Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Hiểu thêm về lịch sử khoa cử nước Nam ta

Hiểu thêm về lịch sử khoa cử nước Nam ta

Ất Mão năm thứ 4 niên hiệu Thái Bình đời vua Lý Nhân Tôn (1075) mở khoa thi Minh Kinh bác học và Nho học tam trường (thi kén lấy người Minh Kinh bác học). Ông Lê Văn Thịnh người Gia Định (huyện Gia Định - Bắc Ninh) bấy giờ là làng Đông Cửu, huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc đỗ đầu. Khoa cử nước ta có từ đấy. Một đời Lý thấy ở trong sử chỉ có 6 khoa, khoa ấy với khoa Bính Dần (1086) thi kén người văn học sung vào Viện Hàn Lâm, khoa Nhâm Thân (1092) thi Đình, khoa Ất Dậu (1165) thi học sinh, khoa Ất Tỵ (1185), khoa Quý Sửu (1193) đều thi kén người vào Thị học (nghĩa là hầu vua học, hoặc khi vua ngự, giảng đọc sách vở), khoa Bính Dần, sử chép người đỗ đầu là Ông Mạc Hiển Tích - khoa Ất Tỵ, sử chép ba người đỗ là ông Bùi Quốc Khái, Đỗ Thế Diên và Đặng Nghiêm.
Triều Lý tổ chức được 7 khoa thi. Có 4 khoa vào các năm 1152, 1165, 1193, 1195 nhưng không thấy ghi tên người đỗ. Còn 3 khoa vào các năm 1075, 1086, 1185 có ghi tên 4 vị đỗ. Khoa thi năm 1085 còn ghi 30 người trúng tuyển được ban chức tước mà không có danh sách. Triều Lý chưa có Tam khôi.
Triều Lý là triều đại tiếp sau triều Đinh và triều tiền Lê lấy võ công làm trọng. Phần thi khi ấy đạo Thính, đạo lão đương thịnh hành. Đời vua Lý Anh Tông (1138-1175) còn lấy 3 giáo (đạo Nho, đạo Phật và đạo Lão) thi học sinh. Cho nên lựa người bổ quan phần nhiều lấy ở trong quân nhân và trong tăng đạo, phép thi thảo lược, chưa lấy gì làm tinh tường.
Đến đời Trần thì phép thi đã khá kỹ. Vua Trần Thái Tôn (1232) thi Thái học sinh (như Tiến sĩ đời sau) chia làm 3 giáp (như phép thi Hội đời Minh bên Tàu). Đến năm 1239 lại định hẳn 7 năm có một khoa thi. Ở trong sử chép một khoa lấy đỗ 51 vị: 3 vị Tam khôi 48 vị Thái học sinh (ông Nguyễn Hiền 13 tuổi đỗ Trạng Nguyên, Ông Lê Văn Hưu 18 tuổi đổ Bảng nhãn). Đời Vua Trần Thánh Tôn, khoa thi 175 lại hợp kinh, trại thi làm một, lấy đỗ 3 vị Tam khôi, 27 vị Thái học sinh - Đầu bài thi trước kia thế nào không xét được rõ. Từ năm thứ 12 niên hiệu Hưng Long vua Trần Anh Tôn (1304) định lại phép thi chia làm 4 kỳ: Kỳ thứ nhất Ám tả; kỳ thứ nhì Kinh nghĩa và thơ phú; kỳ thứ 3 chế, chiếu, biểu; kỳ thứ tư Văn sách. Khoa ấy ông Mạc Đình Chi đỗ Trạng nguyên, ông Nguyễn Trung Ngạn đỗ Hồng giáp, Nhị giáp gọi là hoàng giáp bắt đầu từ đấy. Năm thứ hai niên hiệu Long Khánh, vua Trần Duệ Tôn (1304) đổi Thái học sinh thành Tiến sĩ: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa - Hoàng giáp cho là cập đệ, Tiến sĩ cho là đồng cập đệ. Khoa ấy, đình thi tại hành cung Thiên Trương (Phủ Xuân Trường- Nam Định bây giờ) lấy 50 vị tiến sĩ (năm 1396), Trần Thuận Tông định phép thi Hương, người trúng tuyển thi Hương gọi là Hương cống, mới được dự thi Hội. Sau lại định đầu bài thi Hội, trường nhất bỏ Ám tả, thi Kinh nghĩa; trường thi thơ phú, hai trường kia để như cũ. Phép thi lúc ấy, qua mấy lần sửa đổi đầu rất tinh tường.
Triều Trần tổ chức được 19 khoa thi thì 8 khoa vào các văn 1227, 1228, 1261, 1314, 1321, 1345, 1365, 1384 không ghi tên người đỗ. Còn lại các khoa 1232, 1239, 1256, 1266, 1275, 1304, 1374, 1383 lấy đỗ 38 vị có danh sách theo thứ bậc Nhất giáp, Nhị giáp, Tam giáp, Giáp khoa, Ất khoa, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp. Còn có 289 vị ghi đỗ Thái học được xuất thân theo thứ bậc khác nhau mà không có danh sách.
Tiền Hồ Quý Ly định lại phép thi, đặt thêm một kỳ thi Toán Pháp, cũng có ý hay. Thời kỳ quân Minh chiếm xứ, điều lệ thi cử trong nước bị phá sạch. Vua Lê Thái Tổ Bình Ngô dựng nước, năm thư 2 niên hiệu Thuận Thiên (1429) mới thi Quan viên sĩ dân thiên hạ tại Đông Đô (Hà Nội bây giờ). Quan văn quan võ trong ngoài từ tứ phẩm trở xuống, ai tinh thông kinh sử, võ kinh đều cho vào thi. Quan văn thì kinh sử, quan võ thì võ kinh, năm thứ 4 lại thi khoa “chân nho chính trực”; 2 khoa ấy thi hoặc Kinh nghĩa, hoặc Luận phú, hoặc sách đề đều tùy tài lấy đỗ, bất thứ (không kể thứ tự, muồn dùng làm chức lớn đến đâu tùy ý, cất dùng); còn khoaHương, khoa Hội lúc ấy chưa kịp cử hành. Đến năm niên hiệu Thiện Bình đời vua Lê Thái Tôn (1433) định lệ 6 năm thi một khoa, năm trước thi Hương, năm sau thi Hội, người trúng tuyển đều cho là Tiến sĩ xuất thân. Đầu bài thi Trường nhất: 1 bài nghĩa kinh, bốn truyện mỗi truyện một bài nghĩa truyện, bài nào cũng hạn 300 chữ trở lên. Trường nhì: Chế, chiếu, biểu; Trường ba: Thơ, phú; Trường tư: Một đạo văn sách, hạn 1000 chữ trở lên. Năm thứ năm mới mở khoa thi Đình, vua ngự điện dinh hỏi một bài đối sách, duyệt quyển rồi sai quan đọc Sắc xướng danh, lấy đỗ 7 người vừa Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Tiến sĩ. 28 người Phó bảng, cho Ân mệnh (mệnh vua ban cho kẻ dưới, ăn yến, lĩnh mũ, đai, xiêm áo, vinh quy về làng). Tiến sĩ vinh quy thành lệ từ đấy.
Năm thứ 7 niên hiệu Quang Thuận đời vua Lê Thánh Tôn (1466) định lệ 3 năm thi khoa. Ba năm một khoa bắt đầu từ đấy.
Bia Tiến sĩ dựng từ thời vua Lê Thái Tôn (1442) nhưng đến năm 1484 công việc mới hoàn thành, bộ công đục đá, văn thần soạn văn, theo thứ tự đỗ cao đỗ thấp đề tên các ông nghè, ý làm trọng cái danh giá Tiến sĩ, hơn cái luyện ngàn đời vậy.
Tiến sĩ đến đời Lê, lễ đài rất trọng hậu, qua Hồng lô truyền tờ chế vua, xướng tên những người đỗ, quan là bộ ban ấn mệnh, mũ áo; quan lễ bộ bừng bảng vàng có phường nhạc dẫn đưa đế cử hoàng thanh treo yết, các ông Tiến sĩ được ban yến ở dễ bộ đường; quan coi tàu ngựa sắp ngựa ngự đưa về quê ngự, vinh diện không gì bằng. Đến đời hậu Lê càng thêm trọng hậu hơn nữa, cấp phẩm phục vinh quy, dân bản quán phải cờ trống tiếp nước, qua sở tại phải bắt dân làng tổng làm dinh- Tam khôi được vào viện Hàn Lâm, đồng Tiến sĩ được bổ chức khoa Đạo (là chức quan tài kinh, cấp sự các khoa: Binh, hình, lễ, lại, công, bộ...) không phải đi làm phủ, huyện. Nhưng điều ấy là ân ninh đặc biệt từ lúc có khoa mục đến giờ chưa từng có vậy.
Đời Tây Sơn mới chỉ có khoa thi Hương. Vua Quang Trung có ham muốn cải cách, lập sùng chính viện, phong trào chữ Nôm nhưng thời gian quá ngắn chưa làm được.
Triều Nguyễn, Gia Long thống nhất Bắc - Nam, phép thi cũng châm chước theo thời Lê. Năm 1807 mở khoa thi Hương. Đầu bài và cách thi theo 4 trường. Đời Gia Long tổ chức được tất cả 3 kỳ thi Hương (1807, 1813, 1819), chưa có thi Hội.
Vua Minh Mệnh năm thứ 3 (1822) mở khoa thi Hội năm thứ 10 Minh Mệnh (1829) những người điểm thấp hơn Tiến sĩ được gọi là Phó bảng.
Năm thứ 13 Minh Mệnh sửa lại phép thi 4 trường, rút bớt một trường, trường nhất thi Kinh nghĩa, trường nhì thi Hương, thi Hội và trường ba thi Văn sách.
Năm thứ 4 niên hiệu Thiện Trị (1844) định phép thi Hội thường ba trường được mười phân trở lên là trúng cách, bốn phân đến chín phân hoặc một trường bất cập phân mà hai trường kinh được trên mười phân, lấy đậu phó bảng. Lại định các quan giáo dục, huấn đạo có chân cử người, tú tài đến kỳ thi Hội nếu tự nguyện cũng cho vào thi.
Năm thứ 4 niên hiệu Tự Đức (1851) lại thi bốn trường mà bỏ lệ đủ quyển cả bốn trường mới lấy được hoặc đánh hỏng. Thi Hương trúng cách mới cho vào trường thi; trường nhì trúng cách mới cho vào trường ba; trường ba trúng cách mới cho vào trường bốn- trúng trường bốn cho đậu cử nhân; trúng trường ba cho đậu tú tài. Thi Hội thi thông bốn trường, được tám phần trở lên là trúng cách, bốn đến bảy phần hoặc một trường bất cập phân mà ba trường kia, được trên bốn phần, lấy được Phó bảng. Lệ cũ, Phó bảng không được vào thi Đình. Nhưng từ nay về sau, Phó bảng đều được thi Đình cả.
Ngoài thi Hương, thi Hội lại còn có Khoa biết thời, như khoa Hoàng từ đời hậu Lê, khoa Sĩ vọng, khoa Tuyển cử, khoa Đông các đời Lê Trung Hưng, khoa Ân khoa, khoa Cát sĩ, khoa Nhã sĩ, khoa Yêm bác đời nhà Nguyễn. Đầu bài mới ra thế nào thì ra, không thể lệ nhất định, người trúng tuyển danh vị sỹ như ông nghè, có ý để đãi những người ẩn sĩ, có học vấn.
Như vậy, lịch sử khoa thi cử nước ta, phép thi đời Lý điều lệ chưa định rõ, kỳ hạn chưa rành, vẫn còn sơ lược. Trải qua các triều Trần, Lê, Nguyễn khoa cử nước ta trở nên bài bản, từ thời hạn đến nội dung đề bài, từ hình thức thi đến cách xếp học vị. Nghe xem, các triều đại phong kiến Việt Nam ta rất trọng người tài, tổ chức thi cử nghiêm ngặt là để chọn người có chí có nhân, có trí để lo vận nước. Thiết nghĩ đây là điều mà chúng ta nên lưu giữ và phát huy, bởi đó là cốt cách, văn hóa văn nghệ.
HƯƠNG QUỲNH
Theo http://www.vnq.edu.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...