Chất dân gian trong Cung oán
ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều
Thế kỷ XVII, văn học Việt Nam trung
đại xuất hiện thể loại ngâm khúc dùng hình thức song thất lục bát. Đỉnh cao của
thể loại đó là Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều, bài viết sẽ tìm hiểu sự ảnh
hưởng từ văn học dân gian đối với tác phẩm này ở khía cạnh: thể thơ và từ láy
1. Từ sự hình thành và
phát triển của thể loại ngâm khúc đến Cung oán ngâm khúc.
1.1. Cơ sở hình thành thể loại
ngâm khúc dùng hình thức song thất lục bát trong văn học Việt Nam trung
đại
Xã hội Việt Nam đầy biến động
từ khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê (năm 1527) sau đó nhiều biến cố lớn xảy
ra chiến tranh Nam - Bắc triều; Trịnh - Nguyễn tranh nhau một dải san hà, rồi
Tây Sơn nổi lên quét tan các thế lực đánh đuổi ngoại bang, đến khi Gia Long lên
ngôi hoàng đế (năm 1802). Ở triều Tự Đức. nông dân khắp nơi nổi dậy chống lại
triều đình, trong đó có cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở Bắc Ninh có Cao Bá
Quát (chú ruột của Ca Bá Nhạ) tham gia.
Sự biến động của triều đình
phong kiến diễn ra mấy trăm năm đã kéo theo sự chuyển biến đáng kể về ý thức hệ
của nhiều tầng lớp trong xã hội, trong đó có lực lượng sáng tác, những Nho sĩ từng
theo cửa Khổng sân Trình. Văn hoá cũng có những thay đổi từ văn hoá vật chất đến
văn hoá tinh thần, mà cụ thể là thị hiếu thẩm mỹ và những quan niệm nghệ thuật
về con người. Con người với cá tôi cá nhân đã mạnh mẽ phá bỏ những giềng mối mà
Nho giáo và nhà nước phong kiến áp đặt từ lâu. Ca dao - dân ca, tiếng lòng của
người bình dân như lúa lâu ngày chịu hạn nay gặp mưa rào, văn học dân gian phát
triển phong phú, trong đó có thể thơ song thất lục bát:
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm
thay
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày
còn không? …
Tất cả những điều kiện ấy,
đã làm cho cho thể thơ song thất lục bát góp mặt vào văn học viết Việt Nam từ
những năm cuối thế kỷ XVI. Đến giai đoạn nửa sau thế kỷ XVIII, thể thơ này bắt
gặp được những nỗi lòng, những tâm trạng đau khổ day dứt triền miên của các văn
gia thi sĩ. Thế là thể loại ngâm khúc dùng hình thức thơ song thất lục bát
nhanh chóng khẳng định dấu ấn của mình trên văn đàn văn học dân tộc. Theo Nguyễn
Thái Hoà thì hiện nay với khoảng 500 bản viết về thể thơ này, trong đó có những
kiệt tác như Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều); Chinh phụ ngâm (bản
dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm (?)), Trần tình khúc (tên gọi khác của Tự
tình khúc - người viết chú thêm) (Cao Bá Nhạ); Ai tư vãn(Lê Ngọc
Hân), [198; 5]
1.2. Khái niệm thể loại ngâm
khúc
1.2.1. Ngâm khúc dưới góc
nhìn của các nhà ngôn ngữ học
+ Nguyễn Văn Khôn trong Hán
Việt từ điển, Khai trí, Sài Gòn, 1959; Ngâm: tiếng than thở, tiếng rên. [trang
624], Khúc: bản đàn, bản nhạc, [trang 506]; Lê Ngọc Trụ trong Việt Nam chính tả
tự vị, tác phẩm viết năm 1959, được tái bản lần 1 năm 1967, tại Sài Gòn, Ngâm:
(h - tức từ gốc Hán, người viết chú thêm): đọc, hát [trang 433], Khúc: (n - gốc
Nôm, người viết chú thêm): ca, nhạc [trang 333]. Lê Văn Đức (cùng nhóm thân hữu
soạn) trong Việt Nam tự điển, Khai trí, Sài Gòn ấn hành (lần đầu) năm 1970:
Ngâm (động từ): đọc lên với giọng lên, xuống kéo dài [trang 1017, quyển hạ],
Khúc: ca khúc, ngâm khúc [trang 744, quyển hạ], Ngâm khúc: Bài văn vần tả cảnh
với nhiều tình cảm, thường làm theo lối song thất lục bát [ trang 1017, quyển hạ]
+ Nguyễn Như Ý cho rằng Ngâm
khúc: Bài văn vần diễn tả nỗi buồn, thường theo thể song thất lục bát [1187; 9]
1.2.2. Ngâm khúc dưới góc
nhìn của các nhà nghiên cứu văn học
+ Khái niệm của Dương Quảng
Hàm: Ngâm là một bài văn tả những tình cảm ở trong lòng, thứ nhất là những tình
buồn, sầu, đau, thương. Các ngâm khúc trong văn ta thường làm theo thể song thất
lục bát, thường gọi tắt là thể song thất.[152; 2]; Phạm Thế Ngũ sau khi trình
bày khá dài lai lịch của thể ngâm; gốc tích của câu song thất, tác giả
khái quát giá trị của thể ngâm như sau: thể ngâm (…) rất thích hợp để
diễn tả những tình cảm ảo não triền miên, nhịp nhàng, quấn quýt [trang 188; Việt
Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2: Văn học lịch triều Việt Văn, Nxb Đồng
Tháp, 1997]; Nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân trong Văn học Việt Nam TK X - TK
XVIII (do Đinh Gia Khánh chủ biên, Nxb Giáo Dục, H. 2006), ở phần
tư: Văn học từ TK XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII, chương XVIII: “Sự phong phú về mặt
đề tài và thể loại văn học biểu hiện những xu thế mới của xã hội Đại Việt từ TK
XVI nửa đầu TK XVIII đã viết do khả năng trữ tình phong
phú, điệu thơ này (tức điệu thơ song thất lục bát - người viết chú thêm) lúc đầu
được dùng để viết cả khúc ca lạc quan, hùng tráng nữa, nếu như sau này nó chủ yếu
được dùng để viết các khúc ngâm buồn thương, oán vọng; Lê Bán Hán - Trần Đình Sử
- Nguyễn Khắc Phi cho rằng Ngâm khúc: Thể thơ trữ tình dài hơi, thường được
làm theo thể song thất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng,
tình cảm buồn phiền đau xót triền miên day dứt. Vì thế ngâm khúc còn được gọi
là khúc, vãn hay thán. Trong văn học Việt Nam, ngâm khúc giữ một vị trí quan trọng
và đặc biệt phát triển từ giữa TK XVIII đến giữa TK XIX. [198, 3]; Từ điển văn
học (bộ mới) [Nxb Thế giới, H. 2003] không có mục thuật ngữ ngâm khúc, trang
733 - 734, Nguyễn Khắc Phi chỉ viết ở mục khúc như sau: “Khúc còn gọi là tản
khúc, một hình thức thơ ca cổ điển của Trung Quốc, gắn với âm nhạc có nội dung
trữ tình, ra đời trên cơ sở những lời ca điệu hát dân gian đời Kim (1115 -
1234) và phát triển mạnh vào đời Nguyên (1280 - 1368). Khúc gồm có hai loại: tiểu
lệnh và sáo sổ. (…). Ở Việt Nam chữ khúc được dùng trong
thuật ngữngâm khúc để chỉ những tác phẩm bằng thơ dài theo thể lục bát hoặc
song thất lục bát, có nội dung trữ tình (Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm
khúc, …). Tuy nhiên đó không phải là những tác phẩm mang đặc điểm của thể loại khúc Trung
Quốc; Trần Đình Sử cho rằng: ngâm khúc là một thể loại văn học trung đại
Việt Nam. Tinh thần bi kịch thể hiện ở chỗ tìm lại giá trị nhân sinh mà
không được, không cam chịu mất mát giá trị mà đành bất lực và do bất lực mà
lòng bất lực càng mạnh thêm, day dứt hơn, [187; 9] và nhấn mạnh chức năng của
thể loại này như sau: “Có thể nói khúc ngâm có nhiệm vụ phơi trải lòng đau xót,
sầu tủi, tiếc hận của mình” [185; 9].
Nhận xét.
+ Các nhà ngôn ngữ chủ yếu
giải thích bằng nghĩa tầm nguyên nghĩa gốc của hai thành tốngâm và khúc.
+ Các nhà nghiên cứu văn học
nêu định nghĩa ngâm khúc căn cứ trên ba yếu tố: hình thức; vị trị và chức năng
thể loại.
+ Các nhà nghiên cứu chỉ
quan tâm ngâm khúc nói chung, không đưa ra khái niệm cụ thể nào về thể loại ngâm
khúc dùng hình thơ song thất lục bát trong lịch sử văn học Việt Namtrung
đại.
1.2.3. Khái niệm ngâm khúc dùng
hình thức song thất lục bát dùng trong luận văn.
Từ những khái niệm vừa nêu,
chúng tôi đưa ra khái niệm sau đây: Ngâm khúc trung đại Việt Nam là
một thể loại của văn học dân tộc. Thể loại này dùng hình thức song thất lục
bát, trường thiên, bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm để thể hiện. Chức năng của ngâm
khúc nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót triền miên day dứt,
đứng yên hay ít phát triển. Nội dung của nó đa dạng, phong phú phản ánh nhiều
cung bậc của đời sống tình cảm con người thời trung đại. Khúc ngâm là cách nói
Việt hoá từ cụm từ Hán - Việt của thuật ngữ này.
Ngâm khúc dùng hình thức thơ
song thất lục bát trung đại Việt Nam manh nha từ thế kỷ XVI và kết
thúc vào cuối thế kỷ XIX. Đánh dấu chính thức bằng tác phẩm Chinh phụ ngâm
khúc [bản dịch của Đoàn Thị Điểm (?) 1705 - 1748] và kết thúc bằng Tự
tình khúccủa Cao Bá Nhạ (? - ?) và Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận
(1815 - 1866).
1.3. Tác phẩm Cung oán
ngâm khúc
Nguyễn Gia Thiều (1741 -
1798), viết Cung oán ngâm khúc theo thể thơ song thất lục bát gồm 366
dòng. Tác phẩm lấy đề tài cung nữ, cung oán vốn rất phổ biến trong văn học bác
học trước sau nửa cuối thế kỷ XVIII.
2. Thể thơ và từ láy
trong Cung oán ngâm khúc
2.1. Thể thơ
2.1.1. Thể thơ song thất
lục bát dân gian
Theo Nguyễn Xuân Kính trong
ca dao, số lời được sáng tác theo thể song thất lục bát chiếm khoảng 2%”, và
ông cũng cho biết thêm làm theo thể này, mỗi lời ca chỉ gồm một khổ (bốn dòng
thơ); cực kỳ hiếm hoi nếu không muốn nói rằng không có lời thơ (dân gian người
viết chú thêm) có độ dài từ hai khổ trở lên [249 - 250; 6]
Lụa làng Trúc vừa thanh vừa
bóng
May sáo chàng cùng sóng áo
em
Chữ tình cùng với chữ duyên
Xin đừng thay áo mà quên lời
nguyền.
2.1.2. Thể thơ song thất lục
bát bác học và thơ song thất lục bát qua Cung oán ngâm khúc
Theo [7] có thể tóm tắt một
trổ 4 câu như sau:
Dòng thơ
|
Vị trí tiếng
|
|||||||
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
|
Dòng 7 (trắc)
|
Trắc
|
Bằng
|
Trắc (vần)
|
|||||
Dòng 7 (bằng)
|
Bằng
|
Trắc (vần)
|
Bằng (bằng)
|
|||||
Dòng lục
|
Bằng
|
Trắc
|
Bằng (vần)
|
|||||
Dòng bát
|
Bằng
|
Trắc
|
Bằng (vần)
|
Bằng (vần)
| ||||
Nếu như Nghĩ hộ tám
giáp làm giải thưởng cho cô đào hát (Lê Đức Mao) với hình thức của bài hát
nói, 13 dòng, trong đó có hai khổ dùng thể thơ song thất lục bát (4 dòng đầu và
4 dòng cuối) như vậy, từ lúc sơ khai, văn học bác học chịu ảnh hưởng đậm nét từ
văn học dân gian ở thể thơ này (không có sự kết dính liền kề của hai khổ song
thất lục bát):
Thơ Thiên bảo dâng ca chúc hỗ,
Khách ngô hoàng vạn thọ vô
cương
Xuân kỳ một giải hàng ngang,
Thưởng đào hai chữ phụ khang
mừng làng [219; 1]
Đến Tứ thời vịnh khúc của
Hoàng Sĩ Khải vẫn còn đó những chỗ chưa ổn định, suốt 44 dòng thơ của 11 khổ,
xét về mặt vần, luật bằng trắc đã có độ chín về sự nhuần nhuyễn, điều cần bàn
thêm cách kết dính giữa các khổ tức vần bằng của dòng bát (khổ trên) thường vần
với chữ thứ ba của dòng thất trắc (của khổ tiếp theo sau):
Năm cũ đi thì năm mới lại
Bỉ đã qua thì thái lại ra
Thiều quang phủ khắp gần xa
Gió xuân hây hẩy, khí hoà
hây hây
Tám bức vầy dương
hoà đầm ấm
Chợ lẫn người, hoa gấm đua
thêm
Thuận thời mưa bặt gió êm
Đào tơ Thượng uyển, liễu mềm
Ngự câu [225;1]
Như đã nói, ca dao gần như
không có dạng thơ song thất lục bát dài đến hai khổ liền kề nhau nên nếu căn cứ
vào thời điểm ra đời ta có thể khẳng định rằng ở dạng sơ khai thì thơ song thất
lục bát bác học sự gắn kết giữa hai khổ liền kề là cước vận (bằng) của chữ thứ
8, dòng bát sẽ vần với yêu vận (vần bằng) của chữ thứ 3, dòng thất trắc. Đến Chinh
phụ ngâm khúc (bản dịch) điều này đã không còn phổ biến. Hầu hết, lời thơ
trong bản dịch Chinh phụ ngâm khúc hiện hành sự kết dính giữa các khổ
thơ là sự gieo vần của chữ 8 trong câu bát (khổ trên) với tiếng 5 của câu thất
trắc (khổ sau liền kề):
Trong cửa này đã đành phận
thiếp
Ngoài mây kia, há kiếp chàng
vay
Những mong cá nước sum vầy
Nào ngờ đôi ngã nước mây
cách vời
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh
phụ
Chàng há từng học lũ vương
tôn
Cớ sao cách trở nước non?
Khiến người thôi sớm, thôi
hôm dãi dầu [277 - 278; 8]
Những cũng có lúc, người đọc
gặp dạng kết dính của hai khổ theo cách mà Hoàng Sĩ Khải sử dụng:
Tưởng chàng trải nhiều bề nắng
nỏ;
Ba thước gươm một cỗ nhung
yên
Xông pha, gió bãi trăng ngàn
Tên reo đầu ngựa, gió lan mặt thành
Áng công danh trăm
đường rộn rã,
Những nhọc nhắn nào đã nghỉ
ngơi
Nỗi lòng biết ngõ cùng ai?
Thiếp trong cánh cửa chàng
ngoài chân mây.[277; 8]
Nhưng khi đến Cung oán
ngâm khúc hiện tượng bắt vần ở chữ thứ ba của câu thất trắc với chữ thứ 8
của dòng lục (khổ trên liền kề) không còn nữa.
Nào lúc tựa lầu Tần hôm nọ,
Cành liễu mầm bẻ thuở đương
tơ,
Khi trướng ngọc lúc rèm ngà,
Mảnh xuân y vẫn sờ sờ dấu phong
Bây giờ đã ra lòng ruồng
rẫy,
Để thân này nước chảy hoa
trôi!
Hoá công sao khéo trêu
ngươi?
Bóng đèn tà nguyệt nhử mồi
ký sinh [423; 8]
Có thể khẳng định rằng, dấu ấn
dân gian về mặt thể thơ trong Cung oán ngâm khúc là rõ nét, nhưng
tính bác học cũng đã được nâng lên hoàn chỉnh. Nếu căn cứ theo sự xác định luật,
vần của các nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức, hay Nguyễn Xuân Kính,
Nguyễn Thái Hoà, Dương Quảng Hàm, Trần Đình Sử, thì chúng tôi khẳng định rằng
chínhCung oán ngâm khúc là đỉnh nhất của thể loại ngâm khúc trong văn học
trung đại Việt Nam về mặt thể loại.
2.2. Từ láy qua Cung oán
ngâm khúc
2.2.1. Khái niệm từ láy
Láy là một phương thức tạo từ
đặc sắc của Tiếng Việt. Đó là phương thức lặp lại hoàn toàn hay bộ phận hình vị
cơ sở theo những quy tắc nhất định. Từ láy là sự hoà phối ngữ âm giữa các yếu tố
tương ứng giữa các âm tiết và có tác dụng biểu trưng hoá. [5; 4]
2.2.2. Từ láy trong ca dao
Là từ thuần Việt với nhiều
chức năng biểu vật, biểu cảm, từ láy được ca dao dân gian nói riêng và văn học
dân gian nói chu người sử dụng rộng rãi, phổ biến. Chúng ta rất dễ dàng tìm thấy:
Đồng Tháp Mười cò bay thẳng
cánh
Nước Tháp Mười lóng
lánh cá tôm
Hoặc như:
Đường vô xứ Nghệ quanh
quanh
Non xanh nước biếc như tranh
hoạ đồ.
2.2.3. Từ láy trong
Cung oán ngâm khúc
2.2.3.1 Vị trí của từ láy: Bảng
thống kê.
Tác phẩm
|
Dòng thất trắc
|
Dòng thất bằng
|
Dòng lục
|
Dòng bát
|
Tổng cộng
|
Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch): 412 dòng
|
13=3,15%
|
25=6%
|
20=4,85%
|
26=6,31%
|
84=20,38%
|
Cung oán ngâm khúc:356 dòng
|
31=8,7%
|
24=6,74%
|
15=4,21%
|
20=5,05%
|
90=25,28%
|
Ai tư vãn: 164 dòng
|
21=12,8%
|
10=6,1%
|
11=6,7%
|
16=9,75%
|
58=35,36%
|
Bần nữ thán: 216 dòng
|
11=5,1%
|
12=5,55%
|
9=4,16%
|
8=3,7%
|
40=18,51%
|
Thu dạ lữ hoài ngâm (bản Nôm): 140 dòng
|
12=8,57%
|
6=4,28%
|
6=4,28%
|
7=5%
|
31=22,14%
|
Tự tình khúc: 608 dòng
|
35=5,75
|
Tiếng thánh thót cung
đàn thuý dịch
Giọng nỉ non, ngón địch
đan trì
Càng đàn, càng địch, càng mê
Càng gay gắt điệu,
càng tê tái lòng [420; 8]
+ Nếu ở dòng thất trắc Cung
oán ngâm khúc cũng chỉ đứng sau Ai tư vãn, Chinh phụ ngâm khúc,
… Riêng ở hai dòng lục và dòng bát Cung oán ngâm khúc chỉ xuất
hiện với tần số thường thường bậc trung, không quá thấp, cũng không quá cao. Điều
cần chú ý trong thơ song thất lục bát, hai dòng thất thường là những câu bình đối.
Vần là vần trắc ở vị trí cuối, (thất trắc) gieo với vần trắc ở vị trí thứ năm
(có khi là vị trí thứ ba, Cung oán ngâm khúc không có trường hợp nào gieo ở tiếng
thứ ba) của dòng thất bằng, vậy mà tần số xuất hiện của từ láy của Cung oán
ngâm khúc lại tập trung vào đấy. Hơn thế, dòng thất bằng của Cung oán ngâm
khúc như đã nói, vần được gieo rất chuẩn theo thi luật song thất lục bát
bác học (không gieo ở tiếng ba như ca dao), lại xuất hiện từ láy nhiều hơn cả,
…
Sân đào lý giâm lồng man
mác
Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ
màng
Cánh buồm bể hoạn mênh
mang
Cái phong ba khéo cợt phường
lợi danh [417;8]
Nguyễn Lộc nhận xét: Đọc
Cung oán ngâm khúc, người ta dễ có cảm tưởng như đi vào một ngôi đền cổ vàng
son lộng lẫy, có phượng múa rồng bay, chạm chỗ cực kỳ tinh vi, khéo léo. (Theo Văn
học Việt Nam nửa cuối TK XVIII - hết TK XIX, Nxb Giáo Dục, H. 2007, trang 204),
ở một đoạn khác (tài liệu vừa dẫn), viết: nhà thơ đã sử dụng tài liệu văn
học Trung Quốc một cách thuần thục, điêu luyện qua sự lựa chọn lựa nhào nặn của
mình để phục vụ tác phẩm của mình một cách xác đáng (trang 206).
Nhưng căn cứ vào bảng thống kê vừa nêu chúng ta thấy ở hai dòng thất, từ láy ở Cung
oán ngâm khúc xuất hiện với tần số nhiều hơn cả, từ láy ở dòng lục và dòng
bát bình thường như các tác phẩm ngâm khúc khác, đều đó có nghĩa là từ láy cũng
là một phương tiện để nhà thơ mân mê ngắm nghĩa từng chữ một trước khi viết lên
giấy, để kết lại thành câu, và kết cấu thành bài, (Tài liệu đã dẫn,
trang 207), từ đó cho thấy nói cách nào đi nữa, Cung oán ngâm khúcvẫn chịu
ảnh hưởng đâm nét từ ngôn ngữ dân gian.
2.2.3.2 Cấu tạo từ láy: Bảng
thống kê
Tác phẩm
|
Láy hoàn toàn
|
Láy bộ phận
|
Tổng cộng
|
|
Phụ âm đầu
|
Láy vần
|
|||
Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch):
412 dòng
|
19=4,6%
|
55=13,34%
|
10=2,42%
|
84=20,38%
|
Cung oán ngâm khúc: 356
dòng
|
18=5,05%
|
55=15,16%
|
17= 4,5%
|
90=25,28%
|
Ai tư vãn: 164 dòng
|
10=6,09%
|
35=21,34%
|
13=7,92%
|
58=35,36%
|
Bần nữ thán: 216 dòng
|
9=4,16%
|
24=11,11%
|
7=3,24%
|
40=18,51%
|
Thu dạ lữ hoài ngâm (bản
Nôm): 140 dòng
|
3=2,14%
|
15=10,71%
|
13=9,2%
|
31=22,14%
|
Tự tình khúc: 608 dòng
|
17=2,79%
|
94=15,46%
|
25=4,11%
|
136=22,36%
|
Nhận xét:
+ Cấu tạo từ láy: ở bảng thống
kê thứ hai, chúng ta thấy Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều có
số từ láy hoàn toàn xếp ở vị trí thứ 2 (sau Ai tư vãn), láy bộ phận xếp ở
vị trí ba (sau Ai tư vãn và Thu dạ lữ hoài ngâm), nhưng luôn
luôn cao hơn Chinh phụ ngâm khúc, điều đó có nghĩa là Ôn Như hầu không phải
chỉ thuần cầu kỳ dùng từ Hán Việt, từ gốc Hán hay thích điển tích, thi liệu Hán
học, mà ông còn dụng công tạo nên những nét nghĩa khu biệt cho các từ láy thuần
Việt trong tác phẩm của mình.
+ Căn cứ đó cũng đã khẳng định
sự điêu luyện, ngòi bút tài hoa, chăm chút cho việc kết hợp tài tình giữa thì
liệu dân gian với thi liệu Hán học của Nguyễn Gia Thiều trong lâu đài nghệ thuật
của mình.
2.2.3.3 Chức năng của từ
láy: Bảng thống kê
Tác phẩm
|
Miêu tả không gian
|
Miêu tả thời gian
|
Miêu tả tâm trạng, sắc
thái
|
Cung oán ngâm khúc (bản dịch):
412 dòng
|
5=6,09%
|
5=6,09%
|
72=87,82%
|
Cung oán ngâm khúc: 356
dòng
|
12=12,9%
|
1=1,3%
|
77=85,8%
|
Ai tư vãn: 164 dòng
|
5=9,4%
|
0=0%
|
53=90,6%
|
Bần nữ thán: 216 dòng
|
1=2,5%
|
2=5%
|
37=92,5%
|
Thu dạ lữ hoài ngâm (bản
Nôm): 140 dòng
|
3=10%
|
0=0%
|
27=70%
|
Tự tình khúc: 608 dòng
|
14=10,29%
|
3=2,2%
|
119=87,51%
|
Nhận xét:
- Không gian trong Cung oán
ngâm khúc là không gian của khuê phòng, cung cấm, nó đậm chất ước lệ - vốn là sản
phẩm đặc trưng của văn học trung đại. Song, khi miêu tả nó, yếu tố từ láy được
sử dụng, làm cho bóng dáng không gian thâm nghiêm ấy mang nhiều sắc thái riêng
hơn. Hẳn là tác giả Cung oán ngâm khúc có dụng ý đó, tần số xuất hiện
số từ láy được dùng để dựng cảnh chiếm khá cao 12% cao nhất trong số các ngâm
khúc mà chúng tôi khảo sát. Đây là không gian của sóng bể mênh mông, dựng cảnh
lên để thể hiện ý: Đời người khác gì chiếc thuyền bèo bọt, luôn chao đảo trên
biển sóng cồn?
Sóng cồn cửa bể nhấp
nhô
Chiếc thuyền bào ảnh, lô
xô gập ghềnh [417; 8]
- Số từ láy dùng để chỉ thời
gian không nhiều. Dù một lần hơn, nhưng nó vẫn xuất hiện, nếu so với Ai tư
vãn (tác phẩm có tần số từ láy xuất hiện cao nhất) thì từ láy trong Cung
oán ngâm khúc vẫn có giá trị và ý nghĩa nhất định.
Trong cung quế âm thầm chiếc
bóng
Đêm năm canh trông ngóng lần
lần [421; 8]
- Số từ láy miêu tả tâm trạng
ở Cung oán ngâm khúc cũng gần ngang bằng, ít nhiều cũng đã xác nhận ý
thức tạo nên sự đa dạng về sắc thái trong tâm trạng của nhân vật trữ tình. Và
điều này, Nguyễn Gia Thiều đã thành công khi dựa vào nguồn văn học dân
gian. Với các từ láy việc miêu tả tâm trạng nhân vật lúc sầu
não, lúc khắc khoải chờ mong:
Chiều ủ dột giấc mai trưa sớm
Vẻ bâng khuâng, hồn bướm vẩn
vơ [422; 8]
Hay:
Lạnh lùng thay, giấc cô
miên
Mùi hương tịch mịch,
bóng đèn thâm u [422; 8]
3. Kết luận
- Bằng việc lựa chọn thể thơ
song thất lục bát với số tiếng không bằng nhau giữa các câu trong bốn câu
thơ tạo nên ấn tượng giả tự do về thể loại [201; 6], Nguyễn Gia Thiều đã học
tập một cách có sáng tạo từ nguồn sữa dân gian, vừa đồng thời khẳng định đây là
thể thơ phù hợp với nhiệm vụ phơi trải tấm lòng đau xót, sầu tủi, tiếc hận [185;
9], mà Cung oán ngâm khúc là một thi phẩm kiệt xuất.
- Sự gặp gỡ giữa Cung
oán ngâm khúc với ngôn ngữ dân gian mà cụ thể là từ láy là một thực tế
khách quan và thú vị. Chính hệ thống từ láy đã góp phần cho thành công của tác
phẩm, đặc biệt là trong việc thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình.
- Chất dân gian trong Cung
oán ngâm là nhịp cầu vững chắc cho tác phẩm Cung oán ngâm khúc tác
phẩm văn học bác học đến với đông đảo độc giả Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
[1] Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng
Huề, (1994) Việt Nam ca trù biên khảo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Dương Quảng Hàm,(1968)
Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu Sài Gòn xuất bản.
[3] Lê Bá Hán - Trần Đình Sử
- Nguyễn Khắc Phi, (2007) Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
[4] Hoàng Văn Hành (chủ
biên), (2003) Từ điển từ láy Tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.
[5] Nguyễn Thái Hoà,(2003) Từ
điển tu từ - phong cách thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
[6] Nguyễn Xuân Kính, (2007)
Thi pháp ca dao, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
[7] Bùi Văn Nguyên - Hà Minh
Đức, (2003) Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội.
[8] Trần Lê Sáng - Phạm Kỳ
Nam, (2005) Hợp tuyển ngâm khúc trung đại Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội.
[9] Trần Đình Sử, (1999) Mấy
vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
(Bài đăng trên tạp chí Ngôn
ngữ và Đời sống số 4, năm 2009).Bản của tác giả gửi.
Trần Minh Thương
Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét