Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Tục chàm đuống ngày xuân

Tục chàm đuống ngày xuân
Từ thị xã Phú Thọ, theo quốc lộ 32 qua huyện Thanh Sơn khoảng 15km, rẽ trái vào đường vườn quốc gia Xuân Sơn, đi tiếp khoảng 20km là đến xã Kim Thượng huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Quan sát trên bản đồ, xã Kim Thượng nằm ở vị trí ghé hướng tây nam của huyện Tân Sơn, phía tây nam giáp với huyện Đà Bắc (Hòa Bình), phía bắc giáp xã Xuân Đài, Xuân Sơn; phía đông giáp xã Vĩnh Tiền. Người Mường đây có một phong tục truyền thống khác biệt với người Mường ở Hòa Bình hay Thanh Hóa, đó là chàm đuống trong dịp tết.
Xã Kim Phượng có 5 tộc người: Mường, Dao, Thái, Kinh, Tày cùng sinh sống. Tổng số dân của xã là 6538, trong đó 85% là người Mường (được coi là tộc chủ thể), 12% Dao, 3% Thái, Kinh, Tày (1). Người Mường ở xã Kim Thượng có trên 1000 hộ, chia làm 5 xóm: Xuân, Chiềng, Quyền, Tân Lập, Nhàng. Trong đó xóm Chiềng là lâu đời nhất, trước đây được gọi là xóm Ngài (xóm của quan lang), có khoảng trên dưới 50 hộ.
Nhìn chung, đời sống của người Mường ở Kim Thượng gắn liền với hoạt động nông nghiệp. Bởi vậy các sinh hoạt văn hóa, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội của họ cũng tương đồng với người Mường ở các nơi khác. Hầu hết nghi lễ gắn liền với cầu mùa, mừng cơm mới, tín ngưỡng phồn thực hay xua đuổi tà ma, cầu may mắn. Tuy nhiên, chàm đuống trong dịp tết lại có những đặc trưng riêng.
Trước khi xem xét phong tục chàm đuống trong dịp tết của người Mường ở Kim Thượng, cần tìm hiểu đuống và chàm đuống là gì?
Đuống là gì?
Đã có nhiều nhà nghiên cứu viết về đuống, chẳng hạn, “đuống, thực chất là một cái cối giã gạo bằng nguyên thân gỗ” (2); hay “đuống là chiếc máng gỗ và chày dọc vốn dùng để giã gạo của người Mường”(3); hoặc “chàm đuống là đâm cối, giã cối. Người Mường gọi một loại cối giã gạo là đuống”, tác giả còn giải thích thêm: "Loại cối nước ở ven bờ suối suốt đêm ngày mỗi cối chỉ cho ra vài ba cân gạo, không đủ ăn cho nhà đông người. Hơn nữa, khi tết nhất, cưới treo, ma chay... cần nhiều gạo ăn người ta phải giã gạo bằng đuống" (4).
Những ý kiến trên đều cho rằng đuống là cối giã gạo. Thực tế thì đuống không phải là cối mà làmáng. Thế nên, đuống không dùng để giã gạo mà để giã lúa, điều này chúng tôi rút ra được qua khảo sát thực địa. Không riêng gì người Mường ở Kim Thượng mà người Mường ở Hòa Bình cũng cho biết đuống là máng để giã lúa. Mới đây, cuốn Mo Mường Hòa Bình phần chú thích của sách có ghi: “Đuống - một chiếc máng dài bằng thân gỗ to, khoét rỗng lòng dùng để chày lúa” (5). Thông tin này phù hợp với kết quả điền dã của chúng tôi.
Như vậy, đuống là cách gọi của người Mường chỉ loại công cụ lao động dùng để giã lúa. Để chế tạo loại công cụ này không khó khăn lắm, người ta dùng một cây gỗ to, chặt khúc và khoét rỗng lòng để làm đuống. Sản phẩm làm xong là đuống - một cái máng chiều dài, chiều rộng của nó không có quy chuẩn cụ thể, mà hoàn toàn phụ thuộc vào chiều dài và đường kính của cây gỗ. Hình dáng đuống hơi giống một con thuyền độc mộc. Loại tốt nhất để làm đuống là gỗ của cây sơơng có màu đỏ hoặc gỗ cây chẹo có màu trắng (người Kinh gọi là cây phay, gỗ có màu trắng hoặc đen). Một bộ phận không thể thiếu, đi kèm theo đuống, đó là chày. Nguyên liệu để làm chày cũng bằng gỗ. Gỗ được chọn để làm chày thường là loại cây gỗ nhỏ, có gai, người Mường Kim Thượng gọi là cây ton.
Chàm đuống
Khi người ta dùng chày giã vào trong lòng đuống thì gọi là chàm đuống. Những bông lúa nương sau khi được hong khô bằng cách gác trên bếp lửa được người ta cho vào trong đuống và dùng chày để giã cho đến khi hạt lúa được tách rời khỏi bông lúa, đó là mục đích khởi nguyên của chàm đuống. Người Mường ở mỗi vùng có cách gọi khác nhau để chỉ hoạt động này, do đó có khá nhiều cách gọi khi sử dụng đuống như chàm đuống, đâm đuống hoặc đoóng đuống. Tất cả những từ như chàm, đâm, đoóng đều có nghĩa là giã. Chúng tôi dùng từ chàm đuống, theo cách gọi thông dụng nhất của người Mường Kim Thượng để chỉ việc sử dụng đuống.
Khi xưa đuống ở Kim Thượng là một công cụ lao động gắn liền với việc lao động của người phụ nữ. Đối với người Mường, theo truyền thống, phụ nữ thường làm việc nhà và trồng cấy, đó là những công việc nhẹ phù hợp với giới tính. Bởi vậy, chàm đuống là việc làm ở nhà của phụ nữ, đàn ông rất ít khi tham gia. Người Mường ở Kim Thượng từ xưa đã thành lệ, cứ sáng sớm (4 - 6 giờ) phụ nữ trong các gia đình đã thức dậy chàm đuống, tiếng đuống vang khắp xóm làng.
Hiện nay tại Kim Thượng người ta không dùng đuống để giã lúa nữa. Nguyên nhân có thể là hiện nay người dân đã bỏ công việc trồng lúa nương, hoặc đã có máy tuốt lúa thay thế. Tuy nhiên chàm đuống vẫn hiện hữu vì nó đã trở thành phong tục tập quán của người Mường ở đây. Trong dịp mừng cơm mới, người ta chàm đuống để tỏ lòng biết ơn thần linh và cầu may mắn cho mùa màng năm sau được bội thu. Những gia đình cuộc sống không được bình yên, luôn gặp phải những điều không may mắn, như ốm đau, bệnh tật, tai nạn, không sinh được con... họ cho đó là bị ma ám và làm một cái lễ nhỏ để tạ thần linh, nhờ âm thanh của đuống xua đuổi tà ma và những điều không may mắn. Họ quan niệm rằng âm thanh tươi vui rộn ràng cùng với sự nhịp nhàng linh hoạt trong cách chàm đuống sẽ đem lại nhiều điều may mắn cho mọi người trong gia đình. Còn trong đám cưới, việc chàm đuống được thực hiện ở cả nhà trai và nhà gái. Nhà gái chàm đuống khi nhà trai đến làm lễ đón dâu. Nhà trai bắt đầu chàm đuống khi đoàn rước dâu chỉ còn cách nhà trai khoảng 300 - 400m để thông báo với mọi người và để chào đón dâu mới. Trong đám cưới, chàm đuống cũng có quy định bài bản riêng. Ngoài chức năng thông báo và chào đón thành viên mới của gia đình, nó còn mang ý nghĩa sinh tồn và phát triển. Tiếng đuống càng khỏe càng vang xa thì cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ càng may mắn hạnh phúc, sức khỏe dồi dào, con đàn cháu đống.
Nhưng phong tục chàm đuống đặc trưng nhất của người Mường Kim Thượng phải kể đến chính là trong dịp tết.
Chàm đuống mồng 4 tết
Theo các cụ già, không biết phong tục này có từ bao giờ, có lẽ từ xa xưa lắm. Thời còn ngài (người Mường Phú Thọ gọi người thổ tù đứng đầu vùng, cai quản vùng mường là ngài, tương đương với lang ở Hòa Bình), bắt đầu từ rạng sáng ngày mùng 4 tết hàng năm, các xóm trong xã cùng đốt đuốc để chờ hồi trống khai mạc chàm đuống của ngài. Sau hồi trống các xóm đều rộn vang tiếng chàm đuống. Việc chàm đuống được kéo dài hết ngày mùng 4 tết. Đàn bà thay nhau chàm đuống, còn đàn ông uống rượu, cả làng tưng bừng trong âm thanh rộn ràng của đuống.
Trước khi chàm đuống, người ta khiêng đuống đặt lên một cái giá cao khoảng 0,50m. Giá rất đơn giản, làm bằng tre, 4 chân chôn xuống đất với hai thanh ngang đỡ hai đầu đuống. Người ta cũng phải chuẩn bị đủ số chày cho số người chơi. Số lượng người chơi đuống không theo một quy định nào mà phụ thuộc vào chiều dài của đuống. Cái đuống càng dài thì sẽ có nhiều người tham gia, và ngược lại. Thường là khoảng bốn người chơi, nhưng có khi là ba, lúc lại là năm hoặc sáu người.
Người Mường ở Kim Thượng có thể chàm đuống được cả ngày mà không chán, đó là vì chàm đuống đã được nâng lên tới mức nghệ thuật.
Khi chàm đuống với ý nghĩa như một nghệ thuật, đuống trở thành nhạc khí, một loại nhạc khí thân vang gõ độc đáo. Mặc dù không phong phú về âm thanh, không có hàng âm cụ thể, nhưng nó lại hấp dẫn bởi sự linh hoạt của tiết tấu và âm thanh đặc trưng của chày chàm vào máng gỗ.
Âm thanh đuống trầm, chắc nịch là khi chày được đâm thẳng xuống lòng đuống. Âm thanh đuống cao, hơi đanh là khi chày gõ vào thành đuống. Thông thường, gõ vào thành đuống là để dồn những hạt lúa đã tách ra khỏi bông rơi xuống đáy đuống. Chính cách làm cho hạt lúa rơi xuống đáy đuống đã làm nên những âm thanh khác nhau. Người Mường Kim Thượng đã sáng tạo nên cách phối hợp các âm thanh đó thành âm nhạc, thành những bài bản chàm đuống thú vị.
Người chuẩn bị diễn tấu đứng quanh đuống thành hai hàng theo chiều dài của thành đuống, quay mặt vào nhau, hai tay cầm vào giữa chày. Cũng có khi có một người cầm chày đứng ở đầu, số còn lại đứng ở hai bên thành đuống.
Đội hình chàm đuống được chia làm hai bộ phận, gọi là cái và con. Cái và con là cách người Mường gọi hai thành phần chính tạo nên bài bản đuống. Cái do một người đảm nhiệm, con do một nhóm người đảm nhiệm. Số người tham gia trong vai trò làm con là chẵn hay lẻ còn tùy thuộc vào bài bản.
Khi diễn tấu chàm đuống có ba động tác cơ bản: giã, đập và đánh. Giã: đâm thẳng đầu chày vào thành đuống, đập: đập cạnh đầu chày vào thành đuống, đánh: đánh hai cạnh đầu chày vào nhau.
Nghệ thuật chàm đuống ở Kim Thượng đã hình thành nên 4 bài bản, được đặt tên là tùng kham (3 bài) và tùng cắc (1 bài). Tất cả bài bản nêu trên đều được thể hiện trên một nhịp chẵn (4/4) với nhịp độ khá linh hoạt. Cũng từ ví dụ này có thể thấy cái và con, mỗi bộ phận thể hiện một loại tiết tấu khác nhau. Sự phối hợp giữa chúng tạo thành một dạng phức tiết tấu khá thú vị. Người giữ vai trò con rất quan trọng, nhiệm vụ của họ vừa phải giữ nhịp, vùa phải thay đổi tiết tấu. Tuy nhiên, họ vẫn luôn chịu sự của người làm cái.
Số lượng người tham gia chàm đuống chẵn hay lẻ cũng còn phải tùy thuộc vào từng bài. Đối với bài tùng cắc, người làm con luôn là số chẵn, vì ngoài hai động tác cơ bản, còn có thêm động tác đánh hai đầu chày vào nhau của các cặp con. Còn với bài tùng kham thì con là chẵn hay lẻ đều được. Dù chẵn hay lẻ, nhìn chung khi chàm đuống theo bài bản nhất thiết là phải đông người mới có thể diễn tấu được. Với phương thức diễn tấu mỗi người một chày cùng phối hợp thực hiện các động tác giã, đập, đánh trên nhạc khí đuống, nên mỗi thành viên là một mắt xích quan trọng được cố kết với nhau bởi âm hình tiết tấu của bài bản.
Mỗi bài đuống khi diễn tấu được lặp lại nhiều lần nhưng không gây ra cảm giác nhàm chán, ngược lại càng diễn tấu càng hưng phấn. Việc tạo nên sự hưng phấn này có lẽ phụ thuộc vào phương thức diễn tấu và những âm hình tiết tấu khá phức tạp. Đối với người nông dân Mường, thực hiện những yêu cầu của bài bản đuống giống như họ được tham gia một trò chơi đòi hỏi sự khéo léo và chính xác. Mỗi lần hoàn thành trót lọt bài đuống, họ phấn khởi và pha chút hãnh diện. Còn nếu làm lỗi, bài hỏng, họ lập tức tập lại. Mặt khác, cũng có thể âm thanh chàm đuống đã tác động trở lại người diễn tấu vào chính nhịp đập và hơi thở của họ, tạo nên sự hưng phấn khi diễn tấu. Vì vậy, người ta có thể chàm đuống và xem chàm đuống trong thời gian dài mà không chán. Vả lại, ở Kim Thượng, người xem luôn sẵn sàng thay chân người diễn khi người diễn mỏi tay. Điều ấy đã phần nào lý giải được tại sao người Mường ở Kim Thượng có thể chàm đuống suốt cả ngày mồng 4 tết.
Chàm đuống trong dịp tết không chỉ để cho vui mà ẩn trong nó còn có nhiều ý nghĩa sâu xa khác nữa.
Mùa xuân là mùa mở đầu một năm, mùa đâm chồi nảy lộc, trời đất giao hòa vạn vật sinh sôi nảy nở. Đuống vốn là một công cụ gắn liền với nhà nông, bởi vậy nó có mối liên quan mật thiết tới tiết trời và vạn vật. Sử dụng công cụ này để cầu mùa thực tiện lợi. Hơn nữa, chọn thời điểm đón xuân để chàm đuống còn là một việc làm mang ý nghĩa tâm linh. Ở thời điểm linh thiêng này, mọi điều sẽ được linh ứng khi tiếng chàm đuống vang lên. Người Mường tin rằng tiếng đuống càng vang, càng rộn ràng bao nhiêu thì năm đó sẽ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mọi điều may mắn sẽ đến nhiều bấy nhiêu.
Ngoài ra, chàm đuống vào mồng 4 tết đối với người Mường ở Kim Thượng cũng có ý nghĩa gần tương tự như lễ khai hạ của người Mường ở Hòa Bình: để xua đuổi thú dữ trước khi bắt đầu những ngày trồng cấy đầu tiên của năm mới. Người Mường Kim Thượng quan niệm rằng, trong thời gian nghỉ tết kéo dài, ruộng nương bỏ không nên đã bị những con thú (có thể cả tà ma nữa) chiếm lĩnh. Muốn ra đồng, lên nương sau tết cần phải làm gì đó để đuổi chúng đi. Vì thế, người Mường ở đây đã chọn chàm đuống, họ tin rằng loài thú và ma tà sợ âm thanh của chàm đuống. Âm vang của chàm đuống càng vang xa bao nhiêu thì thú dữ và tà ma càng phải chạy xa bấy nhiêu. Từ đó con người có thể trồng cấy đầu năm một cách thuận lợi, báo trước một năm mới may mắn, mùa màng bội thu.
Cho đến nay, phong tục này vẫn được duy trì, dù không còn chế độ ngài (lang đạo) nữa. Thay vì tiếng trống của ngài là hiệu lệnh trống của trưởng khu. Cứ vào rạng sáng ngày mùng 4 tết hàng năm, sau khi nghe hồi trống, tất cả gia đình trong các xóm lại như cùng hòa chung trong âm thanh rộn ràng của chàm đuống. Tiếng chàm đuống vang xa thể hiện sự dồi dào của sức khỏe, sự nhiệt tình của con người. Và cho đến nay, người Mường ở Kim Thượng vẫn tin rằng dịp tết năm nào tiếng chàm đuống vang càng xa thì năm đó xóm làng càng gặp nhiều may mắn.
Chàm đuống trong dịp tết là một trong những tập quán cổ xưa đặc biệt, vẫn tồn tại trong cuộc sống của người Mường Kim Thượng. Mặc dù hiện nay ý nghĩa nghi lễ của chàm đuống đã mờ nhạt, biểu hiện qua các lần sử dụng cũng như số lần thực hiện ít đi và thời gian thực hiện có thể ngắn hơn tùy thuộc vào cách sắp xếp bố trí của từng gia đình, nhưng thực sự đây vẫn là một phong tục hay, một nét đẹp văn hóa đáng tự hào của những người dân ở Kim Thượng.
1. Theo con số thống kê tại UBND xã Kim Thượng, năm 2009.
2. Lê Ngọc Canh, Nghệ thuật âm nhạc và múa dân tộc Mường Vĩnh Phú, trong Hợp tuyển Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX, tập 3, Viện Âm nhạc, Hà Nội, 2003, tr.415-417.
3. vi.Wikipedia giải thích: đuống là chiếc máng gỗ và chày dọc vốn dùng để giã gạo của người Mường.
4. Nguyễn Hữu Nhàn, Chàm đuống, www.datto.vnweb blogs.com.
5. UBND tỉnh Hòa Bình, Mo Mường Hòa Bình, Công ty TNHH bao bì và in Hải Nam, xb 2010, tr.1456.
NGUYỄN TUỆ CHI
Theo http://www.vnq.edu.vn/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Trần Bảo Định “gói” bánh tét: Hương vị tết quê hay là biểu tượng văn hóa Nam bộ Ông già Nam bộ nhiều chuyện đã gói bánh. Bạn lòng gần xa...