Dân ca dân nhạc Việt Nam
Đờn ca tài tử miền Nam
Đờn Ca Tài Tử Miền Nam là
một dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa
phi vật thể và là một danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng lớn, với phạm
vi 21 tỉnh thành phía Nam Việt Nam.
Đờn ca tài tử hình thành và
phát triển từ cuối thế kỉ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và
văn học dân gian. Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của
miền Nam Việt Nam. Đây là một loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người
bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn miền Nam ca hát sau những giờ lao động.
Đờn ca tài tử Nam Bộ chính
thức được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Đờn ca tài tử xuất hiện hơn
100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm 4 loại là đàn kìm, đàn cò,
đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thế
độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần
nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau. Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui
tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục.
Loại âm nhạc này đúng ra là
một loại nhạc thính phòng thường trình diễn trong phạm vi không gian tương đối
nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sinh nhật, trong các lễ hội, sau
khi thu hoạch mùa vụ, thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm
làng.
Nguồn gốc của nhạc tài tử là
ca Huế. Loại nhạc này mang đậm tính cách giải trí vui chơi chứ không thuộc loại
nhạc lễ.
Nhạc cụ trong “Đờn ca tài tử”
gồm đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn kìm, đàn cò, đàn tam, sáo thường là sáo bảy lỗ
(phụ họa). Trong bộ môn này có một loại đàn mới do các nghệ nhân Việt Nam cải
biến là Guitar phím lõm. Loại nhạc cụ này được khoét lõm các ngăn sao cho khi
đánh lên nghe giống nhạc cụ Việt Nam nhất (âm cao).
Ban nhạc thường dùng năm nhạc
cụ, thường được gọi là ban ngũ tuyệt gồm đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn kìm, đàn cò,
và đàn tam. Phụ họa thêm là tiếng sáo thường là sáo bảy lỗ.
Về trang phục, những người
tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau nên thường chỉ mặc
các loại thường phục khi tham gia trình diễn. Khi nào diễn ở đình, miếu hoặc
trên sân khấu họ mới mặc các trang phục biểu diễn.
Những năm gần đây nhằm đáp ứng
nhu cầu của khách du lịch nên các nhóm nhạc tài tử hợp lại với nhau thành các
câu lạc bộ đờn ca tài tử mang tính bán chuyên nghiệp. Bên cạnh nghề nghiệp chính,
họ phục vụ văn nghệ khi có yêu cầu.
Một số người nói rằng từ
“tài tử” có nghĩa là nghiệp dư. Trong thực tế, từ này có nghĩa là tài năng và
ngụ ý rằng những người này không dùng nghệ thuật để kiếm kế sinh nhai, mà chỉ để
vui chơi hoặc những lúc ngẫu hứng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ
không phải là chuyên gia. Ngược lại, để trở thành một nghệ sĩ trong ý nghĩa xác
thực nhất của từ này, họ phải thực hành trong một thời gian dài.
Đối với hình thức âm nhạc,
vai trò của các ca sĩ và nhạc sĩ đều bình đẳng. Ca trù hát và người ca (bài hát
truyền thống từ miền Bắc và miền Trung) là phụ nữ, trong khi đờn ca tài tử bao
gồm các ca sĩ nam nữ và họ có vai trò bình đẳng.
Một ban nhạc đờn ca tài tử
Sài Gòn năm 1911.
Đờn ca tài tử sử dụng dụng cụ
như đàn cò, đàn nguyệt, đàn tranh, song lan (nhạc cụ bằng gỗ để gõ nhịp) hoặc cả
Ghita lõm.
Loại hình âm nhạc không chỉ ở
các lễ hội và các bên mà còn trong thời gian sau thu hoạch. Ngoài ra, nó có thể
được chơi trong bóng mát của cây, con thuyền hoặc trong đêm trăng sáng…
Dưới đây mình có bài “Việt
Nam - Đờn ca tài tử Nam Bộ” cùng với 9 clips tổng thể lịch sử hình thành và nghệ
thuật bài bản Đờn Ca Tài Tử để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.
Mời các bạn.
Túy Phượng
(Theo Wikipedia)
Việt Nam – Đờn ca tài tử Nam Bộ (2013)
(NLH-Cinet-DSTG)
Tổ chức Khoa học, Giáo dục
và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã công nhận Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam
Bộ của Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại phiên
họp Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 diễn
ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan.
Theo tài liệu lịch sử ghi lại
thì Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật có nguồn gốc từ nhạc cung đình Huế.
Trong đó chữ tài tử có nghĩa là người chơi nhạc có tài, có năng khiếu, có hiểu
biết về nhạc cổ.
Đờn ca tài tử được du nhập
vào miền Nam từ cuối thế kỷ XIX do ba nhạc sư gốc Trung Bộ là Nguyễn Quang Đại
(Ba Đợi – Nhạc quan triều đình nhà Nguyễn), Trần Quang Quờn (thầy ký Quờn) và
Lê Tài Khị (biệt danh Nhạc Khị) sáng tạo nên. Đầu tiên ba nhạc sư sáng tạo nghệ
thuật này chỉ để phục vụ việc giải trí nghe chơi với nhau trong một cộng đồng
nhỏ. Sau đó, nghệ thuật này ngày càng lan rộng và thu hút thêm nhiều đối tượng
khác tham gia hơn. Ban đầu chỉ có đờn, về sau này mới xuất hiện thêm hình thức
ca dần dần gọi thành đờn ca.
Đờn ca tài tử có thể hiểu
theo nghĩa: Tài tử là tài năng, những bậc thầy tham gia trình diễn. Cũng có một
số ý kiến cho rằng tài tử có nghĩa là nghiệp dư, nghĩa là hoạt động âm nhạc này
chỉ để cho vui nhưng trên thực tế để trở thành một nghệ sĩ đờn ca thực sự, các
nghệ sĩ đờn ca phải có một quá trình học hỏi khá dài và nghiêm túc.
Lịch sử hình thành
Đờn ca tài tử Nam Bộ hình
thành vào cuối thế kỷ 19 khi Các nhạc sư, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong
trào Cần Vương vào Nam đã đem theo truyền thống ca Huế vào vùng Nam Bộ. Trên đường
đi, các nhạc sư dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó tiếng đờn
cùng với giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng. Khi vào đến miền Nam
thì tiếng đờn miền Trung đã thay đổi tiếp tục, một số bài bản tuy cùng tên
nhưng nét nhạc đã khác xa so với ban đầu.
Bản chất phóng khoáng của
con người và nếp sống tại miền Nam khiến cho các bài bản không y khuôn bản gốc.
Người đàn, người ca cũng không muốn giữ nguyên như thầy đã dạy mà luôn có đôi
nét thêm thắt, thay đổi, tô điểm, khiến những bài bản đậm đà thấm thía hơn. Mặt
khác do lòng luôn luôn nhớ thương cội nguồn nên các điệu của đờn ca tài tử đều
phảng phất nỗi buồn và được người mộ điệu ưa thích.
Những năm cuối thế kỷ 19, đờn
ca còn giữ nguyên gốc chủ yếu được phục vụ tại các lễ hội địa phương ở Nam Bộ.
Các ban nhạc lễ lúc đó thường gồm các nhạc cụ gõ và dây kéo vĩ. Do nhu cầu phục
vụ cho các tang lễ về khuya, nhạc lễ cần phải chơi với âm lượng nhỏ theo yêu cầu
của gia chủ. Từ đó các ban nhạc lễ được tổ chức một cách gọn nhẹ hơn và bắt đầu
dùng song lang thay cho trống để giữ tiết tấu, cũng như bỏ bớt nhạc cụ dây kéo
để chỉ còn đàn cò. Những ban nhạc nhỏ gọn như vậy được gọi là nhóm đờn cây. Kể
từ năm 1885 các nhóm đờn cây này được gọi là ban đờn ca tài tử để có thể phân
biệt với các ban nhạc lễ và nhạc hát bội đang thịnh hành song song.
Đến đầu thế kỷ 20, đờn ca
tài tử trở thành một phong trào ca nhạc phổ thông tại miền Nam, nhất là tại các
địa phương như Bạc Liêu, Vĩnh Long, Long An, Mỹ Tho, Sài Gòn…
Cách biểu diễn, nghệ thuật
biểu diễn đờn ca tài tử
Bởi là một dòng nhạc có xuất
phát từ cung đình do đó cách biểu diễn đờn ca tài tử khá đặc biệt và đòi hỏi
người nghệ sĩ phải có tài năng, trình độ thực sự. Tại Việt Nam có 3 loại hình
nghệ thuật có xuất xứ từ nhạc cung đình đó là Nhã nhạc Huế, Ca trù và Đờn ca
tài tử. Nhưng khác với 2 loại hình Nhã nhạc và Ca trù người hát chính thường là
nữ, trong nghệ thuật đờn ca thì nam và nữ có vai trò bình đẳng, người đàn và
người hát có vị trí tương đương nhau.
Dàn nhạc của đờn ca tài tử
có nhiều nhạc cụ hơn dàn nhạc của Ca trù và ca Huế. Trước đây, dàn nhạc đờn ca
tài tử sử dụng các loại nhạc cụ gồm đàn kim, đàn cò, đàn tranh song lang, ống
tiêu. Khoảng từ năm 1920, lục huyền cầm (đàn ghi ta), hạ uy cầm và violon cũng
được thêm vào trong dàn nhạc.
Cũng bởi lý do xuất phát từ
cung đình do đó đờn ca xưa kia chủ yếu được biểu diễn trong các tư gia hoặc phục
vụ 1 số ít khán giả. Tuy nhiên theo thời gian và sức hấp dẫn của dòng nhạc này
mà ngày nay đờn ca đã được sân khấu hóa để biểu diễn phục vụ công chúng.
Khi biểu diễn nhạc tài tử,
các nghệ sĩ thường chú trọng đến sự kết hợp của nhạc cụ có âm sắc khác nhau, ít
thấy có sự kết hợp giữa các nhạc cụ cùng âm sắc. Thường thấy nhất là song tấu
đàn kim và đàn tranh, là sự kết hợp giữa tiếng tơ và tiếng sắt, mà theo các
chuyên gia thì được gọi là sắt cầm hảo hiệp. Cũng có khi là tam tấu đàn kim –
tranh – cò, kim – tranh – độc huyền, tranh – cò – độc huyền mà giới
chuyên gia gọi là tam chi liên hoàn pháp. Nếu một ban nhạc tài tử có 3 nhạc
công và 1 ca sĩ thì được gọi là ban tứ tuyệt, nếu có 4 nhạc công và 1 ca sĩ thì
được gọi là ban ngũ nguyệt.
Vì đờn ca tài tử đặc biệt ở
chỗ thường được biểu diễn ngẫu hứng, dựa trên bản nhạc gốc truyền thống, người
hát cải biên đi theo cách riêng của mình. Sự khác biệt này khiến cho người nghe
luôn cảm thấy mới lạ dù nghe cùng một bài..
Phần hay nhất trong tài tử
là ở phần rao của người đàn và nói lối của người ca. Người đàn dùng rao – người
ca dùng lối nói – để lên dây đàn và gợi cảm hứng cho bạn diễn, tạo không khí
cho dàn tấu. Ngoài ra khi trình diễn các nghệ sĩ có thể dùng tiếng đàn của mình
để “đối đáp” hoặc “thách thức” với người đồng diễn. Đây cũng là điểm tạo sự mới
lạ, hấp dẫn, cuốn hút của loại hình nghệ thuật dân tộc này.
Các bài bản của nghệ thuật đờn
ca
Đờn ca tài tử có một số lượng
bài bản rất phong phú và đa dạng. Ngoài việc sử dụng một số bài bản trong nhạc
lễ, còn có các bài từ ca Huế, dân ca miền Trung, miền Nam, và một số lượng lớn
do các nghệ nhân bậc thầy sáng tác và cải biên.
Do đặc tính ngôn ngữ và sinh
hoạt riêng của người miền Nam mà nhạc miền Trung được phát triển đặc biệt trong
nhạc tài tử. Một số bài nổi tiếng được nhiều người biết đến như: bài Bình Đán của
ca Huế được phát triển thành Bình Đán Văn trong nhạc tài tử, Lưu Thủy của Huế
được cải biên thành Lưu Thủy Đoàn, Kim Tiền Huế thành Kim Tiền Bản…
Về bài bản của đờn ca tài tử
thì có nhiều nhưng đa số các bậc thầy của đờn ca và các chuyên gia cho rằng đờn
ca có 20 bài tổ được gọi là “nhị thập huyền tổ bản” thuộc hai điệu Bắc và điệu
Nam. Trong 20 bản tổ có 7 bản lễ, 6 bản Bắc, 3 bản Nam và 4 bản Oán. Tương truyền
rằng các bài bản này do ông bà Ba Đợi đúc kết và được xem như là những bài căn
bản cho những người bắt đầu bước vào nghệ thuật đờn ca tài tử. Từ năm 1945, ông
Nguyễn Văn Thịnh thường được gọi là ông Giáo Thịnh – một nhạc sư có uy tín tại
Sài Gòn đã đúc kết và phổ biến một hệ thống mới gọi là 72 bài bản cổ nhạc miền
Nam được gọi là thất thập nhị huyền công. Theo đó một nghệ nhân sẽ được coi là
bậc thầy nếu biết hết 20 bài bản tổ và để đạt được mức cao hơn nghệ nhân đó cần
biết hết 72 bài bản cổ miền Nam.
Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam
Bộ của Việt Nam được Unesco công nhận theo các tiêu chí: Đây là loại hình nghệ
thuật do cộng đồng 21 tỉnh thành miền Nam Việt Nam cùng nhau tạo ra. Đờn ca tài
tử là một phần bản sắc của người dân phía Nam và được trao truyền từ đời này
qua đời khác, được đảm bảo tính tiếp nối liên tục.
Tiếng Tơ Đồng (Kỳ 1) – Thời
kỳ hình thành âm nhạc tài tử
Tiếng Tơ Đồng (Kỳ 2) – Âm nhạc
tài tử nhạc lễ Nam Bộ
Tiếng Tơ Đồng (Kỳ 3) – Bản tổ
nhạc tài tử
Tiếng Tơ Đồng (Kỳ 5) – Âm nhạc
tài tử từ dân ca
Đờn Ca Tài Tử Miền Nam – Văn
Hóa Việt Nam
Cải Lương Hành Trình Nghệ
Thuật 1
Đàn ca tài tử miền Nam
Viện Âm nhạc - Vietnamese Institute for Musicology
Viện Âm nhạc - Vietnamese Institute for Musicology

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét