Các nhà văn phương Nam với Hà Nội
Hà Nội luôn là nguồn cảm hứng vô tận
cho thơ ca
Những ai đã từng sống và học tập, làm việc ở
Hà Nội đều có một cảm nhận này: Hà Nội là mảnh đất ngàn năm văn hiến, là nơi hội
tụ tinh hoa văn hóa của đất nước, là chốn tập trung nhiều nghệ sĩ tài năng và
tâm huyết. Đối với các văn nghệ sĩ miền Nam, điều cảm nhận ấy càng rõ nét.
Khi tập kết ra Bắc năm 1954, các nhà văn -
nhà thơ: Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Đoàn Giỏi, Nguyên Ngọc, Thu Bồn, Hoàng Văn
Bổn, Hoài Vũ, Phạm Hổ, Nguyễn Thành Long... còn rất trẻ. Trước đó, họ đã có một
số tác phẩm gây tiếng vang ở quê hương, tuy nhiên vốn sống, vốn văn hóa, kinh
nghiệm sáng tác còn hạn chế. Nhưng bù lại họ có niềm đam mê, chí cốt với nghề,
quyết tâm viết được những tác phẩm xứng đáng với quê hương đất nước. Ra Hà Nội,
họ đã gặp ngay một mảnh đất màu mỡ để tài năng nẩy nở, vươn lên một tầm cao mới.
Họ được học lớp bồi dưỡng ở Trường viết văn Nguyễn Du, đi tham quan thực tế ở
trong và ngoài nước, tiếp xúc với nhiều nguồn sách báo. Và nhất là được các nhà
văn, nhà thơ đàn anh ân cần dìu dắt, được bạn bè đồng nghiệp động viên khích lệ,
tạo ra không khí thân mật ấm cúng, kích thích sáng tạo văn học. Nhà văn Anh Đức
tâm sự: “Thành thật mà nói thời gian ở miền Bắc tôi được học hỏi rất nhiều
nhưng không phải học hỏi ở trường vì tôi chưa hề dự một trường trại viết văn
nào. Tôi học ở sách, ở người, người đây là các nhà văn lớp trước, trong đó có
những nhà văn thực sự có tài và nổi tiếng mà tôi được đọc hầu hết tác phẩm của
họ từ lúc còn nhỏ. Là một người viết trẻ, tôi hết sức quý trọng các anh chị ấy.
Trước hết là do đọc sách của họ, sau do nhờ sống chung biết được phẩm cách của
họ. Phẩm cách lớn nhất là hầu hết họ đứng về nhân dân, đi theo ngay với cách mạng
và kháng chiến. Tôi về công tác ở Hội Nhà văn vài tháng sau khi Hội thành lập,
năm 1957, ở giữa những Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy
Tưởng, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Bùi Hiển, Kim Lân, Xuân Diệu, Tú
Mỡ... Tôi để ý thấy các anh chị lớp trước như anh Nguyên Hồng mỗi khi giải đáp
điều gì, dù nhỏ, cho lớp trẻ chúng tôi cũng đều chu đáo, cẩn trọng”. (Con đường
chúng tôi đi qua - Truyện ngắn và bút ký Anh Đức). Nhà văn Nguyễn Tuân thường
chăm sóc nhà văn trẻ Nam bộ Anh Đức. Là một người rất nghiêm khắc, ông dõi theo
từng sáng tác và mỗi khi Anh Đức viết được tác phẩm tốt ông đến bắt tay động
viên.
Ông khen Anh Đức: “Văn đã có giọng riêng, giọng miệt vườn”. Ở Hà Nội, nhà văn Anh Đức viết tiểu thuyết “Một chuyện chép ở bệnh viện” và một số truyện ngắn. Năm 1962, sau tám năm ở Hà Nội, nhà văn Anh Đức trở về chiến trường miền Nam và đã viết nên một loạt tác phẩm có giá trị: Bức thư Cà Mau, Hòn Đất, Giấc mơ ông lão vườn chim... Nhà văn Nguyễn Quang Sáng - người có nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim thành công không bao giờ quên được kỷ niệm với nhà văn đàn anh Nguyễn Huy Tưởng: “Trong những ngày đi thực tế ở Điện Biên, anh thường viết thư động viên tôi viết về cuộc kháng chiến ở Nam bộ chúng ta - đất xa xôi của Tổ quốc, nhưng nằm ấm áp trong lòng mỗi người Việt Nam (lời anh Nguyễn Huy Tưởng). Trong thư hoặc trong câu chuyện, anh luôn nhắc đến miền Nam”. Nguyễn Huy Tưởng thường kể cho các nhà văn trẻ Nam bộ nghe các tiểu thuyết, truyện, kịch của nước ngoài và phân tích rút ra điều hay, điều dở. Đặc biệt, ông hay kể về cuộc đời, tinh thần lao động phi thường của các nhà văn thế giới để làm gương cho lớp trẻ. Khi nhà văn Nguyễn Quang Sáng hoàn thành bản thảo tiểu thuyết Đất lửa lần đầu, nhà thơ Hoàng Trung Thông và nhà văn Nguyễn Huy Tưởng nghe đọc và góp ý sửa chữa. Nguyễn Huy Tưởng kêu lên: “Đất của tiểu thuyết! Cuộc sống ngồn ngộn, roi rói, đầy sẵn. Chỉ cần tay nghề vững nữa thôi”. Khi cuốn sách được đưa in, nhạc sĩ - họa sĩ Văn Cao giúp vẽ bìa. Nhà văn Đoàn Giỏi - tác giả Đất rừng phương Nam luôn coi Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng như người anh, người thầy. Năm 1955 mới tập kết ra Bắc, bạn đọc miền Bắc đã kinh ngạc, khâm phục với những bài bút ký sắc sảo, tài hoa của Đoàn Giỏi: Đèn tôi bay về Lục Hồ Chí Minh, Cây đước Cà Mau, Ngọn tầm vông. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã nhận xét vui: “Thấy vảy, thấy cựa, thấy có mào và có mã rồi đấy, đứng được trường chọi đấy nhưng phải công phu nữa”. Mặc dù rất thích sắc thái, ngôn ngữ Đoàn Giỏi nhưng Nguyễn Huy Tưởng vẫn nhắc nhở chớ có lạm dụng làm cho tác phẩm khó hiểu, khó tiếp thu. Sau năm 1975, Đoàn Giỏi còn nấn ná ở Hà Nội mấy năm nữa rồi mới chuyển vào Sài Gòn. Ở Sài Gòn, nhà văn có lúc ngậm ngùi than vãn: “Ở Hà Nội thì mình nhớ Sài Gòn, về Sài Gòn lại nhớ Hà Nội, đâu là quê, cũng chẳng biết. Ba mươi năm vui buồn sống chết với thủ đô. Một nửa đời người...”. Lời tâm sự của nhà văn Đoàn Giỏi cũng chính là tình cảm sâu sắc của các nhà văn miền Nam với Hà Nội.
Ông khen Anh Đức: “Văn đã có giọng riêng, giọng miệt vườn”. Ở Hà Nội, nhà văn Anh Đức viết tiểu thuyết “Một chuyện chép ở bệnh viện” và một số truyện ngắn. Năm 1962, sau tám năm ở Hà Nội, nhà văn Anh Đức trở về chiến trường miền Nam và đã viết nên một loạt tác phẩm có giá trị: Bức thư Cà Mau, Hòn Đất, Giấc mơ ông lão vườn chim... Nhà văn Nguyễn Quang Sáng - người có nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim thành công không bao giờ quên được kỷ niệm với nhà văn đàn anh Nguyễn Huy Tưởng: “Trong những ngày đi thực tế ở Điện Biên, anh thường viết thư động viên tôi viết về cuộc kháng chiến ở Nam bộ chúng ta - đất xa xôi của Tổ quốc, nhưng nằm ấm áp trong lòng mỗi người Việt Nam (lời anh Nguyễn Huy Tưởng). Trong thư hoặc trong câu chuyện, anh luôn nhắc đến miền Nam”. Nguyễn Huy Tưởng thường kể cho các nhà văn trẻ Nam bộ nghe các tiểu thuyết, truyện, kịch của nước ngoài và phân tích rút ra điều hay, điều dở. Đặc biệt, ông hay kể về cuộc đời, tinh thần lao động phi thường của các nhà văn thế giới để làm gương cho lớp trẻ. Khi nhà văn Nguyễn Quang Sáng hoàn thành bản thảo tiểu thuyết Đất lửa lần đầu, nhà thơ Hoàng Trung Thông và nhà văn Nguyễn Huy Tưởng nghe đọc và góp ý sửa chữa. Nguyễn Huy Tưởng kêu lên: “Đất của tiểu thuyết! Cuộc sống ngồn ngộn, roi rói, đầy sẵn. Chỉ cần tay nghề vững nữa thôi”. Khi cuốn sách được đưa in, nhạc sĩ - họa sĩ Văn Cao giúp vẽ bìa. Nhà văn Đoàn Giỏi - tác giả Đất rừng phương Nam luôn coi Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng như người anh, người thầy. Năm 1955 mới tập kết ra Bắc, bạn đọc miền Bắc đã kinh ngạc, khâm phục với những bài bút ký sắc sảo, tài hoa của Đoàn Giỏi: Đèn tôi bay về Lục Hồ Chí Minh, Cây đước Cà Mau, Ngọn tầm vông. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã nhận xét vui: “Thấy vảy, thấy cựa, thấy có mào và có mã rồi đấy, đứng được trường chọi đấy nhưng phải công phu nữa”. Mặc dù rất thích sắc thái, ngôn ngữ Đoàn Giỏi nhưng Nguyễn Huy Tưởng vẫn nhắc nhở chớ có lạm dụng làm cho tác phẩm khó hiểu, khó tiếp thu. Sau năm 1975, Đoàn Giỏi còn nấn ná ở Hà Nội mấy năm nữa rồi mới chuyển vào Sài Gòn. Ở Sài Gòn, nhà văn có lúc ngậm ngùi than vãn: “Ở Hà Nội thì mình nhớ Sài Gòn, về Sài Gòn lại nhớ Hà Nội, đâu là quê, cũng chẳng biết. Ba mươi năm vui buồn sống chết với thủ đô. Một nửa đời người...”. Lời tâm sự của nhà văn Đoàn Giỏi cũng chính là tình cảm sâu sắc của các nhà văn miền Nam với Hà Nội.
Lời động viên chân tình của người lãnh đạo Hội
Nhà văn đã giúp cho nhà văn Hoàng Văn Bổn thêm động lực hăm hở đi vào mặt trận,
hăm hở viết. Một lớp nhà thơ như: Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Diệp Minh Tuyền...
khi tập kết ra Bắc theo học các trường học sinh miền Nam, sau đó tốt nghiệp các
trường đại học tổng hợp, đại học sư phạm. Từ cái nôi văn hóa Hà Nội họ trở vào
chiến trường miền Nam và đã có những đóng góp cho văn học miền Nam như chúng ta
đã biết.
ĐN

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét