Dân ca dân nhạc Việt Nam - Lý xứ Huế
Miền Trung Việt Nam nằm ở phần
giữa lãnh thổ và là một trong ba vùng chính gồm Miền Bắc, Miền Trung và Miền
Nam của Việt Nam. Lịch sử Miền Trung được gọi bằng các tên khác nhau như Trung
Kỳ (thời thuộc Pháp), An Nam (theo cách người Pháp gọi), và Trung Phần. Danh xưng Trung Phần phát xuất từ việc vào năm 1949, Quốc trưởng
Quốc gia Việt Nam Bảo Đại cho thành lập cơ quan hành chính cấp Phần, với chức
năng tương đương cấp Bộ năm 1945. Về sau, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng thường
dùng danh xưng này cho đến tận khi sụp đổ vào năm 1975. Sau 1975 thì Trung Phần
được gọi là Trung Bộ, Bắc Phần được gọi là Bắc bộ, Nam Phần được gọi là Nam Bộ.
Phỏng đoán cương vực Chăm Pa
vào thế kỷ 10 - thời điểm rộng nhất.
Trung Bộ, ngoại trừ Thanh
Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, từng là nơi định cư của các tiểu vương quốc Chămpa
(bao gồm các quốc gia Hồ Tôn, Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành (Campanagara) và
Thuận Thành (Nagar Cam), độc lập được từ 192 và kết thúc vào 1832. Cương vực của
Chăm Pa lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn ở phía Bắc cho đến Bình
Thuận ở phía Nam và từ biển Đông cho đến tận miền núi phía Tây của nước Lào
ngày nay.) Vì vậy đặc điểm căn bản văn hoá vùng miền chủ yếu mang dấu tích của
văn hoá Chămpa. Nhiều di sản văn hoá hữu thể còn tồn tại từ thời đó đến nay như
tháp Chăm ở Huế, tháp Đôi Liễu, Cốc Thượng, Núi Rùa ở Quảng Nam, Đà Nẵng được
xem như những đại diện tiêu biểu cho các giai đoạn phát triển nghệ thuật và kiến
trúc đối với lịch sử của nền văn hoá Trung Bộ.
So sánh với 2 vùng Bắc Bộ và
Nam Bộ thì Trung Bộ thể hiện rõ nét là một vùng đệm mang tính trung gian. Nơi
đây phần nào đã chịu sự ảnh hưởng từ các yếu tố tự nhiên là núi non, biển, sông
ngòi, các đầm và đồng bằng, vào trong các thành tố văn hoá vùng. Thể hiện qua
các loại hình văn hóa, tập tục xã hội nói chung và cuộc sống trong các làng, xã
đồng bằng ven biển nói riêng. Các làng nghề nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công,
có hoạt động đan xen, hỗ trợ nhau. Điển hình là các ngày lễ cúng đình của làng
nghề nông nghiệp và đồng thời là lễ cúng cá ông của làng nghề đánh cá, phần do
vùng Trung Bộ gồm có những tiểu đồng bằng nhỏ hẹp, bám sát vào các chân núi ven
biển.
Tuy văn hóa Trung Bộ có những
đặc điểm riêng biệt với các vùng khác, nhưng xuất phát từ hệ thống địa lý liền
một dải, lại có mối quan hệ tương hỗ giữa các vùng miền trong lịch sử phát triển
nên vừa có tính đặc trưng lại vừa tương đồng với nền văn hoá chính thể.
Dưới đây mình có bài “Những
Thể Điệu Dân Ca Xứ Huế” của giáo sư Kiêm Thêm, và 9 clips tổng hợp một số các
bài “Lý” tiêu biểu của vùng đất thần kinh để các bạn cùng tham khảo và thưởng
thức.
Mời các bạn.
Túy Phượng
(Theo Wikipedia)
Những Thể Điệu
Dân Ca Xứ Huế
(GS Kiêm Thêm)
Âm nhạc Huế thường được phân
chia ra làm ba loại: nhạc cung đình dành cho những hội lễ trong cung
điện nhà vua, nhạc tôn giáo được trình diễn trong những tế lễ diễn xướng
đình, chùa, miếu vũ và nhạc dân gian (dân ca). Nguồn nhạc dân gian tại Huế
bao gồm những điệu hò, điệu lý, những bài vè, những bài hát chầu văn. Trong âm
hưởng và nội dung, dòng âm nhạc cổ điển Huế và dân ca Huế thường những những
quan hệ mật thiết với nhau; chính những thể điệu và nội dung dân ca cũng đã góp
phần không nhỏ vào sự hình thành và phát triển của nhạc cổ điển Huế.
Vùng đất Huế, Quảng Trị, Thừa
Thiên cũ là vùng đồng bằng chật hẹp, có nhiều sông ngòi, đầm phá; nơi đây chính
là chốn sản sinh hàng chục điệu hò hát, gợi lên những hương vị đặc sắc trong miền.
Hò hát thể hiện trong bất cứ trường hợp nào. trên cạn thì có hò xay lúa, hò giã
gạo, hò khoan, hò hụi, hò nện, hò giã vôi… trên sông, trên đầm phá thì có hò đẩy
nôốc, hò mái đẩy, hò mái nhì, hò đua ghe…Nội dung những câu hò thể hiện tình cảm,
động viên cổ vũ khích lệ, lại thường pha hài hước, trách móc, châm chọc.
Hò mái đẩy:
Hò mái đẩy là một trong những
điệu dân ca thịnh hành nhất cà cư dân vùng Thừa Thiên -Huế. Lọai nầy thường được
hò lên trong những khi thuyền chở nặng, phải vượt qua được những cơn sóng gió lớn,
qua thác, xuống ghềnh, những quảng đầm phá hiễm nghèo trong nghề đi sông hay đi
biển.
Do phải làm thêm chân sào lớn
và mạnh để có thể chống đẩy, ngoài ra, phải ra sức để đẩy mạnh tay chèo, cho
nên nhịp điệu của lối hò nầy phải mạnh mẽ, chắc nịch. Những khoản ngân cũng ngắn
hơn, lời lẽ cũng mạnh mẽ, hùng dũng.
Nội dung của thể điêu dân ca
nầy thường gồm có những câu châm chọc, chế riễu. Có khi chỉ trích, bắt bẻ nhau
từng lời, từng ý. Những câu thường hò như là:
– Mình anh cả chống lẫn
chèo, Không ai tát nước, đỡ nghèo cho anh.
Hay là:
– Hò lên, hai mái song song,
Phải cam, cam ngọt, phải bòng, bòng chua.
Những đoạn ngắt câu ngắn, mạnh,
như chát chúa trong lời hò.
Hò mái nhì:
Nếu hò mái đẩy, mạnh, khoẻ,
hùng bao nhiêu thì loại hò mái nhì khoan thai, tình điệu bấy nhiêu. Hò mái nhì
cũng là điệu hò nổi tiếng của đất thần kinh, vang vọng khắp bến nước sông
Hương, từ đồi Vọng Cảnh, đến Ngã Ba Sình, phá Tam Giang, vùng Cầu Hai, Nước Ngọt.
Hò mái nhì thường là điệu hà
tình tứ, lời thơ ngọt ngào, mặn mà. Nhịp điệu của lối hò mái nhì thường ngân vọng,
dàn trải rộng ra,chậm rãi, khoan thai, đưa theo mái chèo và chân đưa ra theo.
Người chèo lái xướng lên, thì người chèo mũi họa lại; nguời chèo mạn bên nầy xướng
thì người chèo mạn bên kia họa lại. Hơi đưa hơn ngân vang, rối cao vút lên, thì
chỉ có lối hò mái nhì ở Huế mới có được.
Cũng có thể so sáng với giọng
ngân của lối hò Đồng Tháp, nhưng giọng Huế thì êm dịu, đài trang hơn. Những nhà
ngữ học khi phân tách hò mái nhì thường ca ngợi lời văn vẻ, giọng trữ tình vốn
sẵn của hò mái nhì. “Hò mái nhì chỉ có những câu ân tình, hò hẹn, nhớ thương,
trách móc thở than, chứ không có những lời đố đá, châm chọc, hài hước…” (Lê văn
Hảo). Nếu so với những thể điệu dân ca khác, thì những điệu hò mái nhìtại Huế
thường được gói ghém những tình ý ngọt ngào, duyên dáng, dịu nhẹ hơn cả. Phải
chăng đây là nét đặc thì của tâm Huế.
Hò giã gạo:
Hò giã gạo rất thịnh hành
trong sinh hoạt nông thôn. Loại hò nầy dùng nhiều thể thơ dân tộc để đối đáp,
thường diễn ra chung quanh cối gạo nơi làng xóm. Tại Huế, trước khi tổ chức hội
lễ, cúng tế,cần nhiều gạo nếp, thì hò giã gạo tập trung nhiều trai gái trong
làng. Thậm chí những đoàn người thích hát từ những làng khác cũng hẹn nhau đến
tham dự giã gạo. Mỗi cối gạo thường chỉ từ ba đến bốn người, nam hay nữ, và nhiều
lúc có đến hàng ba bốn cối gạo, châu tuần quanh nhau, để có thể hát đối đáp nam
nữ. Nhìn chung, hò giã gạo được xem là loại sinh họat vừa lao động vừa hát hò.
Trình tự của một buổi hò giã
gạo được tổ chức như sau: – Mở đầu là những câu hò mời hò chào hỏi, giới thiệu,
đưa duyên. – Tiếp đến chuyển qua những câu hát ân tình để hò hẹn, mời mọc. – Có
khi dùng những câu hò đố, hò đâm bắt… như để thử thách tàinăng ứng đối của đôi
bên. – Cũng có thể là hò chuyên về một câu chuyện, nhân đó, thông qua nội dung,
chen vào những lời gửi gắm, hẹn hò.
Nội dung thường mượn là: Truyện
Kiều, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai, Lưu Bình Dương Lễ, Thoại Khanh Châu Tuấn, Tống
Trân Cúc Hoa. Cũng có thể kể tâm sự của kẻ tôi tớ, làm hầu, ăn xin, lính mộ,
đánh bạc… Trong những câu chuyện, hai bên dùng lý để bắt bẻ nhau. Tuy nhiên vẫnphải
dùng câu hò, điệu thơ ăn khớp, bóng bẩy. – Kết thúc: là những câu giã từ, hẹn lần
sau, bày tỏ tâm tình xa cách.
Trong sinh họat, hò giã gạo
thường tạo không khí hào hứng, rộn ràng hơn cả. Hò giã gạo mang tính chất tập
thể. Người tham dự hòphải được rèn luyện để đối đáp. Phải biết cách dùng chữ
khôn ngoan, khôn khéo, tinh vi để tấn công.
Hò chuyên nghiệp: Trong
nhiều làng có những tay hò chuyên nghiệp. Chẳng hạn như trường hợp những tay hò
kiệt chúng kiểu “ông Thiềm, bà Biên”. Hò giã gạo có lớp vế kể, vế sô,lớp vế trống;
cũng như loại hò mái nhì, có hò cái và hò con trong trường hợp có nhiều người
giả gạo. Trong hò giả gạo thường có từng cặp trai gái được xếp đặt kề bên nhau
và cũng được chọn lựa từ trước như cuộc hẹn hò, trong việc đối đáp.
Hai bên phải thật khéo léo
trong những câu đáp và trả lời, vì giã gạo thường có nhịp điệu nhanh và những
câu hỏi vấn thì nhiều khi khó đáp. Ở Huế và Thừa Thiên, sau khi mùa màng gặt
xong và thời tiết tốt thì trai gái làng nầy đua nhau sang làng kia để hát giã gạo.
Không phải chỉ một cối gạo mà có khi đến ba bốn cối gạo. Từ những chuyện hò giã
gạo đối đáp, đi đến chuyện tình duyên là thường tình.
Hò nện
Khi họ làm việc thì có những
loại hò hụi tức là hònện của những người thợ đắp nền nhà, dùng những loại vồ
khác nhau để đập đất, cũng để đánh nhịp:
Hụ là khoan là hụ là khoan –
Là hụ là khoan, là hụ là khoan – Chim khôn Hụ là khoan – Đậu nóc nhà quan Hụ là
khoan -Trai khôn tìm vợ – Hụ là khoan – Gái ngoan tìm chồng – Hụ là khoan – Ở
chốn ba quân… – Ô khoan là khoàn, hù là khoan…
Thông thường thì dùng loại
thơ lục bát được ngắt chia ra từng đoạn hai phần, xem kẻ vào là những đoạn “hụ
là khoan”. Loại hù nện trong trường hợp diễn tả nầy (theo tiếng chày vồ đập mạnh)
rất mạnh mẽ, đồng thời cũng rất nhanh, thường do những người đàn ông vừa đập mạnh
vồ vừa ca hát.
Hò thai:
Thai nghĩa là thai đố. Những
người sáng tác ra những câu thai thường là nho sĩ, có học thức vững và tham hiểu
nhiều, nhất là trong tục ngữ, ca dao. Có những câu thai vốn có từ trước; nhưng
cũng có nhiều câu mới sáng tác ra cho nên rất khó trả lời. Hò thai không phải
theo nhịp điệu, mà chỉ để dùng trong những khi nhàn hứng. Cũng có những người
dùng loại bài thai để bày ra lối chơi cờ bạc. Hò thai trong những trường hợp nầy
có ý nghĩa tương tự như hát bài chòi (Bình Định). Bài Thai về “tên của những
con bài” trong khi chơi bài ghế hay bài chòi như sau:
Chơi Xuân gặp lúc e hè, “Ông
ầm”, “Thái tử” đưa “xe” qua đò. “Lục chuôm” làm bạn “cửu chùa” Bán con “lá liễu”
mà mua “nhất trò”. Nghiêng tai nghe nhặt “sưa” hò, Nâng niu “bạch tuyết”, nỏ lo
chi “nghèo”. Tai “voi”, “đỏ mỏ” chạt theo, “Cột nọc” trăng gió, thả lèo “tám
giây”. Đêm khuya “tứ cẳng” tới đây, Bên nớ “hai trạng” bên nầy “trạng ba” Sự
tình “gà” mới gáy ra, “Gối” đầu trên “rốn”, “ngủ” mà thiu thiu. “bát bồng”, “nhị
đấu” mĩ miều, Thợ cưa “một mắt” đánh liều chơi tiên. Bên nớ đã có “tám tiền”,
Bên ni “tám mảng” đánh liền “thắt” lui.
Hò ô và hò đạp nước:
Loại nầy thường được dùng
trong khi đạp nước vào ruộng. Trong trường hợp nầy thì người đạp nước không phải
theo một nhịp điệu nào cả, khi khoẻ thì đạp nhanh, khi mỏi mệt thì đạp chậm
hơn. Đây cũng là loại thơ lục bát được chia làm hai phần: phần dành cho hò cái
và phần dành cho hò con. Tiếng hát thường là chậm và dùng nhiều tiếng đệm
ơ..a..êhay ô..ồ..hợ.
Hò nện vôi:
Hò nện vôi là một loại hò nện
nhưng mang tính chất chắc khoẻ hơn, tiết tấu lại dồn dập, khẩn trương. Khi đâm
vôi, mỗi cối có khoảng 4 hay 5 người. Một người “thợ hò” đứng bên ngoài, tay cầm
đôi sênh, đánh nhịp cho đều với tiếng chày giã vôi. Người thợ hò hô lên một câu
và đánh môt tiếng sênh, thì tất cả mọi người đứng bên các cối đều giơ chày lên,
thợ hò đánh tiếp tiếng sênh thứ 2, thì mọi người đều xô “là hô hồ khoan” và
cùng nện chày đồng loạt xuống cối vôi.
Thợ hò lại tiếp và đánh sênh
tiếp lần thứ 2 thì mọi người đều giơ chày lên… cứ như thế mãi. Nhịp điệu mỗi
lúc một khẩn trương thêm cho đến khi nào vôi đã được quánh lại thì mới dừng nghỉ.
Thợ hò xướng lên:
– Ai mà (nì), Tất cả đều xô:
– là hô hồ khoan – Lợp miếu thiếu tranh, – Là hô hồ khoan .- Lợp đình (mà) thiếu
ngói (nì – Là hô hồ khoan – Xây thành thiếu vôi – Là hô hồ khoan.
Hò nàng Vung:
Hò nàng Vung được dựa theo một
thiên tình sử nổi tiếng tại Huế: Chuyện O Hiên, trò Siêu. Trò Siêu người làng
Thanh Lương, huyện Quảng Điền (Thừa Thiên – Huế) mồ côi cha từ thuở nhỏ, được
người mẹ tảo tần nuôi dưỡng, cho ăn học để nên người có địa vị trong xã hội.
Trò Siêu thành công trong giai đoạn đầu của việc dùi mài kinh sử; nhưng cũng
trong khi đó, trò Siêu làm quen và yêu thương một cô gái làng Phú Bài, huyện Hương
Thủy tên là cô Hiên.
Nàng là con một gia đình
giàu có, địa vị. Siêu được cô Hiên đáp tình lại, tuy nhiên gia đình nàng lại
khinh Siêu nghèo khó, chưa đạt đến đường công danh họan lộ, nên cương quyết cắt
đứt mối tình, và đem nàng gã cho một nơi môn đang, hộ đối.
Siêu và Hiên tìm cách để vượt
qua khó khăn, bèn tìm kế. Chàng về thưa với mẹ mình, được chính thức hoá mối
tình, bằng cách đem trầu rượu sang nhà song thân cô Hiên để xin làm lễ hỏi. Cha
mẹ Hiên thấy mẹ trò Siêu sang, đoán biết được mọi chuyện, xua đàn chó dữ của
mình ra cắn. bà mẹ Siêu què chân. thất vọng và xấu hổ, cam tội bất hiếu, trò
Siêu đã tìm nơi vắng vẻ thắt cổ chết.
Nàng Siêu nghe chuyện đau đớn
vô cùng, tìm đến gặp xác người yêu, chính nơi mà họ thường hò hẹn, rồi thắt cổ
chết theo chàng.
Chuyện O Hiên, trò Siêu trở
thành đề tài sáng tác của nhiều nghệ nhân hò hát. Trong các điêu hò nầy, trình
tự và nội dung tương ứng trong từng đoạn của chuyện kể. Nổi tiếng nhất là “hò
nàng Vung” (cô Hiên).
Trên chiếu hò nàng Vung, nữ
nghệ nhân đóng vai nàng Vung, đồng thời cũng là O Hiên. Còn vai trò Siêu thì do
những nam thanh niên giỏi hát xướng trong vùng dự vào cuộc hò đảm nhận.
Diễn viên nam vai trò Siêu cất
tiếng hát:
Tại vì: thầy mẹ bên em phụ
khó, tham sang,” Mẹ của anh không vay lúa, nỏ (chẳng) tạm vàng,” Hô vàng, hô vện,
hô đốm, hô khoang…” Một đàn chó dữ cắn mẹ anh què!” Bận nầy hổ thẹn với thế
gian!” Anh đi tự vẫn, bỏ nghĩa tam cang không đền!”
Diễn viên nữ trong vai O
Hiên đáp lại như sau:
-“Xin chàng hãy dằn lòng tự
ái,” Thiếp dang tay níu lại, khoan, khoan!” Chàng đưa ngực thiếp vuốt, cho hạ
chín lá gan,” Nhất mẫu, nhất tử, chàng đòi tự tử, bỏ mẫu từ ai nuôi?”
Diễn viên nam nhân đó tha
thiết hơn:
“Anh mong Hiên, thấu tình, cạn
lẽ,” Sống dương trần, anh không mất lòng đứa trẻ,” Lỡ thác rồi, em có nhớ:”
Tình chồng, nghĩa vợ, thì hãy nuôi lấy mẹ già thay anh!
Khi hình ảnh của trò Siêu
ngã sấp xuống, thì O Hiên đáp lại:
-“Hỡi anh ơi!” Chẳng thà ta
thác có đôi,” Không thà anh thác, em ngồi chịu tang?” Đây sơi dây mây, xin vái
Thiên Hoàng,” Cho tôi theo kịp gót chàng thủy chung…”
Chuyện tình O Hiên, trò Siêu
đến đây là trọn vẹn phần diễn xướng.
Ngay khi đó, nàng Vung chuyển
sang vai khác, để hò hát nỗi lòng uẩn khúc của mình. Về phần những người tham dự
bên ngoài, cũng đã thâm nhập vào cuộc diện của hai người, hát khẩn nài hồn linh
thiêng của Nàng Vung như sau:
“Sai nàng Vung:” Nàng Vung:
đánh trống lung tung,” Ba hồn, chín vía nàng Vung hãy -về!”- Dẫu mà đi chợ xa
quê,”- Cũng xin nàng về mà nhập vô Vung.”- Vung đất khác thể Vung đồng,”- Cơm
cha, áo mẹ, xây Vung cho tròn.” -Một mẹ sinh đặng ba con,”- Lưng eo, vú xách,
hãy còn như xưa.”- Bà Ân, bà Quán cây dừa,” Ăn no, tắm mát, ngồi chờ nàng
Vung.”- Nàng Vung! Ơi hỡi Nàng Vung!”- Có thương, có nhớ, thì vùng mà lên!” Lên
trời, che đám trăng lu,” -Che lọng, che dù, chớ để nghênh ngang.”- Mặt trời đã
xế mái trang,”- Hồn xiêu, phách tán, Nàng Vung cũng về…”
Hò mái xấp:
Loại nầy dùng cho những người
chèo thuyền, cũng như hò mái nhì và hò mái đẩy. Mái đẩy có nghĩa là dùng chèo
lướt mạnh để đẩy cho thuyền đi tới nhanh. Hò mái xấp cũng có ý nghĩa tương tự,
vì sấp hay xấp có nghĩa là quay ngược chèo để đẩy tới cho thật nhanh.
Hò đưa linh Quảng Bình:
Đưa linh là tiễn đưa linh hồn
của người quá cố qua bên kia thế giới. Những thể điệu về đưa linh thường là giọng
bi thương, não nùng, tha thiết, gây cãm xúc thương nhớ.
Thể điệu: Hoà đưa linh
thường sáng tác theo điệu ngũ ngộn trong những đoạn tự sự và lục bát trong những
đoạn tình cảm. Câu cuối của khổ thơ được lặp đi, lặp lại hai ba lần và mỗi khổ
thơ là một câu hò trình bày một nội dung đầy đủ.
Nội dung: Trong nội
dung của một buổi hò đưa linh có thể nhiều câu hỏi, tức là nhiều khổ thơ đi liền
nhau làm thành một chương đoạn ghép lại với nhau, tuy nhiên toàn thể làn điệu của
một bài đưa linh thì không thay đổi.
Thành thử, trong khi đưa đám
tang mà có hò đưa linh (trong buổi tế hay khi lên đường) mà khi nghe điệu hò
đưa linh của những đoàn hát chuyên ngành, thì những người tham dự tiễn đưa sẽ
phải liên tục cảm hoài, buồn thương không dứt.
Hò đưa linh - Chèo cạn ở Thừa
Thiên
Khác với hò đua linh Quảng
Bình, đây là một hệ thống diễn xướng, gồm các điệu múa, hường, ngâm hát, hò,
lý, liên tiếp nhau. Cũng như trên thể hát nầy để trình bày trước quan tài, khi
đưa ngườiquá cố đến mộ và khi sắp hạ huyệt.
Theo ý nghĩa chung, thì đây
là cách tiễn đưa linh hồn của người chết về cõi âm với tất cả niềm hoài cảm của
những kẻ thân thương.
Thể điệu: Trong một buổi
hò đưa linh – chèo cạn thường gồm các hình thức: hát nam linh, hường (một kiểu
nói lối nhưng mạnh hơn,dài hơn và chặt chẻ bi thương hơn), hát bắt bài (tùy cảm
hứng nói lái đưa linh, lý đưa linh và hát lui thuyền (gồm có: điệu lý ta lý và
điệu hò chèo thuyền).
Phần kết thúc, thông thường là hò nện và đọc vè.
Phần kết thúc, thông thường là hò nện và đọc vè.
Nhạc điệu: Hò đưa linh
của vùng Thừa Thiên và Quảng Trị được hò khi thì theo ngũ cung đúng, khi thì hò
theo ngũ cung hơi namgiọng ai.
Nội dung: bất cứ một
bài đưa linh – cửa cạn nào cũng phải được thể hiện tâm trạng đau thương thống
thiết của người còn sống đối với người đã khuất. Ngoài ra, phải có những chi tiết
thích hợp cho hoàn cảnh gia đình của họ trong giai đoạn vĩnh biệt nầy.
Tổ chức: trong một buổi
hò đưa linh tại Huế, dẫn đầu của đoàn là kép chủ diễn, thường mang y phục như một
kép diễn tuồng; theo sau là 12 chèo con, y phục giống nhau như binh phục lính
thú đời xưa; sau cùng là người lái, chỉ khoác y phục bình thường.
Chèo cạn: tại làng
Tùng, xã Vĩnh Giang, phủ Vĩnh Linh, tỉnh QuảngTrị có đội chèo cạn chuyên nghề.
Đội nầy gồm có: cai tùy, caitấu, một dàn bát âm gồm sáo, nhị nguyệt, kèn sô-na
và một tốp 12 thành niên trai khoẻ mạnh.Lễ hò đưa linh tại đây thường tổ chức
ngay trước quan tài và khi đưa quan tài đến huyệt.
Lý:
Trong những thể dân ca Huế,
điệu lý thường được nói bên cạnh những điệu hò và điệu vè. Điệu nầy có phải là
lối ca nhạc dân gian hay mang tính chất bác học. điều nầy, cho đến nay vẫn còn
trong vòng tranh luận. Thậm chí một số lại nhấn mạnh đến tính “hai mang”, vừa
dân gian, vừa bác học.
Theo nhạc sĩ Phạm Duy, thì
“Người miền Trung gọi lý là bài hát quê mùa (lý = làng), so với ca Huế vốn là sản
phẩm của giới phong lưu (hoàng phái, nho sĩ, quan lại).
Ngoài lý giao duyên là thơ bảy
chữ hát với câu đệm, câu láy, tất cả những dân ca ở hai miền Trung và Nam mà
không phải là hò thì được gọi là lý” (Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam- 1972-
trang 81). Những danh xưng về loại lý trong một số bài cũng mang tính chất bác
học: lý Giang Nam, lý Hoài Nam, lý Tiểu Khúc, lý Tử Vi, lý Mã Ô, lý Dạ khúc, lý
Quỳnh Tương, lý Vọng Phu…
Lại có ý kiến khác như tác
giả Văn Lang trong “Ca Huế và ca Kịch Huế” – 1993 – đặt vấn đề: Có người đặt
câu hỏi: Lý là gì? Có phải là những bài ca được sáng tác dưới triều Lý? Không
phải thế, “lý” ở đây là “ca lý”. Lý có nghĩa là “hát”.
Trước kia đã có câu nói
“Chiêm Thành ca lý đa ai oán”. Như vậy, lý có nghĩa là hát, một loại hát ngắn gọn.
Từ trước đến nay, một số nhà nghiên cứu cho rằng: Lý là dân ca (lý, hò, vè dân
ca vùng Bình Trị Thiên).
Nhưng quan niệm đó đã không
vững chắc. không riêng gì Huế, tại miền Nam điệu lý cũng thịnh hành và đa dạng: lý
Con mèo, lý Con cua, lý Cây chuối, lý Dừa tơ, lý Mù u, lý Bánh ít, lý Bánh
canh, lý Nàng dâu, lý Chú Chệt… tất cả đều là dân ca thuần túy. Thành thử
không thể nhầm lẫn giữa các điệu lý tại Huế và điệu lý của những địa phương
khác được. Những nhà nghiên cứu khi trình bày tính chất dân ca trong thể lý thường
nêu ra những đặc tính như sau:
(a) Trước hết, hệ thống các
điệu lý được phổ nhạc, theo những lờithơ lục bát. Thành thử, thể điệu nầy gần gủi
với dân ca. Chứng cớlà một số nhạc phẩm hiện nay được sáng tác theo âm điệu của
dân ca nầy).
(b) Trong thể lý, bài bản
thường ngắn gọn. Mỗi điệu lý chỉ có 2 vế: vế trống và vế mái. Vế trống có âm
cao, vế mái có âm trung và âm thấp.
Những đọan lý thường nối tiếp
nhau, có khi chồng chéo nhau. Một số tác giả khác thì cho rằng: lý từ địa hạt của
lối hát giao duyên, hát chơi nhảy, rồi từ đó nhảy vào ca Huế. (Theo Phạm Duy –
Sđd)
Thông thường, trong lúc hát
chơi, bất cứ câu ca dao nào được ưa thích cũng được đưa vào thể lý một cách dễ
dàng. Khi so sánh hò và lý, có tác giả so sánh: nếu hò là dân ca lao động thì
lý lại là nhũng khúc dùng trong lúc vui chơi, gặp gỡ giữa những đôi trai gái.
Lý thường dùng để giải bày tâm sự, diễn tả nỗi niềm, trạng thái tâm hồn thay đổi
của mình.
Khác với hò, là những giai
điệu còn mang nhiều tính chất tự do, phóng khoáng, thì thể lý là những giai điệu
khá hoàn chỉnh, cố định. Mỗi điệu lý thường mang tính chất riêng biệt, khi thì
mang vẻ tình tứ, tha thiết, có khi lại buồng thảm não nùng. Cũng có khi nói lên
niềm phấn khởi vui tươi, nhưng cũng có thể nói lên khía cạnh tâm tư của con người.
Như đã trình bày ở trên, lý
nguyên nghĩa là quê mùa, để đối lại với lối hát cung đình giành cho vua chúa
thưởng thức tại Duyệt Thị Đường trong Hoàng Thành. Bài lý lúc đầu chỉ là những
câu thơ lục bát (2 câu) và bất cứ câu thơ nào cũng có thể chuyển sang điệu lý cả.
Nhan đề của bài lý rút ra một số chữ trong bài ca dao đó.
Lý Con Sáo:
Lý Con Sáo là điệu lý thịnh
hành nhất của xứ Huế. Nhiều tác giả nhắc đến lý Con Sáo tại Nam Trung Phần và
Nam Phần, nhưng lại xemlà những điệu lý vay mượn từ lý Con Sáo ở Huế, với ít
nhiều biến thể cho thích hợp với làn điệu của địa phương.
Bài lý Con Sáo là một trong
những trường hợp điển hình của sự biến thể của từng vùng khác nhau. Biến thể
đây được hiểu theo hai nghĩa: – Cách ngắt câu – Cách thêm những tiếng đệm.
Nguyên thủy đây là bài ca
dao thượng lục hạ bát:
Ai đem con sáo sang sông,
Cho nên con sáo sổ lồng bay xa.
Những người dân vùng Thừa
Thiên và kinh thành Huế thì hát như sau:
Ai đem con sáo sang sông, Để
cho, (để cho) con sáo, (Ơi người ơi), Sổ lồng, (ơi người ơi) Bay xa…
Khi bài lý nầy được đưa vào
vùng Quảng Nam (và Quảng Ngãi) thì lại không còn giữ lại cách ngắt câu và những
tiếng đệm như giọng hát ở vùng Huế và tỉnh Thừa Thiên nữa:
Ai đem con sáo (tình bạn)
sang sông (Ứ ư, ư ư, làm răng?) Để cho, (để cho) con sáo (Ứ ư, ư ư), Để cho (để
cho) con sáo sổ lồng bay xa (Ứ ư, ư ư làm răng?) Để cho, (để cho) con sáo sổ lồng
bay xa…
Một khi bài lý Con Sáo được
đưa vào Nam và chuyển theo thể hát thuần túy của địa phương thì lại được biến
thể điệu như sau đây:
Ai đem con sáo, (Ai sông rồi
lại) sang sông? (Kià kia, kía kia, kìa kia) Để cho (nọ) con sáo (ơi) (sô) sổ lồng,
nó bay…
Những lối thêm những tiếng dặm
nầy không theo một quy luật nhất định. Miễn là cho thuận tai và mọi người công
nhận, thì tự nhiên sẽ được phổ biến. Đây là nguyên tắc “thuận lời chứ không thuận
lý” mà nhiều loại dân ca đã vâng theo.
Những nhà phân tách dân ca
thường gặp khó khăn trong phân loại và tiêu chuẩn hoá, để rồi phải rút ra từng
kết luận riêng rẻ của từng bài mà thôi… Lý Con sáo có nhiều thể hiệu riêng: lý
Hoài Xuân, lý Tình tang, lý Giang Nam, lý Thầy Tu…
Lý Hoài Xuân
Một trong những thể điệu của
lý Con sáo là lý Hoài Xuân: Trong nguyên nghĩa lý Hoài Xuân là thơ tưởng nhớ tuổi
xuân xanh của những người đã luống tuổi; nhưng trong thể lý của đất Huế, thì
bài lý nầy dùng để khuyên học trò:
Ơi trò đi học nhà trường, Phải
chăm (phải chăm) mà bước, (Ơi trò ơi), Kẻo đường (Ơi trò ơi) Còn xa…
Dần dà về sau thì những bài
thơ lục bát được dùng trong loại lý đã gia tăng nhiều, nhưng vẫn giữ được mức độ
cân bằng của Lục bát đơn thuần.
Bài lý Mười Thương (còn
gọi tên là lý Tình Tang) chứng minh điều đó:
Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương, hai thương, ăn nói, Ô tang, ố tang, tình tang, Mặn mà, duyên, có
duyên, Ô tang, ố tang, tình tang, Mặn mà, duyên có duyên… Ba thương…
Cứ như thế trình bày cho hết
mười thương.
Lý Tình Tang:
Thể điệu lý Con sáo khác là
lý Hoài Xuân. Nếu trong bài lý Con Sáo tại vùng Huế và Thừa Thiên có thêm những
câu dặm theo “Tình, Tình Tang” thì không còn tên như cũ, mà lại đổi thành là lý
Tình Tang. Điều nầy cho thấy rõ là những bài lý đã dung hợp được nhiều thể điệu
khác nhau trong ca dao, đồng dao, phong dao Việt Nam và như vậy dễ dàng làm
giàu cho câu ca, điệu hát.
Mặt khác, cho ta thấy rõ là
ngay trong văn chương bình dân đã ẩn tàng sẵn những âm thanh rồi. Nội dung của
bài lý chỉ gồm hai câu đơn giản,cộng thêm những tiếng dặm cho nên chỉ nói lên
được một bài tư tưởng, tình cảm đơn thuần. Nếu muốn diễn tả sâu rộng hơn thì lại
dùng các thể hát chèo, quan họ, ả đào, trống quân. Thể lý là giai đoạn đầu của
những thể nhạc khác trong dân ca.
Lý Giang nam:
Thể điệu thứ ba của lý Con
sáo là lý Giang Nam. Đây là một trong những điệu lý ở Huế có cả một hệ thống tiếng
đệm lót, đệm nghĩa tiếng đưa hơi láy luyến phong phú.
Nhịp điệu của thể nầy thường
khoan thai, chậm rãi, dập dìu. Giai điệu cũng khá uyển chuyển, êm nhẹ, lên bổng,
xuống trầm, khá uyển chuyển. Khi đến phần cuối cùng của lý Giang Nam thì thường
có những âm giai vang vọng, lời nhạc nói đến niềm chia ly luyến tiếc.
Nhìn chung, lý Giang Nam chứa
chan nhiều tình cảm, đam mê, say đắm. Trong phân tách, loại lý nầy gần với những
bản ca nhạc Huế cổ điển thuộc điệu nam, hơi ai.
Về cấu trúc âm thanh rất uyển
chuyển, làm đảo lộn ngữ âm bình thường, biến những từ không dấu thành có dấu sắc
hay dấu huyền.Cứ phân tách một đoạn lý Giang Nam sau đây thì rõ:
Ai đem con sáo – ư ừ ứ,-
sàng sang sáng sang sàng sồng, sáo sang sồng, tình bạn sàng sồng- ư ư ừ – tình
bạn sàng sồng- ứ ư ừ.- Để cho, để cho, còn sáo,- ừ ư,- sồ sổ sổ sổ sổ sồ lồng,
sáo sổ lồng, tình bạn, xa – ư ừ,- tình bạn bày xa – ư ừ-.
Lý Thầy Tu:
Thể điệu thứ tư của lý Con
Sáo là lý Thầy Tu. Loại lý nầy có nhịp điệu chậm vừa, được đệm bằng nhịp mõ.
Đây là điệu hát dân gian có mang âm hưởng của điệu tán tụng ở chùa chiền; hơi
nhạc gần với các bài bản của nhạc Huế, thuộc điệu “nam âm thiền”.
Những đoạn hát ngắn, lại được
đệm thêm những tiếng lót như “a li”, những tiếng đưa hơi như “ứ ừ ư” kéo dài
ra, tạo một nét buồn sâu sắc:
Ai đem con sáo (tình bạn)
sang sông;- a li, sông sang sông,- Nên chi (nên chi) con sáo (ừ hừ ư) – Nên chi
(nên chi) con sáo – sổ lồng bay xa (a lai) – xa bay xa…
Lý Giao Duyên:
Lý giao duyên tại Huế được
trình bày qua thể điệu như sau đây:
Gặp nhau đây, mới đầu trăng
gió, Hỏi một lời: tên, họ là chi? Hỡi nàng, nàng ơi!Hỏi một lời, tên, họ là
chi?
Trong trường hợp người con
gái muốn đi vào những liên hệ tình cảm (trong đối đáp mà thôi) thì sẽ trả lời
tương tự như sau đây:
Bạch Lai thơ, quê nơi Trung
lĩnh, Thung huyên mất rồi, muộn cảnh chồng con..
Thịnh hành nhất là loại lý
Giao Duyên hay lý Vọng Phu. Lý giao duyên thường được sáng tác rất sâu sắc và
do những nho sĩ hay những tàitử nổi tiếng đặt lời hát.
Lý Giao duyên có nhiều nội
dung khác nhau, về tình cảm, về thời tiết,về mây nước. Lý Giao duyên thường hát
trong những điệu Ca Thư Phòng. Chẳng hạn như bài lý Giao Duyên Mười hai Tháng
sau đây:
Đầu tháng Giêng, mãn thiên
xuân sắc,Ai nấy vui mừng, thiếp bắt mặt trông, – Qua tháng Hai, hoa nhà ướm nở,
Thiếp trông chàng, vừa trở gió đông. – Qua tháng Ba, trăm hoa cảnh phát, Thiếp
trông chàng, bát ngát niềm tây. – Qua tháng Tư, mùi hương phảng phất, Thiếp
trông chàng, hạ bất hồng liên. – Qua tháng Năm, ve sầu kêu oán, Thiếp trông
chàng, như đại hạn trông mưa, – Tháng Sáu trông già hoè im mát, Thiếp trông
chàng: phấn nhạt, hương phai. -Tháng bảy trông: bắc cầu Ô, Thước, Qua Ngân Hà,
mới thấy được phu nhân. – Tháng Tám trông, gương trăng tròn vạnh, Thiếp trông
chàng, một gánh tương tư. – Tháng Chín trông gương trong đài trùng cửu, Ngày vắng,
đêm dài, ly cốc tửu giải khuây. – Tháng Mười: bông hoa lài nở nhụy, Ngắm cảnh
thêm buồn, thêm nhớ, thêm thương. Tiết Dương sanh: tùng mai xanh tốt, – Thiếp
trông chàng: tháng Mười Một vắng tin. – Tháng Mười hai: xuân lai bất tận, Tháng
hết, năm cùng, lận đận theo anh…
Đây là trường hợp đặc biệt của
một thể hò, vì chứa nhiều câu, diễn tả nhiều tâm sự, theo diễn biến của thời
gian và của tâm trạng của con người.
Thể điệu nầy không còn là
hát đối ca của nam nữ, mà lại dùng để trình bày tình cảm biến chuyển của con
người. Từ bài hò đơn giản đến bài hò dài, phức tạp, đa dạng, tự sự, quả là một
chuyển biến lớn trong các giai điệu nầy.
Lý cửa quyền:
Ðây cũng là một loại lý được
phổ biến nhất trong vùng Huế, Thừa Thiên. Cửa quyền là nhà cửa của quan lại
trong triều đình Huế. Người dân quê chỉ đề cập đến một số nét, gần như là dùng
thể hoạt kê để chỉ trích một phần nào những trò chơi ngông, phách lối, kiểu cọ
của lớp người nầy:
“Cửa quyền chạm bốn câu thai. Hai câu thơ phú hay bài ca ngâm”…
“Cửa quyền chạm bốn câu thai. Hai câu thơ phú hay bài ca ngâm”…
Trong điệu lý Cửa Quyền thịnh
hành ở miền Trung, nơi có triều đình Huế đóng đô, đã trở thành như sau:
Cửa quyền chạm bốn câu thai
– Hai câu (tình mà) thi phú, (A ớ a, a ớ a) – Hai bài (hai bài) thơ ngâm… – Cửa
quyền khắc những bài văn, Khen che (khen che) rất mực – (A ớ a, a ớ a) – Mặn nồng
(mặn nồng) với ai. Cửa quyền có những quan sai – Có đoàn (có đoàn) lính lệ (A ớ
a, a ớ a) – Ra oai (ra oai) cửa quyền…
Những bài hát như vậy cứ kéo
dài mãi, mà mỗi người có thể theo nhận định và phê phán của mình để tấn công Cửa
quyền. Có thể đây là tinh thần đối kháng của người dân nghèo khi nhìn vào cửa
quyền; nhưng cũng có thể là những lối trào lộng, vui chơi, vô tội vạ.
Những thể nói lý của miền
Trung đều xoay chung quanh những đề tài như vậy: đời sống an nhàn, quan lại hống
hách, lao động cần cù, tình duyên trai gái, làng trên xã dưới. Nói chung mọi
sinh hoạt dân chúng đều có thể thể hiện trong thể lý, vốn nghĩa là tác phẩm của
người bình dân.
Lý Tử Vi
Một trong những bài ca lý nổi
tiếng ở Huế là bài lý Tử Vi, nhưng nội dung và giọng điệu thì thuộc về loại ca
phòng hơn là bài hát ngoài dân gian.
Lý Tử Vi còn gọi là lý Trăm
Huê, một trong những điệu lý xứ Huế, đã có những tính chất xa dần tính chát đơn
thuần, mộc mạc của dân ca Huế, để tiến sang phạm vi tinh tế cuả ca nhạc Huế.
Nỗi niềm được trang trải rộng,
ý thơ mang tính biểu tượng, nỗi xa xa lai láng như trang trãi khắp không gian.
Tử Vi là tên một loài hoa do thi hào Bạch Cư Dị đặt tên, sau khi viết khúc Tỳ
bà hành.
Thể điệu của bài lý Tử Vi miền
Trung như sau:
Dầu giải nắng mưa, – Tử Vi dầu
giải nắng sương, – Huê cam (tình như) huê quít, Biết thương huê nào? – Anh thương
huê mận, huê đào, (Huê mận, huê đào) – Anh đây thương huê mận, huê đào, – Cầu
bông (tình như) huê cúc, Biết vào tay ai? – (Ơi tình ơi) thăm thắm chớ phai (Ơi
tình ơi) – thăm thắm chớ phai, – Ham bông (tình) huê lài ,- Mà lại thơm lâu,
(Ơi tình ơi) chớ phụ huê ngâu, – Chớ phụ huê ngâu, (Ơi tình ơi) – Chớ phụ huê
ngâu, – Ham nơi (tình như) phú quý, – Lại hầu mẫu đơn, – Anh tìm em, trăm giận
nghìn hờn, – Trăm giận nghìn hờn, – Anh tìm em, trăm giận nghìn hờn, – Ước chừng
(tình như) cho đặng, – Xích lại gần đây,- Có thương, xích lại gần đây, – Thời
xích lại đây, – Đừng còn (tình như) mơ tưởng – Núi mây cơ nghèo. Trèo lên hòn
núi cheo leo, – Hòn núi cheo leo,- Anh trèo lên hòn núi cheo leo, – Cảm thương
(tình như) nỗi mẹ,- Lo nghèo phận em , — Anh tìm em đã khắp núi non.
Dù là điệu lý, nhưng qua bài
lý Tử Vi trên đây thì giọng Ngũ Cung Oán Nam được chuyển hệ một cách tài tình,
cho nên bài ca được liệt vào một trong ba bài ca hay nhất của vùng đất Thần
Kinh thế kỷ thứ XIX cho đến nay vẫn là bài mở đầu cho những tổ chức nhạc ca
phòng và cả nhạc cung đình nữa. Miền Nam cũng có những bài lý, nhưng vần điệu
thì khác nhau, về cách ngắt câu, tiếng đệm, nhịp điệu, nhất là Ngũ Cung oán được
chuyển hệ.
Kiêm Thêm
Lý Giang Nam – NSUT Hồng Vân – Thu Âm Trước 1975
Liên khúc Lý chiều chiều –
Ngựa ô Huế – Vân Khánh
Chùm Lý Huế [Ca Huế] - Vân
Khánh - T.Thủy - H.Thương
Lý Tình Tang – Vân Khánh
Lý Mười Thương - Ca sĩ Thái
Ninh - TTâm
Văn hóa nghệ thuật Tr. thống dân tộc Việt - USA
Lý Hoài Nam, Lý Ngựa Ô – Ca
Huế
Lý Ngựa Ô Huế – Ngọc Điệp
& Đình Văn
Lý Giao Duyên – NS Thanh
Tâm
Lý Hoài Nam – Sáo trúc Hoàng
Anh
Lý Ngựa Ô - Traditional

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét