quanh cội cây Ajapālanigrodha. Thế
rồi đàn, sáo, kèn du dương trầm bổng trỗi lên. Tiếng hát lời ca ma mị, cuốn
hút, đam mê, đắm say tán dương ái tình, dục vọng thể xác đồng một loạt như
những mũi tên hoa dịu dàng, tẩm độc, phóng thẳng vào tim đức Phật Gotama.
Chưa thôi, hòa theo tiếng nhạc là những vũ điệu mềm mại, uyển chuyển, lướt
trôi, phơi phới, nhẹ bay những tấm xiêm lụa mỏng như mây, ẩn hiện những tòa
thiên nhiên bồng đảo lẳng lơ, khêu gợi. Tuy nhiên, đức Phật Gotama vẫn
an nhiên, trạm nhiên, thanh tịnh, bất động. Thấy bọn thiên nữ không lay chuyển,
rung động được người đàn ông trác việt, phi phàm, ba cô con gái nháy mắt với
nhau đồng ra tay. Họ dùng thần lực biến hóa ra từng khung cảnh, từng kỷ niệm,
từng giai đoạn tình tự và ân ái mặn nồng trước đây giữa thái tử và Yasodharā.
Từ xiêm áo, màu sắc, nước da, suối tóc, khuôn mặt, vóc dáng, giọng nói, ánh
mắt, gót sen, búp tay; tất cả đều y hệt công nương Yasodharā. Và ba
đoạn, ba cảnh là ba Yasodharā thuở xưa: Tại cuộc thi hoa hậu,
thi võ nghệ và tuần trăng mật. Lại còn từng giọng bướm ong, lời chăn gối, cứ
thủ thỉ thù thì như rót đường, rót mật vào tai. Ôi, biết bao nhiêu là mặn nồng…
xao xuyến do hương hoa, hương xiêm y, hương da, hương tóc, hương kỷ niệm, hương
cả một cuộc đời thanh xuân, tươi trẻ như cơn mưa tình xối xả đổ xuống tâm trí,
gợi nhắc những hoài niệm ngọt ngào hầu quyến rũ đức Phật Gotama. Ồ,
thật kinh khiếp thay là quyền lực vô địch của sắc thanh hương cõi trời! Tuy
nhiên, chỉ như làn gió nhẹ xao qua cành lá, mặt phẳng tâm hồ của ngài chẳng gợn
lên một tí nào, chẳng thể làm xao động được những sát na thâm sâu của đại định.
Đức Phật Gotama mở mắt ra, mỉm nụ cười như đóa sen xanh rồi
nói với các nữ ma:
- Vô lượng sắc đẹp mỹ miều, âm thanh khả ái,
hương vị khả lạc, Như Lai đã chiến thắng, đã bước qua, đã giải thoát tất cả
chúng rồi. Chẳng còn quyền lực nào trong tam giới có thể chỉ huy, sai khiến
hoặc quyến rũ Như Lai được nữa. Khêu gợi bản năng tính dục là đòn phép tối
thượng mà các ngươi vừa biến hóa, chưng bày, trình diễn cũng không thể chinh
phục được Như Lai. Đằng sau chúng là vị đắng, chua, chát, gai máu, dơ bẩn, độc
dược, nước mắt, hận thù, địa ngục và ngạ quỷ. Chúng sanh cứ hối hả, hớt hải,
triền miên nhảy vào chiếc lưới quỷ quái, xảo quyệt của các ngươi, bị các ngươi
trói chặt từ vô lượng kiếp rồi. Thôi, các ngươi hãy tự tan biến đi! Hãy trở về
với cái bầu bóng tối si mê và dục vọng vô tận, vô độ của các ngươi, của ma chúa
các ngươi!
Lời nói chân thật có uy lực bất khả tỉ của đức
Phật Gotama, nhiệm mầu thay, chúng ma nữ, tức khắc tan vào
bóng tối, trả lại khung cảnh thanh bình, trời quang, mây rạng. Lũ chim quanh
rừng chợt cất tiếng hót líu lo, ríu rít. Mấy chú nai con không biết ở đâu đến,
nằm yên lặng gần bên, đưa những đôi mắt tròn, đen lay láy nhìn ngài với vô vàn
sự trìu mến và tin cậy…
Tuần lễ thứ sáu, đức Phật Gotama bước qua
hướng Đông của cây Ajapālanigrodha, tọa thiền dưới bóng cây Muccalinda để
chiêm cảm niềm vui siêu thế. Bất chợt, gió lạ thổi tới, càng lúc càng mạnh, mây
đen vần vũ kéo đến, sấm chớp đì đùng nổi lên, rồi một trận mưa xối xả tối trời,
tối đất phủ dập núi rừng. Có chú rồng rất lớn ở một cái hồ sâu gần đấy, hằng
đêm trông thấy hào quang lóng lánh sáu màu kỳ lạ của đức Phật Gotama, tò
mò, ngạc nhiên tìm đến. Sau khi quan sát một hồi, chú rồng tự nghĩ: Vị
này là ai mà tướng mạo oai phong, tươi đẹp, cao sang, quý phái tột bực như thế
nầy? Chắc không phải là người! Vậy là thần, là chư thiên, phạm thiên chăng? Đức
Phật Gotama biết được ý nghĩ của rồng, dùng thần thông, chỉ
trong một vài niệm là trao gởi thông tin, cho rồng biết rõ ngài là Phật, đã tận
diệt mọi khổ đau, phiền não, đã ở ngoài tam giới - hiện tại, luôn có những vị
trời, quân của Tứ đại thiên vương (Cātummahārāja) túc trực,
hầu hạ bên cạnh. Sung sướng, hạnh phúc quá, rồng tự nghĩ: Vậy đây là
phước báu hy hữu của ta, ta phải dùng thần thông, chở che cho ngài trong suốt
thời gian mưa to gió lớn này. Nghĩ thế xong, rồng quấn quanh kim thân
đức Phật Gotama bảy vòng, hóa ra bảy cái đầu như bảy cái tàn
lọng vĩ đại, che kín, không để cho bất kỳ một hạt mưa nào xâm phạm, rơi đụng
chéo y của ngài. Trận mưa thật là kinh hoàng và dai dẳng, suốt gần một tuần lễ
mới dứt. Sau khi trời trong, mây tan, gió lặng, rồng gỡ mình ra, hóa thành một
thanh niên, cung kính, năm vóc sát đất đảnh lễ ngài. Đức Phật Gotama tán
thán công đức của rồng, sau đó, nói một bài kệ:
“- Sukho viveko tuṭṭhassa sutadhammassa passato
Abyāpajjhaṃ sukhaṃ loke pānabhūtesu
samyamo
Sukhā virāgalā loke kāmānaṃ samatikkamo
Asmimānassa yo vinayo etaṃ veparama
sukho"
(Đã nghe, đã thấy chân lý, sống tri túc, ẩn dật
là hạnh phúc. Biết thu thúc, có tâm lành tốt đối với mọi chúng sanh là hạnh
phúc. Không luyến ái, vượt lên khỏi dục vọng tầm thường là hạnh phúc. Phá được
ngã chấp, ngã ái là hạnh phúc tối thượng).
Tuần lễ thứ bảy, đức Phật Gotama bước đến
phía bên phải cội cây Muccalinda, ngồi dưới tàn cây Rājāyatana,
an nhập diệt thọ tưởng định…
Thế là suốt bốn mươi chín ngày, đức Phật Gotama không
ăn; ngài duy trì mạng sống, sức khỏe nhờ vào mâm vàng cơm sữa kỳ diệu bốn mươi
chín vắt - bằng trái thốt nốt - của nàngSujātā, con gái của triệu
phú Senānī. Cơ thể của ngài tuy có gầy ốm nhưng thần sắc vẫn
tươi rạng, thần khí vẫn sung mãn do được nuôi dưỡng bởi pháp lạc của thiền,
pháp lạc của quả, pháp lạc của giải thoát. Thời gian này, đức Phật Gotama đã
chiêm nghiệm, rà soát lại toàn bộ giáo pháp mà ngài đã kiếm tìm được, chứng ngộ
được. Chúng vẹn toàn, châu biến, mỹ mãn chặng đầu, chặng giữa và chặng cuối.
Tại nhân gian là vậy, nhưng ở thế giới tưởng như
vô hình, chư thiên, phạm thiên vẫn theo dõi ngài, nhất là những vị có căn cơ
sâu dày với thiện pháp, những vị đã từng tạo ba-la-mật cùng với ngài trong
nhiều tiền kiếp xa xăm. Sốt sắng, nhiệt tình và nhiều tín tâm nhất chính là Tứ
đại thiên vương và vua trời Sakka. Trong không gian thanh
lặng, họ bảo vệ ngài rất chặt chẽ, nghiêm cẩn, chu đáo. Bởi vậy, thấy đức Phật Gotama xả
thiền sau khi nhịn ăn suốt bốn mươi chín ngày, trời Sakka hóa
thân thành một người chăn bò, tình cờ đi ngang, nghêu ngao ca hát, rồi biếu
tặng ngài một nắm trái ca-na chín vàng, bảo là sa-môn hãy ăn cho vui miệng. Đức
Phật Gotama mỉm cười thọ nhận, ngài biết đấy là trời Sakka; lại
càng biết trong những trái ca-na kia, ông ta đã thành tâm, cẩn trọng tẩm đầy
thực phẩm tinh tế, vi diệu của cõi trời để cúng dường. Ngài nói:
- Như Lai chúc phúc cho ngươi. Thiện pháp càng
gieo trồng thì quả trái mai hậu càng thịnh mãn, ngạt ngào hương sắc. Như Lai và
ngươi còn nhiều nhân duyên gặp gỡ.
Hôm sau, có hai vị thương gia, tên là Tapussa và Bhallika;
họ là hai anh em ruột, với năm trăm cỗ xe hàng hóa, từ Ukkala trên
đường đến sông Gaṅgā, theo lộ trình thiên lý trở lại quê nhà, đang
dừng nghỉ dưới một cội cây gần đó. Có một vị thiên, kiếp trước là quyến thuộc
của hai người ấy, nghĩ rằng: “Con đường thương mãi, con đường kiếm tiền
làm giàu là niềm đam mê của họ. Giàu rồi thì muốn giàu thêm. Đấy là cái hố tham
không đáy. Miệt mài tích lũy của cải, bạc vàng là nấm mồ chôn biết bao tâm địa
si ác của con người. Càng tích lũy thì càng ích kỷ, càng sa lầy vào những hành
nghiệp xấu ác. Ta rất xót thương họ. Ta muốn giúp đỡ họ. Ta phải tạo duyên cho
họ biết làm phước, cúng dường, biết gieo trồng thiện pháp - nhất là gieo vào
đám ruộng đệ nhất thượng đẳng điền.”
Nghĩ là làm, vị thiên dùng thần lực làm cho cả
năm trăm cỗ xe - mặc dầu được cột rịt kiên cố bởi năm trăm con bò kéo - tự dưng
một ngàn bánh xe bị quay tròn, trong lúc xe vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Lạ lùng quá,
ngạc nhiên quá, hai vị thương gia cùng những người giúp việc, chạy đến níu giữ
xe lại. Vẫn không ăn thua, những bánh xe vẫn thản nhiên quay! Kinh dị, sợ hãi,
tái mặt... họ đồng quỳ xuống lạy như tế sao, van vái thần trời, thần đất, thần
cây xin tha cho họ, xin đừng trừng phạt họ nữa. Lúc này, vị thiên mới hiện thân
ra với thần sắc cao sang, chói sáng, đứng giữa hư không, uy nghi, lẫm lẫm - đẹp
một ngàn lần hơn vua chúa của cõi người. Vị thiên nói:
- Ta không làm hại hai vị đâu. Trong quá khứ, ta
và hai vị có một lần là cùng chung huyết thống. Hiện tại, do chút phước kiếp
trước, ta sanh làm một vị trời nho nhỏ. Ta muốn giúp hai vị biết hướng thiện
quay đầu, trở về với thiện pháp để được lợi ích lâu dài...
Nói thế xong, vị thiên đưa tay chỉ về hướng cội
cây Rājāyatana, nói rằng:
- Cách đây không bao xa, chỉ chừng một tầm cây
cung, có một vị Phật, một bậc Chánh Đẳng Giác vừa ra đời. Đấy là một bậc vô
thượng mà chư thiên, Tứ đại thiên vương, Chúa chư thiên cõi trời Ba mươi
ba, Phạm thiên... đều phải quy ngưỡng, cung kính, cúng dường. Thật là duyên
lành hy hữu cho hai vị. Ngay bây giờ, hãy chuẩn bị bánh bột rang và mật ong (sattu và madhu -là
lương thực mà khách lữ hành thường mang theo bên mình, thời bấy giờ) để
đến dâng cúng cho ngài. Đã bốn mươi chín ngày, ngài không ăn. Vậy cúng dường
vào lúc này là phước quả sẽ trổ sanh như rừng, như biển...
Nói xong, vị thiên biến mất. Hai vị thương gia
rùng mình, kinh cảm. Một vị trời nho nhỏ mà năng lực, phước tướng như thế ấy,
huống hồ... Với sự kính trọng vô biên và niềm hoan hỷ dạt dào, họ mang bánh sattu và madhu tìm
đến cội cây vị thiên đã chỉ. Thấy vị sa-môn với tướng hảo quang minh, oai
nghiêm mà dịu hiền, như mặt trăng và mặt trời cùng giao hòa với nhau mà lung
linh tỏa rạng; cả hai cùng quỳ xuống, rồi thưa:
- Chúng con từ xa đến, nhờ có một vị thiên quyến
thuộc chỉ bày; xin được thành kính cúng dường ngài chút vật thực mọn mảy; mong
ngài hoan hỷ và bi mẫn thọ dụng để cho chúng con được lợi lạc dài lâu.
Đức Phật Gotama tự nghĩ: “Bây
giờ ta không có bát, chẳng rõ các vị Phật quá khứ có khi nào thọ nhận vật thực
bằng tay không?” Ngay khi ấy, đọc được tâm ý của ngài, Tứ đại thiên
vương tức khắc vân tập, hiện nguyên hình, dâng cho ngài bốn cái bát bằng đá của
cõi trời. Ngài nhận cả bốn cái bát, sau đó, dùng thần thông, nhập bốn cái làm
một rồi thọ lãnh bánh bột rang và mật ong của hai vị thương gia.
Ngài độ thực xong, họ dâng nước và tăm xỉa răng.
Với vài lời ngắn gọn, đức Phật Gotamaphúc chúc đến họ rồi giảng cho
họ nghe biết Phật là gì, giác ngộ, giải thoát là gì; giáo pháp - tức là con
đường thoát khổ ấy ra sao.
Hoan hỷ quá, hai người thương gia quỳ mọp xuống,
năm vóc sát đất, đồng thốt lên:
- Xin ngài cho chúng con được nương tựa, được
gieo duyên với ngài cùng với giáo pháp thoát khổ ấy!
Đức Phật Gotama mỉm cười:
- Ừ, hai ông là hai người đầu tiên trong giáo
pháp của Như Lai đấy; vậy thì phải nói như thế này cho được đúng hơn: “Buddhaṃ,
saranaṃ gacchāmi. Dhammaṃ saranaṃ gacchāmi” (Tôi đi
đến nương tựa nơi đức Phật. Tôi đi đến nương tựa nơi giáo pháp.)
Hai người thương gia y lời vập đầu đọc lại ba
lần.
- Thế là hai ông trở thành đệ tử đầu tiên của
Như Lai trên thế gian này đấy.
Tapussa và Bhallika vòng tay, cúi đầu rồi thưa:
- Chúng con ở rất xa, là người nước ngoài, lần
này về, không biết lúc nào trở lại Māgadha .Vậy xin
ngài cho chúng con một vật gì đó để chúng con tưởng niệm, để hằng nhớ đến ngài
và giáo pháp.
Đức Phật Gotama tiện tay đưa
lên đầu, lấy mấy sợi tóc rồi trao cho hai người khách thương - có tám sợi - rồi
nói:
- Các ông vậy là có đại nhân duyên. Mấy sợi tóc
của Như Lai không phải đơn giản. Sau này, lúc Như Lai nhập diệt rồi, ở xứ các
ông sẽ thịnh hành giáo pháp diệt khổ nhiều ngàn năm.[4]
Hai người thương gia vừa đi một lát, đức Phật Gotama ngồi
suy nghiệm, có một số ý nghĩ nảy sanh:
- “Giới đức, hạnh đức ở nới ta đã chu toàn, viên
mãn. Định thế gian và thánh quả định, ta cũng chu toàn, viên mãn. Tuệ ba cõi và
tuệ siêu thế, ta cũng đã tròn đầy và châu biến. Pháp giải thoát từ cạn vào sâu,
từ trong ra ngoài ta đều cởi bỏ toàn diện, rỗng không, chẳng có gì dính mắc.
Vậy trên thế gian này có ai tối thượng hơn để ta có thể đến thân cận, học hỏi,
lễ bái, cung kỉnh và tôn trọng?”
Sau đó, đức Phật Gotama hướng
tâm đưa tuệ vô biên nhìn khắp ba cõi bốn loài, mười phương thế giới, cảm thán,
ngài thốt lên:
-“Thật cô độc làm sao! Ta đã nhìn khắp thế gian,
thế giới mà ta không thấy ai trong cõi người và trời, sa-môn, bà-la-môn, ma
vương, chư thiên hay phạm thiên có giới đức, giới hạnh, giới tạng
(sīkhakkhanda) hơn ta để ta có thể đến để thân cận, học hỏi, để tỏ lòng tôn
kính, lễ bái, sùng mộ!
Và ta cũng đã nhìn khắp thế gian, thế giới, khắp
các cõi trời và người, nhưng không tìm thấy một sa-môn, bà-la-môn, ma vương,
chư thiên, phạm thiên nào có định đức, định hạnh, định tạng (samādhikkhanda),
có tuệ đức,tuệ hạnh, tuệ tạng (paññākkhanda), có giải thoát đức, giải thoát
hạnh, giải thoát tạng (vimuttikkhanda) hơn ta để ta có thể đến để thân cận, học
hỏi, để tỏ lòng tôn kính, lễ bái, sùng mộ!”
Rồi tư tưởng sau đây phát sanh đến ngài:
“- Vậy, giáo pháp, pháp báu, pháp tạng này
(dhammakkhanda) là tối thượng tôn, là vô năng thắng - hay ta hãy tỏ lòng tôn
kính, lễ bái, sùng mộ cái giáo pháp mà ta vừa chứng ngộ?”
Lúc ấy, phạm thiên Sāhampati, bạn
thân của ngài từ thời đức Phật Kassapa - với thời gian chớp
mắt, sử dụng thần thông, như viên lực sĩ duỗi cánh tay - đã hiển hiện bên cội
câyRājāyatana, cung kính chấp tay rồi nói rằng:
- Quả thật vậy, thưa đức đạo sư vô song (satthā
anuttaro), bậc thượng nhơn vô tỉ - những bậc Ứng Cúng, những đức Chánh Đẳng
Giác trong quá khứ đều tỏ ra tôn kính và sùng mộ giáo pháp này.
Những bậc Ứng Cúng, những đức Chánh Đẳng Giác
trong thời vị lai cũng tôn kính và sùng mộ giáo pháp này.
Vậy bạch đức Thế Tôn, cầu xin ngài cũng là bậc
Ứng Cúng, đức Chánh Đẳng Giác trong thời hiện tại, hãy tôn kính và sùng mộ giáo
pháp ấy.
Phạm thiên Sāhampati còn nói
thêm rằng: Những bậc Chánh Biến Tri trong quá khứ, vị lai và hiện tại,
đã, đang và sẽ giúp cho nhiều người được thoát khổ - tất cả những vị ấy, đã
đang và sẽ tôn kính giáo pháp cao thượng. Đó vốn là đặc tánh, là phẩm hạnh, là
diệu dụng của chư Phật ba đời. Vậy, sau này, ai muốn tìm lợi lạc cho mình và
với ước nguyện được trưởng thành trong đời sống cao đẹp, tầm cầu giác ngộ, giải
thoát - họ phải biết tôn kính giáo pháp vô song ấy.
Nói xong, thưa thỉnh xong những điều cần thiết,
phạm thiên Sāhampati nhiễu ba vòng về phía hữu, quanh đức Phật Gotama -
tỏ lòng tôn kính - rồi biến mất giữa hư không.
Rời cội cây Rājāyatana, đức Phật Gotama kinh
hành trở lại cội cây Ajapālanigrodha, an tịnh và ngồi xuống, những
ý nghĩ khác lại dấy khởi:
- “Giáo pháp mà Như Lai đã chứng ngộ, quả thật
là thậm thâm vi diệu, vắng lặng, cao siêu, tế nhị; lại ở ngoài phạm vi của lý
luận, suy đoán, kiến thức và hiểu biết thường phàm - nên rất khó thấy, khó
biết, khó lãnh hội - ngoại trừ những bậc thiện trí may ra mới thấu hiểu. Lại
nữa, thế gian quen sống trong luyến ái, đam mê nhục dục ngũ trần thì làm sao
nắm bắt được lý nhân quả tương quan, pháp tùy thuộc phát sanh, duyên hệ, duyên
hệ duyên - vốn là giáo pháp cốt tủy, tinh yếu - thường không thể để dành cho
những đầu óc nông cạn, hời hợt, lười biếng, phóng dật, tối tăm và nhiều vọng
tưởng. Và Niết-bàn - nơi chấm dứt mọi hiện tượng phát sanh có điều kiện, hữu
lậu, nơi từ bỏ mọi khát vọng, chỗ tiêu diệt mọi tham ái, luyến ái buộc ràng -
cũng là một vấn đề ở ngoài thẩm quyền của trí năng thường nghiệm, khó khăn vô
cùng. Nếu Như Lai truyền dạy giáo pháp ấy thì chúng sanh sẽ không lãnh hội
được. Thật là phí công vô ích! Thật là phí công vô ích!”
Lát sau, những tư tưởng sau đây lại phát sanh
đến ngài, như là sự đúc kết của mọi băn khoăn, do dự:
“- Quả vậy, Như Lai đã khó khăn, gian lao vất vả
lắm mới chứng ngộ được giáo pháp này. Nhưng giáo pháp ấy sâu kín quá, tế nhị
quá, người còn mang nặng tham ái và sân hận thật không dễ gì thấu triệt. Chúng
sanh bị bao trùm trong si mê và ái dục, tâm trí bị che phủ bởi đám mây đen kịt
- thì làm sao thấy được ánh sáng chân lý? Giáo pháp này lại đi ngược dòng đời
nữa - thì làm sao mà phổ biến giữa cuộc đời? Vậy ta chưa thể lên đường truyền
bá trong lúc này!”
Đọc được ý nghĩ của đức Thế Tôn, phạm thiên Sāhampati sợ
rằng, nếu đức Phật quyết định không đi truyền bá giáo pháp, và, vì chúng sanh
không nghe được pháp diệt khổ thì thế gian sẽ bị tiêu vong - nên một lần nữa,
xuất hiện, và thỉnh nguyện rằng:
- Xin thưa với đức Thế Tôn! Kính thỉnh nguyện
ngài hãy lên đường truyền giáo. Cầu xin đức Đại Bi hãy gióng trống pháp bất tử!
Nếu giáo pháp nhiệm mầu không được tuyên dương thì tam giới sẽ bị bốc cháy, thế
gian sẽ bị diệt vong. Có những chúng sanh dính ít nhiều bụi cát trong mắt, nếu
không nghe được giáo pháp sẽ phải bị trầm luân, sa đọa. Giáo pháp được thuyết
giảng, người còn ít bụi cát sẽ dễ dàng thấu hiểu, sẽ chứng ngộ được chân lý cao
siêu, vô thượng ấy.
Thấy đức Phật vẫn trầm ngâm, yên lặng, phạm
thiên Sāhampati lại cung kính vập đầu, tha thiết, khẩn khoản:
- Xin đức Thế Tôn hãy vén tay mở rộng cửa vô
sanh bất tử! Giáo pháp vô song được tuyên thuyết bởi một đấng hoàn toàn trong
sạch; giáo pháp cao thượng được diễn giảng bởi một bậc có trí tuệ thâm viễn -
sẽ đánh bại hằng trăm, hằng ngàn tà thuyết hý luận, hý ngôn do những giáo chủ,
tà sư huênh hoang múa môi, múa lưỡi khắp cõi châu Diêm-phù-đề.
Hỡi bậc đại thiện trí! Hỡi đấng Toàn Giác! Xin
đức Thiện Thệ hãy cho phép chúng sanh được nghe một loại giáo pháp tinh thuần,
vô nhiễm mà ngài đã chứng ngộ được trải qua vô lượng kiếp với vô lượng ý chí
huân tu công hạnh. Hiện ngài đang đứng trên đỉnh tối cao của tòa lâu đài pháp
bảo siêu việt và huy hoàng ấy. Xin đấng thoát khổ hãy nhìn xuống chúng sanh
đang chìm đắm trong đêm đen mộng trường tăm tối, đang ngập chìm trong biển khổ,
đang bị cuốn lôi triền miên trong dòng bộc lưu của hoạn nạn, tai ương, tật
nguyền, máu lệ của vòng trầm luân tử sinh bi thống.
Ngài là bậc trí nhân, là đấng hiền nhân, là
người minh triết; ngài còn là bậc chiến thắng vĩ đại, là người đã ở ngoài, ở
cao và ở trên mọi quyền lực của ma vương, đã hoàn toàn tháo gỡ mọi trói buộc,
mọi xích xiềng, lưới võng của dục, của triền, của phược. Xin ngài hãy hoan hỷ
đứng lên và châu du hoằng pháp khắp thế gian. Xin ngài hãy gióng trống pháp bất
tử! Xin đức Thế Tôn bi mẫn ban rải cam lồ pháp vũ!
Đức Phật Gotama chậm rãi, điềm
đạm nói với vị phạm thiên nhiều trí tuệ và giàu tâm lượng, hiểu rằng: “Giáo
pháp quá sâu mầu, vi diệu, tinh tế; lại thuộc phạm trù trực giác thâm chứng -
nên thật khó cho chúng sanh lãnh hội bằng trí năng suy lý. Còn nữa, giáo pháp
lại đi ngược dòng đời, ngược dòng tham ái - thì làm sao thuyết giảng lọt tai,
lọt trí thế gian, khi chúng sanhvốn xem hạnh phúc là sự thỏa mãn dục trần. Như lai quyết định chưa
truyền bá!”.
Thấy đức Đại Giác vẫn giữ tâm đại định không lay
chuyển, phạm thiên Sāhampati lại vập đầu cung thỉnh lần thứ
hai, lần thứ ba. Đức Phật Gotama mỉm nụ tiếu sanh tâm, tự
nghĩ: “Tín ngưỡng bà-la-môn xem vị phạm thiên là thượng đế, là bậc hóa
sanh chủ, là đấng tối thượng tôn, vô năng thắng; bây giờ, vị phạm thiên này,
bạn cũ của ta, đã vì giáo pháp, vì chúng sanh mà thưa thỉnh ba lần - đúng với
truyền thống chư Phật ba đời, làm cho ta cũng phải xúc động chánh pháp!”
Lặng lẽ, tịnh định dùng thiên nhãn quan sát thế
gian, đức Phật Gotama thấy rõ rằng: “Chúng sanh có rất
nhiều giống loại, nhiều căn cơ, nhiều tâm trí, nhiều trình độ dị đồng, sai
khác. Có chúng sanh nhiều bụi cát trong mắt, có chúng sanh ít bụi cát trong
mắt. Có kẻ thông minh, sáng suốt, có kẻ ngu tối, u mê. Bẩm tánh người này tốt,
hiền; cá tính người kia xấu, ác. Loại người này sáng dạ, dễ dạy; loại người kia
cứng đầu, ương bướng khó dạy. Còn một số khác, có lẽ là thành phần tốt nhất, do
họ đã thấy hiểm họa của tham dục và sân ác trong dòng chảy của ô uế ngũ trần
nên đã tìm cách tu tập bằng cách này hay cách khác, bằng tín ngưỡng này hay tôn
giáo kia. Ngược lại, có rất đông chúng sanh đầy đặc vô minh, ngu si
và tà kiến - thì quả thật không thể - dù một triệu mặt trời chân lý cũng khó có
thể dọi sáng đến tâm trí dày sâu, đầy đặc tối tăm của họ.”
Cũng tự nhiên và đúng với lẽ thường tình thôi - đức Thế Tôn nghĩ tiếp - Hãy nhìn cái đầm sen
kia! Biết bao nhiêu là sen xanh, sen đỏ, sen trắng, sen vàng, sen hồng, sen tía
nằm xen kẽ nhau, lẫn lộn trong nhau. Cây nào cũng mọc từ bùn, vươn ra khỏi bùn,
vượt lên khỏi mặt nước rồi cho hoa hữu sắc hữu hương. Tuy nhiên, có cây đang
còn ở trong bùn, chui rúc trong bùn; có cây vừa ra khỏi bùn, vươn mầm ở đáy hồ,
sống thầm lặng dưới đáy hồ; có cây đang ở trong nước, cố vươn lên khỏi mặt nước
để đón nhận ánh sáng mặt trời;có cây đã ở trên mặt nước, bung những tàn lá to,
xanh biếc, dập dờn trên mặt nước, đón nắng đón sương rồi bung những đóa hoa
tinh khôi, kiều diễm phụng hiến hương sắc cho thế gian - mà chẳng dính một chút
bùn nhơ.”
Chiêm nghiệm như thế xong, liên tưởng như thế
xong, đức Phật Gotama tuyên bố như giọng sư vương giữa bình
minh của kỷ nguyên mới:
- Cửa vô sanh bất diệt đã mở cho muôn loại chúng
sanh. Ai có tai để nghe, có mắt để thấy, có trí để thấu hiểu - hãy đặt trọn vẹn
niềm tin tưởng.
Thế là đức Phật Gotama quyết
định lên đường chuyển bánh xe pháp. Lúc ấy đã gần cuối mùa hạ, sắp đến mùa mưa,
ngày mồng năm tháng sáu, năm năm trăm tám mươi tám (năm Dậu) trước
Tây lịch kỷ nguyên.
[1] Có
tư liệu nói là vào năm 1972 có một phái đoàn khảo cổ đã đào bới ngôi nhà cũ của
nàng Sujātā, phát hiện rất nhiều mâm vàng, mâm bạc, chén vàng, chén bạc...
[2] 10 loại vũ khí của 10 đạo binh ma là tượng
trưng cho 10 loại phiền não sau đây: Tham dục (kama), bất mãn (arati), đói khát
(khupipasa), ái dục (tanha), hôn trầm - thụy miên (thina, middha), sợ hãi
(bhava), hoài nghi (viccikicha), phỉ báng, cố chấp (kukkha – thambha), lợi lộc,
khen tặng, vinh dự, danh vọng (labha, siloka, sakkara, yasa), tự tán, hỷ tha
(attukkamsanaparavambhana).
[3] 5 đại bố thí là: bố thí vợ, con, của cải,
tứ chi, sanh mạng. Ba pháp hành là: hành đem lại lợi ích cho thế gian, lợi
ích cho quyến thuộc và lợi ích cho sau này thành tựu quả vị Phật.
[4] Hai thương gia này là người Myanmar, 8 sợi
tóc sau này được thờ tại đại tháp Shwedagon, hiện nay là bảo vật, là niềm hãnh
diện và vinh quang của người Myanmar.
Minh Đức Triều
Tâm Ảnh

































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét