Huyền sử Tiên Rồng - Minh triết
uyên nguyên của dân tộc
Huyền thoại là tự truyện của một dân tộc được kể lại trong cái
lung linh sử mệnh của dân tộc. Sử mệnh của một dân tộc là con đường tiền nhân
mặc khải qua những thăng trầm, của phút nội tỉnh, những phút trổi vượt về miền
tâm linh siêu việt, của những ước vọng hừng hực LỬA SINH SINH không mất đi
trong hành trình sinh tử. Do đo, Huyền sử là Tiềm Thức Cộng Thông của Dân Tộc,
nơi đó tiền nhân gửi gấm linh hồn vượt không gian và thời gian qua huyền
thoại. Thật thế, Huyền sử là di bảo thiêng liêng, là giá trị tinh thần của
dân tộc do bao đời kết tinh, là linh hồn của lịch sử.
Huyền sử là ý nghĩa của sử, là đạo lý của sử, là mạch sống đời đời
của sử. Nếu sử ký là sử hàng Ngang, nhằm ghi lại sự kiện bám sát vào không gian
và thời gian, thì Huyền sử là sử hàng Dọc, vượt lên, bao trùm không thời, đi
vào cội nguồn của hồn sử. Những biến cố của sử ký có tính cách cá thể, chỉ xẩy
ra một lần, trong một không gian và thời gian nhất định. Vì thế, địa danh và
niên đại phải được ghi chép rõ rệt và trở thành quan trọng. Nhưng trái lại, ý
nghĩa của Huyền sử nhắm tới cái gì phổ quát, vượt lý trí phân minh, đi vào miền
thâm sâu của tiềm thức, tiếp cận miền vi tế của tâm linh. Vì thế những địa
danh, niên đại, cũng như các nhân vật phải được hiểu một cách co dãn, trừu
tượng, vì Huyền sử là đạo lý của dân tộc được gửi gấm qua những mảnh vụn lịch
sử. Do đó, nếu sử ký là sử vòng Ngoài của những biến cố Ngoại Diện, thì Huyền
sử là sử vòng Trong của Tâm Linh Dân Tộc.
Hay nói cách khác, nếu sử ký là câu chuyện của Tử Sinh, thì Huyền
sử là cõi Sinh Sinh Bất Tuyệt.
Do đó, muốn tiếp cận Ánh Sáng Tâm Linh của Huyền Sử, con người cần
phải thả lỏng các ràng buộc của quy luật sử ký, cần dọn tâm hồn cho trống rỗng,
tâm không nghiêng lệch, ô nhiễm từ bất cứ ý niệm nào. Cùng nhau, chúng ta,
những người con Việt muôn phương, mở lòng ra, lòng Hư Không, và bắt đầu cung
kính mở trang đầu tiên Huyền Sử Việt. Cuộc hội thoại với Tâm Linh Dân Tộc chỉ
cần một hành trang duy nhất là không một hành trang gì được mang theo - Ðọc
Huyền Sử với Tâm Vô Tư, Vô Nhiễm, Vô Cầu.
1. Truyện Hồng Bàng
Cháu ba đời Viêm Ðế họ Thần Nông tên là Ðế Minh, sinh ra Ðế Nghi,
rồi đi tuần đến núi Ngũ Lĩnh, gặp được nàng con gái Vụ Tiên đem lòng yêu mến
mới cưới về, sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan chính, thông minh túc thành; Ðế
Minh lấy làm lạ, cho nối ngôi vua; Lộc Tục cố nhường cho anh, Ðế Minh lập Ðế
Nghi làm tự quận cai trị phương Bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai trị
phương Nam, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ Quốc.
Kinh Dương Vương xuống thủy phủ, cưới con gái vua Ðộng Ðình là
Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm tức là Lạc Long Quân; Lạc Long Quân thay cha để trị
nước, còn Kinh Dương Vương thì không biết đi đâu. Lạc Long Quân dậy dân ăn mặc,
bắt đầu có trật tự về quân thần, tôn ty, có luân thường về phụ tử, phu phụ;
hoặc có lúc đi về thủy phủ nhưng trăm họ vẫn được yên ổn. Dân lúc nào có việc
cần thời kêu Lạc Long Quân: "Bố đi đằng nào, không đến mà cứu chúng
ta", thì Lạc Long Quân lập tức đến ngay, uy linh cảm ứng không ai có thể
trắc lượng được.
Ðế Nghi truyền ngôi cho Ðế Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên
hạ vô sự, sực nhớ đến chuyện ông nội là Ðế Minh nam tuần gặp được tiên nữ Ðế
Lai bèn khiến Xi Vưu tác chủ quốc sự mà nam tuần qua nước Xích Quỷ thấy Long
Quân đã về thủy phủ, trong nước không vua, mới lưu ái thê la Âu Cơ cùng với bộ
chúng thị thiếp ở lại hành tại. Ðế Lai chu du khắp thiên hạ, trải xem tất cả hình
thể, trông thấy kỳ hoa, dị thảo, trân cam dị thú, tê tượng, đồi mồi, kim ngân,
châu ngọc, hồ tiêu, nhũ hương, trầm đàn, các loại sơn hào hải vị, không thứ nào
là không có; khí hậu bốn mùa lại không nóng không lạnh, Ðế Lai ái mộ quá, quên
cả ngày về.
Nhân sẵn về nên mới đem nhau kêu rằng: "Bố ở phương nào nước
nam khổ về sự phiền nhiễu, không yên ổn như xưa, đêm ngày mong đợi Long Quân,
nên mau về cứu nhân dân".
Lạc Long Quân bỗng nhiên lại về, thấy nàng Âu Cơ ở một mình dung
mạo đẹp lạ lùng, yêu quá mới hóa ra một chàng trai nhi lang phong tú mỹ lệ, tả
hữu thị tùng đông đảo, tiếng đàn ca vang đến hành tại. Âu Cơ trông thấy mà lòng
cũng ưng theo; Long Quân bèn rước nàng về núi Long Trang. Ðế Lai về không thấy
Âu Cơ bèn sai quân thần tìm khắp thiên hạ. Long Quân có thần thuật, biến hiện
trăm cách, nào là yêu tinh quỷ mị, nào là long xà hổ tượng, kẻ đi tìm úy cụ,
không dám lục đảo tận cùng. Ðế Lai trở về Bắc lại truyền ngôi cho Ðế Du Võng.
Du Võng truyền lại cho Xi Vưu cùng với Hoàng Ðế đánh nhau ở Bản Truyền và Trác
Lộc không hơn nên tử trận. Họ Thần Nông biến mất.Aµ Cơ ở với Lạc Long Quân,
sinh ra một bọc trứng, cho là điềm không hay nên bỏ ra ngoài đồng nội; hơn bảy
ngày, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai, bà đem về nuôi
nấng, không phải cho ăn, cho bú mà tự nhiên trường đại, trí dũng song toàn, ai
cũng uy phục, bảo nhau đó là những anh em phi thường.
Long Quân ở lâu dưới Thủy Phủ; mẹ con ở một mình, nhớ về Bắc quốc
liền đi lên biên cảnh; Hoàng Ðế nghe tin lấy làm sợ mới phân binh ngày đêm trấn
ngự quan tái; mẹ con không về Bắc được, đêm ngày gọi Long Quân "Bố ở
phương nào làm cho mẹ con ta thương nhớ!" Long Quân hốt nhiên lại đến, gặp
mẹ con ở Tương Dã. Âu Cơ nói:
-Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với quân, sinh được một trăm
trai mà không có gì cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta
là người không chồng không vợ, một mình vò võ.Lạc Long Quân bảo:
-Ta là loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống Tiên,
người ở trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp lại mà có con,
nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu.
Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi trai về thủy phủ phân trị các xứ, năm
mươi trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng
có việc gì thì cùng nghe, không được bỏ nhau.
Trăm trai đều nghe mệnh, rồi mới từ giã ra đi. Âu Cơ cùng với năm
mươi người con trai ở tại Phong Châu (bây giờ là huyện Bạch Hạc), tự suy tôn
người hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, quốc hiệu là Văn Lang; về bờ
cõi của nước thì Ðông giáp Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc giáp Ðộng Ðình Hồ, Nam
đến nước Hồ Tồn (bây giờ là nước Chiêm Thành), chia trong nuớc làm mười lăm bộ
là: Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Vũ Ðịnh, Dương
Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Quế Lâm, Tượng Quận,
sai các em phân trị, đặt em thứ là tướng võ, tướng văn; tướng văn gọi là Lạc
Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng; con trai vua gọi là Quan Lang, con gái gọi là
Mỵ Nương, quan Hữu Ty gọi là Bố Chính, thân bộc nô lệ gọi là nô tỳ, xưng thần
là khởi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền cho nhau
đều hiệu là Hùng Vương không đổi.
Dân ở rừng núi xuống sông ngòi đánh cá, thường bị giao long làm
hại nên bạch với vua. Vua bảo rằng:
- Ở núi là loài rồng cùng với thủy tộc có khác, bọn chúng ưa đồng
mà ghét dị cho nên mới xâm hại.
Bèn khiến lấy mực châm hình trạng thủy quái ở thân thể, từ đó
tránh được nạn giao long cắn hại; cái tục văn thân của Bách Việt thực khởi thủy
từ đấy.
Ban đầu quốc dân ăn mặc chưa đủ, phải lấy vỏ cây làm áo mặc, dệt
cỏ ống làm chiếu nằm; lấy gạo cất làm rượu, lấy cây quang lang, cây soa đồng
làm bánh; lấy cầm thú, cá tôm làm nước mắm, lấy rễ gừng làm muối; lấy dao cầy,
lấy nước cấy đất trồng gạo nếp, lấy ống tre thổi cơm, lấy cây làm nhà để tránh
nạn hổ lang; cắt ngắn đầu tóc để tiện việc vào rừng núi, con đẻ ra lót lá chuối
cho nằm; nhà có người chết thì giã cối gạo cho hàng xóm nghe mà chạy đến cứu
giúp; trai gái cưới nhau trước hết lấy muối làm lễ hỏi, rồi sau mới giết trâu
để làm lễ thành hôn, đem cơm nếp vào trong phòng cùng ăn với nhau cho hết, rồi
sau mới tương thông; lúc bấy giờ chưa có trầu cau nên phải thế.
Bách Nam là thủy tổ của Bách Việt vậy.
2. Ý Nghĩa
Qua Huyền Sử Hồng Bàng, dân tộc ta có truyền thuyết về nguồn gốc
Người Việt là Con Rồng Cháu Tiên.
Như đã trình bầy ở trên, huyền thoại dân tộc là lời gửi gấm sâu xa
về ý nghĩa nhiều hơn sự kiện. Tiên và Rồng là hai biểu tượng chỉ Hai Linh Lực
của cuộc sống. Hai sức sống ngược chiều nhau như Tiên và Rồng trong huyền
thoại, ví von như Tiên ở trên núi, Rồng gốc dưới nước. Hai sức đối nghịch không
giống nhau được, như Hữu -Vô, Tán- Tụ, Tử- Sinh, Tâm-Vật, Lý-Tình v.v.Sự mâu
thuẫn phải gây ra ly biệt, cho nên sự chia tay của Lạc Long Quân và Âu Cơ là sự
chia tay tất yếu của lý trí khi nhìn ở sự cách ly của vạn hữu. Vì, Lý Trí là
Phân Biệt.
Thật thế, nếu ta thử ngắm nhìn ngoại giới với giác quan thông
thường ta sẽ thấy vạn vật rõ ràng phân biệt với hai khuynh hướng cực kỳ khác
biệt: Thế giới cụ thể này quả thực là có; có xác thân với bao là nhu cầu cần thỏa mãn, có cảm xúc mừng giận buồn vui với tất cả chấn
động của thân tâm; có mùa trăng hạ huyền, có hương táo nồng
nàn.Nhưng rồi tất cả những đọng ngừng tưởng chừng như có thật ấy rồi cũng trôi
qua. Không níu giữ được mãi, nên con người mới vỡ lẽ ra cái hư vô đã ẩn tàng
nơi sự vật , nơi kết tụ mong manh đã ngầm chứa sự biệt ly, trong sự sinh tồn đã
có lưỡi hái huỷ diệt. Ý thức về hai sức mâu thuẫn trong bản thể vạn vật làm con
người - dù mặc nhiên hay minh nhiên - xác nhận bản tính cho nó nơi chọn lựa
cách thái sinh hoạt: Nếu nhận rằng bản chất đời sống là những gì hữu hạn, cụ
thể, thoả mãn những giá trị mà giác quan có thể kiểm nhận được, người ta đi
theo khuynh hướng duy vật hữu vi một cách tích cực. Ngược lại, con người cũng
có thể chọn lựa thái độ tích cực với vô vi. Hoặc một chọn lựa dung hợp, như An
Vi chẳng hạn. Nghĩa tích cực ở đây có nghĩa là coi trọng, nghiêng về một giá
trị này và coi nhẹ giá trị khác, là đặt nổi yếu tố đối kháng và chọn lựa dứt
khoát.
Sự việc Lạc Long Quân đề cập với Âu Cơ về các sự khác biệt, nào
là: Thủy hỏa tương khắc, phương viên bất đồng chính là ý nghĩa của cái nhìn của
Lý trí trên hiện tượng vạn vật. Lý trí là một khả năng hữu hiệu của con người
trên bứơc đường phân tán. Nó có tính sắc bén của một con dao nên khi xử dụng lý
trí trên bất cứ sự vật, sự việc gì, việc đầu tiên của lý trí là chia cắt, chẻ
nhỏ, cô lập sự vật, sự việc ấy lại, nên thấy nước là nước, lửa là lửa, làm sao
không bất đồng. Chỉ đặt nổi sự khác biệt, là đặt nặng đối kháng, tất phải chia
lìa.
Trong đời sống, chúng ta đã biết bao lần để cho lý trí làm chủ các
quyết định, chỉ nhìn thấy sự việc một chiều. Hoặc chọn cái lợi thì phải bỏ
nghĩa, hoặc chọn ích kỷ thì phải dứt tình người, hoặc chọn sắc đẹp thì phải
quên đi phần đức hạnh, hoặc chọn danh vọng thì phải hy sinh chính nghĩa, hoặc
chọn tâm bỏ vật, chọn vô bỏ hữu. Như thế, có nghĩa là ta đã đi vào cái vấn nạn
của câu chuyện mở đầu huyền sử: Câu chuyện của Lý Trí, câu chuyện của Phân
Biệt, câu chuyện của sự Chia Ly, và dĩ nhiên là câu chuyện của sự Bất An, có
nước mắt, hoạn nạn, khổ đau.
Quan trọng nhất là đoạn Giải Kết cái mâu thuẫn của đời sống phân
chia bởi lý trí. Minh Triết Việt cho sự việc Âu Cơ và Lạc Long Quân cùng đồng ý
với nhau, nếu có việc cần vẫn phải gặp nhau trên Cánh Đồng Tương, và nghe lời
nhau, không được bỏ nhau, lại là một Hóa giải mâu thuẫn từ nền tảng của Tâm Vô
Phân Biệt. Chữ Tình được kết thúc nơi đây thay cho Lý phải là từ giác ngộ Tâm,
vì nơi đáy nội tâm sâu xa thăm thẳm ấy mới dung chứa được mọi sự khác biệt, mới
nhìn thấy được cái phân chia của lý trí là giả tạo, hẹp hòi, thiển cận. Trầm
tư, tâm tư, thả lỏng ý thức bén nhậy đi, con người mới bắt được cái Hư Không,
mới trực nhận được Hư Không ấy mới là Lẽ Thật, mới không chỉ thấy đời chỉ là
phân ly, dị biệt của từng vạn vật, mới Hội Tụ về Nhất Thể, mới tìm được suối
nguồn Bình An, Hạnh Phúc miên viễn giữa lòng đời.
Trong ý nghĩa đó, Huyền thoại Tiên Rồng đã muốn nói một sự Tương
Quan giữa hai đối nghịch đều phải Kết Hợp làm một ở đích điểm của mâu thuẫn.
Tiên Rồng là nguồn gốc của người Việt, hay nói chính xác hơn, Tiên
Rồng là Bản Thể của vũ trụ, vạn vật và con người muôn nơi muôn thuở. Thật thế,
chúng ta thử quan sát và chiêm nghiệm mọi lẽ vận hành trong tự nhiên hay mỗi
sinh hoạt của con người đều phản ánh nguyên lý hòa hợp trong mâu thuẫn, tương
quan trong đối lập. Vạn sự vạn vật tự bản thể đều có rồi không, không rồi lại
có. Nhưng làm sao ta biết được là Thực Tại là có hay không. Vạn vật nương nhau
tồn tại và phân định danh phận cho nhau xuất lộ nơi từng cặp mâu thuẫn tịnh hành:
Nam-Nữ, Thiện-Ác, Tiểu-Ðại, Ðộng-Tịnh, Ngày-Ðêm.Trong sự tương đối ấy, mọi sự
mâu thuẫn đều là điều kiện của nhau. Có xác định người nam thì mới có tiêu
chuẩn y cứ mà cho rằng người kia là nữ. Vì cho rằng có điều gọi là thiện thì
mới gọi điều ngược lại là ác. Có vật cho là nhỏ thì mới có vật lớn. Không có
biến động thì làm sao có ý thức về thường tịnh. Không có ánh sáng ban ngày thì
làm sao có bóng tối để gọi là đêm.Cho nên, chính trong mâu thuẫn, vạn vật tự
xác định cái danh và phận của nhau, tự giúp nhau tồn tại, tự sinh ra nhau, và
cũng sẽ tự diệt với nhau. Bản chất ấy gọi là mối tương quan nền tảng. Nếu Chân
Lý là Sự Thật, thì Mâu Thuẫn là Chân Lý, Tương Quan Mâu Thuẫn là Chân Lý Tối
Cao, Kết Hợp Mâu Thuẫn là Chân Lý Nền Tảng. Khi Kết Giải Mâu Thuẫn cho Tiên và
Rồng không được bỏ nhau, vẫn gặp nhau ở Cánh Ðồng Tương, có nghĩa là Huyền Sử
Việt đã xác tín nhậ⮠thức về Chân Lý Toàn Diện ấy.
Chân lý là nơi lưu thông những bế tắc. Chân lý là sự tương quan giữa hai chiều
đối nghịch. Chân lý là nơi giao hòa của mâu thuẫn. Tiên tổ truyền lại bài học
về Bản Tính của vạn vật tiêu biểu trên cánh đồng Tương, nơi gặp gỡ của hai lực
đối nghịch Tiên Rồng. Cánh đồng Tương cũng chính là Cánh đồng Tâm.
Như thế, ta có thể gọi Rồng Tiên là Âm Dương, Sắc Không cũng cùng
một ý nghĩa như vậy. Rồng Tiên, Âm Dương, Sắc Không chính là Bản Thể Mâu Thuẫn
bất Khả Phân Ly qua ý nghĩa của Mùa Tiên Rồng Hội Ngộ nơi Tương Dã trong Huyền
Sử Việt.
Ngày nay khoa học minh chứng trong điện, cũng có hai dòng điện
tiêu, tích. Phân tích một nguyên tử cho biết đó chỉ là sự cấu tạo của âm điện
tử và dương điện tử. Với thuyết tương đối của Einstein thì hai thực thể cơ bản
làm nên mọi hiện tượng vạn vật là Thời gian và Không gian không phải là hai
thực thể độc lập không có chi liên hệ. Mà không gian và thời gian tương quan,
liên kết, có thể nói vũ trụ này chỉ là một khối Không-Thời-Liên. Trong lãnh vực
y khoa, cơ thể luôn sinh ra chất đề kháng với các chất có hại cho nó (bệnh chỉ
là sự bất quân giữa các liều lượng của chất thuận và nghịch). Hệ thống điện
toán ngày nay chỉ dựa trên sự áp dụng của hai tình trạng 0 và 1.
Như vậy theo kiểu nói của ngôn ngữ nào, biểu tượng trong huyền sử,
mạch lạc trong triết lý, hay cụ thể trong khoa học, cũng đi đến những ý nghĩa
như nhau về bản thể của vạn vật, và cũng là bản chất của con người: HÒA điệu
giữa hai đối nghịch, Một mà Hai, Hai mà Một, Mâu Thuẫn nhưng không hủy diệt,
Tương khắc Tương sinh, Sắc Sắc Không Không.
Trên chiều hướng đó, Huyền Sử Con Rồng Cháu Tiên được hiểu như hai
cột trụ chống đỡ khung Tâm Thức con người của Minh Triết Việt. Khi Rồng Tiên
còn chia cách, thì Rồng có thể biểu hiệu cho bản chất hướng ngoại, phân chia,
suy luận, lý trí, ý thức, hiển nhiên như Tâm còn ở trong chốn đầm lầy tù hãm có
tính chất vật thể giới hạn, tức Rồng mới ở giai đoạn khởi đầu của tiến trình Cá
thể hóa của cõi Hiện tượng, còn nặng phần tiểu tâm, tiểu trí của cái
"ta" nhỏ bé ở đợt hiện hình, ngoại diện. Còn Tiên có thể biểu hiệu
cho bản chất hướng nội, tổng quát, trực giác, tâm tư, tiềm thức, nhưng Tâm vẫn
còn ở trong trạng thái mông lung, hàm hồ, đồng nhất với cõi Vô thức.
Muốn thoát khỏi "gọng kềm" nhị nguyên đối kháng nêu
trên, là tình cảnh phải "chọn một bỏ một", hoặc một bên Ý Thức phân
ly, tính toán sắc cạnh, hoặc bên kia, Tiềm Thức hàm hồ, âm u, tăm tối, như phải
chọn hoặc Ly hoặc Tình, một vấn nạn khó khăn, mà muốn giải quyết, Hành giả phải
tạo điều kiện cho Rồng Tiên Hội Ngộ. Ðược như vậy thì Rồng mới vùng vẫy, uốn khúc
được để trở thành Rồng Thiêng, vì Rồng không còn biểu hiệu cho lý trí của ý
thức cá nhân hữu hạn nữa, mà nhờ tiếp cận với Tiên, tức nội dung của Tiềm Thức
thâm sâu nên Rồng đã trở thành Biểu Tượng của Ý Thức Sáng Láng Về Toàn Thể Thực
Tại mang tính Vô Biên. Còn Tiên dưới ánh sáng của Ý Thức Toàn Diện của Rồng, đã
vượt qua được trạng thái "vô phân biệt" Nguyên thủy của trạm Quỳnh Hư
của cõi Tiềm Thức mông lung để bước vào điện GIAO QUANG của miền TÂM LINH SIÊU
TUYỆT.
Rồng Phải Hội Ngộ cùng Tiên trong Ý Nghĩa con người với cái
"ta" Ngoại Diện thuộc về Lý Trí Hiện Tượng có khuynh hướng liên hợp
với cái "TA" uyên áo của Nội Tâm sâu thẳm. Rồng không còn là Rồng nữa
với xác thân hữu hạn, mà đã "#234;u Việt" để trở thành Rồng Thiêng
khi tiếp cận Giấc Mơ Tiên. Cũng tương tự, Tiên cũng rộn ràng đam mê nhiệt đới,
cũng không thể khước từ trái Táo địa đàng. Tâm Thức Rồng Tiên là Tâm Thức Toàn
Diện của Cơ Cấu Uyên Nguyên. Cá nhân chỉ Trọn Vẹn Hóa trong Tương Quan, Thống
Nhất với Toàn Diện Tính của Bản Thể Rồng Tiên. Trong tất cả những đa đoan của
đời sống chẳng qua chỉ là một trường thử nghiệm của khuynh hướng tìm về chính
Mình, Bản Tính Liên Hợp, có nước mắt của chia xa và niềm hân hoan hạnh ngộ. Nói
một cách khác, Chân Lý Rồng Tiên ẩn tàng nơi Tương Dã chính là Lời Hẹn của Tình
Yêu giữa Ðạo với Ðời. Cho nên Ðạo Mới Không Xa Ðời.
Huyền Sử Tiên Rồng còn gửi lại ý nghĩa thêm nữa trong việc Mẹ Âu
Cơ sinh được 100 trứng trong một bọc, sau này 50 con ở lại với mẹ và 50 con
theo cha xuống biển. Bọc đây phải là Bọc Tâm Linh . Bọc Tâm Linh nên ôm ấp chân
lý tròn đầy, chân lý kết hợp, hòa tan mọi mâu thuẫn của thế giới hiện tượng
phân biệt, Chân lý Hòa Hợp, bất khả phân ly của Ðạo Thể Viên Dung. Một trăm ở
đây cũng là biểu tượng cho sự toàn vẹn của mỗi khả thể, 100 là cái toàn thể,
toàn thiện của chân lý. Chân lý không để phần tử nào phải lẻ loi cô độc. Chân
lý là tròn đầy. Chân lý như là tổng số 100.
Ði vào thể dụng của chân lý, Tiên Rồng với bọc trăm trứng giúp cho
người Việt cảm thấy gần gũi nhau hơn trong ý nghĩa đều là cùng một bụng mẹ Âu
Cơ, cùng phải thân yêu, đùm bọc lẫn nhau, kết quả là ta có chữ đồng bào (cùng một bọc) để gọi nhau. Và, gọi người cai quản sinh hoạt xã
hội bằng "bố", một từ mà sau này người Việt
dùng để gọi cha ruột thịt của mình. Một hình ảnh thân yêu và gần gũi giữa người
một nước coi nhau là con một bọc của mẹ, dân gọi vua âu yếm và tin tưởng như
cha, ta thấy một dân tộc có trình độ văn hóa cao siêu và nhân
bản đã biểu hiện qua Huyền sử Tiên Rồng một cách thơ mộng mà thiết thực như thế
là cùng!Còn có một nền nhân bản nào cao siêu hơn?
Chúng ta hãy tìm hiểu các nền văn minh trên thế giới. Tây phương
khởi nguồn từ văn minh Hy Lạp, mà theo đó, con người là con cháu của các thần
thánh hung dữ và độc ác, đầy đủ thói hư tật xấu của trần gian. Con người vì vậy
rất sợ hãi sự thịnh nộ và trừng phạt của các thần, nên giới thống trị dựa vào
sự tin tưởng ấy để đưa đến một xã hội phi nhân bản, phân chia giai cấp, điển
hình là chế độ nô lệ. Tổ sư triết học Tây phương là Socrate, Platon, Aristote
đã chấp nhận và bênh vực cho chế độ nô lệ. Rồi sau đó kỹ thuật tiến dần thì chế
độ nô lệ bãi bỏ, chứ không do một lý tưởng cao đẹp nhân chủ bình đẳng nào hô
hào bãi bỏ. Ấn Ðộ cũng không hơn gì. Niềm tin vào thần thánh khiến sự phân chia
giai cấp vì lý do sanh bởi chân tay của thần thánh thì phải làm nô bộc cho giai
cấp sanh từ đầu của thần thánh, rốt cuộc đại đa số dân chúng làm nô bộc cho một
thiểu số tư tế và quý tộc. Ta thử xem bảng thống kê về sự bãi bỏ nô lệ, mới chỉ
xẩy ra chưa bao lâu: Hoa Kỳ bãi bỏ nô lệ năm 1808, Anh 1833, Pháp 1845, Bồ Ðào
Nha 1856.
Trở lại Ý Nghĩa Huyền Sử trên, Tiên Rồng còn mãi mãi ly biệt, khi
đời còn theo quan niệm chia cắt Thực Tại Toàn Diện bằng cái nhìn của Lý Trí,
như những thuyết Duy vật, Duy tâm, Duy Một Chiều Kích. Tiên Rồng chỉ được Hội
Ngộ khi con người nhận thức Chân Lý Hai Chiều Toàn Diện của cuộc Nhân Sinh. Hay
nói cách khác, Huyền Sử Tiên Rồng đã đưa ra 3 mệnh đề: Chính Ðề là Hiện Tượng
Mâu Thuẫn, Phản Ðề là Lý Trí Phân Ly, Tổng Ðề là Tâm Linh Vô Phân Biệt, qua sự
việc Tiên Rồng chia tay rồi hội ngộ nơi Cánh Ðồng Tương.
Tóm lại, qua Huyền sử Con Rồng Cháu Tiên của Việt Ðạo, bài học đơn
giản mà ta có thể nhận ra ngay là: "Ngoài thì là Lý, nhưng trong là Tình". Sâu xa hơn nữa, đây là một Biện chứng tâm linh tổng hợp chân thực hiện tượng và Bản chất của nền MINH TRIẾT UYÊN NGUYÊN của dân tộc.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét