Chùa Vĩnh Nghiêm - Di sản
văn hóa cần được bảo vệ
Chùa Vĩnh Nghiêm cách thành phố Bắc Giang chừng 20km về phía Đông
Nam, tọa lạc trên một gò đồi nhỏ, nơi hợp lưu của hai dòng sông Thương và Lục
Nam, có tên chữ là Vĩnh Nghiêm Tự, xa xưa gọi là Chúc Thánh thiền tự, nhưng dân
gian quen gọi là chùa La, hay chùa Đức La theo tên làng. Kiến trúc chùa được
coi là kinh điển của phong cách chùa cổ miền Bắc, sân lát gạch đỏ, khắp các lối
đi bóng cổ thụ rợp mát.
Chùa Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa cổ nổi tiếng có từ thời Lý, Trần
(thế kỷ XII - XIII) thuộc dòng Thiền phái Trúc Lâm. Chùa này nằm ở chỗ hợp lưu
của sông Lục Nam và sông Thương. Khu vực này năm xưa còn gọi là khu vực ngã ba
Phượng Nhãn. Chùa nhìn ra ngã ba sông và nhìn về phía Lục Đầu Giang - Kiếp Bạc.
Phía sau chùa là thôn Đức La xa hơn nữa là vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào vùng núi
Yên Tử. Bao quanh chùa có một số núi lớn tiêu biểu là núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc. Trước
đây chùa đóng vai trò tiền trạm cho khách thập phương hành hương trước khi vượt
sông, leo núi tới Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh. Vì thế dân gian có câu: Ai
qua Yên Tử, Quỳnh Lâm - Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành. Ra
vào chùa có thể đi theo sông Thương, sông Lục Nam và con đường quốc lộ 31 đi
Trí Yên (Yên Dũng).
Những mộc bản kinh Phật vô giá
Theo Đại đức Thích Thanh Vịnh, chùa được khởi dựng từ những năm
vua Lý Thái Tổ trị vì (năm 1010 - 1028), và đã là một trong những trung tâm của
Phật giáo suốt thời Lý. Đến thời Trần, ba vị Tổ của thiền phái Trúc Lâm là Giác
Hoàng Điều ngự Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang tiếp tục mở rộng quy mô,
và chọn Vĩnh Nghiêm làm nơi đào luyện tăng đồ Phật giáo.
Hai dãy nhà gỗ, mái ngói cổ có hình mái đao rất đẹp, nền đất nện
chắc đã ngả màu đen nhánh, là tam bảo và nơi thờ ba vị tổ của Thiền phái Trúc
Lâm, nhưng cũng là nơi chứa các mộc bản kinh sách. Không khí mát lạnh, mùi
hương trầm và thái độ thành kính của mỗi người như làm cho tàng kinh các thêm
thâm nghiêm. Theo nhà sư trụ trì, nguyên liệu chế tác các bản khắc đều là gỗ
thị, chủ yếu khai thác từ vườn chùa. Loại gỗ này rất mềm, mịn, dai, ít cong
vênh, khó nứt vỡ khi còn tươi nên rất dễ khắc. Khi bản khắc đã khô, thì lại rất
cứng và khi in ít bị nhòe. Các nghệ nhân chế tác đều là những người thợ tài hoa
nhất đến từ các phường mộc Kinh Bắc (Bắc Giang, Bắc Ninh và chủ yếu là Hải
Dương) được mời đến thành nhiều đợt, ngày đêm kỳ công chạm khắc.
Đại đức Thích Thanh Vịnh cho biết: Chiếc khóa sắt chỉ là do nhà
chùa mới làm để bảo vệ kinh sách thêm an toàn thôi, còn bản thân kết cấu của
mỗi chiếc tủ đã tự có hệ thống khóa, không phải ai cũng mở ra được. Cánh cửa
nào mở trước, thanh giằng nào, mộng nào thật hay giả, từ trên xuống dưới hay từ
trái qua phải, hoặc đồng thời cả hai ba bộ phận, đều được các bậc thầy về nghề
mộc thiết kế riêng rất công phu cho tủ sách. Và nữa, tủ chứa kinh Phật, tủ chứa
trước tác của Tam tổ, tủ chứa giới luật, sách thuốc…, đều có quy định theo hoa
văn phía trên mái tương ứng, có khuôn phép, chuẩn mực. Trước đây, mộc bản được
cất giữ trên các giá gỗ ở nhà kho của chùa. Các tủ này đều làm bằng lim, do nhà
sư trụ trì cho làm từ đầu thế kỷ XX, thời nhà Nguyễn, có cả thảy bảy chiếc lớn
nhỏ. Công việc chế tác các bản khắc được tiến hành suốt mấy trăm năm, trải qua
59 đời trụ trì, dẫu có lúc liên tục, lúc ngừng nghỉ. Không thể nói hết công phu
tâm huyết của người thợ. Không chỉ giỏi tay nghề, các nghệ nhân này còn phải
giỏi cả chữ Nho, đặc biệt là phải thiện tâm và tâm huyết với công việc. Mỗi bản
khắc của người thợ giỏi nhất, nhanh nhất cũng mất hơn hai tháng, và nếu sai một
hai chữ là phải hủy đi, khắc lại. Có hai nghệ nhân Nguyễn Nhân Minh và Phó Nền
còn lưu danh trên ván khắc. Có người thợ dành cả đời mà vẫn chưa khắc xong trọn
một bộ kinh. Có hiệp thợ phải mất ba đời mới hoàn thành một bộ. Riêng bộ kinh
Hoa Nghiêm với hơn 2.000 bản khắc, phải mất 70 năm, thì mới hoàn thành. Hiện
nay, việc khôi phục mộc bản là rất khó khăn, bởi nhà chùa đã từng mời nghệ nhân
mộc rất giỏi chữ Nho ở Trung Quốc khắc thử nhưng không thành công vì bản khắc
mới không thể nào tài hoa, tinh tế như các bản khắc cũ.
Ngoài mộc bản kinh phật, Hàng trăm cuốn kinh sách cổ với
rất nhiều nội dung về Phật giáo Việt Nam, Thiền phái Trúc Lâm, thân thế và sự
nghiệp của nhiều vị cao tăng; về y dược, tư tưởng, văn hóa…, được viết bằng chữ
Hán và chữ Nôm của Nhà chùa đang có nguy cơ bị mất đi. Công tác bảo tồn hàng
nghìn mộc bản kinh Phật quý giá của chùa Vĩnh Nghiêm được UBND tỉnh Bắc Giang
hết sức chú trọng. Nhiều cuộc hội thảo khoa học về giá trị các mộc bản kinh
Phật chùa Vĩnh Nghiêm đã được tỉnh Bắc Giang tổ chức. Đồng thời Sở Văn hóa -
Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang cũng đang có kế hoạch in sao và dịch toàn bộ
số Mộc bản Kinh phật này làm tư liệu.
Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm
Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm cũng là Hội chùa La được tổ chức vào ngày
14 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại thôn Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng. Ngày này các sư gọi là
ngày giỗ Tổ nên cũng gọi là hội giỗ Tổ chùa La.
Tương truyền, khi vua Trần Nhân Tông (1258-1308), từ bỏ ngôi vua
thành người tu hành đến chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Ngoạ Vân (Yên Tử) thụ giới, lấy
hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sáng lập lên phái Thiền tông của Phật giáo Việt
Nam. Hương Vân cùng hai đệ tử Pháp Loa, Huyền Quang sáng lập, hoàn chỉnh phái
Thiền tông Việt Nam gọi là Tam tổ.
Tổ Trúc Lâm ở
Chùa Vĩnh Nghiêm là ba vị:
- Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông
- Thiền Sư Pháp Loa
Năm 1313, chùa Vĩnh Nghiêm chính thức được tổ Pháp Loa đặt
Trung ương Giáo hội Phật giáo Đại Việt. Trên 700 năm tồn tại, ngôi chùa
đã trải qua nhiều biến cố. Từ thế kỷ XIII đến nay, chùa đã được trùng tu sửa
chữa 13 lần. Hiện nay, Ban Tu bổ di tích đang từng bước khôi phục như xưa. Từ
tam quan đi lên giữa hai hàng thông cao vút dẫn đến bậc thềm chùa Hộ (Bái
Đường). Cụm kiến trúc chính nằm trên một trục dọc quay mặt theo hướng Đông –
Nam, bao gồm bốn khối nhà. Khối thứ nhất có mặt bằng hình chữ “công” gồm ba nếp
chùa: Chùa Hộ (Bái Đường), phủ Thiêu Hương, Thượng điện (chùa Phật). Khối thứ
hai nhỏ hơn là nhà Tổ Đệ nhất, trong có tượng chân dung Trúc Lâm Tam tổ. Khối
thứ ba là Gác chuông hai tầng mái. Khối thứ tư là nhà Tổ Đệ nhị và nhà trai.
Với thiết kế khang trang lối đao lá, mái 4 đao, 8 kèo kiểu con chồng, thượng
tam hạ tứ. Bên ngoài chùa trang trí đắp nổi hình cuốn thư, trang trí hoa lá
chạy đường diềm bao quanh. Nội thất của Thiêu hương được trang trí, chạm khắc
lộng lẫy. Trong 3 nếp chùa đều có cửa võng, chạm khắc hoa lá, chim muông, họa
tiết tinh vi mềm mại cầu kỳ được sơn son thiếp vàng, trên là các hoành phi đại
tự lớn.Các khối nhà cách nhau một khoảng sân hẹp.
Do nằm ở vị trí thuận tiện giao thông nên khách thập phương đến
hội rất đông. Trong ngày hội (14/2), các tăng ni ở chùa thắp hương tụng
kinh, niệm Phật ở Tam bảo, nhà Tổ đệ nhất và nhà Tổ đệ nhị. Từ ngày 13/2 trở
đi, khách thập phương từng đoàn lũ lượt kéo về chùa. Khách đến chùa trẩy hội
hầu hết là các già, các vãi và thanh thiếu niên nam nữ. Hàng quán được mở tạm
dọc theo đường từ tam quan vào đến nhà tiền đường. Trong khu vực nội tự, không
có hàng quán nhưng đông các đoàn dâng hương hành lễ. Xen lẫn trong đó các đội
văn nghệ của làng biểu diễn tích chùa.
Kiến trúc của chùa có quy mô lớn. Trong ngày hội, mỗi người đều
được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của công trình kiến trúc này và thắp hương niệm Phật ở
các toà và tưởng niệm 3 vị sư tổ của thiền phái Trúc Lâm. Mỗi người đến
hội, tuy chỉ một nén hương ở chốn này mà kỳ thực như đã tưởng nhớ tới các vị thiền
sư có công khai sáng thiền đạo nơi đây. Khung cảnh hữu tình nơi này làm lòng
người thanh thản hơn sau những bộn bề của cuộc sống. Có thể nói, chùa Vĩnh
Nghiêm với những di sản văn hóa độc đáo là báu vật cần được gìn giữ mãi mãi cho
đời sau.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét