Tục
chàm đuống ngày xuân
Từ thị xã Phú Thọ, theo quốc
lộ 32 qua huyện Thanh Sơn khoảng 15km, rẽ trái vào đường vườn quốc gia Xuân
Sơn, đi tiếp khoảng 20km là đến xã Kim Thượng huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Quan
sát trên bản đồ, xã Kim Thượng nằm ở vị trí ghé hướng tây nam của huyện Tân
Sơn, phía tây nam giáp với huyện Đà Bắc (Hòa Bình), phía bắc giáp xã Xuân Đài,
Xuân Sơn; phía đông giáp xã Vĩnh Tiền. Người Mường đây có một phong tục truyền
thống khác biệt với người Mường ở Hòa Bình hay Thanh Hóa, đó là chàm đuống
trong dịp tết.
Xã Kim Phượng có 5 tộc người:
Mường, Dao, Thái, Kinh, Tày cùng sinh sống. Tổng số dân của xã là 6538, trong
đó 85% là người Mường (được coi là tộc chủ thể), 12% Dao, 3% Thái, Kinh, Tày
(1). Người Mường ở xã Kim Thượng có trên 1000 hộ, chia làm 5 xóm: Xuân, Chiềng,
Quyền, Tân Lập, Nhàng. Trong đó xóm Chiềng là lâu đời nhất, trước đây được gọi
là xóm Ngài (xóm của quan lang), có khoảng trên dưới 50 hộ.
Nhìn chung, đời sống của người
Mường ở Kim Thượng gắn liền với hoạt động nông nghiệp. Bởi vậy các sinh hoạt văn
hóa, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội của họ cũng tương đồng với người Mường ở các
nơi khác. Hầu hết nghi lễ gắn liền với cầu mùa, mừng cơm mới, tín ngưỡng phồn
thực hay xua đuổi tà ma, cầu may mắn. Tuy nhiên, chàm đuống trong dịp tết lại
có những đặc trưng riêng.
Trước khi xem xét phong tục chàm
đuống trong dịp tết của người Mường ở Kim Thượng, cần tìm hiểu đuống và chàm
đuống là gì?
Đuống là gì?
Đã có nhiều nhà nghiên cứu
viết về đuống, chẳng hạn, “đuống, thực chất là một cái cối giã gạo bằng nguyên
thân gỗ” (2); hay “đuống là chiếc máng gỗ và chày dọc vốn dùng để giã gạo của
người Mường”(3); hoặc “chàm đuống là đâm cối, giã cối. Người Mường gọi một loại
cối giã gạo là đuống”, tác giả còn giải thích thêm: "Loại cối nước ở ven bờ
suối suốt đêm ngày mỗi cối chỉ cho ra vài ba cân gạo, không đủ ăn cho nhà đông
người. Hơn nữa, khi tết nhất, cưới treo, ma chay... cần nhiều gạo ăn người ta
phải giã gạo bằng đuống" (4).
Những ý kiến trên đều cho rằng
đuống là cối giã gạo. Thực tế thì đuống không phải là cối mà làmáng. Thế nên,
đuống không dùng để giã gạo mà để giã lúa, điều này chúng tôi rút ra được qua
khảo sát thực địa. Không riêng gì người Mường ở Kim Thượng mà người Mường ở Hòa
Bình cũng cho biết đuống là máng để giã lúa. Mới đây, cuốn Mo Mường Hòa
Bình phần chú thích của sách có ghi: “Đuống - một chiếc máng dài bằng thân
gỗ to, khoét rỗng lòng dùng để chày lúa” (5). Thông tin này phù hợp với kết quả
điền dã của chúng tôi.
Như vậy, đuống là cách
gọi của người Mường chỉ loại công cụ lao động dùng để giã lúa. Để chế tạo loại
công cụ này không khó khăn lắm, người ta dùng một cây gỗ to, chặt khúc và khoét
rỗng lòng để làm đuống. Sản phẩm làm xong là đuống - một cái máng chiều
dài, chiều rộng của nó không có quy chuẩn cụ thể, mà hoàn toàn phụ thuộc vào
chiều dài và đường kính của cây gỗ. Hình dáng đuống hơi giống một con thuyền độc
mộc. Loại tốt nhất để làm đuống là gỗ của cây sơơng có màu đỏ hoặc gỗ
cây chẹo có màu trắng (người Kinh gọi là cây phay, gỗ có màu trắng hoặc
đen). Một bộ phận không thể thiếu, đi kèm theo đuống, đó là chày. Nguyên liệu để
làm chày cũng bằng gỗ. Gỗ được chọn để làm chày thường là loại cây gỗ nhỏ, có
gai, người Mường Kim Thượng gọi là cây ton.
Chàm đuống
Khi người ta dùng chày giã
vào trong lòng đuống thì gọi là chàm đuống. Những bông lúa nương sau khi
được hong khô bằng cách gác trên bếp lửa được người ta cho vào trong đuống và
dùng chày để giã cho đến khi hạt lúa được tách rời khỏi bông lúa, đó là mục
đích khởi nguyên của chàm đuống. Người Mường ở mỗi vùng có cách gọi khác nhau để
chỉ hoạt động này, do đó có khá nhiều cách gọi khi sử dụng đuống như chàm đuống,
đâm đuống hoặc đoóng đuống. Tất cả những từ như chàm, đâm, đoóng đều
có nghĩa là giã. Chúng tôi dùng từ chàm đuống, theo cách gọi thông dụng nhất
của người Mường Kim Thượng để chỉ việc sử dụng đuống.
Khi xưa đuống ở Kim Thượng
là một công cụ lao động gắn liền với việc lao động của người phụ nữ. Đối với
người Mường, theo truyền thống, phụ nữ thường làm việc nhà và trồng cấy, đó là
những công việc nhẹ phù hợp với giới tính. Bởi vậy, chàm đuống là việc làm ở
nhà của phụ nữ, đàn ông rất ít khi tham gia. Người Mường ở Kim Thượng từ xưa đã
thành lệ, cứ sáng sớm (4 - 6 giờ) phụ nữ trong các gia đình đã thức dậy chàm đuống,
tiếng đuống vang khắp xóm làng.
Hiện nay tại Kim Thượng người
ta không dùng đuống để giã lúa nữa. Nguyên nhân có thể là hiện nay người dân đã
bỏ công việc trồng lúa nương, hoặc đã có máy tuốt lúa thay thế. Tuy nhiên chàm
đuống vẫn hiện hữu vì nó đã trở thành phong tục tập quán của người Mường ở
đây. Trong dịp mừng cơm mới, người ta chàm đuống để tỏ lòng biết ơn thần linh
và cầu may mắn cho mùa màng năm sau được bội thu. Những gia đình cuộc sống
không được bình yên, luôn gặp phải những điều không may mắn, như ốm đau, bệnh tật,
tai nạn, không sinh được con... họ cho đó là bị ma ám và làm một cái lễ nhỏ để
tạ thần linh, nhờ âm thanh của đuống xua đuổi tà ma và những điều không may mắn.
Họ quan niệm rằng âm thanh tươi vui rộn ràng cùng với sự nhịp nhàng linh hoạt
trong cách chàm đuống sẽ đem lại nhiều điều may mắn cho mọi người trong gia
đình. Còn trong đám cưới, việc chàm đuống được thực hiện ở cả nhà trai và
nhà gái. Nhà gái chàm đuống khi nhà trai đến làm lễ đón dâu. Nhà trai bắt đầu
chàm đuống khi đoàn rước dâu chỉ còn cách nhà trai khoảng 300 - 400m để thông báo
với mọi người và để chào đón dâu mới. Trong đám cưới, chàm đuống cũng có quy định
bài bản riêng. Ngoài chức năng thông báo và chào đón thành viên mới của gia
đình, nó còn mang ý nghĩa sinh tồn và phát triển. Tiếng đuống càng khỏe càng
vang xa thì cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ càng may mắn hạnh phúc, sức khỏe dồi
dào, con đàn cháu đống.
Nhưng phong tục chàm đuống đặc
trưng nhất của người Mường Kim Thượng phải kể đến chính là trong dịp tết.
Chàm đuống mồng 4 tết
Theo các cụ già, không biết
phong tục này có từ bao giờ, có lẽ từ xa xưa lắm. Thời còn ngài (người Mường
Phú Thọ gọi người thổ tù đứng đầu vùng, cai quản vùng mường là ngài, tương
đương với lang ở Hòa Bình), bắt đầu từ rạng sáng ngày mùng 4 tết hàng năm, các
xóm trong xã cùng đốt đuốc để chờ hồi trống khai mạc chàm đuống của ngài. Sau hồi
trống các xóm đều rộn vang tiếng chàm đuống. Việc chàm đuống được kéo dài hết
ngày mùng 4 tết. Đàn bà thay nhau chàm đuống, còn đàn ông uống rượu, cả
làng tưng bừng trong âm thanh rộn ràng của đuống.
Trước khi chàm đuống, người
ta khiêng đuống đặt lên một cái giá cao khoảng 0,50m. Giá rất đơn giản, làm bằng
tre, 4 chân chôn xuống đất với hai thanh ngang đỡ hai đầu đuống. Người ta cũng
phải chuẩn bị đủ số chày cho số người chơi. Số lượng người chơi đuống
không theo một quy định nào mà phụ thuộc vào chiều dài của đuống. Cái đuống
càng dài thì sẽ có nhiều người tham gia, và ngược lại. Thường là khoảng bốn người
chơi, nhưng có khi là ba, lúc lại là năm hoặc sáu người.
Người Mường ở Kim Thượng có
thể chàm đuống được cả ngày mà không chán, đó là vì chàm đuống đã được nâng lên
tới mức nghệ thuật.
Khi chàm đuống với ý nghĩa
như một nghệ thuật, đuống trở thành nhạc khí, một loại nhạc khí thân vang
gõ độc đáo. Mặc dù không phong phú về âm thanh, không có hàng âm cụ thể, nhưng
nó lại hấp dẫn bởi sự linh hoạt của tiết tấu và âm thanh đặc trưng của chày
chàm vào máng gỗ.
Âm thanh đuống trầm, chắc nịch
là khi chày được đâm thẳng xuống lòng đuống. Âm thanh đuống cao, hơi đanh là
khi chày gõ vào thành đuống. Thông thường, gõ vào thành đuống là để dồn những hạt
lúa đã tách ra khỏi bông rơi xuống đáy đuống. Chính cách làm cho hạt lúa rơi xuống
đáy đuống đã làm nên những âm thanh khác nhau. Người Mường Kim Thượng đã
sáng tạo nên cách phối hợp các âm thanh đó thành âm nhạc, thành những bài bản
chàm đuống thú vị.
Người chuẩn bị diễn tấu đứng
quanh đuống thành hai hàng theo chiều dài của thành đuống, quay mặt vào nhau,
hai tay cầm vào giữa chày. Cũng có khi có một người cầm chày đứng ở đầu, số còn
lại đứng ở hai bên thành đuống.
Đội hình chàm đuống được
chia làm hai bộ phận, gọi là cái và con. Cái và con là cách
người Mường gọi hai thành phần chính tạo nên bài bản đuống. Cái do một người đảm
nhiệm, con do một nhóm người đảm nhiệm. Số người tham gia trong vai trò làm con
là chẵn hay lẻ còn tùy thuộc vào bài bản.
Khi diễn tấu chàm đuống có
ba động tác cơ bản: giã, đập và đánh. Giã: đâm thẳng đầu chày vào thành đuống,
đập: đập cạnh đầu chày vào thành đuống, đánh: đánh hai cạnh đầu chày vào nhau.
Nghệ thuật chàm đuống ở Kim
Thượng đã hình thành nên 4 bài bản, được đặt tên là tùng kham (3 bài) và tùng cắc
(1 bài). Tất cả bài bản nêu trên đều được thể hiện trên một nhịp chẵn (4/4) với
nhịp độ khá linh hoạt. Cũng từ ví dụ này có thể thấy cái và con, mỗi bộ phận
thể hiện một loại tiết tấu khác nhau. Sự phối hợp giữa chúng tạo thành một dạng
phức tiết tấu khá thú vị. Người giữ vai trò con rất quan trọng, nhiệm vụ của họ
vừa phải giữ nhịp, vùa phải thay đổi tiết tấu. Tuy nhiên, họ vẫn luôn chịu sự của
người làm cái.
Số lượng người tham gia chàm
đuống chẵn hay lẻ cũng còn phải tùy thuộc vào từng bài. Đối với bài tùng cắc,
người làm con luôn là số chẵn, vì ngoài hai động tác cơ bản, còn có thêm động
tác đánh hai đầu chày vào nhau của các cặp con. Còn với bài tùng kham thì con
là chẵn hay lẻ đều được. Dù chẵn hay lẻ, nhìn chung khi chàm đuống theo bài bản
nhất thiết là phải đông người mới có thể diễn tấu được. Với phương thức diễn tấu
mỗi người một chày cùng phối hợp thực hiện các động tác giã, đập, đánh trên nhạc
khí đuống, nên mỗi thành viên là một mắt xích quan trọng được cố kết với nhau bởi
âm hình tiết tấu của bài bản.
Mỗi bài đuống khi diễn tấu được
lặp lại nhiều lần nhưng không gây ra cảm giác nhàm chán, ngược lại càng diễn tấu
càng hưng phấn. Việc tạo nên sự hưng phấn này có lẽ phụ thuộc vào phương thức
diễn tấu và những âm hình tiết tấu khá phức tạp. Đối với người nông dân Mường,
thực hiện những yêu cầu của bài bản đuống giống như họ được tham gia một trò
chơi đòi hỏi sự khéo léo và chính xác. Mỗi lần hoàn thành trót lọt bài đuống, họ
phấn khởi và pha chút hãnh diện. Còn nếu làm lỗi, bài hỏng, họ lập tức tập lại.
Mặt khác, cũng có thể âm thanh chàm đuống đã tác động trở lại người diễn tấu
vào chính nhịp đập và hơi thở của họ, tạo nên sự hưng phấn khi diễn tấu. Vì vậy,
người ta có thể chàm đuống và xem chàm đuống trong thời gian dài mà không chán.
Vả lại, ở Kim Thượng, người xem luôn sẵn sàng thay chân người diễn khi người diễn
mỏi tay. Điều ấy đã phần nào lý giải được tại sao người Mường ở Kim Thượng có thể
chàm đuống suốt cả ngày mồng 4 tết.
Chàm đuống trong dịp tết
không chỉ để cho vui mà ẩn trong nó còn có nhiều ý nghĩa sâu xa khác nữa.
Mùa xuân là mùa mở đầu một
năm, mùa đâm chồi nảy lộc, trời đất giao hòa vạn vật sinh sôi nảy nở. Đuống vốn
là một công cụ gắn liền với nhà nông, bởi vậy nó có mối liên quan mật thiết tới
tiết trời và vạn vật. Sử dụng công cụ này để cầu mùa thực tiện lợi. Hơn nữa, chọn
thời điểm đón xuân để chàm đuống còn là một việc làm mang ý nghĩa tâm linh. Ở
thời điểm linh thiêng này, mọi điều sẽ được linh ứng khi tiếng chàm đuống vang
lên. Người Mường tin rằng tiếng đuống càng vang, càng rộn ràng bao nhiêu thì
năm đó sẽ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mọi điều may mắn sẽ đến nhiều bấy
nhiêu.
Ngoài ra, chàm đuống vào mồng
4 tết đối với người Mường ở Kim Thượng cũng có ý nghĩa gần tương tự như lễ khai
hạ của người Mường ở Hòa Bình: để xua đuổi thú dữ trước khi bắt đầu những ngày
trồng cấy đầu tiên của năm mới. Người Mường Kim Thượng quan niệm rằng, trong thời
gian nghỉ tết kéo dài, ruộng nương bỏ không nên đã bị những con thú (có thể cả
tà ma nữa) chiếm lĩnh. Muốn ra đồng, lên nương sau tết cần phải làm gì đó để đuổi
chúng đi. Vì thế, người Mường ở đây đã chọn chàm đuống, họ tin rằng loài
thú và ma tà sợ âm thanh của chàm đuống. Âm vang của chàm đuống càng vang
xa bao nhiêu thì thú dữ và tà ma càng phải chạy xa bấy nhiêu. Từ đó con người
có thể trồng cấy đầu năm một cách thuận lợi, báo trước một năm mới may mắn, mùa
màng bội thu.
Cho đến nay, phong tục này vẫn
được duy trì, dù không còn chế độ ngài (lang đạo) nữa. Thay vì tiếng trống của
ngài là hiệu lệnh trống của trưởng khu. Cứ vào rạng sáng ngày mùng 4 tết hàng
năm, sau khi nghe hồi trống, tất cả gia đình trong các xóm lại như cùng hòa
chung trong âm thanh rộn ràng của chàm đuống. Tiếng chàm đuống vang xa thể hiện
sự dồi dào của sức khỏe, sự nhiệt tình của con người. Và cho đến nay, người Mường
ở Kim Thượng vẫn tin rằng dịp tết năm nào tiếng chàm đuống vang càng xa thì năm
đó xóm làng càng gặp nhiều may mắn.
Chàm đuống trong dịp tết
là một trong những tập quán cổ xưa đặc biệt, vẫn tồn tại trong cuộc sống của
người Mường Kim Thượng. Mặc dù hiện nay ý nghĩa nghi lễ của chàm đuống đã mờ nhạt,
biểu hiện qua các lần sử dụng cũng như số lần thực hiện ít đi và thời gian thực
hiện có thể ngắn hơn tùy thuộc vào cách sắp xếp bố trí của từng gia đình, nhưng
thực sự đây vẫn là một phong tục hay, một nét đẹp văn hóa đáng tự hào của những
người dân ở Kim Thượng.
1. Theo con số thống kê tại
UBND xã Kim Thượng, năm 2009.
2. Lê Ngọc Canh, Nghệ
thuật âm nhạc và múa dân tộc Mường Vĩnh Phú, trong Hợp tuyển Nghiên cứu -
Lý luận - Phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX, tập 3, Viện Âm nhạc, Hà Nội,
2003, tr.415-417.
3. vi.Wikipedia giải thích:
đuống là chiếc máng gỗ và chày dọc vốn dùng để giã gạo của người Mường.
4. Nguyễn Hữu Nhàn, Chàm
đuống, www.datto.vnweb blogs.com.
5. UBND tỉnh Hòa Bình, Mo Mường
Hòa Bình, Công ty TNHH bao bì và in Hải Nam, xb 2010, tr.1456.
NGUYỄN TUỆ CHI


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét