Mùa Xuân năm Đinh Mùi, niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 6, Dương
đình Ngô Thế Vinh, trong lời tựa “Ức Trai tập” có viết: “Phàm người đã có
tài, có đức thì động làm là nên sự nghiệp, động nói là thành văn chương… Nước
Việt ta, trải các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê, cứ một đời vua khai sáng là
có một vị tướng khai sáng. Nhưng được hoàn toàn như Ức Trai tiên sinh, thì hiếm
lắm”(1).
Sự nghiệp chính trị, ngoại giao và
thơ văn Nguyễn Trãi (1380-1442), xưa nay đã được nhiều người bàn đến, đặc biệt
là mảng văn và áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo”. Về mảng thơ ca, sau
kỳ án “Lệ Chi viên”, trước tác của Nguyễn Trãi phần nhiều bị triều đình thiêu
hủy và thất lạc, chỉ còn lại “Ức Trai thi tập” (Thơ chữ Hán) gồm 105 bài và
“Quốc âm thi tập” (Thơ chữ Nôm) gồm 254 bài. Đọc hai tập thơ này, đặc biệt là
sau chuyến về Chí Linh viếng khu đền thờ Nguyễn Trãi (2011), lòng tôi cứ ray
rứt không yên. Muốn viết cái gì đó về tiên sinh, nhưng tiên sinh cao lớn quá,
đã được nhiều người nghiên cứu kỹ, vốn văn chương trung đại của mình lại bé
hèn, mọi việc cứ như vuột khỏi tầm tay. Nhưng càng đọc thơ Ức Trai, lòng tôi
lại càng bị khuấy động. Và tôi viết…
1. Tài hoa những thi tứ
Là một danh nhân lịch sử - văn hóa, con đường đi của “kẻ
sĩ” Nguyễn Trãi là hành trình từ một quân sư chính trị đến một nhà thơ. Thiên
tài Nguyễn Trãi trên bước đường chính trị, ngoại giao trong cuộc kháng chiến
10 năm chống quân Minh đã được lịch sử rõ ràng minh chứng. Trong kháng chiến
và cả những năm đầu hòa bình, Ức Trai đã dùng ngòi bút của mình để viết những
áng văn sắc sảo, hào hùng từng đầy tư tưởng nhân nghĩa. Con đường thơ Nguyễn
Trãi lại nở rộ sau sự xoay vần của cuộc thế. Có thể nói từ cuộc đời chính trị,
Nguyễn Trãi đã trở về với cuộc đời thơ. Và cuộc đời thơ ấy đã để lại cho nhân
gian một gia tài trên thi đàn, có thể nói, còn đồ sộ hơn cả gia tài chính trị
trên “sử đàn” Việt Nam; cho dù ông từng biết:
Văn chương tự cổ đa vi lụy
Thi tửu tòng kim thả cố hoài
Dịch: Văn chương tự cổ, thường tai họa
Thơ rượu ngày nay mới miệt mài
(Tặng con cháu ba họ Khổng, Nhan, Mạnh; giáo thụ tại Thái Bình)
Với tư cách là một thi nhân, Ức Trai đã tạo nên một dấu ấn
khó phai mờ trên thi đàn Việt Nam, đặc biệt là trong văn chương giữa thế kỷ
XV, bởi ông đã sống trọn lòng của một thi nhân với tâm hồn bay bổng, phóng
khoáng; tầm nhìn vượt thời đại, “tâm hồn lộng gió thời đại” với tấm lòng yêu
thương tha thiết và nỗi ưu tư trước vận nước lẽ đời. Nguyễn Trãi đã để lại
trên thi đàn những thi tứ độc đáo, tài hoa, có thể làm đắm lòng cả người đọc
đương đại. Đọc câu thơ này của Ức Trai, ta có cảm giác ngả nghiêng của một
cơn say thơ mà càng đọc lại càng thấy vô cùng tỉnh táo. Nếu nước sông biến cả
thành rượu thì ai uống chẳng say, nhưng đây lại là “xuân tửu” (rượu xuân) thì
chắc gì đã là rượu mà say điên đảo, chỉ có say đời và say men xuân.
Mà đã là say men xuân thì phải là thơ của một thi sĩ rất yêu đời:
Thử giang nhược biến vi xuân tửu
Chỉ khủng ba tâm thượng túy miên
Dịch: Dòng xuân như biến thành sông rượu
Ngại thấy ông say vẫn cứ nguyên (Thái Thạch hoài cổ)
Cái tư duy “sông biến thành thành sông rượu” đã quá tài hoa
kiểu như “Sông Hương hóa rượu tôi đến uống” của Nguyễn Trọng Tạo thời nay,
nhưng tài hơn nữa là hai từ “xuân tửu” (rượu xuân). Ở đây, hình như Ức Trai
đã uống thật nhiều để cảm nhận cả dòng sông đã thành dòng xuân, và vì thấy
dòng “rượu xuân” quá tuyệt vời nên chẳng ai dám uống. Chẳng ai dám uống,
nhưng nhà thơ lại lý luận ngược rằng “Sông rượu ngại ông say” nên vẫn cứ giữ
nguyên vẹn một dòng xuân. Thi tứ ấy đã làm nên tài hoa Nguyễn Trãi, sáng soi
từ thế kỷ XV cho đến tận thế kỷ này.
“Thương hải biến vi tang điền”
- thời cuộc thì vần xoay, biến cải, làm phận người trong dòng xoáy ấy, cứ bị
cuốn đi, chao đảo với muôn sự chuyển dời, ngẫm lại, ba mươi năm sau, nghe tiếng
chim tuổi thơ mới sực tỉnh là mình chẳng còn là mình, chẳng còn được vô tư
như tiếng chim hót tự do muôn năm vẫn thế, tự nhiên và trong trẻo:
Ba chục năm trời đều mộng ảo
Chim kêu vài tiếng vẫn như xưa (Đề chùa Đông Sơn)
Trong cuộc phù trầm của cuộc đời dâu bể, những lúc tha
phương, nhà thơ nhớ về một “vườn quê” êm đềm. Thân tha hương, cứ nghe mưa lại
càng thêm nhớ, đêm ngủ tạm bên đường, nghe tiếng dế rỉ rên lại càng đứt đoạn
nhớ mong. Ôi cái vườn quê yên ả, thanh bình, lúc nào cũng đi về trong mộng:
Vườn quê mộng tới, mưa thêm nhớ
Quán trọ đêm nghe dế gợi mong (Gửi bạn)
Hình ảnh cây tre xanh đón gió trên bến nước khiến người thơ
không tài nào ngủ được, lại tự thương lấy thân mình khi đã nếm trải qua bao
thăng trầm cuộc thế. Đây là những dòng thơ gụi gần của một tâm hồn rộng mở.
Cái “thắc mắc tình” của người lữ khách trên sông quả là một thi tứ tài hoa của
Ức Trai tiên sinh:
Tre xanh trước bến hiu hiu gió
Khách ngụ trên sông thắc mắc tình
Tuổi tác đường đời gian hiểm trải
Đêm khuya chẳng ngủ nghĩ thương mình (Tầm Châu)
Danh lợi là phù hoa, giọng thơ cứ ngùi ngùi, buồn xa vắng
và thấm thía của một hồn thơ đã trải qua bao thăng trầm trong cuộc sống, toát
lên một triết lý ý vị: dẫu tuổi tên có khắc trên bia đá thì tất cả rồi cũng bị
khỏa lấp theo dòng thời gian:
Tuổi tên tinh biểu nay còn lại
Bia đá nghìn năm cỏ mọc tràn (Giang Tây)
Ngẫm lại đời mình, ngẫm thời cuộc, Nguyễn Trãi đã cô đúc được
những tứ thơ vừa chứa cốt cách của một “nhà Nho tài tử” lại vừa mang tính triết
lý của một người đã đi qua bao vinh nhục cuộc đời của một “nhà Nho hành đạo”.
Và với bản lĩnh của mình, ông nhìn nhận ra những chân giá trị của đời người để
vươn đến một lẽ sống tốt đẹp hơn, an nhiên hơn:
Chè mai đêm nguyệt dậy xem bóng
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu.
Dưới công danh đeo khổ nhục
Trong dại dột có phong lưu (Ngôn chí 2)
Phú quý, công danh trên cuộc đời đến rồi đi, đọng rồi tan
như giọt sương mai trên cỏ, như giấc mộng Nam Kha dưới gốc hòe, không bao giờ
trường cửu. Là người coi thường công danh, phú quý, thơ của Nguyễn Trãi không
oán than, chua chát, mà là thi tứ của một tâm hồn đã đắc đạo, đứng trên sự
cám dỗ của tiền tài, danh vọng để cô đúc thành tứ thơ hàm chứa được tư thế
cũng như tư tưởng triết lý của bậc hiền tài:
Phú quý treo sương
ngọn cỏ
Công danh gửi kiến cành hòe (Tự thán 3)
Phận người, dù có là người anh hùng cái thế thì qua nếm trải
cay đắng cuộc đời, cuối cùng cũng tự thương lấy tấm thân như ngọn cỏ bồng cuốn
theo chiều gió. Câu thơ đọc lên cứ nghe vọng lại tiếng thở dài ngao ngán của
tiền nhân:
Khi buồn chán ngán bức thư không
Ngang dọc thương thân tựa cỏ bồng (Họa thơ Hương tiên
sinh)
Đọc câu thơ dưới đây của Ức Trai, chúng ta cảm nhận dường
như “ba canh mưa gió” kia không
phải của trời đất, mà chính là nỗi sầu lớn không biết gửi vào đâu của Ức
Trai, và chính nó - nỗi sầu ấy đã làm nên cuộc gió vũ mưa vần suốt thâu đêm
trong thơ:
Như hỏi nơi nào sầu tạm gửi
Thư trai mưa gió suốt ba canh (Thư gửi cậu)
Trong thơ của các nhà thơ trung đại, ta thường bắt gặp thật nhiều nước mắt
khi họ viết về người thân và bè bạn tri âm. Hình như, chỉ có người tri âm mới
hiểu hết nỗi lòng của kẻ tri âm, và có lẽ vì viết cho tri âm nên họ bộc lộ tấm
lòng mình một cách chân thật hơn, buồn hơn so với khi viết về những vấn đề
khác:
Tặng bác vài câu tôi tự cảm
Thơ xong tôi cũng lệ vơi đầy (Đề Hà Hiệu úy, nhìn mây
trắng nhớ cha mẹ)
Sau Nguyễn Trãi bốn thế kỷ, Cao Bá Quát cũng đã từng nhỏ lệ
với tri âm, tri kỷ:
Gặp nhau chưa chết đã may rồi
Lại phải chia tay lệ sụt sùi
Đành nỗi hạc già chung chỗ đậu
Cùng đau sóng gió những con người (Ông Đoàn Tính lúc
sắp lên đường, nâng chén từ biệt viết chạy bài này để tặng)
Càng xa con đường của “nhà Nho hành đạo”, Nguyễn Trãi lại
càng về gần với phong thái của một “nhà Nho tài tử”. Tâm hồn vốn phóng khoáng
của Ức Trai lại càng bay bổng, lãng mạn hơn, “bầu rượu túi thơ” cũng xuất hiện
nhiều hơn, câu thơ cũng phóng đạt hơn nhiều:
Đồ giác hồ trung phong nguyệt hảo
Niên niên bất dụng nhất tiền xa
Dịch: Chỉ thấy trong bầu, mây gió sẵn
Hàng năm mua bán, chẳng từng qua (Bài 89)
Cái tỉnh say, say tỉnh của người thơ hòa quyện trong tình bạn
và trong cả nỗi say đời:
Nghiêng bầu cùng bạn đồng thanh nhắp
Chủ khách đều say, chẳng tỉnh riêng
(Nguyễn Mộng Tuân mừng nhà mới Thừa chỉ Ức Trai)
Say đời, nhưng đời đang suy thì tồn tại trong thơ Ức Trai
là nỗi sầu đời:
Vượn sầu, hạc oán, liên miên nghĩ
Rừng trúc hiu hiu gió gợi sầu (Đề đền Ngọc Thanh Quan)
Viết về thiên nhiên, Nguyễn Trãi cũng để lại những thi tứ
tài hoa. Cảnh trong thơ Ức Trai đã vượt ra rất xa phong cảnh Đường thi để về
gần với cảnh vật đời thường. Vẫn có “phong, nguyệt” của thơ chữ Hán đó, nhưng
cái “gây gấy rét” và “làn hương” trong gió kia thật gần gũi:
Gió cửa trăng hiên gây gấy rét
Ví không có gió đưa hương theo (Đề hiên Mai tuyết của
Hoàng Ngự sử)
Cả con thuyền chèo trên sông biếc dưới ánh trăng trong câu
thơ Nôm này cũng rất tài hoa:
Thuyền chèo đêm nguyệt sông biếc
Cây đến ngày xuân lá tươi (Ngôn chí 21)
Từ các loài hoa gần gũi (cúc, lan, mai) rồi có cả “tuyết” cả
“suối”, nhưng vượt lên trên là cái thi tứ bao trùm, lấy “ non xanh” làm “cố
nhân” để mà tâm sự. Cái cao xa, phóng khoáng của hồn thơ Ức Trai chính là cái
chí gửi nơi “non xanh” ấy:
Hái cúc ương lan hương bén áo
Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn.
Đàn cầm suối trong tai dội
Còn một non xanh là cố nhân (Thuật hứng 15)
Ông quan đại thần trong thơ Nguyễn Trãi đã thoát thân thành
một lão tiều phu. Một tiều phu nhưng vẫn đậm phong thái “gác cần câu” của một
“nhà Nho ẩn dật”:
Đạp áng mây, ôm bó củi
Ngồi bên suối, gác cần câu (Trần tình 5)
Cái “Cây mía” bình dân hiếm thấy trong thơ trung cổ, lại được
chính Ức Trai tiên sinh chú ý tới. Mà một khi đã được thơ chú ý đến thì dù sự
vật có nhỏ nhoi, tầm thường cũng hóa thành một tứ thơ tràn vị ngọt, ngát mùi
hương:
Ăn nước kia ai được thú
Lần từng đốt mới hay mùi. (Mía)
Cụm từ “Ăn nước”, “Lần từng đốt” cho ta thấy rõ thi tài của
Nguyễn Trãi.
Tả cái chàng bướm đa tình giữa vườn xuân với dáng bay nhẹ
nhàng đầy khiêu gợi, trong sự chào đón tưng bừng (“tớp tớp vây”) của muôn
hoa, sự níu kéo của nàng liễu rũ, thì cái tứ thơ này của Ức Trai đã đạt đến độ
hiện đại của một tư duy thơ vượt qua thời đại:
Làm sứ đi thăm tin tức xuân
Lay thay cánh nhẹ mười phân
Nội hoa tớp tớp vây đòi hỏi
Doanh liễu khoan khoan khéo lữa lần (Trận bướm)
Và không hiểu sao, cứ nhắc đến hai câu thơ này, cảm được
cái độ cao của “phượng”, cái tự do bay liệng của “diều”, ai ai cũng phải thán
phục tài thơ của Ức Trai bởi bên dưới cái cao xa, tự do kia là vời vợi một
triết lý mang tính quy luật muôn đời ở câu thơ cuối: Cái tốt đẹp, cái quý
luôn luôn cứ mong manh, dễ tan biến; còn cái bình thường thì luôn luôn tồn tại
lâu bền:
Phượng những tiếc cao, diều hãy liệng
Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi (Tự thuật 9)
2. Vời vợi nỗi lo đời
Có thể nói, dù khi đang thực thi trách nhiệm của một “nhà Nho
hành đạo” đến những năm trôi dạt bềnh bồng và cả khi đã về Côn Sơn làm “nhà
Nho ẩn dật”, Nguyễn Trãi lúc nào cũng canh cánh trong lòng nỗi lo đời:
Bình sinh độc bão tiên ưu niệm
Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên
Dịch: Bình sinh “lo trước” là tâm nguyện
Ngồi tựa bên chăn, chữa nghĩ nằm (Bài 72)
Đó là nỗi lo của một con người suốt đời vì nước vì dân, lúc
nào cũng muốn đem sức mình “cưỡi kình ngao” hiến dâng cho dân nước với tầm
nhìn “bao la”, cao rộng:
Đêm sáng bao la nhìn vũ trụ
Gió thu cao hứng cưỡi kình ngao (Không có đề - 46)
Và sự thật cuộc đời “hành đạo” của Nguyễn Trãi trong suốt
mười năm “nếm mật nằm gai” cùng Lê Lợi làm của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã chứng
minh điều đó. Rồi khi đất nước thanh bình, sau khi ông thảo cho Lê Thái Tổ
áng “Thiên cổ hùng văn” - “Tuyên ngôn độc thứ hai” của dân tộc, thơ văn ông vẫn
ngập tràn tư tưởng yêu nước, thương dân. Đến khi vận nước ngửa nghiêng bởi sự
hiềm khích giữa các thế lực giữa thời bình, ông lại khát khao:
Chỉ muốn nước lan, tràn bốn bể
Để cho hết bẩn lũ ngu dân (Ngày Đoan ngọ)
Nỗi lo đời ấy là hiện thân của con người “đem nhân nghĩa thắng
hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, của một chí khí lớn “cưỡi kình nghê,
vượt Hải đông” sóng gió:
Gió nghĩa lướt qua, mây vẩn, sạch
Lời hung nghe thoảng cánh buồm tung
Đêm sang thượng quốc thuyền lan nhẹ
Muốn cưỡi kình nghê, vượt Hải Đông (Vượt bể)
Trong bối cảnh của tình hình biển Đông hiện nay trước sự quấy
nhiễu của thế lực phương Bắc, cái đêm Nguyễn Trãi vượt bể sang “thượng quốc”
với tư thế “cưỡi kình nghê” vẫn mãi là bài học cho muôn đời thế hệ con cháu
hôm nay và cả mai sau.
Đó là cái tư thế của chí “tang bồng” tung hoành “dọc ngang
bốn phương”, sẵn sàng ra đi, hiến thân vì nước:
Năm mới hơn gì nơi lữ thứ
Cảnh quen thêm một hẹn tang bồng
Bốn phương ngang dọc đành như thế
Đã bước chân đi chẳng ngại ngùng (Bài 47)
Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù đôi lúc thân phận người như
một chiếc lá thu trôi “dạt chơi vơi” giữa muôn trùng sông nước, tấm lòng nhớ
nước vẫn khôn nguôi:
Nhớ nước lòng quê, nhạn góc trời
Lá thu chiếc bách, dạt chơi vơi (Cửa bể Thần Phù)
Dù có phải “long đong giữa thời bình”, thân tha phương nơi
“đất khách”, lòng vẫn luôn “nghĩ ngợi”, canh cánh nỗi lòng vì nước, vì dân:
Đất khách không yên luôn nghĩ ngợi
Thời bình đâu biết phải long đong (Giữa đường có thư gửi
bạn)
Buồn nỗi “non sông lưu lạc”, cái tâm yêu nước “đòi đoạn” thâu canh; muốn đem
cái “chí” để phò đời, “chí” không trọn; muốn làm “vượn hạc” của đấng trượng
phu giúp nước, lại phải “buồn thiu” vì vận nước ngửa nghiêng; đôi lúc nhà thơ
đành bất lực ngôn từ để “nhờ cậy bút thần” hội họa gỡ rối “tơ lòng”, vẽ “nét
đan thanh” thể hiện cái tâm của chính mình:
Non sông lưu lạc tâm đòi đoạn
Vượn hạc buồn thiu chí chẳng đành
Nhờ cậy bút thần tay họa sĩ
Tơ lòng tả đúng nét đan thanh (Nhờ người vẽ bức họa
Côn Sơn)
Muốn quên đi tất cả, nhưng rồi tấm lòng son vời vợi nỗi lo
vẫn cứ thắc mắc với “nghĩa quân thần”:
Tóc bạc thờ ơ tình tuế nguyệt
Lòng son thắc mắc nghĩa quân thần (Đêm thuyền tới cửa
bể cảm hứng)
Muốn quên đi để hưởng trọn an nhàn, nhưng phàm làm người
“biết chữ” phải “ưu dân”, phàm làm đấng quân tử, không thể nguôi quên đạo
“quân thần” dù cả trong hoàn cảnh bị “vua quên”:
Vẫn bảo trăm năm coi tựa khách
Sao còn một bữa chẳng quên vua
Đông Pha đã nghĩ, ta cùng nghĩ
Biết chữ là thường cứ phải lo (Bài 80)
Nguyễn Trãi đã xác lập cho mình một tư tưởng “thiên dân”, lấy
“đạo trung” của nhà Nho “làm nghĩa cả” trong thời đại “ái quốc” là đồng nghĩa
với “trung quân”. Chỉ có sống trọn “đạo trung”, tâm mới “được an nhàn”:
Hằng lấy đạo trung làm nghĩa cả
Qua ngày qua tháng được an nhàn (Bảo kính cảnh giới 6)
Từ quan niệm về “đạo trung”, mà với Nguyễn Trãi chính là
trung với nước, với vua, đề cao vai trò của nhân dân (những “kẻ cấy cày”),
nhà thơ đã rút ra một triết lý sống, lý tưởng sống cụ thể để thể hiện cái tâm
trong sáng của mình:
Sinh đấng trung đà phúc đức thay!
Chẳng cao chẳng thấp miễn qua ngày
Ở yên thì nhớ lòng xung đột
Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày (Bảo kính cảnh giới 19)
Sau khi bị triều đình bạc đãi, dù sống với cảnh an nhàn của
một “nhà Nho ẩn dật”, tiên sinh vẫn cứ thấy không an lòng. Không an lòng
không phải do sự “bất dụng” mình của triều đình hay bởi đường công danh đứt
đoạn, mà chính là tự cảm thấy mình chưa báo xong “nợ quân thân” vì nước, vì đời:
Nợ quân thân chưa báo được
Hài hoa còn bợn dặm thanh vân (Ngôn chí 11)
Chính vì lẽ đó, suốt cả đời Ức Trai, cả lúc được triều đình
đắc dụng, tin tưởng cho đến khi bị bạc đãi vẫn cố giữ cái tâm trong sáng, vẫn
đau đáu khôn nguôi nỗi ưu tư vời vợi về vận nước, lẽ đời:
Quét hết sầu lo, dựa cỏ bồng
Tâm như nước sáng, nghĩ mênh mông (Vượt bể)
Đúng như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: “Nguyễn
Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính
trị cứu nước, cứu dân, nội trị ngoại giao “mở nền thái bình muôn thủa, rửa nỗi
thẹn nghìn thu”; võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật, “yếu đánh mạnh ít
địch nhiều ... thắng hung tàn bằng đại nghĩa”; văn và võ đều là võ khí, mạnh
như vũ bão, sắc như gươm đao... Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt
trong lịch sử nước ta”(2).
CHÚ THÍCH:
(1)- Lời tựa Ức - Trai tập, Tập thượng,
Quyển 1,2,3, bản dịch của Hoàng Khôi, Tủ sách cổ văn, Ủy ban dịch thuật Phủ
Quốc - vụ - khanh đặc - trách văn - hóa, Sài Gòn, 1971.
(2)- Phạm Văn Đồng, Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc,
báo Nhân dân số 3099, ngày 19-9-1962
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét