Laiquangnam giới thiệu
thi nhân tráng sĩ Đặng Dung
Cảm hoài* 感懷
Phần I
Trong hàng ngàn bài Thất ngôn bát cú luật thi của Việt Nam cũng như
của Đường thi Trung Quốc mà tôi đã đọc, những bài liên quan đến tâm sự người
tráng sĩ trước vận nước không hề có một bài nào có thể so sánh được với bài Cảm
hoài của tráng sĩ thi nhân Đặng Dung của chúng ta, kể cả thơ của Tô
Đông Pha, thi nhân rất nổi tiếng đời Tống. Có lẽ cả trong dòng Thất ngôn
bát cú này, một bài khác có thể để bên viên ngọc quý này là bài Hoàng
hạc lâu của Thôi Hiệu, tuy nhiên tâm sự của Thôi Hiệu lại là dòng tâm
sự thương nhớ quê hương. Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu thật khó
mà so sánh được với Cảm hoài của Đặng Dung cả về nội
lực văn chương, cả về nhãn quan lẫn văn phong. Hoàng hạc lâu của
Thôi Hiệu đã được đề cập nhiều tại Việt Nam, nay tôi không bàn về Hoàng
hạc lâu của Thôi Hiệu nữa vì xem như khách thơ đã biết; nay tôi tập
trung bàn về bài Cảm hoài của Đặng Dung mà thôi.
Thơ văn của Đặng Dung
chỉ còn lưu lại chỉ mỗi một bài Cảm hoài. Đó là một bài thơ
mà tám câu thẩy đều xuất sắc, mỗi câu là một trang sử, lời thơ chứa nhiều kiến
văn của một người có sức học rất rộng, tài hoa trong việc chọn điển từ, điển
tích, quyết đoán trong việc đánh giá ai xứng đáng được gọi là anh hùng, ai là
tên tiểu tốt hay loại bần tiện trong lịch sử Tàu và Việt. Là một bản anh hùng
ca mang tâm trạng về thế sự trong ấy thể hiện rõ phong cách của người tráng sĩ
trong cơn quốc nạn. Danh sĩ Lý Tử Tấn, người đồng khoa tiến sĩ với
Nguyễn Trãi, là phó soái Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú thời vua Lê Thánh Tông, vào
giữa thế kỷ XV, khi nhận xét về bài thơ này, Lý danh sĩ phê “phi
hào kiệt chí sĩ bất năng“ (nếu không phải là người hào
kiệt, tráng sĩ thì không thể trước tác nổi).
Đọc đến đây làm sao mà
khách thơ không thích thú cho được khi hồi tưởng một thời trung học của mình đã
từng được học qua, nay còn nhớ đôi câu trong trí:
Thời lai đồ điếu4
thành công dị
Vận khứ5 anh
hùng ẩm hận đa
Đó là câu 3 và câu 4
trong nguyên tác đã gây bao nhiêu cảm xúc cho người thời nay, cụ Phan kế
Bính năm xưa đã dịch:
Bần tiện gặp thời lên
cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm
càng cay.
Cụ Tản Đà dịch:
Gặp gỡ thời cơ may những
kẻ,
Tan tành sự thế luống
cay ai!
Và người bây giờ dịch;
Gặp thời tiểu tốt lên
sao dễ,
Lỡ vận anh hùng nhận thế
ta!.
Xin các bạn hãy cùng
tôi, chúng ta cùng đọc kỹ lại thơ ông để xem lời bình của danh sĩ Lý Tử Tấn
đúng đến mức độ nào, và tiện thể cũng để xác định cho chắc một lần cuối rằng,
trong thể Thất ngôn bát cú nói về khí phách tráng sĩ không bài nào qua mặt nổi
bài Cảm hoài của Đặng Dung tài danh của Việt Nam chúng ta. Để
có thể thưởng ngoạn cho tận hết “cái hay “ của bài trên, xin khách thơ cùng
laiquangnam đọc lại lịch sử cũng như các huyền thoại thoại dân gian.
I- Bài thơ của Đặng Dung được sáng tác
trong bối cảnh nào?
Lấy cớ tên đại gian tặc
Hồ quý Ly (gốc Tàu), kẻ đã cướp ngôi nhà Trần, do sự bất cẩn của vua Trần
nuôi ong tay áo, không nghe lời của quan tư đồ Trần Nguyên Hãn; quân
nhà Minh diệt dễ dàng nhà Hồ, sử ghi tướng Tàu là “Trương Phụ
thắng trận đi đến đâu giết hại quân dân và làm những điều tàn
bạo gớm ghê là xếp người thành núi, hoặc rút ruột người treo lên
cây, hoặc nấu thịt người để lấy dầu. Còn những người An nam ai phục
tùng nhà Minh mà giết được nhiều người bản quốc thì được thưởng cho
làm quan. Thật bấy giờ tha hồ cho bọn hung ác đắc chí” sđd(1)
trang 204 .Thế sự du du nại lão hà (câu 1) là thế.
Chỉ vì xuất phát lòng
căm thù trước sự tàn ác và dã man của bọn giặc Tàu xâm lược mà các hào kiệt như
Đặng Tất khởi binh trước đó, tiếp tục sau này là các tướng Đặng Dung, Nguyễn
cảnh Dị, con trai của danh tướng Nguyễn cảnh Chân, Trần Quý đi tìm con cháu nhà
Trần dựng cờ khởi nghĩa. Họ đã tổ chức lực lượng chống trả kẻ thù, dẫu
biết kẻ thù đã mang sang nước ta một lực lượng quân binh chính quy hùng mạnh
đông gấp nhiều lần về cả ba phương diện vũ khí, con người, quân lương. Các vị
anh hùng đã đánh nhau ròng rã trên dưới bảy năm (1407-1413) với một binh lực
hơn hẳn mình. Có lúc họ cũng đã thắng nhiều trận lẫy lừng, sđd(1), tưởng
chừng như đã thắng, nhưng dài hơi thì cuộc đọ sức đã không cân sức. Than
ôi! họ đã bại trận! Trên đường bị đưa về Yên kinh ( Bắc Kinh ngày nay ) để
làm nhục, vua tôi họ đã ca hát như không có chuyện gì xảy ra, thắng bại
là lẽ thường tình đối với người tráng sĩ một khi họ đã toàn tâm toàn ý, hết
lòng, hết sức vì dân tộc này. Đặng Dung, trong vai trò lãnh đạo cuộc
kháng chiến đã ngâm cho vua tôi nghe khúc ca cảm khái này, vừa ngâm vừa gõ nhịp
xuống ván gỗ thuyền, cùng vui và sẵn sàng đón nhận mọi sự trả thù tàn bạo của
kẻ thù; dân tộc ta đâu xa lạ gì sự tra tấn đầy thú tính của người Tàu đối với
dân bị trị, xin khách thơ cùng đọc đoạn sử̉ này “Năm 1410,Trần quý
Khoách khi thấy sức đã yếu, kéo dài cuộc chiến chỉ làm kiệt sức dân, hao binh
tổn tướng, nay tạm chấp nhận thua thiệt trước mắt để tính kế lâu dài. Vua
bèn cử Nguyễn Biểu làm sứ giả sang dinh của Trương Phụ bàn chuyện hòa giải.
Trương Phụ bắt trói sứ giả Nguyễn Biểu vào chân cầu để nước triều lên thì
Nguyễn Biểu phải chết ngộp”. Một quốc gia côn đồ thì có binh tướng côn
đồ, có văn minh của xứ nào trên thế gian này lại đi giết sứ giả, khi mà họ đến
trại giặc với hai tay không. Sử sách nay vẫn còn ghi chép rõ ràng tội ác đó,
sđd (1). Phan kế Bính đánh giá́ bọn “bần tiện “ quả không nặng lời!
Không muốn mình phải chịu cảnh ô nhục trong tay địch, thừa lúc sơ ý của bọn
lính canh của giặc, vua tôi cùng nhào xuống biển tuẩn tiết. Oanh liệt và hào
hùng!
II-
Toàn văn nguyên tác và bản dịch quốc âm
Dân tộc ta đã được may
mắn đọc lại khúc ngâm anh hùng ca này là do hai công ghi chép, một là
tiến sĩ Lý tử Tấn đời Lê thánh Tông có chép lại dưới tên là Cảm hoài và
viết lời bình; hai là của Lê Quí Đôn (1726 - 1784) trong Toàn Việt Thi
Lục có chép lại bài này dưới tên Thuật hoài. Một bài
thơ duy nhất còn lại của thi nhân tráng sĩ Đặng Dung nhưng là thiên hạ đệ nhất
thi.
2.1- Nguyên tác
感 懷
世 事 悠 悠 奈 老 何,
無 窮 天 地 入 酣 歌。
時 來 屠 釣 成 功 昜,
運 去 英 雄 飲 恨 多。
致 主 有 懷 扶 地 軸,
洗 兵 無 路 挽 天 河。
國 讎 未 報 頭 先 白,
幾 度 龍 泉 戴 月 磨。
2.2- Phiên âm
Cảm
hoài
Thế sự du du1 nại lão hà2
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca3
Thời lai đồ điếu4 thành
công dị
Vận khứ5 anh hùng ẩm
hận đa
Trí chúa6 hữu hoài phù
địa trục
Tẩy binh7 vô lộ vãn thiên
hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch8
Kỷ độ Long Tuyền9 đái nguyệt
ma.
Đặng Dung
2.3- Chú các từ mang
tính lịch sử:
1_Thế sự du du (1),
khắp đất nước nơi đâu cũng hoang mang vì bị giặc Tàu mượn cớ họ Hồ cướp ngôi
của nhà Trần, họ mang binh sang xâm lăng và tàn phá và thiết lập chế độ đô hộ
nước ta, toàn dân tộc ta chưa có giải pháp nào khả dĩ để đánh đuổi quân xâm
lược.
2_nại lão hà (2),
già rồi làm sao chừ, bối rối sâu.
3_hàm ca (3),
là khúc ca vui khi đấng trượng phu mượn rượu để nói lên chí khí mình;
tỉ như Lý Bạch đã từng như thế trong bài “Xuân nhật túy khởi ngôn chí”;
hay như Nguyễn Phi Khanh trong bài các bài minh, bài phú, sđd(2) .
4_đồ điếu (4),
đồ là người đồ tể, chỉ Phàn Khoái, chiến hữu của Hán Lưu Bang; điếu là người đi
câu, chỉ Hàn Tín, đại tướng của Lưu Bang. Cả hai giúp Lưu Bang xây dựng nhà
Hán (dưới mắt Đặng Dung, cả hai đều là bọn bần tiện, đồ tiểu
tốt)
5_Vận khứ (5)
chỉ thời vận nhà Trần đã qua, sự việc Giản định đế đã u mê giết tướng Đặng
Tất, cha Đặng Dung, khiến cho sức chiến đấu của lực lượng khởi nghĩa
suy yếu.
6_Trí chúa (6)
ý nói lòng quyết tâm tiếp tục phò tiên triều (Trần), gác qua mối thù giết
cha; Đặng Dung đã lập Trần quý Khoách lên làm vua, đôn Giản định đế lên làm
thái thượng hoàng, lo đánh đuổi giặc Tàu xâm lược là nhiệm vụ trước mắt.
7_Tẩy binh (7), Ý
nói đất nước thanh bình không còn cảnh binh lửa, sau khi thắng trận trở về,
các tướng cầm quân tìm đến bãi sông rộng để binh sĩ được tắm mát nghỉ
ngơi.
Điển từ Tẩy Binh lấy
trong bài Tẩy Binh Mã (Tẩy rửa binh mã ) của Đỗ Phủ:
An đắc tráng sĩ vãn
thiên hà;
Tịnh tẩy giáp binh
trường bất dụng.
Tạm dịch nghĩa:
Yên được tráng sĩ kéo
ngược sông Ngân hà
Tẩy sạch giáp binh dài
lâu không dùng đến nữa.
8_đầu tiên bạch,
nhắc tích Ngũ Tử Tư, một nhân vật thời Đông Châu, trong một đêm chờ qua lọt
cửa thành mà đầu bạc trắng, khi lòng mang nặng mối thù nhà
9_Long Tuyền thanh
tể tướng kiếm, đây là thanh dương, một trong bốn kiếm báu trong kho tàng điển
tích Tàu.
(Xin xem chi tiết các
chú thích từ, điển ở phần hai )
2.4- Tạm dịch
nghĩa
Nỗi
niềm hoài bão
Thế sự mang mang lại (+) tuổi già
Thiên hạ thì vô cùng hãy nhập vào mà hát hàm ca
Thời đến bọn đồ tể, bọn câu cá cũng thành công dễ dàng
Thời qua anh hùng cũng đành nuốt hận
Hết lòng vì chúa có hoài bão xoay trục đất
Rửa giáp binh không lối kéo ngược dòng sông ngân hà
Thù nước chưa báo thì đầu bạc trước
Bao thời qua đội trăng mà mài kiếm long tuyền.
2.5- Điểm qua đôi nét tài hoa của người
xưa
1- Về âm vận, Đặng Dung đã dùng âm
“a” là một âm vang, âm vui khi sáng tác bài này.
Ông đã dùng rất nhiều điển tích và điển từ của người xưa
từ Đỗ Phủ (tẩy binh) đến các bài minh, bài phú của tiến sĩ Nguyễn phi Khanh
(hàm ca) .
2- Về nội hàm, câu 2 –“Vô cùng
thiên địa nhập hàm ca” đã mang một nội hàm như sau:
Vô cùng thiên địa , lấy ý tưởng trong
Luận ngữ của Khổng tử, "Thiên hạ ngôn tai!tứ thời hành yên, bách
vật sinh yên, thiên hà ngôn tai!" , nghĩa là “Trời có nói
đâu!bốn mùa vận hành, trăm vật nẩy nở, trời có nói đâu!"
sđd(2) ; các thi nhân Tàu đời Đường mượn nó để diễn đạt cho từ ước
lệ "du du" trong thi ca của họ.
Nhập hàm ca, vậy thì ta (Đặng Dung )
hãy nói lên cái chí hướng của mình bằng khúc “hàm ca”, như ngài Nguyễn phi
Khanh ngày ấy: “Kiền khôn chi quang tể nan thường, hào kiệt chi kinh
luân hữu hội, an đắc tố tử thanh, sung bích hư, tông du u tạo hóa chi sở ngoại
da! “ tạm dịch “ Trời đất quang tạnh không thường, hào kiệt làm việc
kinh luân có hội, ta mong muốn làm sao được lên khoảng trời tía trong vắt
kia, muốn được xông vào cõi biếc thẳm không hư để theo chơi nơi hội ngộ cùng
Tạo hóa!”. sđd (2).
Câu “Vô cùng thiên địa nhập hàm ca” laiquangnam xin tạm dịch thoát ý thơ là “hãy hòa nhập cùng trời đất
huyền ảo để thỏa cái chí của mình”; vì lẽ đó, điều hay nhất là bạn hãy cố gắng
nhớ thuộc lòng câu thơ nguyên tác vô cùng kỳ ảo, thay vì vừa ngâm vừa gõ vào
miệng ly rượu mà hát nghêu ngao "vô cùng trời đất gõ bầu mà ca.”,
quả thật khó có câu thơ thất ngôn bát cú nào xưa nay chuyển tải hết được lời
của người xưa trong bảy chữ như thế!
3- Phù địa trục trong câu 5, “Trí
chúa hữu hoài phù địa trục”, xin tạm dịch nghĩa“hết lòng với chúa
có hoài bão nâng trục trái đất “( riêng Phù địa trục, là xoay đổi
trục quay trái đất, là xoay thời vận, làm thay đổi mệnh trời); trí
tưởng tượng của người xưa thật phong phú. Ông bà ta" "Cóc nghiến
răng trời phải sợ" nữa mà!Trong bàiHạo ca hành của Bạch Cư
Dị có nhắc về thời vận, ông nói muốn cho tâm mình được thập phần an lạc thì
hãy chớ nên cãi mệnh trời:
功名富貴須待命,
Công danh phú quý tu đãi
mệnh,
命若不來知奈何。
Mệnh nhược bất lai tri
nại hà?
Vinh hoa chờ mệnh vuông
tròn
Mệnh mà chưa đến chớ
hòng hơn thua! Sđd (6)
Rõ ràng phong cách Việt
được người tráng sĩ Đặng Dung thể hiện xoay mệnh trời cũng đủ nói lên cái
khí phách của tiền nhân ta hơn hẳn người Tàu, triết lý ba Tàu dạy họ luôn
chịu cúi mình theo mệnh trời mà Bạch cư Dị (浩歌行) là một điển hình. Hãy hết sức mình, hãy cố mà xoay trục
đất lỡ thất bại thì hòa mình cùng trời đất mà vui “Vô cùng trời đất hát hàm
ca.” của Đặng Dung là vậy.
4- Mỗi câu hàm chứa một
giai đoạn lịch sử có thật xảy ra trên đất nước ta thời ấy. Điển từ và điển tích
được ông chọn rất kỹ (Ngũ Tử Tư, kiếm Long Tuyền). (xin xem phần II, đọc thêm)
5- Ông đã đánh giá lại
hai nhân vật Phàn Khoái (đồ), Hàn Tín (điếu), ông xếp họ vô loại tiểu tốt, cụ
PKB còn dùng từ nặng hơn, họ là bọn bần tiện, đó là một lối đánh giá khác hẳn
với cách đánh giá khác với giới sĩ phu Tàu, trong đó thi nhân Đặng Dung cũng
cho Trương Phụ người đã thắng ông, và cả đất nước của Trương Phụ cũng là xứ
sở bần tiện cực kỳ. Vậy anh hùng là ai?, xin thưa, đó là vua tôi ông và các
tướng chiến hữu của ông (xin xem phần II, đọc thêm).
6- Sự dũng mãnh của
người tráng sĩ đâu phải chỉ biết cầm gươm xông pha trận mạc, mà còn ý chí, mà
còn lối suy tư đứng đắn của một người tể tướng, như các câu 5 và 6 .
7- Lời nhắn gởi kinh
nghiệm của người lãnh đạo cuộc kháng chiến, một đời mài thanh tể tướng kiếm
Long Tuyền bảo vệ tổ quốc, truyền khí thế, như là di ngôn nhắc nhở cho muôn
đời sau với kẻ thù phương Bắc.(Xin xem phần II, đọc thêm), các câu 7 và 8.
2.6- Dịch thơ quốc
âm
Cảm hoài
(Đặng Dung)
Thế sự mang mang lại tuổi
già!
Vô cùng trời đất gõ bầu
ca10
Gặp thời tiểu tốt lên
sao dễ11,
Lỡ vận anh hùng nhận thế
ta12!.
Phò chúa một lòng xoay
trục đất,
Rửa binh không lối kéo
ngân hà!
Quốc thù canh cánh đầu
tiên bạc!
Gối nguyệt… mài gươm…
mấy độ qua!
Laiquangnam
Chú
riêng: gõ bầu ca10 là cách thể
hiện “hát hàm ca“ ngày nay khi chúng ta đã quá quen thuộc bài Hồ
trường, vô cùng,11lên sao dễ, 12nhận thế
ta là các cụm thành ngữ đa ngữ nghĩa.
2.7- Bản dịch của một
thời làm học sinh trung học:
Cụ Phan kế Bính dịch,
Việc đời bối rối tuổi
già vay,
Trời đất vô cùng một
cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên
cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm
càng cay.
Vai khiêng trái đất mong
phò chúa,
Giáp gột sông trời khó
vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã
bạc,
Gươm mài bóng nguyệt
biết bao rày.
Cụ Trần Trọng Kim trích
đưa bản dịch vào sách Việt nam sử lược của Cụ, nhờ vậy đã được rất nhiều
người thuộc do đọc lịch sử. Ngày nay bạn có thể vào google mà tìm sẽ gặp
nhiều các bản dịch khác.
III- Lời cuối, đề
nghị của người viết.
laiquangnam đề nghị
bạn nên học thuộc bản văn nguyên tác, bởi khó có một bản dịch nào lột được tất
cả ý người xưa, các chữ “hàm ca, đồ điếu, tẩy binh, đầu tiên bạch, long
tuyền…”, do hiệu ứng quả cầu tuyết trong ngôn ngữ, chúng
đã mang trong mình một sức truyền cảm và gây nên một cảm thú riêng cho
khách thơ.
Tại sao đối với một bộ
phận chúng ta khó học thuộc nguyên tác nhất là những khách thơ không phải là
dân văn chương nhà nòi; có lẽ do vì, có thể có những từ Hán mà chúng ta
ngày nay không sao hiểu chính xác được nghĩa vì quá ư xa lạ, hoặc từ
ấy có thể khiến ta hiểu lầm nghĩa gốc khi chúng ở dạng ký tự vuông.
Nhằm hổ trợ các bạn, laiquangnam xin cập nhật phần chú dưới đây :
1- những
từ Hán đã được Việt hóa gần hoàn toàn
Thế sự, vô cùng, thiên
địa, hận, đa, quốc thù, đầu tiên, bạch, địa trục, vị báo thì các bạn đã rõ .
2- và những từ
Hán còn đang chờ thuần hóa
du du là mang mang; dị là dễ,
như giản dị; ẩm là uống, ẩm hận là nuốt hận;
trí là làm hết bổn phận, ví dụ trí lực là hết sức; hữu
hoài là có hoài bão; phù là nâng; tẩy binh là
rửa binh giáp; vãn là kéo lại, xoay lại, vị là
vì, kỷ độ là đã bao thời qua, kỷ là bao
nhiêu, độ là đã qua, kỷ độ là bao nhiêu lần
qua …; đái là đội; ma là mài, như chữ ma
sát trong vật lý học.
Chỉ cần bấy nhiêu, các
bạn có thể học thuộc nguyên tác được rồi đó. Đọc để nhớ tiền nhân, đọc để
cất đi mặc cảm là chỉ có thơ Đường là nhất, quả là quá sức sai
lầm do sự “nổ” của những người biết năm ba chữ Tàu!. Hãy đọc đi!
dòng thơ chữ Hán của tiền nhân ta còn nhiều lắm.
Xin mời bạn đọc lại một
lần nữa, hy vọng lần này thấm hơn, thú vị hơn.
Cảm hoài
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma
Đặng Dung
Xin cám ơn các bạn đã
đọc và yêu mến Đặng Dung.
Laiquangnam
Tham khảo
1-Trần trọng Kim, Lịch
sử Việt Nam, nxb THTPHCM, 2005, chương XII nhà Hậu Trần, và các chương
khác về sự bạo tàn của Tàu đối với dân Việt trong suốt 1000 Bắc thuộc. Đặc
biệt cụ TTK chỉ dùng trước sau một từ Tàu, để chỉ Trung quốc ngày nay!.
2-Nguyễn đăng Thục, Lịch
sử tư tưởng Việt Nam, tập V , (Tư tưởng Việt Nam thời Hồ, 1380-1407)
nxb TPHCM,1998.
3-Nguyễn Hưng Quốc, Nghĩ
về thơ, Văn nghệ, California, USA,1989
4- Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn
ngữ thơ, Văn hóa thông tin, 2001
5- Trong quá trình viết
bài này, laiquangnam có xử dụng một số tư liệu khác trên mạng internet,
Vi-wikipedia.com và đã đọc chừng trên dưới hơn 2500 bài thơ Đường để viết
lời xác quyết trên..
6-Laiquangnam, Đường
thi nửa chặng, laiquangnam chọn và dịch các bài thơ Đường hay nhất,
chưa xuất bản.
Phần II. Đoạn I -
Thế sự du du ...
Theo truyền thuyết dân gian của dân tộc ta, tương truyền rằng cái
chết của người anh hùng tráng sĩ Đặng Dung đã làm động lòng trời đất. Ông được
Trời rước về phong thần cai quản cung trăng. Rõ ràng bên mõm đá trên chiếc đĩa
vàng vằng vặc treo giữa trời lộng gió kia, có muôn ngàn ngôi sao lóe sáng vây
quanh kia, có một người tráng sĩ nước Đại Việt đang ngồi mài gươm, không sao
lầm được trong ý đôi mắt người Việt rải ra khắp thế gian hiện nay. Cạnh họ ai
đó ngâm khẽ
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
Đặng Dung
Thù trả chưa xong đầu đã
bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Phan kế Bính dịch
hay
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Phan kế Bính dịch
hay
Quốc thù canh cánh đầu
tiên bạc!
Gối nguyệt… mài gươm… mấy độ qua!
Gối nguyệt… mài gươm… mấy độ qua!
(LQN)
….thế sự du du…,thời lai, đồ điếu..., vận khứ anh hùng, xoay trục đất, kéo ngân hà, mài kiếm long tuyền …bao kỷ độ? và thù nước chưa xong…đầu đã bạc trước.. ngàn năm mài kiếm dưới ánh trăng mờ …… .
….thế sự du du…,thời lai, đồ điếu..., vận khứ anh hùng, xoay trục đất, kéo ngân hà, mài kiếm long tuyền …bao kỷ độ? và thù nước chưa xong…đầu đã bạc trước.. ngàn năm mài kiếm dưới ánh trăng mờ …… .
Ngôn từ trong bài ca với
âm “A“ vui và phấn khích sao mà vẫn làm lòng người Việt ray rức rối bời vì vận
nước. Họ nhận ra ngay người đồng hương mình. Đi xa gặp đồng hương đã vui, gặp
người có cùng nỗi niềm tâm trạng thì có gì hạnh phúc cho họ hơn. Tuyệt tác là
vậy. Cầu nối vô tận hiện nay của bài Cảm Hoài, nguyên tác của thi
nhân tráng sĩ Đặng Dung khiến cho cộng đồng Việt chúng ta xít lại gần nhau hơn
để cùng sưởi ấm cho nhau phát xuất từ tấm lòng của người anh hùng vị quốc vong
thân.
Xưa nay đối với Người Việt, trăng là chứng nhân, trăng là người bạn tâm tình nhất là lúc nửa đêm thức giấc. Đối với lớp người xưa, đôi khi họ ngâm đôi câu thơ Lý Bạch
Xưa nay đối với Người Việt, trăng là chứng nhân, trăng là người bạn tâm tình nhất là lúc nửa đêm thức giấc. Đối với lớp người xưa, đôi khi họ ngâm đôi câu thơ Lý Bạch
舉頭望明月, Cử đầu vọng
minh nguyệt
低頭思故鄉, Đê đầu tư cố hương
低頭思故鄉, Đê đầu tư cố hương
(Tĩnh dạ từ)
Ngẩng đầu trăng vãi
trắng trời,
Cúi đầu đối bóng bồi hồi
nghĩ (xót, nhớ) quê!
Một khi trăng còn treo trên trời, ngàn sao sáng còn vây quanh lấy nó, ngày đó con dân nước Việt cho dù họ cách xa ngàn dặm cũng cùng một nỗi niềm như nhau. Họ ngước nhìn lên giữa đĩa vàng sáng rực, họ luôn thấy người anh hùng tráng sĩ kính yêu Đặng Dung của mình vẫn còn đang ngồi đó mà mê mãi mài thanh gươm báu
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Phan kế Bính dịch
“Người nay không thấy thời xa xưa của trăng, nhưng Trăng ngày nay từng chiếu tỏ rạng người thời xưa”( ý thơ LB). Và dấu ấn Người xưa đã được trăng vàng khắc ghi rõ mồn một trên bề mặt mình.”Người nay không thấy trăng xưa, Người xưa gươm sắc đang mài trăng nay”.
Một khi trăng còn treo trên trời, ngàn sao sáng còn vây quanh lấy nó, ngày đó con dân nước Việt cho dù họ cách xa ngàn dặm cũng cùng một nỗi niềm như nhau. Họ ngước nhìn lên giữa đĩa vàng sáng rực, họ luôn thấy người anh hùng tráng sĩ kính yêu Đặng Dung của mình vẫn còn đang ngồi đó mà mê mãi mài thanh gươm báu
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Phan kế Bính dịch
“Người nay không thấy thời xa xưa của trăng, nhưng Trăng ngày nay từng chiếu tỏ rạng người thời xưa”( ý thơ LB). Và dấu ấn Người xưa đã được trăng vàng khắc ghi rõ mồn một trên bề mặt mình.”Người nay không thấy trăng xưa, Người xưa gươm sắc đang mài trăng nay”.
Là người Việt hiện nay
cho dù bạn đang ở bất cứ nơi nào đó trên trái đất này, tuổi đời tuy có khác
nhau, sức học có khác nhau, giới tính tuy có khác nhau, điều kiện sống tuy có
khác nhau, thẩy đều đôi lần mượn một trong bốn cặp câu của bài Cảm hoài để
tự ru mình trong niềm trăn trở, nghĩ về quê hương đất nước. Bởi thế, vào những
đêm trăng tròn tại quê người, bạn thấy ai đó đang thơ thẩn, bước đi chầm chậm,
ngước nhìn trời, rồi cúi đầu xuống đất như hoài niệm một lời trăn trở của ai
đó, bạn hiền không cần nghe tiếng nói của họ, 100 phần 100 người ấy hẳn là một người
Việtl.
Cảm hoài của Đặng Dung là bài đệ nhất thi trong
dòng thất ngôn bát cú luật thi. Trác tuyệt là ở đó.Nhớ xưa,
Thế sự du du nại lão hà…
Khi Giản định Đế vì một phút u mê mà giết người anh hùng Đặng Tất (cha của tráng sĩ Đặng Dung) và danh tướng Nguyễn Cảnh Chân (cha của người anh hùng Nguyễn Cảnh Dị), Đặng Dung giận điên lên, ông muốn ăn tươi nuốt sống ngay lập tức vì vua này. Vậy mà ông cố dằn và tự nhủ, mình không thể giết Giản Định Đế, nóng vì thù nhà mà đan tâm làm hỏng đại cục! Nếu giết thì cuộc kháng chiến lâm vào vòng bế tắc, lòng người thêm hoang mang ly tán, chấp nhận Giản Định Đế là hoàng thượng của mình thì lòng đau như cắt khi nhìn kẻ đã giết cha ta! Nay mình là thuộc hạ. Một tiếng thở dài. Thế sự du du …Cuối cùng ông tự quyết định lấy một cách hết sức khó khăn. Bước một, ông sai tướng Trần Súy bắt Giản Định Đế từ Nghệ An mang về Thanh Hóa và lập Trần quí Khoách lên ngôi, hiệu là Trùng Quang Đế. Bước hai, đặt Giản định Đế lên làm thái thượng hoàng, để mình còn tránh mặt mỗi lúc nhớ cha già. Đặng Dung lúc này được phong làm Tư mã, ông cùng Nguyễn Cảnh Dị con của tướng Nguyễn Cảnh Chân ngày đêm lo việc phục quốc đánh trả quân thù. Nguyễn cảnh Dị, Trần Súy, Đặng Dung, Trần quí Khoách (tức Trùng Quang Đế) có nhân cách cao đẹp, họ đã làm hết sức mình những gì mà họ có thể làm được cho dù vượt quá khả năng họ, laiquangnam đã đề cập ở phần một.
Trong suốt hai chục năm
xâm lăng Đại Việt, Minh thành Tổ Vĩnh Lạc và Minh Tuyên Tông xem như cơ hội
ngàn vàng bởi hơn 500 năm qua, Đại Việt hoàn toàn độc lập tách ra lập một cõi
trời riêng. Nam quốc sơn hà nam đế cư (http://minhtrietviet.net/).
Minh thành Tổ Vĩnh Lạc
đã tập trung cao độ mọi cố gắng chiến tranh xâm lược sau khi đuổi được Quân
Nguyên Mông tại chính đất nước họ. Phương Bắc hành xử như một con sói. Khi bị
cắn, bị thương tật thì nằm yên, sau khi lành lặn lại giương mắt sói trong đêm tìm
đến Phương Nam săn mồi. Cơ hội đến, Phương Nam có loạn, tóm được cha con họ Hồ
giải về Kim Lăng ngay lập tức, Vua Minh nói với Hồ ”Trung Quốc như thế
sao không phục mà dám xấc xược chống cự!”. Năm 1406, trong lần xuất binh
thứ hai, họ đã huy động 80 vạn quân dân binh các loại, quyết tâm làm cỏ nước ta
và xóa sạch đất nước này trên bản đồ thế giới. Tàu không bao giờ muốn Đại Việt
như cục xương luôn chận cổ họng mình khiến họ không sao tìm đường trực tiếp
xuống Phương Nam được. Họ lập tức lập kế hoạch hủy diệt quốc gia Đại Việt thật
sạch, phá thật nát. Với kế hoạch chu đáo vô cùng độc ác, họ quyết tâm biến nước
ta thành quận huyện của Tàu, mà tiền nhân họ, đời Hán, đời Đường vẫn chưa sao
làm trọn gói được. Minh Thành Tổ chỉ đạo cho Trương Phụ và chư tướng bằng văn
bản hành động cụ thể, lệnh truyền rằng: “chỉ trừ những bản kinh sách về
Thích, Đạo không hủy, còn tất cả những bản in sách, giấy tờ cho đến các bài trẻ
con học như: “ Thương đại nhân, Khâu ất kỷ “ thì nhất thiết một mảnh giấy, một
chữ cũng phải hủy đi cho kỳ hết”. Đốt sạch hủy sạch, họ làm triệt để hơn
những gì mà 1000 năm trước Mã Viện đời Hán đã làm với nước ta. Lệnh truyền
rằng, “Chỉ những bia nào do Ta (tức Tàu) dựng lên từ ngày trước thì để lại,
còn những bia nào do An Nam lập ra thì phải hủy cho kỳ hết, một chữ cũng không
được để sót”. Đến tháng 6 năm 1407 nhà Minh nhắc lại một lần nữa, đến tháng
8 năm 1418 thì họ gom cú chót chở về Tàu. Binh thư Lý Trần mất sạch. Không
những thế mà họ còn mang 200* sư sãi về Đại Minh học lại tiếng Hán cho thuần
với chính quốc (sđd (9,TVG). Trong đầu y ( vua Minh) chỉ có bọn thầy Chùa này
mới đủ nội lực đẩy lùi dòng thiền Phật giáo nhập thế Lý Trần trên đất nước Đại
Việt xưa. Âm Hán Đường mà người nước ta tạm dùng đã quen tưởng như của riêng
mình với cách hành văn phảng phất tiếng nôm trong văn thư, văn học, nay nhà
Minh muốn nó phải được đọc lại theo âm Yên kinh (Bắc kinh) ngày nay. Bởi họ
không hiểu người Đại Việt nói gì khi phát âm đó với cùng một ký tự. Luyện tay
sai phải luyện phát âm cho giống mẫu quốc. Họ đem về Yên Kinh đào tạo và tái
đào tạo lại bọn Sĩ (士), bọn đội Hán mới, nhóm
này men theo đường khoa bảng xuất hiện 70 năm sau tại Đại Việt (cuối đời Lê
Thánh Tông, và dẫn đến cuôc chiến tranh Nam Bắc dài dằng dặc trong lịch sử Đại
Việt) sau này. Kinh sợ thay cho một bàn tay xếp đặt của nhà vua Tàu, Minh Thành
Tổ Vĩnh Lạc. Than ôi, văn hóa Đại Việt “cắc ca cắc củm” trong gần 500 năm, do
một phút ngu muội của vua Trần nghệ Tông, dại dột nuôi ong tay áo, bị thằng
giặc Hồ Quý Ly dụ dâng cho đứa con gái rặc Tàu của hắn mà nhà vua mê mệt và mê
muội để dẫn đường cho cha vợ mình cướp ngôi tiên đế.
Văn hóa Đại Việt bị tiêu
hủy sạch!.
….thế sự du du….vì quân
lực, vũ khí đâu còn! Thôi thì hãy nhắc cho nhau nghe lời hịch tướng sĩ năm xưa
của Hưng Đạo Đại Vương với các dòng sau mà ông còn nhớ trong ký ức:
“Có kẻ lấy việc chọi gà
làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung
phụng gia đình; Có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường
sản nghiệp mà quên việc nước; Có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ
thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. ….….Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; Mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; Vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; Chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; Giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. …“
“Nay các ngươi Ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; Thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; ….”
Nhờ vào hào khí năm xưa
vẫn còn đọng lại đâu đó trong lòng người Đại Việt, nay có dịp sống dậy. Họ nhận
ra ngay lỗi của mình và xông ra vác súng gươm xung trận.
Bên ta, ai là người xông
pha ra trận chống kẻ thù đều được gọi là anh hùng, là Kẻ Sĩ. Ngay từ lớp đệ
thất, đệ lục, tức lớp 6, 7 bây giờ, thế hệ tôi cũng được học qua
trong Bích câu kỳ ngộ hai câu :“Anh hùng mấy mặt xưa nay,
Trăm năm nát với cỏ cây cũng là”. Người nào đã từng nghe, từng tắm gội thấm
nhuần tính cách người xưa, phục cái khí khái của người xưa thì lòng yêu nước sẽ
ăn sâu vào trong tim họ, đó là là chuyện thường tình. Xã hội nào sản sinh con
người ấy. Danh sĩ Lý Tử Tấn đời Hồng Đức đã khen: “Phi hào kiệt chi sĩ
bất năng“, sau Dương Văn An trong sách “Ô châu cận lục” cũng
khen tiếp hai cha con họ Đặng: “ Đương lúc vận nhà Trần sắp hết mà hai
người đều tận tâm, tận lực đánh giặc cứu quốc, nâng vận nước khi sắp hết, chống
nhà lớn lúc đã xiêu ….”. Những con người như Nguyễn Cảnh Dị, Trần Súy,
Đặng Dung, Trùng Quang Đế; họ xứng đáng được gọi là anh hùng, là kẻ sĩ “Chớ
đem thành bại luận anh hùng“ [Đào duy Từ] , và bạn hiền vốn là người yêu
lịch sử chắc nhớ câu thơ gần đây nhất của anh hùng Nam Bộ Nguyễn hữu Huân ngâm
vào lúc bị giặc Pháp hành hình
Anh hùng mặc bả doanh du
luận
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu
Anh hùng có sá chi thua
được
Tiết nghĩa nào phai với đất trời!
Tiết nghĩa nào phai với đất trời!
Nguyễn duy Nhường dịch
Hơn nhau là khí phách. Thất bại này không sao, nó sẽ nhóm lửa mồi cho ngọn lửa sẽ bùng cháy dữ dội vào ngày mai. Gian khổ phải qua tôi luyện. Nhờ vậy mà Bình Định Vương Lê Lợi đã thành công sau đó; nhưng nước ta cũng đã tan hoang rồi!
Hơn nhau là khí phách. Thất bại này không sao, nó sẽ nhóm lửa mồi cho ngọn lửa sẽ bùng cháy dữ dội vào ngày mai. Gian khổ phải qua tôi luyện. Nhờ vậy mà Bình Định Vương Lê Lợi đã thành công sau đó; nhưng nước ta cũng đã tan hoang rồi!
Văn hóa Đại Việt đã bị
nhiễm độc do Minh triều cấy vào từ chính sách đào tạo bọn tay sai của họ, chính
sách đào tạo Sĩ (士), quan Bờm, trong bài thằng bờm có cái quạt mo.
Chùa chiền thì nay đã thay da đổi thịt, đã có một lớp tu sĩ Tàu mang giáo lý
sặc mùi Đạo giáo vào Phật giáo do Minh Vĩnh Lạc cấy vào. Dấu ấn này nay còn ghi
dấu trong lá bài có tên là Thầy, cửu Thầy hay Thầy Chùa trong Bộ bài Chòi( hay
bài tới Quảng nam). Cửu Thầy là anh có học gian ác bậc thứ 9, còn cao hơn cả
anh đại tham quan bậc tám là Bát Bồng, viên quan Bờm gom đến cả bộ lư hương của
dân chúng về nhà mình cho bằng được mới thôi. Và anh cửu Thầy hay Thầy Chùa thì
đầu đã mọc sừng, mặt che quạt mo. Sức học chữ hán của mấy anh là sức học của
một tá điền cảm nhận.
Nhớ xưa,
Nhớ xưa,
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Đó là hai câu thơ trong căp (3, 4) của bài Cảm Hoài. Là hai câu đúc kết trong phần luận anh hùng của người thi nhân tráng sĩ Đặng Dung. Là người con dân nước Đại Việt, là tráng sĩ, là thi nhân mang tâm hồn Việt, ông đã được thủ đắc một nền văn hóa thời Trần, thời sản sinh ra Đức Thánh Trần, Hưng Đạo Đại Vương lừng lẫy trong binh sử không những của Đại Việt mà còn trong binh sử thế giới nữa. Đặng Dung giữ chức tư mã, tổng chỉ huy cuộc kháng chiến chống Minh. Ông là con nhà nòi, dòng họ ông là dòng họ “ăn học” và khoa bảng. Muốn con mình trở thành tướng tài, người cha yêu của Đặng Dung dạy ông bổn phận trách nhiệm và tư cách của một người làm tướng nước Đại Việt, đã từng ngồi dạy ông từng trang sử, từng trang trong Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Đại Vương rồi nay ông giở ra học tập, nghiền ngẫm:
“Ta thường,
Tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối,
Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa;
Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù;
Dẫu cho
Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ,
Nghìn thây ta bọc trong da ngựa,
Cũng nguyện xin làm."
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Đó là hai câu thơ trong căp (3, 4) của bài Cảm Hoài. Là hai câu đúc kết trong phần luận anh hùng của người thi nhân tráng sĩ Đặng Dung. Là người con dân nước Đại Việt, là tráng sĩ, là thi nhân mang tâm hồn Việt, ông đã được thủ đắc một nền văn hóa thời Trần, thời sản sinh ra Đức Thánh Trần, Hưng Đạo Đại Vương lừng lẫy trong binh sử không những của Đại Việt mà còn trong binh sử thế giới nữa. Đặng Dung giữ chức tư mã, tổng chỉ huy cuộc kháng chiến chống Minh. Ông là con nhà nòi, dòng họ ông là dòng họ “ăn học” và khoa bảng. Muốn con mình trở thành tướng tài, người cha yêu của Đặng Dung dạy ông bổn phận trách nhiệm và tư cách của một người làm tướng nước Đại Việt, đã từng ngồi dạy ông từng trang sử, từng trang trong Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Đại Vương rồi nay ông giở ra học tập, nghiền ngẫm:
“Ta thường,
Tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối,
Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa;
Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù;
Dẫu cho
Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ,
Nghìn thây ta bọc trong da ngựa,
Cũng nguyện xin làm."
Hịch tướng sĩ
Hưng Đạo Đại Vương là vị thánh sống của dân tộc Đại Việt. Đọc dòng cổ sử sau đây có thể Bạn hiền không sao cầm được nước mắt. Một danh tướng phải luôn có một nhân cách lớn, giỏi cả văn lẫn võ, biết thương yêu và tiếc thương xương máu đồng bào mình. Quên thân vì đại cuộc. Cho dù Ngài được đồng bào mình nhất mực tôn thờ, kính thương gọi là Quốc Phụ, vậy mà Ngài khi nhắm mắt lại có một lời dặn cực kỳ đơn giản với người con rễ là danh tướng Phạm ngũ Lão mà ngài rất mực thương yêu, truyện kể rằng, Ngài cầm tay vị tướng họ Phạm này vào lúc lâm chung: “Đời làm tướng của ta, trước đây khi ta đang còn chỉ huy binh sĩ, vì việc chung, vì nghiêm lệnh, mà ta đã nhiều lần dấu đi dòng nước mắt để án tử được thi hành **, gia đình họ có người vì không hiểu lòng ta nên đã để bụng căm thù. Vậy, khi ta đã mất đi, các con hãy giữ lời nguyện này mà thiêu ta và mang tro bụi nhục thể ta mà rải trên khắp non sông cẩm tú này. Các con hãy rải các nơi ta đi từng đi qua. Rải nơi ta đã từng chiến đấu bên đồng đội ta. Rải nơi ta đã từng cùng buồn, cùng vui khi ta ngồi cùng với hàng thuộc tướng, hàng binh sĩ dưới bóng cây nhân lúc nghỉ trưa. Rải nơi ta đã cùng đói cùng no với họ, cùng chia nhau củ khoai, bát nước khi bị giặc vây hãm hay trên đường rút lui để bảo toàn lực lượng. Hãy mang rải nơi các anh hùng vô danh vị nước vong thân mà cho đến bây giờ ta chưa kịp thắp nén nhang tưởng niệm trên từng nắm mồ của họ. Xin hãy để cho ta được yên nghỉ muôn đời nằm bên họ. Rằng cuối đời, họ nào có khác gì ta.Ta họ luôn có nhau.” Phạm Ngũ Lão làm thinh, cúi đầu nghe lời di huấn. Tướng quân họ Phạm cố nuốt nước mắt vào trong, cố gắng hết sức mà cũng chỉ là gật gật cái đầu ngầm tỏ ý vâng lời. Ngài mĩm cười mãn nguyện, sờ tay người rể yêu lần cuối cùng rồi lặng lẽ ra đi. Cái chết của một đại danh tướng, một đại văn nhân, một vị thánh sống có thật của dân tộc ta là như thế, nó cũng đã khác người đời thường.
Hưng Đạo Đại Vương, đức Ngài không có lăng, ngày nay Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định đều nhận Đức Thánh Trần là người con ưu tú của quê hương mình. Nay người Việt muốn tìm đến lăng Ngài để trầm ngâm suy nghĩ lời khôn dại thì biết tìm ở đâu?. Thì nó ở trong mỗi trái tim người Việt trên khắp thế gian này. Bạn thử đưa bàn tay phải lên ngực trái của mình, bạn sẽ gặp Ngài. Ngay tại Saigon, trên đường Võ thị Sáu, Q I ngày nay, tức đường Hiền Vương ngày xưa, lăng Ngài ngày đêm vẫn luôn ấm áp vì hương khói do các người con Ngài thuộc hội Bắc Việt tương tế thay phiên nhau chăm sóc. Ngài sống vĩnh hằng trong lòng dân tộc Việt.
Hưng Đạo Đại Vương là vị thánh sống của dân tộc Đại Việt. Đọc dòng cổ sử sau đây có thể Bạn hiền không sao cầm được nước mắt. Một danh tướng phải luôn có một nhân cách lớn, giỏi cả văn lẫn võ, biết thương yêu và tiếc thương xương máu đồng bào mình. Quên thân vì đại cuộc. Cho dù Ngài được đồng bào mình nhất mực tôn thờ, kính thương gọi là Quốc Phụ, vậy mà Ngài khi nhắm mắt lại có một lời dặn cực kỳ đơn giản với người con rễ là danh tướng Phạm ngũ Lão mà ngài rất mực thương yêu, truyện kể rằng, Ngài cầm tay vị tướng họ Phạm này vào lúc lâm chung: “Đời làm tướng của ta, trước đây khi ta đang còn chỉ huy binh sĩ, vì việc chung, vì nghiêm lệnh, mà ta đã nhiều lần dấu đi dòng nước mắt để án tử được thi hành **, gia đình họ có người vì không hiểu lòng ta nên đã để bụng căm thù. Vậy, khi ta đã mất đi, các con hãy giữ lời nguyện này mà thiêu ta và mang tro bụi nhục thể ta mà rải trên khắp non sông cẩm tú này. Các con hãy rải các nơi ta đi từng đi qua. Rải nơi ta đã từng chiến đấu bên đồng đội ta. Rải nơi ta đã từng cùng buồn, cùng vui khi ta ngồi cùng với hàng thuộc tướng, hàng binh sĩ dưới bóng cây nhân lúc nghỉ trưa. Rải nơi ta đã cùng đói cùng no với họ, cùng chia nhau củ khoai, bát nước khi bị giặc vây hãm hay trên đường rút lui để bảo toàn lực lượng. Hãy mang rải nơi các anh hùng vô danh vị nước vong thân mà cho đến bây giờ ta chưa kịp thắp nén nhang tưởng niệm trên từng nắm mồ của họ. Xin hãy để cho ta được yên nghỉ muôn đời nằm bên họ. Rằng cuối đời, họ nào có khác gì ta.Ta họ luôn có nhau.” Phạm Ngũ Lão làm thinh, cúi đầu nghe lời di huấn. Tướng quân họ Phạm cố nuốt nước mắt vào trong, cố gắng hết sức mà cũng chỉ là gật gật cái đầu ngầm tỏ ý vâng lời. Ngài mĩm cười mãn nguyện, sờ tay người rể yêu lần cuối cùng rồi lặng lẽ ra đi. Cái chết của một đại danh tướng, một đại văn nhân, một vị thánh sống có thật của dân tộc ta là như thế, nó cũng đã khác người đời thường.
Hưng Đạo Đại Vương, đức Ngài không có lăng, ngày nay Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định đều nhận Đức Thánh Trần là người con ưu tú của quê hương mình. Nay người Việt muốn tìm đến lăng Ngài để trầm ngâm suy nghĩ lời khôn dại thì biết tìm ở đâu?. Thì nó ở trong mỗi trái tim người Việt trên khắp thế gian này. Bạn thử đưa bàn tay phải lên ngực trái của mình, bạn sẽ gặp Ngài. Ngay tại Saigon, trên đường Võ thị Sáu, Q I ngày nay, tức đường Hiền Vương ngày xưa, lăng Ngài ngày đêm vẫn luôn ấm áp vì hương khói do các người con Ngài thuộc hội Bắc Việt tương tế thay phiên nhau chăm sóc. Ngài sống vĩnh hằng trong lòng dân tộc Việt.
Chính vì những giòng sử
vàng như thế khiến Đặng Dung đánh giá rất thấp bọn họ, bọn Phàn Khoái và Hàn
Tín. Dưới mắt ông và tiền nhân chúng ta sau này, bọn họ không có cửa để gọi họ
là anh hùng. Họ chỉ là bọn “đồ điếu”, là bọn bần tiện. Bạn hiền hãy tìm nghe âm
“ đồ điếu” do người đất Bắc đọc bạn sẽ thấy rất đỗi thâm trầm. Họ là những
"Thằng Mặt Lì"!
Thân ái.
Quê người ngày giỗ Ngoại
Laiquangnam
Thân ái.
Quê người ngày giỗ Ngoại
Laiquangnam
Vài bài dịch thơ quốc
âm và chú thích
Theo nguyên tắc của văn học sử thì bài thơ trên bắt buộc phải gọi là CẢM HOÀI tên thương hiệu của nó, một danh tác mang dấu ấn Đặng Dung. Tên Cảm Hoài đã được Lý Tử Tấn đời vua Lê Thánh Tông chép lại và công bố trước tiên.
Theo nguyên tắc của văn học sử thì bài thơ trên bắt buộc phải gọi là CẢM HOÀI tên thương hiệu của nó, một danh tác mang dấu ấn Đặng Dung. Tên Cảm Hoài đã được Lý Tử Tấn đời vua Lê Thánh Tông chép lại và công bố trước tiên.
Mấy trăm năm sau trong Toàn
Việt Thi Lục của Lê Quí Đôn (1726 - 1784) thì nhà bác học này mới chép
lại và ghi lại là Thuật hoài.
Xin hãy dành tên “THUÂT
HOÀI” để tưởng nhớ về một danh tác khác của người anh hùng Phạm Ngũ Lão.
Một trong các chiến công của Phạm tướng quân là cuộc vây bắt tên Việt gian do
một người phụ nữ Việt xấu số chẳng may vơ phải một anh Tàu lái buôn vùng Quảng
Ninh, người Quảng Đông sinh ra nó, nó tên là PHẠM NHAN.
Phiên âm
Phiên âm
Cảm hoài
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
Đặng Dung
1
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Phan kế Bính dịch
2
Cảm hoài
(Đặng Dung)
Thế sự mang mang lại tuổi già!
Vô cùng trời đất gõ bầu ca
Gặp thời tiểu tốt lên sao dễ,
Lỡ vận anh hùng nhận thế ta!.
Phò chúa một lòng xoay trục đất,
Rửa binh không lối kéo ngân hà!
Quốc thù canh cánh đầu tiên bạc!
Gối nguyệt… mài gươm… mấy độ qua!
Laiquangnam dịch
* Ý nói Ngài hồi tưởng lại kỷ niệm xưa.
** Câu chuyện về con voi trận sa lầy tại giòng sông Hóa giang thuôc tỉnh Thái Bình.
Trong một lần xuất quân trong cuôc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ II, lúc vượt giòng sông HÓA, binh sĩ phải đưa con voi trận của Ngài xuống thuyền vượt sông. Chẳng may khi bước xuống thuyền, thuyền nghiêng, voi bị trựợt chân và bị sa lầy. Lại gặp lúc triều lên biết không cứu voi trận được ngài ra lệnh bỏ lại. Nhìn voi lần cuối, Ngài mà rơi nước mắt. Ngày ấy dân còn mê tín, ai đó trong hàng binh sĩ xì xào “ mới xuất quân mà gặp xui chắc là mình sẽ ….”. Binh sĩ có phần hoang mang. Ngài buộc lòng phải ra lệnh chém nếu ai còn bàn bạc chuyện không may này. Lúc từ biệt voi, ngài cầm gươm chỉ xuống giòng sông Hóa mà thề rằng: “nếu không thắng được trận này thì ta thề không thể bao giờ quay lại khúc sông này”. Binh sĩ biết đó là lời thề tử chiến cùng kẻ thù của một đại vương danh tướng nên họ dốc hết sức và quân ta đã thắng trận; tất cả Họ đều đã quay về. Ngài ra lệnh làm một con voi đá tại bến sông này để tưởng nhớ con vật thân yêu . .
*** Phùng nhập kinh sứ của Sầm Than là một bài thơ tứ tuyệt có nội dung tạm tóm tắt như sau:“ …Mắt luôn ngóng nhìn về nơi phía xa mờ kia, ở đó có vườn nhà ta mờ ảo nằm dưới bóng mây. Lòng thương nhớ quê hương, nước mắt thấm đầm hai ống tay áo. Sáng nay ta vào kinh nhận nhiệm sở mới, gặp bạn đồng khoa nói mình sẽ nhậm chức tại quê nhà . Mừng quá nhưng trên lưng ngựa làm gì có giấy bút .Thôi thì …và hai câu cuối là
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
Đặng Dung
1
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Phan kế Bính dịch
2
Cảm hoài
(Đặng Dung)
Thế sự mang mang lại tuổi già!
Vô cùng trời đất gõ bầu ca
Gặp thời tiểu tốt lên sao dễ,
Lỡ vận anh hùng nhận thế ta!.
Phò chúa một lòng xoay trục đất,
Rửa binh không lối kéo ngân hà!
Quốc thù canh cánh đầu tiên bạc!
Gối nguyệt… mài gươm… mấy độ qua!
Laiquangnam dịch
* Ý nói Ngài hồi tưởng lại kỷ niệm xưa.
** Câu chuyện về con voi trận sa lầy tại giòng sông Hóa giang thuôc tỉnh Thái Bình.
Trong một lần xuất quân trong cuôc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ II, lúc vượt giòng sông HÓA, binh sĩ phải đưa con voi trận của Ngài xuống thuyền vượt sông. Chẳng may khi bước xuống thuyền, thuyền nghiêng, voi bị trựợt chân và bị sa lầy. Lại gặp lúc triều lên biết không cứu voi trận được ngài ra lệnh bỏ lại. Nhìn voi lần cuối, Ngài mà rơi nước mắt. Ngày ấy dân còn mê tín, ai đó trong hàng binh sĩ xì xào “ mới xuất quân mà gặp xui chắc là mình sẽ ….”. Binh sĩ có phần hoang mang. Ngài buộc lòng phải ra lệnh chém nếu ai còn bàn bạc chuyện không may này. Lúc từ biệt voi, ngài cầm gươm chỉ xuống giòng sông Hóa mà thề rằng: “nếu không thắng được trận này thì ta thề không thể bao giờ quay lại khúc sông này”. Binh sĩ biết đó là lời thề tử chiến cùng kẻ thù của một đại vương danh tướng nên họ dốc hết sức và quân ta đã thắng trận; tất cả Họ đều đã quay về. Ngài ra lệnh làm một con voi đá tại bến sông này để tưởng nhớ con vật thân yêu . .
*** Phùng nhập kinh sứ của Sầm Than là một bài thơ tứ tuyệt có nội dung tạm tóm tắt như sau:“ …Mắt luôn ngóng nhìn về nơi phía xa mờ kia, ở đó có vườn nhà ta mờ ảo nằm dưới bóng mây. Lòng thương nhớ quê hương, nước mắt thấm đầm hai ống tay áo. Sáng nay ta vào kinh nhận nhiệm sở mới, gặp bạn đồng khoa nói mình sẽ nhậm chức tại quê nhà . Mừng quá nhưng trên lưng ngựa làm gì có giấy bút .Thôi thì …và hai câu cuối là
”Nay gặp bạn, ta lại
không giấy bút,
Nhắn miệng dùm ta trời bên nớ ta vui .”
Nhắn miệng dùm ta trời bên nớ ta vui .”
theo ý thơ Sầm Tham
(http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_samtham_phungnhapkinhsu.htm)
Tham khảo:
1- Sử gia TTK, năm 1919, ghi là Trần quí
Khoách. Sử gia Hànội gọi là Trần quí Khoáng..
2- Laiquangnam, Đường thi nửa chặng, bản
thảo .laiquangnam chọn và dịch các bài thơ Đường hay nhất, chưa xuất
bản
3- Trần trọng San dịch, Kim Thánh Thán phê
bình thơ Đường, tủ sách ĐHTH TP.HCM, 1990
4- Ngô Nguyên Phi, Những nhân vật Hán Sở, nxb
Lao Động 1994,
5- Sử ký Tư Mã Thiên, Phan Ngọc dịch, NXB Văn
học, 2003, Chương Hoài Âm Hầu liệt truyện, trang 575, nxb Văn Học, 2003
6- Hịch tướng sĩ, của Đức Thánh Trần
Hưng Đạo, bản dịch của Ngô Tất Tố
7- Lý Tôn Ngô (1879-1944) người Thành Đô, ông
viết Hậu Hắc Học, tính đến năm 1990 sách ông đã bán trên 300000 bản. Ông là
giáo sư ĐH tại Tứ Xuyên có tham gia cách mạng Tân Hợi (1911) Người dịch là
Nguyễn Trinh _Huy sinh, nxb VHTT, 2000.
8- Hữu Tuấn, Trang sách hồn nước, nxb
trẻ,1998
9- ĐVSK toàn thư
10- Trần Văn Giàu chủ biên, Lịch sử Việt Nam,
gồm 3 tập, NXB Trẻ, trang187 tập1Tâm tình, ghi vội:
© Sau này trong lịch sử dân tộc ta Gia Long cũng hành xử y như thế. Hiền tài tan, quốc gia suy vong. Pháp vào Việt nam như chỗ không người với một đội quân vô cùng ít người Pháp đã chiến thắng. Người Việt mất nết chạy theo “bợ đít “ làm Việt gian cho giặc. Điều này đậm nét hơn khi mà Gia long cam tâm đặt nền đội Hán lên đầu vương triều mình .
11- Laiquangnam giới thiệu thi nhân tráng sĩ
Đặng Dung,
http://chimviet.free.fr/vanco/laiquangnam/lqnt054.htm
http://chimviet.free.fr/vanco/laiquangnam/lqnt054.htm
Lời Di Chúc của Vua
Trần Nhân Tôn:
"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái
đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa
lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên
ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn
trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không
thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ
biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các
người phải nhớ lời ta dặn."
Nguồn: “Lời Di
Chúc của Vua Trần Nhân Tôn cùng pho sách lịch sử “ của sử gia Nguyễn
khắc Thuần.
Phần II. Đoạn II
- Thời lai đồ điếu thành công dị
Dẫn nhập
Bạn hiền có tin rằng hai câu trong bài Cảm Hoài của Đặng Dung
Bạn hiền có tin rằng hai câu trong bài Cảm Hoài của Đặng Dung
Thời lai đồ điếu thành
công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa (Đặng Dung)
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa (Đặng Dung)
là hai câu than vãn?, là
hai câu tự an ủi cho sự thành bại của người tráng sĩ anh hùng? Tôi không tin
một nhân cách cao thượng như Đặng Dung lại viết những điều mang tính AQ như
thế. Đặng Dung là người dấn thân xông vào việc khó, con nhà nòi. Than vãn hay tự
an ủi không phải là tính cách của người tráng sĩ. Do một thuộc tính bẩm sinh
tính cách của thi nhân Việt xưa, họ rất tài tình khi viết các dòng thơ nén, rất
ngắn gọn. Chắc chắn một người đã chọn cho mình cuộc chiến đấu kéo dài đến ngàn
năm sau đối với Phương Bắc .Nhớ xưa khi cha tráng sĩ ngồi dạy ông bổn phận của
một kẻ cầm quân vệ quốc:
“Ta thường tới bữa quên
ăn, nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; Chỉ giận chưa thể xả
thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dẫu cho Trăm thân ta phơi ngoài nội
cỏ, Nghìn thây ta bọc trong da ngựa, Cũng nguyện xin làm!" Hịch tướng sĩ .
Nước còn ô nhục nhân dân
còn đau khổ thì ngày ấy lòng người tráng sĩ đâu yên. Người Việt ngước nhìn
trăng nhìn người tráng sĩ già Đặng Dung mà sa nước mắt
Quốc thù vị báo đầu tiên
bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
Đặng Dung
Thù trả chưa xong đầu đã
bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Phan kế Bính dịch
Quốc thù canh cánh đầu
tiên bạc!
Gối nguyệt... mài gươm... mấy độ qua!
Gối nguyệt... mài gươm... mấy độ qua!
Laiquangnam
Thiếu gì nhân vật lịch sử bên Tàu có nhiều người thích hợp với ý thơ câu thơ thứ ba này mà người tráng sĩ Đặng Dung không chọn lại chọn một nhân vật tạm gọi là lừng lẫy trong lịch sử Tàu như nhân vật Hàn Tín. Hàn Tín là một trong ba Tam kiệt giúp Lưu Bang xây dựng nghiệp đế, người dựng nên nhà Hán kéo dài đến trên dưới 400 năm, bên cạnh đó là mưu sĩ Trương Lương, quan văn Tiêu Hà.
Thiếu gì nhân vật lịch sử bên Tàu có nhiều người thích hợp với ý thơ câu thơ thứ ba này mà người tráng sĩ Đặng Dung không chọn lại chọn một nhân vật tạm gọi là lừng lẫy trong lịch sử Tàu như nhân vật Hàn Tín. Hàn Tín là một trong ba Tam kiệt giúp Lưu Bang xây dựng nghiệp đế, người dựng nên nhà Hán kéo dài đến trên dưới 400 năm, bên cạnh đó là mưu sĩ Trương Lương, quan văn Tiêu Hà.
Tôi nghĩ rằng tiền nhân
ta muốn qua hai nhân vật Hàn Tín và Phàn Khoái mà rút ra một bài học về sự vận
động quần chúng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm sau này .
Đặng Dung là đứa con thấm đẫm của nền văn hóa Trần. Người anh hùng Hưng Đạo Đại Vương_Trần Quốc Tuấn lúc lâm chung Ngài đã để lại lời dạy cho các vua Trần. Cha của Đặng Dung là Đặng Tất khi còn sống đã đọc cho ông con trai cưng của mình nghe đoạn văn này:
Đặng Dung là đứa con thấm đẫm của nền văn hóa Trần. Người anh hùng Hưng Đạo Đại Vương_Trần Quốc Tuấn lúc lâm chung Ngài đã để lại lời dạy cho các vua Trần. Cha của Đặng Dung là Đặng Tất khi còn sống đã đọc cho ông con trai cưng của mình nghe đoạn văn này:
“Tháng Sáu (âm lịch) năm
Canh Tý (1300), Trần Hưng Đạo ốm. Vua Trần Anh Tông ngự tới nhà thăm, hỏi rằng:
"Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế
sách như thế nào?". Ông trả lời: "Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu
Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không
nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn
đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng
người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên
dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó
lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường
Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi
bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp
sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta
dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp.
Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến
chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng
giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân
một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế
sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy" [Đại Việt sử ký toàn
thư]
“thì phải chọn dùng
tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội
quân một lòng như cha con thì mới dùng được.”
Lời dạy của tiền nhân
Trần Quốc Tuấn là bài dạy khai tâm cho một vì Vua. Đất nước ta luôn bị họa
Phương Bắc xâm lược từ thời lập quốc, nay lại tiếp tục bị xâm lăng càng lúc
càng khốc liệt hơn.
Người lãnh đạo của ta và
tướng lãnh của ta phải có cách hành xử khác vói Lưu Bang (vua của Hàn Tín). Tuy
bài thơ Cảm Hoài của tráng sĩ Đặng Dung không nói rõ ra, nhưng vì người xưa của
ta thường nén ý nên buộc lòng chúng ta phải giải mã. Tôi tin rằng tiền nhân ta
đã gởi gấm vào đấy một bài học, một lời dạy kín đáo. Thế hệ Đặng Dung không làm
được nhưng mai sau người Việt ở khắp năm châu sẽ rút ra được bài học từ sự thất
bại của ông mà tránh đi vết xe cũ.
Cha ông là Đặng Tất đã
thờ lầm một minh chủ khốn nạn nên đã mạng vong. Cuộc chiến đang trên đà thắng
lợi bỗng nhiên bảo ngừng lại khiến hôm nay dân tộc ta đã rước thêm lắm điều bất
hạnh.
(Laiquangnam giới thiệu
thi nhân tráng sĩ Đặng Dung
http://chimviet.free.fr/)
Đánh giá một nhân vật mà mình tưởng là anh hùng như nhân vật Hàn Tín là một tai nạn của nhiều người Việt. 500 năm sau khi bài thơ Cảm Hoài ra đời, nhà dân tộc học Phan kế Bính tuồng như hiểu ý người xưa nên Cụ đã dịch
Đánh giá một nhân vật mà mình tưởng là anh hùng như nhân vật Hàn Tín là một tai nạn của nhiều người Việt. 500 năm sau khi bài thơ Cảm Hoài ra đời, nhà dân tộc học Phan kế Bính tuồng như hiểu ý người xưa nên Cụ đã dịch
Bần tiện gặp thời lên
cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. (PKB)
Xưa nay hiền tài là nguyên khí quốc gia. Hiền tài khác hẳn Kẻ có tài. (Kẻ có tài có thể là giới Sĩ (士), là giới ăn học chỉ biết ra làm quan, họ thiếu hẳn chữ “hiền”. Hiền tài là kẻ sĩ, Kẻ Sĩ hay Tướng lãnh hiền tài (lương tướng) phải là người tạo được đội quân một lòng như cha con, và khi giúp vua hành xử thì “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”.. Dựa trên lời dạy này thì bọn Hàn Tín và Phàn Khoái điều là bọn bần tiện cả, kể cả Lưu Bang mà tráng sĩ thi nhân ta không muốn nhắc vào trong bài thơ ấy. Ta mà hành xử như Lưu Bang thì còn đâu hiền tài để giúp nước nhà bền vững trước con sói Phương Bắc. Qua lời thơ tuồng như Đặng Dung có ý nhắc khéo cho ta nhớ tính cách người Minh Chủ của bọn đồ điếu.
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. (PKB)
Xưa nay hiền tài là nguyên khí quốc gia. Hiền tài khác hẳn Kẻ có tài. (Kẻ có tài có thể là giới Sĩ (士), là giới ăn học chỉ biết ra làm quan, họ thiếu hẳn chữ “hiền”. Hiền tài là kẻ sĩ, Kẻ Sĩ hay Tướng lãnh hiền tài (lương tướng) phải là người tạo được đội quân một lòng như cha con, và khi giúp vua hành xử thì “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”.. Dựa trên lời dạy này thì bọn Hàn Tín và Phàn Khoái điều là bọn bần tiện cả, kể cả Lưu Bang mà tráng sĩ thi nhân ta không muốn nhắc vào trong bài thơ ấy. Ta mà hành xử như Lưu Bang thì còn đâu hiền tài để giúp nước nhà bền vững trước con sói Phương Bắc. Qua lời thơ tuồng như Đặng Dung có ý nhắc khéo cho ta nhớ tính cách người Minh Chủ của bọn đồ điếu.
Không ít kẻ có tài nhúng
tay vào vào tội ác, hay có khi vô tình gây ra tội ác đều đã để lại di hại cho
muôn đời sau. Thật là nguy hiểm khi KẻCóTài lại đem tài mình ra phò một Minh
Chủ mà họ vốn không rõ nguồn gốc lưu manh của hắn. Anh ta, qua thành quả học
tập, anh bỗng nhiên nổi tiếng trước đồng bào anh, Minh chủ lưu manh của anh lập
tức dùng anh như một con chim mồi có giá trị nhất. Nhiều nhân tài u mê khác
phải chết chùm theo anh vì tiếp bước anh.
Hàn Tín trong câu trên
là một ví dụ điển hình như thế. Hàn Tín về hàng trước, được Lưu Bang ép mình
lập đài bái tướng, một sáng một chiều Hàn Tín lên như diều, các danh tướng của
Sở lần lượt theo về hàng Lưu Bang sau. Và sau đó Họ như Trần Hy, Khoái Triệt
phải mạng vong. Suy cho cùng các anh là những kẻ gặp thời và gặp may. May vì Hạng
Võ đã từng một lần tha chết cho anh. Vận Sở không còn, tin mình vô địch nên gạt
qua lời của các mưu sĩ của mình biểu giết Lưu Bang và Phàn Khoái đi, ông lại
tha khiến cho binh tướng nước Sở chán nản dần dần họ bị suy yếu.
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
(Đặng Dung)
=> Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
(PKB)
Sự thật lịch sử
Hán Xìn (229 – 196TCN), Hàn Tín.
Đây là nhân vật đáng để ý nhất đối với người Việt chúng ta vì nhắc đến tên anh là lớp chúng ta nhớ đến tích Hàn Tín lòn trôn giữa chợ. Cuộc đời anh ngắn ngủi chỉ có 33 năm, lắm tội ác và sống rất hèn.
Hán Xìn (229 – 196TCN), Hàn Tín.
Đây là nhân vật đáng để ý nhất đối với người Việt chúng ta vì nhắc đến tên anh là lớp chúng ta nhớ đến tích Hàn Tín lòn trôn giữa chợ. Cuộc đời anh ngắn ngủi chỉ có 33 năm, lắm tội ác và sống rất hèn.
Người cho ông là anh
hùng đó là hai người nổi tiếng trong văn đàn Tàu như Sầm Tham và Kim Thánh
Thán, họ là đồng hương của anh.
Người cho anh là “đồ bần
tiện gặp thời” cũng là hai người nổi tiếng của người Việt, một là thi nhân
tráng sĩ Đặng Dung đầu thế kỷ 15 và người kia là nhà dân tộc học đầu thế kỷ thứ
20, Phan Kế Bính.
Danh sĩ Tàu đánh giá
đúng hay Tiền nhân ta đánh giá đúng?
Hàn Tín là một trong tam kiệt lẫy lừng đời Hán cách đây hơn 2000 năm gồm Trương Lương, Tiêu Hà, và Hàn Tín. Bọn họ đã giúp Lưu Bang tạo nên cơ nghiệp nhà Hán kéo dài đến 400 năm. Họ đã sống và chết như thế nào? Trương Lương sau bỏ Hán mà đi ở ẩn. Tiêu Hà thì cuối đời bị đì, và Hàn Tín thì bị Lưu Bang hành hạ một cách ô nhục, còn thua một con chó, nhằm răn đe các tướng lãnh còn cầm quân.
Thời còn trẻ, do biết tự PR* mình, đó là một sự thông minh trước thời đại của Hàn Tín. Một người đầy thủ đoạn như Tiêu Hà, một quan văn thiết kế và lập trình cho Lưu Bang, họ tạm dùng Hàn Tín trong một giai đoạn lịch sử, dùng rồi sẽ đập nát nó đi. Với Tiêu Hà thì Hàn Tín vốn dĩ là thằng câu cá có tâm thức “lòn quần giữa chợ” thì có gì phải đáng ngại đâu. Võ biền đâu có mưu trí gì!
Hàn Tín là một trong tam kiệt lẫy lừng đời Hán cách đây hơn 2000 năm gồm Trương Lương, Tiêu Hà, và Hàn Tín. Bọn họ đã giúp Lưu Bang tạo nên cơ nghiệp nhà Hán kéo dài đến 400 năm. Họ đã sống và chết như thế nào? Trương Lương sau bỏ Hán mà đi ở ẩn. Tiêu Hà thì cuối đời bị đì, và Hàn Tín thì bị Lưu Bang hành hạ một cách ô nhục, còn thua một con chó, nhằm răn đe các tướng lãnh còn cầm quân.
Thời còn trẻ, do biết tự PR* mình, đó là một sự thông minh trước thời đại của Hàn Tín. Một người đầy thủ đoạn như Tiêu Hà, một quan văn thiết kế và lập trình cho Lưu Bang, họ tạm dùng Hàn Tín trong một giai đoạn lịch sử, dùng rồi sẽ đập nát nó đi. Với Tiêu Hà thì Hàn Tín vốn dĩ là thằng câu cá có tâm thức “lòn quần giữa chợ” thì có gì phải đáng ngại đâu. Võ biền đâu có mưu trí gì!
Tiêu Hà sau này cũng dư
biết cốt khí lưu manh của Lưu Bang nhưng vì gia đình ông và luật tru di tam tộc
khiến ông phải làm thinh cam chịu. Một mình mình nhục nhưng gia đình được toàn
thây, đó là điều mà kẻ có tài cần phải quan tâm khi phò một Minh Chủ. Một Minh
Chủ lưu manh luôn luôn tỏ ý chăm lo cho gia đình mình ngoài miệng nhưng đó lại
là một thủ đoạn nắm con tin quý giá nhất của KẻCóTài. Tiêu Hà kẹt vì lúc đầu
Tần Thủy Hoàng bạo ngược quá. Đàn ông quá hèn là người thuộc giới Sĩ (士) Tàu, Tiêu Hà nghĩ đến lúc phải hành động chống
lại bạo chúa Tần Thủy Hoàng. Nay có anh Đình trưởng Lưu Bang liều mạng, dám
kháng cự, thấy được quá nên theo về. Sau này khi vợ con đã ở sát bên Lưu Bang,
hiểu ra thì đã muộn.
Thời ấy kẻ khôn ngoan
nhất là biết thu mình dạ dạ vâng vâng, theo voi ăn bã mía. Vợ con nay trong tay
Minh chủ, hở ra là chết. Tiêu Hà sợ Lưu Bang vật chết vợ con mình. Thôi thì cúc
cung tận tụy, nhắm mắt đưa chân biết đâu mai đây Minh Chủ Lưu Bang sẽ tự
hồi tâm mà tự cảm hóa mình.
Nhằm thuyết phục Lưu Bang chịu lép với Hàn Tín ban đầu mà thu vạn lợi về sau, Ông dùng lời dẫn dụ sau với Lưu Bang: “Tìm tướng dễ kiếm thôi, còn tìm kẻ quốc sĩ như Tín là có một không hai. Nhà vua nếu cứ muốn làm vương mãi ở Hán Trung, thì chẳng cần Tín làm gì chứ nếu muốn tranh lấy thiên hạ thì ngoài Tín ra chẳng có thể bàn công việc với ai”. Lưu Bang chần chừ, "dùng tạm rồi đập nát nó đi nếu thấy nguy cơ tiềm ẩn từ hắn." Lưu Bang nghe phải và làm theo Tiêu Hà. Lập đàn bái tướng, trao quân hàm đại tướng cho Hàn Tín, lúc này Tín mới trên dưới 25. Chính đoạn này làm cho người đời sau choáng ngợp trước hào quang của một viên đại tướng quá trẻ. Tin Hàn Tín về hàng Lưu Bang được quá nhiều bổng lộc, những tướng lãnh bên Sở ham hố kéo nhau theo về theo, Sở Bá Vương cạn dần tướng tàì, khí thế suy. Lưu Bang thắng và bọn họ lần lượt vong mạng cả lũ.
Lưu Bang lộ bản chất một anh lưu manh có hạng ngay sau khi lên ngôi vua. Thuộc tính hai mặt luôn luôn là bản chất chính trị của người lập ra vương triều Hán.
1- Lần thứ nhất, Hàn Tín luồn trôn
Nhằm thuyết phục Lưu Bang chịu lép với Hàn Tín ban đầu mà thu vạn lợi về sau, Ông dùng lời dẫn dụ sau với Lưu Bang: “Tìm tướng dễ kiếm thôi, còn tìm kẻ quốc sĩ như Tín là có một không hai. Nhà vua nếu cứ muốn làm vương mãi ở Hán Trung, thì chẳng cần Tín làm gì chứ nếu muốn tranh lấy thiên hạ thì ngoài Tín ra chẳng có thể bàn công việc với ai”. Lưu Bang chần chừ, "dùng tạm rồi đập nát nó đi nếu thấy nguy cơ tiềm ẩn từ hắn." Lưu Bang nghe phải và làm theo Tiêu Hà. Lập đàn bái tướng, trao quân hàm đại tướng cho Hàn Tín, lúc này Tín mới trên dưới 25. Chính đoạn này làm cho người đời sau choáng ngợp trước hào quang của một viên đại tướng quá trẻ. Tin Hàn Tín về hàng Lưu Bang được quá nhiều bổng lộc, những tướng lãnh bên Sở ham hố kéo nhau theo về theo, Sở Bá Vương cạn dần tướng tàì, khí thế suy. Lưu Bang thắng và bọn họ lần lượt vong mạng cả lũ.
Lưu Bang lộ bản chất một anh lưu manh có hạng ngay sau khi lên ngôi vua. Thuộc tính hai mặt luôn luôn là bản chất chính trị của người lập ra vương triều Hán.
1- Lần thứ nhất, Hàn Tín luồn trôn
Hán Vương luôn coi Tín
là kẻ thù tiềm ẩn; Lưu Bang buộc phải chia quyền cho Hàn Tín vì lực của Sở
Bá Vương còn quá mạnh. Lưu Bang ghi tâm. Để đó!. Lần này khi Sở vương có bề yếu
đi, Lưu Bang muốn tự mình cầm binh nhưng ông đâu phải là dân nhà nòi, anh chỉ
là một Đình trưởng mà thôi. Binh sĩ chết sạch may mà chạy thoát thân kịp.
Đó là khi bị vây khổn
ở Huỳnh Dương, Hán vương (Lưu Bang) cải trang cùng một hầu cận chạy qua
dinh Triệu, thừa lúc Triệu vương Hàn Tín còn ngủ say, ông thu binh
quyền Tín một cách đột ngột tại đất Triệu. Hàn Tín làm thinh.
2- Lần thứ hai, Hàn Tín luồn trôn
2- Lần thứ hai, Hàn Tín luồn trôn
Ý muốn giết Hàn Tín đã
chớm lên lại trong lòng Lưu Bang bởi Hàn Tín cầm binh quá giỏi. Lúc này Hạng Võ
đã tự sát. Lưu Bang lên ngôi vua. Y nghĩ, chỉ có cách giết Hàn Tín thì khi mình
(Lưu Bang) nằm xuống thì cháu con mình mới bền vững muôn đời. Vợ chồng Lưu Bang
đã bàn nhau như thế, nhưng chưa biết cái cớ nào để cho các tướng và thuộc hạ
không nhỏ to đàm tiếu.
Lưu Bang lập kế đi tuần
du, ông chọn đến Vân Mộng, Hàn Tín ở gần đó .Ông cho lệnh mời Tín đến cốt là
để xác nhận quyền uy mình và đồng thời xem uy tín của Hàn Tín nay có còn với
binh sĩ không. Tín xanh mặt. Có người nói nhỏ “coi chừng mất mạng vì việc che
dấu Chung Ly Muội đó nghen”. Muội là ai?. Chung Ly Muội vốn là người bạn rất
thân của ông khi họ cùng phò Hạng Võ. Họ đã cùng cứu nhau thoát chết trong các
trận đánh lớn. Họ là ân nhân của nhau. Chung Ly Muội là một tướng tài của Sở mà
Lưu Bang chưa bắt được. Tâm thức “chun quần” đã hiện về từ trong cõi vô thức,
Hàn Tín nói mối lo của mình cho Muội nghe. Muội nói “ Vì sợ tôi nên Lưu
Bang chưa giết ông, bởi người mà Lưu Bang sẽ cậy nhờ ông nếu tôi có cơ hội
khởi binh chống lại Hắn. Nay Tôi mà chết, Lưu Bang không còn kẻ ngang tài, Hắn
ta sẽ lập tức thịt ông. Tôi còn lạ gì sự gian xảo của thằng họ Lưu này”. Tín
làm thinh, mặt đầy lo lắng. Muội mắng “Mày là thằng hèn”, Hèn Đại Tướng!
Sau đó Muội tự sát. Tín bèn chụp lấy cơ hội, lẹ tay chặt đầu Chung Ly Muội rồi
mang đầu bạn mình dâng cho Lưu Bang để lập công rằng Y đã giỏi lập mưu cài bẫy
Chung Ly Muội. Những tưởng Lưu Bang sẽ mừng. Mặc! Lưu Bang ra lệnh bắt trói
ông ngay tại chỗ, trói gô rồi ném vào gầm xe như một con chó, phát lệnh chở ông
về Lạc Dương hành hình. Trong không khí ngột ngạt chết người đó, Hàn Tín thấm
đòn và lời của Chung Ly Muội trở thành hiện thực ngay sau đó. Tín than thở từ
gầm xe, với lời đầy cay đắng, đại để ,”gian nan xẻ áo cơm nhường, treo cung
giết chó mới tường hôm nay!” Lưu Bang ngồi trước xe nghe, người hầu cận, người
đánh ngựa cũng nghe. Chợt nghĩ quả thật xưa kia lúc mình lập đài bái tướng,
mình cùng các chư tướng thề sống chết có nhau, họa cùng chia phước cùng hưởng.
Binh quyền nay đã gom về tay mình, “câu treo cung giết chó” tuy là câu bình
thương nhưng bối cảnh này lại là câu báo động của Hàn Tín cho các tướng còn cầm
quân, hãy nhớ lấy thân phận của Tín mà học bài tự xử. Nay ai cũng nghe, mình mà
mạnh tay, bứt dây động rừng các tướng sĩ sẽ động lòng và không chừng liên kết
lại chống ta.”. Xuất mồ hôi, Y bèn làm mặt đạo đức, chỉ phạt nhẹ, lấy lại chức
vương trao lại cho con mình, hạ Tín xuống chức hầu. Đúng như Lưu Bang tiên liệu
các danh tướng dưới quyền của Hèn Đại Tướng năm xưa vẫn còn nắm binh quyền mà
Lưu Bang chưa gom hết về một mối để diệt sạch như Trần Hy. Bọn Họ đã dao động.
Nhiều người đã kháng cự lại. Nhưng Hèn Đại Tướng thì sao?. Sau khi được tha, Y
quỳ laỵ tạ nghiêm túc, trước sự chứng kiến của bá quan văn võ, Y nói lời tri ân
vị Minh Chủ đã quá rộng lòng và thề sẽ không bao giờ ăn ở hai lòng. Lúc này Hèn
Đại Tướng Hàn Tín Hán-Xìn (229 – 196 TCN) mới ngoài 30 tuổi. Đàn ông tuổi chín
là tuổi 30. Hàn Tín trở thành Hèn Đại Tướng quá sớm khiến tiền nhân ta khinh
thường tư cách ông là vậy.
Chung Ly Muội dính đến
ông, Muội phải vong thân, cái chết của Muội đầy khí phách do tự sát, sau khi
Muội mắng mình thậm tệ, lý ra phải khiến ông phải tự hối, vì đây là lời cảnh
giác thứ ba. Lời cảnh giác thứ nhất từ Vũ Thiệp, lời cảnh giác thứ hai từ Khoái
Thông. Hàn Tín có quá nhiều người giúp đỡ, hào quang vẫn còn. Hèn, một lòng giữ
phận lòn trôn. Lần trước Hèn với tên thất phu vì sợ vong mạng. Lần Hèn này vì
sợ mất quyền lợi bổng lộc triều đình. Tuổi mới 30 mà sao cựu Đại Tướng hèn sớm
thế!.
Qua mắt Lưu Bang, nay
thì khí phách không còn trong con người làm tướng của Tín rồi. Lưu Bang cho là
đã yên về mặt Tín, nhưng ngoài Tín ra còn ai nữa? Chắc gì họ đã hèn như kiểu
Tín. Lưu Bang lo.
Lưu Bang phát lệnh chở
ông về Lạc Dương hành hình nay chuyển ý, ”Thôi thì ta hãy dùng Tín như một con
chim mồi. Ta sẽ mang Tín về kinh thành, cho người giám sát chặt xem ai hay tới
lui tâm tình với Tín, rồi Ta làm luôn một lần cho sạch. Cháu con mình sau này
sẽ không còn sợ bất kỳ một công thần danh tướng nào nữa. Nhà Hán sẽ vững bền
muôn đời”, Lưu Bang mĩm cười một mình.
Lưu Bang đã hiểm ác thế
mà dưới tay Y còn có hai kẻ mưu sĩ lỗi lạc, thuộc cánh quan văn, họ là bậc thầy
về âm mưu hại người hiểm ác nhất trong lịch sử Trung Quốc, đó là Trần Bình và
Tiêu Hà góp tay vào. Âm mưu và hiểm ác như Gia Cát Lượng thời Tam quốc sau này
cũng chỉ là dóm lửa que diêm so với ánh đuốc tiền nhân ông là Trần Bình và Tiêu
Hà thời lập Hán.
Tín được tha lui về Hầu
dinh của mình, ông không lấy thế làm nhục với hàng tướng lãnh và binh
sĩ dưới trướng. Ngày xưa và hiện nay, ông không hề để ý đến những dòng nước
mắt của những vị tướng dưới quyền, những người đã hết lòng theo ông, che
chở cho ông nơi chiến trường để nay ông được mang quân hàm đại tướng, lúc
vinh quang được phong vương và nay cả với tước hầu tuy “đuổi gà cho vợ“ của
ông nữa. Tham sống sợ chết vốn là bản chất của Hàn Tín. Lúc này Hèn
Đại Tướng Hán Xìn mới ngoài 30 tuổi.
3- Lần thứ ba, bất quá tam! Hàn Tín hèn quá. Tiêu đời.
3- Lần thứ ba, bất quá tam! Hàn Tín hèn quá. Tiêu đời.
Chương Hoài Âm Hầu trong
Sử Ký Tư Mã Thiên chép, Trần Hy là một danh tướng, nhưng lại là thuộc tướng của
ngài đại tướng Hàn Tín năm xưa ….
“Trần Hy được bổ làm
thái thú ở Cự Lộc. Hy từ giã Hoài Âm Hầu. Hoài Âm Hầu nắm lấy tay Hy, đuổi
những người xung quanh, cùng Hy dạo bước ở ngoài sân. Tín ngẩng đầu lên trời
thở dài mà rằng:
- Ta có thể nói với nhà
ngươi được không? Ta muốn nói với nhà ngươi một lời.
Hy đáp:
- Xin tướng quân chỉ
giáo.
Hoài Âm Hầu nói:
- Chỗ nhà ngươi ở là nơi
tinh binh trong thiên hạ ở đấy. Nhà ngươi lại là người tôi được bệ hạ tin yêu.
Nếu người ta nói nhà ngươi làm phản thì thế nào bệ hạ cũng không tin. Nói lần
thứ hai thì bệ hạ sẽ nghi. Nói lần thứ ba thì thế nào bệ hạ cũng nổi giận, mà
thân hành cầm quân. Ta vì nhà ngươi từ bên trong nổi dậy, thì có thể lấy được
thiên hạ.
Trần Hy vốn biết tài
năng Hàn Tín cho nên tin theo, nói:
- Xin vâng lời chỉ giáo
.(Tư Mã Thiên)
Đọc câu “Trần Hy vốn biết tài năng Hàn Tín cho nên tin theo, nói:- Xin vâng lời chỉ giáo (Tư Mã Thiên).
Đọc câu “Trần Hy vốn biết tài năng Hàn Tín cho nên tin theo, nói:- Xin vâng lời chỉ giáo (Tư Mã Thiên).
Ta thấy gì trong đoạn
văn này của Tư Mã Thiên? Hàn Tín chủ động than thở với thuộc tướng xưa đã coi
mình là thần tượng cho dù nay mình không còn quyền sinh sát với họ nữa. Hàn Tín
nay đã nếm mùi cay đắng và ô nhục nay cố tìm lối thoát cho mình sau khi nếm
thêm mùi ô nhục khác với chức Hoài Âm Hầu tại kinh thành dưới sự giám sát chặt
của Lưu Bang mà y không sao chiu nổi ..
Trần Hy sau khi gặp Hàn
Tín càng hiểu ngay tâm địa hẹp hòi của Lưu Bang. Nghĩ đến các tướng lãnh năm
xưa bè bạn mình lần lượt bị Lưu Bang thịt hết gồm Hàn Vương Tín, Lương Vương
Bành Việt, Hoài Nam Vương Anh Bố, Yên vương Tang Đồ, Yên vương Lư Quán, Triệu
vương Trương Ngao đều bị Lưu Bang lần lượt tìm cớ thịt họ. Nghĩ sẽ có ngày sẽ
đến phiên mình và Hàn Tín; Trần Hy khởi binh kháng cự.
Năm thứ mười một nhà Hán
(năm 196 trước Công nguyên), Trần Hy quả nhiên làm phản. Nhà vua thân hành làm
tướng, đem quân đi. Tín cáo bệnh không đi theo, ngầm sai người đến nói với Trần
Hy:
- Ông cứ cử binh, tôi ở
đây sẽ giúp ông..(TMT)
Trần Hy hứa là làm. Hàn
Tín nào có chịu đến với ông. “Tâm thức luồn quần “ cố hữu nay về lại với Tín.
Thế cô, sức cùng, ông (Trần Hy) cùng 500 tráng sĩ lui về cố thủ trên đảo, chống
đỡ sự tấn công quyết liệt của Phàn Khoái với sự đích thân chỉ huy của Lưu Bang.
Thế cùng, lực kiệt, họ phải thua. Họ đã thua!. Tất cả bọn họ đã đồng loạt rút
gươm tự sát hoặc chém vào chiến hữu mình nhằm giúp bạn mình mau chết, họ cùng
chủ tướng không để sa vào tay giặc mà ngày xưa họ đã góp tay xây dựng sự nghiệp
cho ông. Lưu Bang được Phàn Khoái dẫn đến xem hiện trường, có Phàn Khoái sát
bên cạnh mà Y phải rùng mình thất sắc, xác chết vương vãi, máu tràn trên sân
đảo như dòng suối.
Lên đường dẹp sự nổi loạn của Trần Hy. Lưu Bang xuất quân như một cuộc đi săn. Binh tướng của ông quá đông, lương thực quá nhiều, ông biết Trần Hy quá yếu không sao đủ binh lực để kháng cự được mình. Lưu Bang lúc ra đi đã được nghe hai thuộc hạ là Trần Bình và Tiêu Hà là hai quan văn mưu sĩ báo cáo việc chu đáo để giữ yên kinh thành. Lưu Bang vốn đã biết Trần Hy đến tư dinh Tín về chuyện gì rồi do vì y đã cài đặt tay chân trong nhà Hoài Âm Hầu. Tự tay cầm quân xung trận là Lưu Bang có ý đồ. Một trong những con chim cuối cùng sa vào cái bẫy vì con chim mồi Hàn Tín.
Lên đường dẹp sự nổi loạn của Trần Hy. Lưu Bang xuất quân như một cuộc đi săn. Binh tướng của ông quá đông, lương thực quá nhiều, ông biết Trần Hy quá yếu không sao đủ binh lực để kháng cự được mình. Lưu Bang lúc ra đi đã được nghe hai thuộc hạ là Trần Bình và Tiêu Hà là hai quan văn mưu sĩ báo cáo việc chu đáo để giữ yên kinh thành. Lưu Bang vốn đã biết Trần Hy đến tư dinh Tín về chuyện gì rồi do vì y đã cài đặt tay chân trong nhà Hoài Âm Hầu. Tự tay cầm quân xung trận là Lưu Bang có ý đồ. Một trong những con chim cuối cùng sa vào cái bẫy vì con chim mồi Hàn Tín.
Ngày G, giờ G.đến. Ngày
Khánh Tiết các quan tụ về cung Trường Lạc để ăn mừng sinh nhật và chúc thọ cho
Lã hậu, vợ Lưu Bang. Lưu Bang được nghe thuộc hạ tường thuật sự việc xảy ra tại
kinh thành. Lưu Bang rất mừng. Thế là ổn đến muôn đời sau. Được báo trước ngay
khi Hàn Tín bị bắt, Lưu Bang không về ngay mà hạ trại ở lại.
Chuyện kể “Lã Hậu biết
Tiêu Hà là người mà Hàn Tín thọ ân sâu. Năm xưa Tiêu Hà tiến cử Hàn Tín với Lưu
Bang và khuyên Bang lập đàn bái tướng khiến Hàn Tín còn hãnh diện đến giờ. Tiêu
Hà đến tư dinh của Tín khuyên đại tướng nên ra cung Trường Lạc mà chúc thọ Lã
Hậu để lấy lòng, tại đó rất đông các đại quan và cố nhân của Ngài, dẫu sao giữa
Ngài và Bệ Hạ đã có những lúc không vui. Ý Tiêu hà nhắc khéo lại chuyện Lưu
Bang lấy lại chức Tề vương đã cấp cho Hàn Tín vào thời điểm mà Lưu Bang đang
rất cần y. Lưu Bang còn sợ Hàn Tín nên thế vào đó một cấp thấp hơn một chút. Và
rồi sau đó lột dần dần chức đi từ Tề Vương => Lỗ vương => Hoài âm hầu
(Hoài âm là tên một quận huyện quê hương của Hàn Tín. Hoài âm tuy là địa danh
nhưng khi đi với tước “hầu” là một sự sĩ nhục vì lối chơi chữ của quan văn Tiêu
Hà).. Đại Tướng cầm quân năm xưa, Hoài Âm Hầu hôm nay. Hàn Tín vừa mới bước qua
cửa ngọ môn thì bị võ sĩ mai phục sẳn xông ra trói gô, áp dẫn đi cho thiên hạ
xem trước khi bị đưa đến cung Trường Lạc, nơi đó có Lã Hậu đang ngồi chờ sẳn. Y
chịu bị hành hình một cách rất truyền thống Tàu, lệnh xẻo mũi, chặt tứ chi, róc
thịt, quăng xương và thịt và cuối cùng khi còn ngáp ngáp hết rên là là lệnh cho
chặt đầu quăng ra cho lũ chó chờ sẳn tranh nhau cấu xé, dân chúng đã được huy
động đến xem y chết.. Lã hậu điềm tỉnh chứng kiến cùng với Tiêu hà và văn võ bá
quan. Tội mưu phản...
Ngài nguyên đại tướng
lúc ấy chỉ mới 33 tuổi, cả ba tộc bị tru di.
Lưu Bang nghe xong cho rằng con mụ vợ mình dữ thiệt. Ông đâu biết rằng Lã Hậu hành hạ người vợ lớn của ông rất khốc liệt sau khi ông chết. Sống quá đau đớn mong chết cho rồi cũng không xong. Đó là một lối trả thù mà chỉ có người Tàu mới nghĩ ra được. Y cố tình về thật chậm sau khi đã dẹp xong cuộc nổi loạn của Trần Hy. Vừa về đến kinh thành, Lưu Bang giả đò thương tiếc, nói cùng thuộc hạ “việc dĩ lỡ!, lỗi tại ta, ta về đã muộn, ta đã không cứu kịp được một đại tướng mà ta rất yêu quý.. Tín là một trong ba tam kiệt của ta.”. Đúng là miệng lưỡi của vì vua lập ra nhà Đại Hán.
Lưu Bang nghe xong cho rằng con mụ vợ mình dữ thiệt. Ông đâu biết rằng Lã Hậu hành hạ người vợ lớn của ông rất khốc liệt sau khi ông chết. Sống quá đau đớn mong chết cho rồi cũng không xong. Đó là một lối trả thù mà chỉ có người Tàu mới nghĩ ra được. Y cố tình về thật chậm sau khi đã dẹp xong cuộc nổi loạn của Trần Hy. Vừa về đến kinh thành, Lưu Bang giả đò thương tiếc, nói cùng thuộc hạ “việc dĩ lỡ!, lỗi tại ta, ta về đã muộn, ta đã không cứu kịp được một đại tướng mà ta rất yêu quý.. Tín là một trong ba tam kiệt của ta.”. Đúng là miệng lưỡi của vì vua lập ra nhà Đại Hán.
Tội ác của Hàn Tín
theo đánh giá của người đời sau:
Lưu Bang đích thân cầm quân đem Phàn Khoái theo để đánh Trần Hy. Kinh thành đâu còn ai mà Tín phải sợ? Tín nay vẫn còn rất trẻ, mới ngoài ba mươi, vẫn còn có binh lính hầu cận. Đến cùng Trần Hy như lời ông đã chủ động giao ước cùng Trần Hy? Ông không làm. Ông là kẻ phản bội niềm tin của đồng đội. Ông đã dẫn họ vào cái chết. Binh lực của Trần Hy không sao bằng binh lực triều đình. Trần Hy cần Hàn Tín, cần sự có mặt của ông như là một động cơ khiến cho sự nổi dậy của các tướng lãnh trở nên đồng loạt họ bớt sợ chính mình.
Lưu Bang đích thân cầm quân đem Phàn Khoái theo để đánh Trần Hy. Kinh thành đâu còn ai mà Tín phải sợ? Tín nay vẫn còn rất trẻ, mới ngoài ba mươi, vẫn còn có binh lính hầu cận. Đến cùng Trần Hy như lời ông đã chủ động giao ước cùng Trần Hy? Ông không làm. Ông là kẻ phản bội niềm tin của đồng đội. Ông đã dẫn họ vào cái chết. Binh lực của Trần Hy không sao bằng binh lực triều đình. Trần Hy cần Hàn Tín, cần sự có mặt của ông như là một động cơ khiến cho sự nổi dậy của các tướng lãnh trở nên đồng loạt họ bớt sợ chính mình.
Qua sử ký Tư Mã Thiên,
chương Hoài Âm Hầu liệt truyện đã nói lên tất cả. Trần Hy dẫu là thuộc tướng
của Hàn Tín năm xưa, nhưng Trần Hy cũng đánh trả và Lưu Bang thấm được nỗi sợ
“thí mạng” của người từng cầm binh khi ép họ vào bước đường cùng; trong khi đó
thì Hàn Tín lại bị chết hèn trong tay một con mụ đàn bà hiểm ác nhất trong lịch
sử Trung Quốc. Không những bị bầm dập thân thể, ba họ bị giết sạch mà còn làm
trò cười cho muôn đời sau. Tâm thức “Chun quần” vẫn còn trong não trạng của một
người đã từng cầm quân và đã lên hàng đại tướng tổng chỉ huy. Tội nghiệp thân
nhân của ông, các người ấy, họ đâu có hưởng được chút gì bổng lộc từ Hàn Tín
lúc vinh hoa cũng như lúc cúi lòn.
Hàn Tín, Phàn Khoái đều là các anh chấp nhận sống hèn hơn tự sát. Với các ông này là tự sát, tự xử là từ xa lạ. Danh tướng Đặng Dung và các chiến hữu của ông chọn tự sát tập thể chứ không để giặc muốn làm gì thì làm với thân thể mà cha mẹ họ đã cho họ. Người từng khoác áo trận tự thân phải giữ danh dự và chu toàn trách nhiệm với ba thành tố, bản thân, gia đình và đồng bào mình. Tổ quốc gắn liền với danh dự người lính.
Hàn Tín đã hiện nguyên hình một Hèn Đại Tướng. Đồ điếu! hai gã bần tiện! đúng như tiền nhân ta đánh giá.
Còn Phàn Khoái thì sao?
Hàn Tín, Phàn Khoái đều là các anh chấp nhận sống hèn hơn tự sát. Với các ông này là tự sát, tự xử là từ xa lạ. Danh tướng Đặng Dung và các chiến hữu của ông chọn tự sát tập thể chứ không để giặc muốn làm gì thì làm với thân thể mà cha mẹ họ đã cho họ. Người từng khoác áo trận tự thân phải giữ danh dự và chu toàn trách nhiệm với ba thành tố, bản thân, gia đình và đồng bào mình. Tổ quốc gắn liền với danh dự người lính.
Hàn Tín đã hiện nguyên hình một Hèn Đại Tướng. Đồ điếu! hai gã bần tiện! đúng như tiền nhân ta đánh giá.
Còn Phàn Khoái thì sao?
Anh này ít danh giá hơn
Hàn Tín. nhưng y cũng là một võ tướng với các chiến công oanh liệt.
Tổng cộng trong cuộc đời
chinh chiến, Phàn Khoái chém 176 đầu, bắt sống 288 người; một mình tác chiến
đánh bại 7 đạo quân, hạ 5 thành ấp, bình định 6 quận, 52 huyện, bắt sống 1 thừa
tướng và 11 tướng quân (*theo-vi-wikipedia). Vậy mà tiền nhân ta đánh giá anh
chỉ là một anh bán thịt chó.
Nhân vật Phàn Khoái (樊哙, ?-189 TCN),Phàn Khoái xuất thân từ anh làm nghề bán thịt chó. Tướng người cao lớn. Là đồng hương, là bạn thân và là anh em cột chèo với Lưu Bang. Sau khi cùng Hạng Võ dưới ngọn cờ đánh Tần và thắng Tần, tại tiệc Hồng Môn, các phụ tá của Hạng Võ muốn giết Lưu Bang, bởi Lưu Bang dưới mắt họ là kẻ thù tiềm ẩn cho Hạng Võ sau này. Phàn Khoái là người cận vệ trung thành, một mình múa kích che cho Lưu Bang khỏi bị bách hại trước đội múa gươm giúp vui rất đáng ngờ của chư tướng dưới trướng Hạng Võ. Hạng Võ vén màn thấy cảnh ngồ ngộ và cho rằng Phàn Khoái xứng đáng là một tráng sĩ nên không ra lệnh cho cung thủ bắn giết, mà lại tự thân cho rót rượu mời. Sau, Lưu Bang được dịp lẻn trốn trước và Phàn Khoái lẻn sau, “bần tiện gặp thời” thoát chết vì cách hành xử rất đỗi trượng phu của Hạng Võ, vốn là người nước Sở. Văn hóa Sở cao hơn văn hóa Tần nhiều lắm.
Sau khi đã diệt được Hạng Võ, Lưu Bang bèn giết sạch các công thần đã từng chiến đấu bên cạnh mình trừ Hàn Tín gần như bị giết sau cùng. Các công thần khác như là Hàn Vương Tín, Lương Vương Bành Việt, Hoài Nam Vương Anh Bố, Yên vương Tang Đồ, Yên vương Lư Quán, Triệu vương Trương Ngao đều bị Lưu Bang làn lượt tìm cớ thịt họ. Phàn Khoái không hề có một hành động hay một lời can ngăn cho dù một lời “nhẹ nhàng cho có“. Y là viên tướng luôn theo sát bảo vệ cho Lưu Bang, anh em cột chèo với Lưu Bang. Vốn sống hèn, ai chết mặc, chỉ cần thấy mình bình yên là đủ.
Tháng 2 năm 195 TCN, có tin Yên vương Lư Quán làm phản. Phàn Khoái được lệnh đi đánh Yên. Sau khi giao quân cho Phàn Khoái, anh em cột chèo với mình, Lưu bang đâm lo, sợ Phàn khoái nắm binh quyền quá lớn nhỡ làm phản thì sao. Lưu Bang đã quên hết những gì mà Phàn Khoái một cận tướng trung thành cứu mình nhiều lần thoát chết. Y bèn hạ lệnh cho Thừa tướng Trần Bình đưa Giáng hầu Chu Bột đến thay thế Phàn Khoái và xử chém luôn Phàn Khoái tại chỗ. Trần Bình thấy lúc này Lưu Bang sức khỏe đã yếu, sống chết không biết ngày nào, nên tính đường hậu vận cho mình. Y chỉ bãi chức của Phàn Khoái và áp giải về Tràng An. Quả nhiên vừa về đến Tràng An thì được tin Lưu Bang lăn ra chết. Thái tử Lưu Doanh, con trai Lã Hậu (bà chị vợ Phàn Khoái) lên nối ngôi, tức là Hán Huệ Đế. Lã Thái Hậu lên nắm quyền, ra tay giết thêm các công thần ngày trước mà Lưu Bang nương tay như Triệu Vương Như Ý, hãm hại Thích cơ (vợ lớn của Lưu Bang vô cùng ghê rợn). Do nhờ lấy Lã Tu, em ruột Lã hậu nên Phàn Khoái được bà ưu ái bỏ qua và phong cho tước hầu. Phàn Khoái lên đời nhờ núp váy đàn bà, tiếp tục ngậm miệng ăn tiền là vậy. Y làm thinh không hề có một lời cứu những chiến hữu đã từng chiến đấu cùng mình năm xưa, có người từng cứu Phàn Khoái thoát chết trong các trận đánh.
Năm 189 TCN, Phàn Khoái ốm nặng rồi mất, không rõ bao nhiêu tuổi.
Kết luận
Lưu Bang và Hàn Tín là sản phẩm từ thời tàn chiến quốc sang đời Tần Thủy Hoàng bên Tàu. Rõ ràng trí thức người Tàu như Sầm Tham và Kim Thánh Thán đánh giá Hàn Tín qua tài cầm quân. Họ lờ đi, che nhau tội ác và gian manh của tiền nhân họ. Một xã hội Tàu thực dụng khác xa một xã hội Việt Nam chúng ta, khi luận về anh hùng. Cứ thành công trước đã cho dù bất nhân cũng không sao. Đó là một lời dạy khôn dại giúp cho ta nhìn rõ mặt người Tàu về sau. Rất nhiều người Việt có ăn học nhưng đội Hán rất hãnh diện nhắc đi nhắc lại Ta với Tàu cùng đồng văn hóa. Tam đồng: đồng Văn, đồng Chủng, đồng Tôn. Tôi nghĩ bạn hiền cũng như tôi chúng ta không ở trong nhóm mà những "Thằng Mặt Lì "đội Hán lên đầu ấy hãnh diện liệt kê.
Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Trần Súy là sản phẩm đời Trần. Là sản phẩm của nước Đại Việt, cho dù họ có sống một giai đoạn ngắn trong xã hội nhà Hồ suy đồi. Con người là sản phẩm của xã hội là vậy!. Những con người thấm nhuần đạo đức của tiền nhân Lý Trần có khác! Chính vì ta có những tiền nhân như thế nên nước Đại Việt là mới là giòng Việt duy nhất trong dòng Bách Việt còn một tổ quốc, một dân tộc, một tiếng nói để yêu thương để họ nghĩ về nhau mỗi khi ngước nhìn đêm trăng sáng.
Bài học của tráng sĩ Đặng Dung nhắc cho ta rằng:
Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Mỗi hành xử của Hiền tài phải luôn tiến hành với thái độ của một kẻ sĩ. Đội tổ quốc và hy sinh vì tổ quốc. Họ còn có bổn phận phải nhắn gởi cho nhau gìn giữ nhân tài lại cho đất nước mình hôm nay và mai sau. Hiền tài không hề bao giờ để mình trở thành con chim mồi làm tàn hại nguyên khí quốc gia.
Lưu Bang và Hàn Tín là sản phẩm từ thời tàn chiến quốc sang đời Tần Thủy Hoàng bên Tàu. Rõ ràng trí thức người Tàu như Sầm Tham và Kim Thánh Thán đánh giá Hàn Tín qua tài cầm quân. Họ lờ đi, che nhau tội ác và gian manh của tiền nhân họ. Một xã hội Tàu thực dụng khác xa một xã hội Việt Nam chúng ta, khi luận về anh hùng. Cứ thành công trước đã cho dù bất nhân cũng không sao. Đó là một lời dạy khôn dại giúp cho ta nhìn rõ mặt người Tàu về sau. Rất nhiều người Việt có ăn học nhưng đội Hán rất hãnh diện nhắc đi nhắc lại Ta với Tàu cùng đồng văn hóa. Tam đồng: đồng Văn, đồng Chủng, đồng Tôn. Tôi nghĩ bạn hiền cũng như tôi chúng ta không ở trong nhóm mà những "Thằng Mặt Lì "đội Hán lên đầu ấy hãnh diện liệt kê.
Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Trần Súy là sản phẩm đời Trần. Là sản phẩm của nước Đại Việt, cho dù họ có sống một giai đoạn ngắn trong xã hội nhà Hồ suy đồi. Con người là sản phẩm của xã hội là vậy!. Những con người thấm nhuần đạo đức của tiền nhân Lý Trần có khác! Chính vì ta có những tiền nhân như thế nên nước Đại Việt là mới là giòng Việt duy nhất trong dòng Bách Việt còn một tổ quốc, một dân tộc, một tiếng nói để yêu thương để họ nghĩ về nhau mỗi khi ngước nhìn đêm trăng sáng.
Bài học của tráng sĩ Đặng Dung nhắc cho ta rằng:
Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Mỗi hành xử của Hiền tài phải luôn tiến hành với thái độ của một kẻ sĩ. Đội tổ quốc và hy sinh vì tổ quốc. Họ còn có bổn phận phải nhắn gởi cho nhau gìn giữ nhân tài lại cho đất nước mình hôm nay và mai sau. Hiền tài không hề bao giờ để mình trở thành con chim mồi làm tàn hại nguyên khí quốc gia.
Kẻ cho mình là người đã
từng có đôi chữ lận lưng, cũng nên soi rọi lại chính mình, đừng bao giờ tự
nguyện làm con mồi cho một Minh chủ lưu manh.
Người Việt làm tướng nương theo lời di huấn của Người xưa, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mà học tập. Danh tướng của ta có lời dạy và cách hành xử cao thượng khác với danh tướng Tàu như Hàn Tín và Phàn Khoái quá xa. Đường cùng thì chọn tự sát không để sa vào tay giặc, khi lâm chung thì sai biểu con cháu thiêu xác mà rãi khắp các chiến trường mà họ đã đi qua. (đọc lại lời trối trăn của Hưng Đạo Đại Vương với danh tướng Phạm ngũ Lão ,trong bài trước)
Người Việt làm tướng nương theo lời di huấn của Người xưa, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mà học tập. Danh tướng của ta có lời dạy và cách hành xử cao thượng khác với danh tướng Tàu như Hàn Tín và Phàn Khoái quá xa. Đường cùng thì chọn tự sát không để sa vào tay giặc, khi lâm chung thì sai biểu con cháu thiêu xác mà rãi khắp các chiến trường mà họ đã đi qua. (đọc lại lời trối trăn của Hưng Đạo Đại Vương với danh tướng Phạm ngũ Lão ,trong bài trước)
Đó là những gì còn đọng
lại sau khi đọc hai câu nguyên tác
Thời lai đồ điếu thành
công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
có thế thì mới đủ tâm
lực mà
Trí chúa hữu hoài phù
địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Kỳ tới chúng ta gặp nhau với
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Kỳ tới chúng ta gặp nhau với
Vai khiêng trái đất mong
phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây. (PKB)
Giáp gột sông trời khó vạch mây. (PKB)
&
Phò chúa một lòng xoay
trục đất,
Rửa binh không lối kéo ngân hà! (laiquangnam )
Xoay trục đất. Làm thế nào mà xoay? Xoay để làm gì?
Rửa binh không lối kéo ngân hà! (laiquangnam )
Xoay trục đất. Làm thế nào mà xoay? Xoay để làm gì?
Trước khi xoay trục đất
vì tướng phải làm gì?
Phò chúa. Chúa tư cách
ra sao?.
Trước khi ta đến với họ,
tiền nhân ta đã cầm tay và hướng dẫn cho ta bước đi không?.
laiquangnam
Tham khảo:
1- Sử gia TTK, xuất bản năm 1919, ghi là Trần quí Khoách. Sử gia Hànội gọi là Trần quí Khoáng..
1- Sử gia TTK, xuất bản năm 1919, ghi là Trần quí Khoách. Sử gia Hànội gọi là Trần quí Khoáng..
2- Laiquangnam, Đường
thi nửa chặng, bản thảo. laiquangnam chọn và dịch các bài thơ Đường hay
nhất, chưa xuất bản
3- Trần trọng San dịch,
Kim Thánh Thán phê bình thơ Đường, tủ sách ĐHTH TP.HCM, 1990
4- Ngô Nguyên Phi, Những
nhân vật Hán Sở, nxb Lao Động 1994.
5- TMT, Sử ký Tư Mã
Thiên, Phan Ngọc dịch, NXB Văn học, 2003, Chương Hoài Âm Hầu liệt truyện,
trang 575, nxb Văn Học ,2003
6- Hịch tướng sĩ, của
Đức Thánh Trần Hưng Đạo, bản dịch của Ngô Tất Tố
7- Lý Tôn Ngô
(1879-1944), người Thành Đô, ông viết Hậu Hắc Học, tính đến năm 1990 sách ông
đã bán trên 300,000 bản. Ông là giáo sư ĐH tại Tứ Xuyên, có tham gia cách mạng
Tân Hợi (1911). Người dịch là Nguyễn Trinh _Huy sinh, nxb VHTT, 2000.
8- Hữu Tuấn, Trang sách
hồn nước, nxb Trẻ, 1998
9- ĐVSK toàn thư
10- Trần Văn Giàu chủ
biên, Lịch sử Việt nam, gồm 3 tập, NXB Trẻ, trang187 tập1,
Tâm tình, ghi vội:
© Sau này trong lịch sử
dân tộc ta, Gia Long cũng hành xử y như thế. Hiền tài tan, quốc gia suy vong.
Pháp vào Việt Nam như chỗ không người với một đội quân vô cùng ít. Người
Pháp đã chiến thắng. Người Việt mất nết chạy theo “bợ đít“ làm Việt gian cho
giặc. Điều này đậm nét hơn khi mà Gia long cam tâm đặt nền đội Hán lên đầu
vương triều mình.
11- Laiquangnam
giới thiệu thi nhân tráng sĩ Đặng Dung,
http://chimviet.free.fr/
http://chimviet.free.fr/
© Anh hùng thay! họ vui
vẻ đón nhận cái chết, không lời ta thán. Họ cùng nhảy xuống biển tuẩn tiết
không để cho địch làm nhục. Họ đã chết thay đồng bào Đại Việt chúng ta ngày ấy,
chết để khí phách Việt Nam kết tinh vào cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Lê Lợi.
Người anh hùng luôn luôn nhận trách nhiệm về mình chết thay cho thuộc cấp. Khi
xưa Nguyễn Duy Hiệu nhận tội thay cho đồng đội mình để chịu án chém 1916,
Nguyễn Thái Học cũng vậy. Vui vẻ nhận thất bại mà không lời ta thán. Lấy cái
chết để tỏ khí tiết mình đó là tính cách của người anh hùng.
Sử kể rằng “sau khi Đặng
Dung làm xong bài này, vua tôi bọn Họ gồm nhà vua Trần quý Khoách, Đặng Dung,
Nguyễn Súy và Nguyễn cảnh Dị con trai Nguyễn cảnh Chân, tất cả cùng bị trói
ngồi trên thuyền trên đường giải về Yên kinh (tức Bắc Kinh), kinh đô Tàu thời
Minh. Đặng Dung ngâm vang cho các chiến hữu cùng nghe bài thơ này. Bọn ông
(1) cùng nhau gõ ván thuyền giữ nhịp, nhìn bọn Họ như cá nằm trên thớt, cam
đành số phận, bọn lính canh thấy vô hại nên lơ là, thừa cơ khi cả bọn đang khi
bị trói, Họ cùng lăn nhào xuống biển từ trầm. Một thiên anh hùng ca lẫm liệt,
một cái chết của một tập thể kiêu hùng trong dòng sử Việt. Đặng Dung xứng đáng
là tiền hiền của dân xứ Quảng nam. Cha con ông khai phá phủ Thăng Bình, Thuận
hóa vào thế kỷ thứ 14. Ngày nay tại quận I, tại khu Tân Định, có đường Đặng
Dung, Đặng Tất và Trần quý Khoách. Riêng anh hùng Nguyễn cảnh Chân thì nằm ở
quận I, gần Sở công an TP giáp ranh quận V. Họ sống mãi trong con tim của người
Việt thuần chất.
© hiểm họa từ thời minh
thuộc phát tác trên thân thể Đại Việt .
Nhà Lê khởi thì Lê Lợi với công việc đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh, một kẻ thù tàn bạo và hiểm độc chưa từng thấy trong lịch sử cổ kim, ròng rã suốt 10 năm. Đến đời Lê Thánh tông là triều đại sáng giá nhất và cũng là thời cực thịnh của nhà Lê. Nhưng ông vừa mất khoảng hơn chục năm sau thì các cháu của ông là Lê Uy Mục, Lê Tương Dực đã trở thành những tên bạo chúa, đời gọi Uy Mục là vua quỉ, Tương Dực là vua lợn. Công việc triều chính đổ nát. Dân tình cực khổ, loạn lạc tứ tung. Và đến năm 1527, tức là đúng 100 năm sau khi Lê Lợi lên ngôi, thì nhà Lê mất về tay nhà Mạc. Lại tới năm 1533 công cuộc trung hưng cho nhà Lê được khởi từ Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim, dò tìm con cháu nhà Lê đưa sang đất Ai Lao tôn lập, mở ra thời kỳ tranh đấu Lê - Mạc (chép lại nay không nhớ tác giả).
Nhà Lê khởi thì Lê Lợi với công việc đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh, một kẻ thù tàn bạo và hiểm độc chưa từng thấy trong lịch sử cổ kim, ròng rã suốt 10 năm. Đến đời Lê Thánh tông là triều đại sáng giá nhất và cũng là thời cực thịnh của nhà Lê. Nhưng ông vừa mất khoảng hơn chục năm sau thì các cháu của ông là Lê Uy Mục, Lê Tương Dực đã trở thành những tên bạo chúa, đời gọi Uy Mục là vua quỉ, Tương Dực là vua lợn. Công việc triều chính đổ nát. Dân tình cực khổ, loạn lạc tứ tung. Và đến năm 1527, tức là đúng 100 năm sau khi Lê Lợi lên ngôi, thì nhà Lê mất về tay nhà Mạc. Lại tới năm 1533 công cuộc trung hưng cho nhà Lê được khởi từ Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim, dò tìm con cháu nhà Lê đưa sang đất Ai Lao tôn lập, mở ra thời kỳ tranh đấu Lê - Mạc (chép lại nay không nhớ tác giả).
Laiquangnam





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét