Dân ca dân nhạc Việt Nam
Ngâm thơ miền Bắc
Người Việt Nam thì ai ai
cũng làm thơ, nhưng “Ngâm Thơ” thì phong phú nhất là ở Miền Bắc. Thể thơ Lục Bát, rất tự nhiên trong ngôn ngữ Việt Nam, đã có từ trong ca dao tục
ngữ và dân nhạc từ thời cổ đại. Sau đó thì các thể thơ Đường Luật du nhập vào
Việt Nam. Hai bài theo thể thơ Đường đầu tiên được biết đến là “Nam Quốc
Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, và “Quốc Tộ” của Thiền sư Đỗ Pháp Thuận. Trải dài
cho đến thời kỳ đầu thập niên 1930 với “Phong Trào Thơ Mới” và bài thơ Tình Già
của Phan Khôi, tiếp diễn cho đến ngày nay.
Dù rằng chưa có một định
nghĩa chính xác về “Thơ”, nhưng chúng ta không thể phủ nhận “Thơ” là một phần của
cuộc sống, là một cách/phương tiện dùng để bày tỏ cảm xúc riêng tư không chỉ bằng
từ ngữ mà còn bằng cả trái tim của tác giả.
Được cơ hội đọc một bài thơ
hay đã là một món quà tinh thần vô giá. Còn nếu được thưởng thức bài thơ
mình yêu thích qua một giọng ngâm truyền thần đầy xúc cảm thì lại càng quý hơn.
Thơ là một hình thức nghệ
thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn
lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgíc nhất
định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm
mỹ cho người đọc, người nghe. Từ thơ thường được đi kèm với từ câu để
chỉ một câu thơ, hay với từ bài để chỉ một bài thơ. Một câu thơ
là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý
nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp. Một câu thơ có
thể đứng nguyên một mình. Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ. Tính cô đọng
trong số lượng từ, tính tượng hình và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành
một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật
khác.
Thơ có một lịch sử lâu dài.
Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể bắt đầu từ Hy-Lạp với
Homer, khoảng năm 850 trước Công nguyên, và hai tác phẩm cổ nhất của văn
hóa Âu Châu, Iliad và Odyssey. Ở Việt Nam, thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ,
ca dao mà ra. Những câu có vần điệu, dễ nhớ như Sấm bên đông, động bên tây vốn
là những kinh nghiệm được đúc kết thông qua sự từng trải, sự quan sát các hiện
tượng thiên nhiên, mà đúc kết lại, truyền từ đời nọ sang đời kia, giống như một
thứ mật mã trong ngôn ngữ để truyền thông tin vậy. Những đúc kết bao gồm đủ mọi
mặt trong cuộc sống, sau này khi được biến thành những câu ca dao, câu
vè, chúng trở thành một hình thức văn nghệ, giải trí.
Thông qua giao lưu giữa các
nền văn hóa, các thể loại thơ được tăng dần. Từ những cấu trúc đơn giản đến
những cấu trúc phức tạp. Những xu hướng gần đây cho thấy, cấu trúc không còn là
một yếu tố quan trọng trong thơ. Trong các thể loại thơ ở Việt Nam ta có thể kể
đến vài loại như lục bát, song thất lục bát, các thể loại thơ Đường
luật như thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát
cú rồi đến các loại thơ mới và thơ tự do. Ngoại trừ thơ
tự do, một hình thức hầu như không có một cấu trúc rõ rệt, các loại thơ khác hầu
như đều có một cấu trúc nhất định. Chặt chẽ nhất có thể là các loại thơ Đường,
trong đó cấu trúc về nội dung, luật về số chữ trong câu, số câu trong bài, về cách
gieo vần quyết định thể loại của bài thơ. Sự khắt khe trong cấu trúc làm cho
thơ Đường trở nên gần như một hình loại văn học chỉ dành riêng cho các tầng lớp
trung lưu trở lên, là những người có giáo dục đường hoàng. Chính vì sự khắt khe
này, thơ Đường hiện nay dần dần bị phai nhạt và hầu như không còn ai để ý đến nữa.
Hiện nay, thơ trở thành một
hình thức nghệ thuật hầu như ai cũng biết đến. Không ai đã từng thông qua một
quá trình giáo dục mà không biết một vài câu thơ. Thơ còn trở nên một hình thức
để bày tỏ tâm tư và chứa đựng tính sáng tạo của con người. Có thể nói, sự tồn tại
của thơ đi song song với sự tồn tại của ngôn ngữ. Còn ngôn ngữ tức là còn thơ.
Một cách hiểu về thơ
Thơ, thơ ca hay thi
ca, là một khái niệm chỉ các loại sáng tác văn học có vần điệu,
có đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều ý cô đọng. Một bài văn cũng có thể là một
bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó xúc tích và gây cảm xúc cho người đọc một
cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, một bài thơ thường còn mang tính vần giữa câu nọ
với câu kia và tổ hợp của các câu gây ra âm hưởng nhạc tính trong bài. Thơ thường
dùng như một hình thức biểu tả cảm xúc trữ tình, hoặc tình cảm xúc động trước một
hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, như khi người ta đứng trước một phong cảnh
ngoạn mục, hoặc đứng trước một thảm cảnh. Sự tương tác giữa tình cảm con người
và hoàn cảnh tạo nên những cảm nghĩ mà người ta muốn bày tỏ với một phong độ chắt
lọc, tinh khiết, không rườm rà, song có mức thông tin cao, đột phát, nhưng cô đọng
và chiết khúc. Muốn làm được như vậy, người làm thơ phải có một con mắt quan
sát chi tiết, tổng quát hóa, và nhanh chóng liên tưởng giữa những hình ảnh quan
sát được với những gì vốn có trước đây.
Tính nhạc trong thơ là một
hình thức làm cho bài thơ dễ được cảm nhận bởi người nghe hay người đọc và sức
cảm nhận nhanh chóng này tương tự như hiệu ứng của việc xem phim và
nghe âm nhạc trong phim hòa quyện với nhau cùng một lúc. Câu chữ trong thơ văn,
hay trong ngôn ngữ, giúp con người tái tạo lại hình ảnh mà nó miêu tả, song âm
thanh và vần điệu của các từ lại gây cảm xúc về âm nhạc. Sự kết nối khéo léo giữa
hai tính chất này của ngôn ngữ thúc đẩy sự tìm tòi các từ có âm thanh hay, xác
thực với tình cảm người viết muốn truyền, đồng thời tìm tòi những từ mới. Tính
âm nhạc còn thể hiện trong việc sử dụng các từ diễn tả âm thanh như “rì rào”,
“vi vút”, “ầm ầm”, “lanh canh”, v.v… Chính vì tính chất này, việc làm thơ nhiều
khi tương tự như việc làm toán, hoặc việc bài binh bố trận trong quân sự, mà
bài toán hay kẻ thù phải chinh phục chính là cảm xúc của họ, và câu chữ hoặc từ
là phép toán hay lực lượng quân đội mà họ có, và người làm thơ phải nhanh chóng
tìm ra phương pháp biểu tả tình cảm của mình dưới một hình thức cô đọng, hợp
lý, với một số lượng từ rất nhỏ. Để lùng tìm những câu, chữ, từ, nghĩa nhanh
chóng, người làm thơ thường phải kinh qua một quá trình luyện tập lâu dài, bằng
cách đọc sách, học cách biểu tả tình cảm của mình bằng những câu chữ ngắn gọn,
đồng thời có cảm quan nhạy bén với ngữ nghĩa của từ được dùng. Thơ còn đòi hỏi
tính phân tích các từ nghép và cô đọng từ. Chính vì thế, nhiều khi do làm thơ,
người làm thơ dễ rơi vào tình trạng liên tưởng giữa từ của nghĩa này sang từ của
nghĩa khác. Khi được dùng trong thơ, người ta còn gọi là sự “chơi chữ”.
Tính hội họa trong thơ, hay
còn gọi là tính tạo hình, là một tính chất cơ bản. Người làm thơ, trước khi viết
thơ, thường rơi vào tình trạng mà người ta gọi là “cảm hứng”. Trong tình trạng
này, các hình ảnh thu được trong trí nhớ, có thể bao gồm cả các khung cảnh ở
bên ngoài quan sát được, liên kết với nhau, tạo nên một thế giới nhỏ bé. Hình ảnh
có thể rõ đến mức người ta gần như cảm thấy có thể động vào những vật thể, ngửi
thấy mùi vị, thấy sự chuyển động của vật thể, thấy màu sắc v.v. Người làm thơ sẽ
sống trong thế giới ấy trong khi họ đang nghĩ về bài thơ, họ sẽ đi lại, vào các
góc của thế giới của mình, nhìn rõ hơn các vật cảnh, liên kết thêm những màu sắc,
những chuyển động, những dãy liên tiếp của các sự kiện xảy ra, hay nói cách
khác, họ xa rời cái thế giới mà họ đang sống. Chính vì hiện tượng này, người ta
có câu nói đùa, chỉ các nhà thơ là thơ thẩn, nằm mơ hay mơ
mộng như người ở trên cung trăng. Đây là một hiện trạng có thật. Sự hưng phấn
do được sống trong thế giới riêng của mình, được sắp đặt nó theo ý riêng của
mình, được thêm thắt, chắt lọc, được cho các vật chuyển động, xoay quanh các vật,
chiêm ngưỡng chúng, cảm giác chúng v.v. gây nên sự ham mê, thôi thúc người làm
thơ tiếp tục sống và diễn tả lại chúng bằng từ ngữ. Không những quan sát và diễn
tả không thôi, họ còn phải nâng sự quan sát của họ lên đến một mức độ nhạy bén,
hoa mỹ, không tầm thường – đây chính là sự khác biệt giữa thơ và truyện hay với
các loại hình nghệ thuật khác. Một số cách dùng từ để thể hiện:
Quan sát
|
Cách diễn tả thường thấy
|
Cách diễn tả có tính thơ
hơn
|
mưa
|
ảm đạm, xối xả, rầu rĩ
|
thì thầm, lõm bõm, quất mặt,
vắt nước, bạc trời đất, xiên ngang trời
|
buồn
|
thảm, rầu, ơi là buồn, héo
hắt, tênh
|
lãng đãng, nham nhở, đặc sệt,
nhỏ giọt, thở khói đen, bám rễ, đeo trên ngực
|
hoa
|
nở, thắm, thơm lừng, thơm
ngát, thơm nồng
|
chúm chím, nứt ra, ngóc đầu,
nhảy múa, hát vị ngọt, phanh lồng ngực tỏa hương
|
Việc chọn lọc từ tạo nên
hình ảnh thường được thấy rất nhiều trong các bài thơ. Có những hình ảnh đẹp, mềm
mại, hài hòa, thơ mộng. Có những hình ảnh khắc khổ, vuông thành sắc cạnh, song
cũng có những hình ảnh đồ sộ, đôi khi gớm ghiếc. Mỗi một hình ảnh đều nhằm tái
tạo lại thị giác, cảm quan của người làm thơ lúc họ viết. Một trong những
ví dụ về hình ảnh có thể tìm thấy trong tập Truyện Kiều của Nguyễn
Du:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Do ảnh hưởng của quan niệm hội
họa dưới thời người làm thơ còn sống, Nguyễn Du thường sử dụng phong
thái thủy mặc trong thơ của mình. Phong cảnh đơn sơ, chấm điểm, phác
thảo và nhẹ nhàng, nhưng không kém sức quyến rũ. Một câu khác của Bà Huyện
Thanh Quan:
Lom khom dưới núi tiều vài
chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Hay Nguyễn Khuyến:
Ao thu lạnh lẽo nước trong
veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Hoặc Hàn Mặc Tử trong
bài Một Nửa Trăng:
Hôm nay chỉ có nửa trăng
thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi
Nếu hình ảnh trong đầu của
nhà thơ không sống động, thì người đọc thơ cũng không có cảm quan sống động của
bài thơ. Sự tương tác giữa họa, nhạc trong thơ có thể gần như tương tự với sự
đóng góp của họa sĩ, nhạc sĩ, hay nói cách khác, sự dàn dựng một bộ phim, và họa
sĩ, nhạc công, đạo diễn phim v.v. tất cả đều chỉ bởi nhà thơ với ngòi bút và những
từ ngữ trong một hệ thống ngôn ngữ mà ra.
Cách sử dụng dùng hình ảnh động
đậy bằng việc cho thêm các động từ cũng thường được thấy trong các bài thơ
Đường, đặc biệt là trong các vế đòi hỏi tính đối lập. Chẳng hạn Hồ Xuân
Hương trong bài Lên chơi Đông Sơn tự:
Đông Sơn cảnh chiếm một hồ
riêng,
Uyên báu bay về, khói pháp chen,
Đá núi điểm đầu, mưa phất xuống,
Ngàn hoa nở rộ, gió tung lên,
Uyên báu bay về, khói pháp chen,
Đá núi điểm đầu, mưa phất xuống,
Ngàn hoa nở rộ, gió tung lên,
Đế Bà hương hỏa thơm bên
xóm,
Trịnh Chúa xe qua vết cũ còn,
Cứu độ bè từ qua bể khổ,
Chim âu ngủ đứng bến ngư thôn.
Trịnh Chúa xe qua vết cũ còn,
Cứu độ bè từ qua bể khổ,
Chim âu ngủ đứng bến ngư thôn.
Một điểm khá quan trọng
trong phim ảnh, nhạc, thơ hoặc bất cứ một hình thức nghệ thuật nào là tính
lôgic của các sự kiện. Sự phát triển của các hình ảnh từ nhỏ đến lớn, từ trầm đến
thanh, từ mịn màng đến gồ ghề v.v. phải luôn luôn được cân nhắc. Người đọc thơ
bị lôi cuốn một phần cũng vì tính lôgic của nó. Rất nhiều bài thơ, ngay cả của
những thi sĩ nổi tiếng, do sắp xếp các hình ảnh trong thơ thiếu tính lôgic mà
bài thơ của họ không được mấy người để ý. Những hình ảnh đẹp họ gợi lên, hay những
tương tác giữa các nhân vật trong thơ, cũng như tiến trình dẫn đến cao trào
không có một sự phát triển lôgic nhất định, gây cảm giác bấp bênh, lõm bõm, và
rời rạc cho người đọc. Nhạc trong thơ, hay sự tiến trình của cao trào cũng như
thoái trào trong thơ, cũng tương tự như tiến trình của âm nhạc, đòi hỏi phải
theo cung, theo nhịp và theo sự tiến triển của thời gian. Trong hội họa tiến
trình này còn được hiểu như tiến trình của các gam màu, đồng dạng hoặc đối lập.
Nghệ sĩ Hoàng Oanh
Thơ không phải là một tổ hợp
của các hình ảnh lộn xộn, song là một chuỗi các hình ảnh được gắn lại với nhau
theo một quá trình sắp đặt hợp lý, không kể tính thuận nghịch. Chính vì đặc
tính này, người làm thơ, hay các nhà thơ, còn có thể được gọi là các “nghệ sĩ”.
Họ không chỉ là người biết nhiều từ vựng, biết mường tượng phong cảnh giỏi, mà
họ còn là người biết sắp xếp các sự kiện hợp lý, và các bài thơ của họ tái tạo
lại tình cảm, tái tạo lại sự kiện trong đầu người đọc nhanh chóng và gắn bó,
như sự phát triển tình cảm của họ khi họ viết một bài thơ. Nắm bắt được sự phát
triển tình cảm của mình, gây dựng được cao trào đòi hỏi nhà thơ gần như có thêm
một bản sao của chính mình. Họ phải quan sát cảm quan và sự tiến triển tình cảm
của chính bản thân, ghi nhớ chúng và viết lại. Cảm quan của nhà thơ, sự hội tụ
của các sự kiện bên ngoài, tính triết lý v.v. đều ảnh hưởng bởi ngoại cảnh và
môi trường xã hội. Không một nhà thơ nào không bị ảnh hưởng của điều kiện chính
trị, lịch sử, phong cách suy nghĩ của thời đại khi họ còn sống.
Tứ thơ, hay ý tứ của
bài thơ, là tình cảm, hình ảnh chủ đạo mà bài thơ muốn truyền đạt. Phong
cách là cách chọn từ, cách diễn đạt ý tưởng của mình, chẳng hạn:ngộ nghĩnh, đơn
sơ, mộc mạc, đơn giản, thanh thoát, gồ ghề, góc cạnh, mỉa mai,
châm biếm, hoặc là cao thượng, đầy tính triết lý v.v. Cấu tứ của
bài thơ là cấu trúc và ý tưởng gộp lại. Cách sắp xếp các
câu thơ, sự sắp xếp của bài thơ, luật sử dụng trong bài thơ, vần điệu và tính
nhạc đều là một phần của cấu tứ. Để có một cấu tứ tốt, người làm
thơ thường phải nâng tầm mắt mình cao hơn tình cảm của mình, bao quát toàn bộ
bài thơ, làm chủ chính tác phẩm của mình.
Một điểm nữa khá quan trọng,
song lại có thể là lỗ hổng lớn nhất trong tất cả các bài bàn luận về thơ là dư
âm. Dư âm là cảm quan người đọc có được sau khi đọc một cụm từ, một câu thơ, một
đoạn thơ, hay một bài thơ. Tuy nguồn gốc của dư âm là ở bản thân cấu kết của
các từ, cách sử dụng từ, của âm thanh và hình ảnh do các từ tạo ra, song kết quả
của dư âm còn do ảnh hưởng của tâm trạng người đọc, cảm quan của người đọc, hay
nói cách khác, khả năng cảm nhận của người đọc. Sở dĩ dư âm là một lỗ hổng lớn
là vì tính khó bao trùm được của bất cứ một bàn luận nào về khía cạnh này. Có
thể nói dư âm là kết xuất của cảm quan của người viết thơ cộng với cảm quan của
người đọc thơ. Tạo được dư âm như mình mong muốn là cái thần của người
làm thơ. Nó cũng tương tự như cảm quan của người nghe âm nhạc, sau khi nghe một
đoạn nhạc. Tính mỹ thuật và âm hưởng của bài thơ, của đoạn nhạc là cái làm cho
người ta nhớ và mến trọng. Có lẽ vì thế mà nhiều nhà thơ dùng ngoại cảnh để
nói nội tình hơn là phân tích tình cảm nội tâm, tức là đi gián
tiếp hay hơn là đi trực tiếp, hay lấy cái chung để
nói cái riêng tưhay hơn là lấy cái riêng tư để nói cái
riêng tư. Dư âm còn có thể là cái hương vị của bài thơ, từ đó người đọc
cảm nhận được phong thái, cái hay cái đẹp trong tâm tư của nhà
thơ. Nếu tôi nói hoa thơm thì người đọc chưa chắc đã cảm thấy hoa
thơm, nhưng nếu tôi nói thoảng đưa trong không gian thì người đọc thấy
cái gì nhè nhẹ, hình dung được cái hương bay. Hay nói cách khác, người làm thơ
không diễn tả những gì hiển hiện trước mặt, không nói những gì hiển nhiên vốn
có, bằng ngôn ngữ cửa miệng, đầu lưỡi, tức là thứ ngôn ngữ vẫn dùng thường
ngày, song dùng một cách khác, gián tiếp chỉ đến điều mình muốn nói.
Nghệ sĩ Hồ Điệp
Làm thơ là một việc khó và
không phải ai cũng có thể làm được. Nhiều khi người ta cho rằng khả năng làm
thơ là một thiên phú, trời cho và thường gây cảm xúc thán phục nếu ai đó có khả
năng “xuất khẩu thành thơ”. Đương nhiên khi làm thơ, người làm thơ phải có hiểu
biết và một trí tuệ nhất định, song kể cả khi dùng trí tuệ thì trí tuệ của người
làm thơ cũng bị cảm xúc của tình cảm chủ quan chi phối.
Thơ là thể loại văn học lấy
cảm xúc, lấy trí tuệ súc tích được diễn đạt theo hình thức có vần điệu hoặc tự
do (không vần điệu). Trong việc sáng tác các thể loại văn học thì nhà
thơ là người cần thiên phú nhất, cho nên ít khi do học mà làm được thơ
hay, dù nếu đã làm được thơ hay và cũng được học thì vẫn tốt hơn.
Thơ tồn tại như một loại thể
văn học, còn “chất Thơ” hay “chất Thi ca” thì tồn tại ở nhiều loại hình, loại
thể văn nghệ và trong thiên nhiên nói chung. Ví dụ một phong cảnh đẹp, một
không khí môi trường gợi cảm xúc thi ca – như mùa thu vàng, chiều đông tuyết nhẹ
rơi lãng đãng, khi tiễn hay đón gặp lại người thân sau nhiều năm xa vắng… làm
cho tâm hồn tràn lên cảm xúc trữ tình, khiến ta như muốn ca lên, hát lên để biểu
lộ một cái gì đó dạt dào hay xao xuyến.
Nói tóm lại thi ca là tất cả
những gì thuộc tình cảm và lý trí chịu sự chi phối của cảm
xúc rung động đa dạng của con người. Khi nào bạn còn những rung động đó, nghĩa
là tâm hồn bạn còn chất thi ca, còn khiến bạn sống có ý nghĩa hơn trên cõi đời
này. Thơ, ngoài đặc điểm đó, lại là một nghệ thuật tuân theo các tính chất
riêng của thể loại này – trong đó yếu tố trời cho làm thơ là số một. Những tính
chất riêng của thể loại thơ là một vấn đề lớn, mà muốn hiểu nó chúng ta cần
tham khảo từ nhiều nguồn như các giáo trình văn học, cũng như các nguồn
khác.
Phân tích Âm
Âm (sound) do sự nhóm họp của
một hoặc nhiều nguyên âm tạo nên. Những âm gần giống nhau, không kể các phụ âm
đứng trước hay đứng sau hay sự tác động của các dấu gây sự trầm bổng của âm, tạo
nên vần trong thơ. Chẳng hạn, âm đơn:
à, ca, cha, đá, lá, ta
âm kép:
biên, chiêm, chuyên, xuyên
Bảng phân các loại âm sau
đây được trích từ Hệ thống thanh trong tiếng Việt (Việt Nam Văn Học Sử
Yếu, Dương Quảng Hàm):
Loại thanh
|
Tên các thanh
|
Dấu chỉ thanh
|
Ghi chú
|
Bằng
|
phù bình thanh
trầm thượng thanh |
không có dấu
dấu huyền |
|
Trắc
|
phù thương thanh
trầm thương thanh phù khứ thanh trầm khứ thanh |
ngã (~)
hỏi (?) sắc (‘) nặng (.) |
|
phù nhập thanh
trầm nhập thanh |
sắc (‘)
nặng (.) |
riêng cho các tiếng
đằng sau có phụ âm t, c, p và ch |
Nếu lựa từ sao cho có âm và
thanh tương hợp thì khi đọc lên sẽ nghe êm tai, ta gọi lời văn có vần. Hai tiếng
vần với nhau khi có âm tương tự và có cùng thanh (hoặc là cùng bình thanh hoặc
là cùng trắc thanh). Trong thơ, vấn đề hợp vần là điều cốt yếu. Sự phối trí âm
thanh nhịp điệu là yếu tố cơ bản của thơ.
Vần
Vần (rhyme) là những chữ
có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong
thơ. Đây là một quy luật để nối các câu trong bài thơ với nhau. Thường vần được
dùng để nối câu gieo vào chữ cuối cùng của câu thơ. Có hai loại vần:
vần bình: những chữ không dấu
hoặc dấu huyền — ba, bà
vần trắc: những chữ có dấu hỏi,
ngã, sắc, nặng — bả, bã, bá, bạ
Chữ “đấy”, “cấy” cùng phát
ra một âm “ây” song đều thuộc trắc thanh. Những tiếng “dâu”, “màu”, “sầu” có âm
“âu” và “au” và thuộc bình thanh.
Vần thể còn được quan niệm
là vần giàu hay nghèo:
Vần giàu (hay còn gọi
là Vần Chính): những chữ có cùng âm và thanh
Thanh bằng: Phương,
sương, cường, trường
Thanh trắc: Thánh, cảnh,
lãnh, ánh
Vần nghèo (hay còn gọi
là Vần Thông): đồng thanh nhưng với âm tương tự
Thanh bằng: Minh, khanh, huỳnh,
hoành
Thanh trắc: Mến, lẽn, quyện,
hển
Ví dụ hai câu dùng Vần
Chính:
Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu
Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông
Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông
Cưỡng vận
Khi hai vần là Vần
Thông với nhau mà thôi.
Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san
Lạc vận
Khi hai vần không thuộc Vần
Chính hay Vần Thông.
Người về chiếc bóng
năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Trong thơ Việt, có hai cách
gieo vần
Gieo vần ở giữa câu (Yêu Vận
hay “vần lưng”): Chữ cuối của câu trên vần với một chữ nằm bên trong câu dưới
như trong thể thơ lục bát, chữ cuối câu có sáu chữ vần với chữ thứ sáu của câu
tám chữ sau đó. Chẳng hạn Nguyễn Du trong truyện Kiều (1(6)-2(6))
(2(8)-3(6)) (3(8)-4(6)) (4(8)-..):
Người về chiếc bóng
năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
Gieo vần ở cuối câu (Cước Vận
hay “vần chân”): Các chữ ở cuối câu vần với nhau.
Vần tiếp
Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ
sớm,
Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em.
Không gì buồn bằng những buổi
chiều êm,
Mà ánh sáng đều hòa cùng
bóng tối.
Gió lướt thướt kéo mình qua
cỏ rối;
Vài miếng đêm u uất lẩn
trong cành;
Mây theo chim về dãy núi
xa xanh
Từng đoàn lớp nhịp nhàng và
lặng lẽ.
Không gian xám tưởng sắp tan
thành lệ.
Vần chéo
Trong thi đoạn bốn câu, chữ
cuối câu thứ nhất vần với câu thứ ba và chữ cuối câu thứ hai vần với câu thứ
tư. Chẳng hạn Anh Thơ trong bài Tiếng chim tu hú (1,3)
(2,4):
Nắng hè đỏ hoa gạo
Nước sông Thương trôi nhanh
Trên đường đê bước rảo
Gió nam giỡn lá cành
Nhiều khi chỉ cần chữ cuối
câu thứ hai vần với câu thứ tư mà thôi. Chẳng hạn Quang Dũng trong
bài Đôi bờ (2,4):
Xa quá rồi em người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ
thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?
Vần ôm
Trong thi đoạn bốn câu, chữ
cuối câu thứ nhất vần với câu thứ tư và chữ cuối câu hai vần với câu thứ ba. Vần
trắc ôm vần bằng, hay ngược lại. Chẳng hạn Nguyên Sa trong Áo lụa Hà
Đông (1,4) (2,3):
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà
Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô
cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng
Vần ba tiếng
Trong thi đoạn bốn câu, chữ
cuối câu một, câu hai và câu thứ tư vần với nhau. Câu ba khác vần. Chẳng hạn Thâm
Tâm trong Tống Biệt Hành (1,2,3).
Đưa người ta không đưa
qua sông
Sao có tiếng sóng ở
trong lòng?
Bóng chiều không thắm không
vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt
trong?
Điệu
Điệu (rhythm), hay còn gọi
là nhạc điệu, tạo nên do âm thanh của từ được chọn và nhịp điệu ngắt câu.
Nhạc trong thơ được tạo nên bởi ba yếu tố: vần, tiết tấu và từ. Thơ lục bát, ca
dao là một thể loại giàu nhạc tính.
Âm hưởng của vần:
(a)- Vần bằng thường gây cảm
giác nhẹ nhàng, mềm mại.
Gió mơn man sợi nắng mành
Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài
Dương gian hé rạng hình hài
Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi
Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài
Dương gian hé rạng hình hài
Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi
(b) – Vần trắc thường gây cảm
giác mạnh mẽ, động đậy, tỉnh thức.
Gió mơn man sợi nắng mành
Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài
Dương gian hé rạng hình hài
Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi
Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài
Dương gian hé rạng hình hài
Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi
Tiết tấu của câu: Tiết tấu
là nói đến cái nhịp, cái điệu của câu thơ. dựa vào chỗ ngắt đoạn, tức chỗ chia
câu thành từng vế, mỗi vế có nghĩa trọn vẹn. Đó là nhịp dài (–), khi ngâm
người ta ngừng lại ngân nga lâu một chút. Ngoài ra, trong mỗi vế, khi ngâm tùy
theo hứng, người ta cũng có thể ngừng lại ngân nga ngắn hơn ở những chỗ vế chia
thành từng bộ phận, đó là nhịp ngắn (-).
Dương gian (-) hé rạng (-)
hình hài (–)
Trời (-) se sẽ lạnh (-), đất ngai (–) ngái mùi (–)
Trời (-) se sẽ lạnh (-), đất ngai (–) ngái mùi (–)
Nhịp trong thơ: tạo nên do sự
phân định của câu và của từ, tương tự khi viết cho dấu phẩy, khi đọc ngưng hơi.
Nhịp (4/4) – (2/2/2/2)
Em ngồi cành trúc (–) em tựa
cành mai (–)
Đông đào (-) tây liễu (-) biết ai (-) bạn cùng (–)
Đông đào (-) tây liễu (-) biết ai (-) bạn cùng (–)
Nhịp (2/2/2) – (2/2/2/2)
Trời mưa (-) ướt bụi (-) ướt
bờ (-)
Ướt cây (-) ướt lá (–) ai ngờ (-) ướt em (–)
Ướt cây (-) ướt lá (–) ai ngờ (-) ướt em (–)
Nhịp (2/4) – (2/2/2/2)
Yêu mình (–) chẳng lấy được
mình (–)
Tựa mai (-) mai ngã (–) tựa đình (-) đình xiêu (–)
Tựa mai (-) mai ngã (–) tựa đình (-) đình xiêu (–)
Nhịp (2/4) – (4/4)
Đố ai (-) quét sạch lá rừng
(–)
Để ta khuyên gió (–) gió đừng rung cây (–)
Để ta khuyên gió (–) gió đừng rung cây (–)
Nhịp (2/4) – (2/4/2)
Hỡi cô (-) tát nước bên đàng
(–)
Sao cô (-) múc ánh trăng vàng (–) đổ đi (–)
Sao cô (-) múc ánh trăng vàng (–) đổ đi (–)
Nhịp (4/2) – (2/4/2)
Trách người quân tử (-) bạc
tình (–)
Chơi hoa (–) rồi lại bẻ cành (–) bán rao (–)
Chơi hoa (–) rồi lại bẻ cành (–) bán rao (–)
Nhịp (3/2/2) – (4/3/2)
Đạo vợ chồng (-) thăm thẳm
(-) giếng sâu (–)
Ngày sau cũng gặp (–) mất đi đâu (-) mà phiền (–)
Ngày sau cũng gặp (–) mất đi đâu (-) mà phiền (–)
Nhạc tính của từ:
Theo ngữ học, mỗi từ đơn của
ta thường là một âm tiết, khi phát lên nhẹ hay mạnh, trong hay đục là tùy theo
vị trí phát âm của nó trong khẩu cung (kể từ môi đến cuống họng, kể cả độ mở của
miệng). Một từ được phát lên tại vị trí nào trong khẩu cung là phải chịu ảnh hưởng
của bốn yếu tố tạo nên nó: nguyên âm, phụ âm đầu, phụ âm cuối và thanh. Vì thế
từ nào có:
nguyên âm bổng như: i, ê, e
phụ âm vang như: m, n, nh,
ng
thanh bổng như: không dấu, dấu
sắc, dấu hỏi, thì từ được phát ra, âm sẽ cao, trong và nhẹ.
Ngược lại, từ nào gặp phải:
nguyên âm trầm: u, ô, o,
phụ âm tắc: p, t, ch, c,
và thanh trầm: dấu huyền, dấu
ngã, dấu nặng thì từ phát ra âm sẽ đục và nặng.
Sự trong đục của các từ ngắt
nhịp trong câu, và nhất là của các từ dùng làm vần có ảnh hưởng nhiều nhất đến
nhạc tính của thơ.
Hôm qua (-) tát nước đầu
đình (–)
Bỏ quên cái áo (-) Trên cành hoa sen (–)
Em được (–) thì cho anh xin (–)
Hay là (-) em để làm tin (-) trong nhà. (–)
Bỏ quên cái áo (-) Trên cành hoa sen (–)
Em được (–) thì cho anh xin (–)
Hay là (-) em để làm tin (-) trong nhà. (–)
Những từ ngắt nhịp và những
từ dùng làm vần trong 4 câu thơ này hầu hết đều có những yếu tố tạo nên âm vang
và trong, nên nhạc thơ nghe vui, diễn tả được tình cảm trong sáng, yêu đời của
chàng trai ở đây.
Nụ tầm xuân (-) nở ra xanh
biếc. (–)
Em đã có chồng (–) anh tiếc (-) lắm thay. (–)
Em đã có chồng (–) anh tiếc (-) lắm thay. (–)
Âm “iếc” trong 2 từ “biếc”
và “tiếc” lấy làm vần ở đây có 2 nguyên âm bổng (iê) vút cao với thanh sắc cũng
thuộc loại thanh bổng nhưng đã bị đứt hơi, tắc nghẽn bởi phụ âm cuối ‘c’, được
mệnh danh là âm tắc, nên khi đọc lên nghe như tiếng nấc, nhạc thơ vì vậy chậm lại,
nghe nghẹn ngào, tức tưởi. Như thế, vần “iếc” ở đây gieo rất đắt, đã cực tả được
nỗi tiếc nuối đứt ruột của chàng trai khi trở lại chốn cũ, gặp lại người xưa,
tình mình thì đang nồng, người mình yêu lại quá đẹp, nhưng than ôi muộn mất rồi,
vì nay nàng đã là gái có chồng!
Yêu ai tha thiết, thiết tha
Áo em hai vạt trải ra chàng ngồi.
Áo em hai vạt trải ra chàng ngồi.
Đôi khi để đảm bảo cho nhạc
tính của câu ca dao (âm luật, âm vận), những âm tiết của từ kép có thể đảo ngược
vị trí. Như câu ca dao trên hai âm tiết “tha thiết” được đảo thành “thiết tha”
vì thể lục bát chỉ gieo vần bằng (tha, ra).
Thơ hoặc ca dao hay sử dụng
từ láy, nhờ sự lập lại toàn thể hay một số yếu tố của từ gốc mà từ láy khi phát
âm, hai điểm phát âm sẽ trùng nhau (từ láy hoàn toàn) hay tiến sát gần nhau (từ
láy không hoàn toàn) tạo thành một chuỗi hòa âm, giúp cho nhạc điệu của thơ vừa
phong phú, vừa tăng uyển chuyển, nhịp nhàng.
Nghệ sĩ Hoàng Oanh
Luật
Luật làm thơ (rule): Vần bằng
(hay cũng gọi là “bình”) được ký hiệu bằng B, vần trắc được ký hiệu bằng T,
vần không theo luật kí hiệu bằng số 0 (vần tự do, có thể là thanh bất
kì, bằng hoặc trắc).
Thơ lục bát
Câu số
|
Vần
|
|||||||
1
|
B
|
B
|
T
|
T
|
B
|
B
|
||
2
|
B
|
B
|
T
|
T
|
B
|
B
|
T
|
B
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
Ông trời nổi lửa đằng đông
Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay
Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay
Biệt lệ
Tuy luật bằng trắc đã qui định
như ở trên, nhưng những chữ thứ 1, thứ 3 và thứ 5 nếu không theo đúng luật thì
cũng không sao. Cái biệt lệ ấy được gọi là “nhất, tam, ngũ bất luận”, có nghĩa
là chữ thứ 1, chữ thứ 3 và chữ thứ 5 không kể (bất luận), tức không nhất thiết
phải theo đúng luật. Còn các chữ thứ 2, chữ thứ 4, và chữ thứ 6 bắt buộc phải
theo đúng luật (phân minh), do câu “nhì, tứ, lục phân minh”.
Câu số
|
Vần
|
|||||||
1
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
||
2
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
0
|
B
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
Cảnh nào cảnh chẳng đeo
sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Phá Luật
Thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp
người làm thơ thích phá luật ở chữ thứ hai câu 6, thay vì vần bằng thì lại đổi
ra vần trắc; còn chữ thứ tư thì có khi đổi thành vần bằng thay vì vần trắc như
thường lệ. Câu 6 cũng được ngắt ra làm hai vế. Chẳng hạn hai câu trong Truyện
Kiều của Nguyễn Du, chữ “cốt” là một chữ thuộc vần trắc,
song lại nằm ở vị trí của vần bằng:
Câu số
|
Vần
|
|||||||
1
|
Mai
|
cốt
|
cách,
|
tuyết
|
tinh
|
thần
|
||
2
|
Mỗi
|
người
|
một
|
vẻ
|
mười
|
phân
|
vẹn
|
mười
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
Thơ song thất lục bát
Song thất là hai câu bảy
chữ nối theo hai câu lục bát. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần
Côn đã được Đoàn Thị Điểm diễn nôm lại bằng thể thơ này. Trong
câu bảy chữ trên, chữ thứ ba là vần trắc, chữ thứ năm là vần bình, chữ thứ bảy
là vần trắc; trong câu bảy chữ dưới, chữ thứ ba là vần bình, thứ năm là vần trắc,
và chữ thứ bảy là vần bình. Hai câu lục bát tiếp sau thì theo luật thường lệ.
Câu số
|
Vần
|
|||||||
1
|
0
|
0
|
T
|
0
|
B
|
0
|
T
|
|
2
|
0
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
|
3
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
||
4
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
0
|
B
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp lại về buồng cũ gối chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh
Thiếp lại về buồng cũ gối chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh
Chữ cuối cùng của câu có bảy
chữ trên vần với chữ thứ năm của cây bảy chữ dưới, chữ cuối câu bảy chữ ở dưới
vần với chữ cuối của câu sáu chữ trong hai câu lục bát tiếp theo, chữ cuối câu
sáu chữ lục bát vần với chữ thứ sáu của câu có tám chữ, và chữ cuối của câu tám
chữ lục bát vần với chữ thứ năm của câu bảy chữ tiếp theo. Tuy nhiên, chữ cuối
câu lục bát tám chữ cũng có thể vần với chữ thứ ba câu bảy chữ, biến đổi âm
trong vần chữ này đổi sang vần bình. Do đó, chữ thứ ba trong câu bảy chữ trên
có thể là trắc hay bằng.
Câu số
|
Vần
|
|||||||
1
|
0
|
0
|
0
|
0
|
B
|
0
|
T
|
|
2
|
0
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
|
3
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
||
4
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
0
|
B
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
Nước trong chảy lòng
phiền chẳng rửaCỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi tay lại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng
Thơ bốn chữ
Nếu chữ thứ hai là vần bằng
thì chữ thứ tư là vần trắc.
Câu số
|
Vần
|
|||
1
|
0
|
T
|
0
|
B
|
2
|
0
|
B
|
0
|
T
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
Bão đến ầm ầm
Như đoàn tàu hỏa
Như đoàn tàu hỏa
Ngược lại, nếu chữ thứ hai
là vần trắc thì chữ thứ tư là vần bằng.
Câu số
|
Vần
|
|||
1
|
0
|
B
|
0
|
T
|
2
|
0
|
T
|
0
|
B
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
Chim ngoài cửa sổ
Mổ tiếng võng kêu
Mổ tiếng võng kêu
Song nhiều bài thơ không
theo luật ở trên.
Bão đi thong thả
Như con bò gầy
Như con bò gầy
Thơ năm chữ
Tương tự như luật của thơ
bốn chữ ở trên, song cũng nhiều trường hợp không theo luật.
Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương
Thơ sáu chữ
Dùng chữ cuối cùng, với cách
gieo vần như vần chéo hoặc vần ôm:
Vần chéo
Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
(Đỗ
Trung Quân – Quê Hương)
Vần ôm
Xuân hồng có chàng tới hỏi:
— Em thơ, chị đẹp em đâu?
— Chị tôi tóc xõa ngang đầu
Đi bắt bướm vàng ngoài nội
— Em thơ, chị đẹp em đâu?
— Chị tôi tóc xõa ngang đầu
Đi bắt bướm vàng ngoài nội
(Huyền Kiêu – Tình
sầu)
Thơ bảy chữ
Do ảnh hưởng của Thất
ngôn tứ tuyệt trong thơ Đường, thơ bảy chữ hiện nay vẫn còn mang âm
hưởng luật của nó. Có hai loại câu:
Vần bằng
Câu số
|
Vần
|
||||||
1
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
B
|
2
|
0
|
T
|
0
|
B
|
0
|
T
|
B
|
3
|
0
|
T
|
0
|
B
|
0
|
T
|
T
|
4
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
B
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
Quanh năm buôn bán ở mom
sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
(Tú Xương – Thương
vợ))
Hay gần đây hơn:
Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
(Quang Dũng – Đôi
Mắt Người Sơn Tây)
Vần trắc
Câu số
|
Vần
|
||||||
1
|
0
|
T
|
0
|
B
|
0
|
T
|
B
|
2
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
B
|
3
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
T
|
4
|
0
|
T
|
0
|
B
|
0
|
T
|
B
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
Lẳng lặng mà nghe nó chúc
nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu
Hiện nay, thể thơ này được cải
biên và nó chỉ còn là:
Câu số
|
Vần
|
||||||
1
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
B
|
0
|
2
|
0
|
T
|
0
|
B
|
0
|
T
|
0
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
(Tô Thùy Yên – Ta
về)
Thơ tám chữ
Chữ cuối có vần trắc thì chữ
thứ ba là vần trắc, chữ thứ năm và sáu là vần bằng.
Vần
|
||||||||
0
|
0
|
T
|
0
|
B
|
B
|
0
|
T
|
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
Chữ cuối có vần bằng thì chữ
thứ ba là vần bằng, chữ thứ năm và sáu là vần trắc.
Vần
|
||||||||
0
|
0
|
B
|
0
|
T
|
T
|
0
|
B
|
|
Chữ thứ
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
Nhưng nhiều lúc cũng không
như thế.
Cách gieo vần
Vần tiếp
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến
nhé,Tôi sẽ trách - cố nhiên - nhưng rất nhẹ;
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,
Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở.
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
Cho nghìn sau… lơ lửng… với nghìn xưa…
(Hồ Dzếnh – Ngập
Ngừng)
Vần chéo
Trong ánh nắng hạt sương dần
nhẹ bỗng
Rồi tan vào thoáng đãng trời xanh
Cánh hoa mỏng rập rờn với gió
Có nhớ về hạt sương sớm long lanh?
(Hải Kỳ – Giấc mơ)
Rồi tan vào thoáng đãng trời xanh
Cánh hoa mỏng rập rờn với gió
Có nhớ về hạt sương sớm long lanh?
(Hải Kỳ – Giấc mơ)
Vần ôm
Đêm Trường Sơn. Lá với nước
rầm rì
Hơi đá lạnh nép mái nhà nghe ngóng
Chúng tôi ngồi xòe tay trên lửa nóng
Máu bàn tay mang hơi lửa vào tim
Hơi đá lạnh nép mái nhà nghe ngóng
Chúng tôi ngồi xòe tay trên lửa nóng
Máu bàn tay mang hơi lửa vào tim
(Nguyễn Khoa Điềm – Bếp
lửa rừng)
Muốn cho thơ tám chữ thêm âm
điệu, một số nhà thơ thường gieo vần chữ thứ tám của câu trên với chữ thứ năm
hay sáu của câu dưới:
Sàn gác trọ những tâm hồn
bão nổi
Những hào hùng, uất hận gối lên nhau
Những hào hùng, uất hận gối lên nhau
(Cao Tần - Ta làm
gì cho hết nửa đời sau?)
Dạng (form)
thơ lục bát
thơ song thất lục bát
thơ bốn chữ
thơ năm chữ
thơ sáu chữ
thơ bảy chữ
thơ tám chữ
thơ tự do
“Nam Quốc Sơn Hà” và “Quốc Tộ”,
hai bài thơ cổ mở cửa cho nền thi ca Việt Nam
Nam Quốc Sơn Hà (Chữ
Hán: 南國山河) là bài thơ được ông Lý Thường
Kiệt sáng tác theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Đây là bài thơ nổi tiếng
trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu
tiên của Việt Nam. Bài thơ được cho là bài thơ thần, do thần đọc
giúp Lê Hoàn chống quân Tống năm 981 và Lý Thường Kiệt chống quân Tống
năm 1077.
Nội dung bài thơ “Nam Quốc
Sơn Hà” trên Mộc bản triều Nguyễn là bản khắc gỗ cổ nhất bài thơ này
còn lại cho đến ngày nay. Nội dung phiên bản này thống nhất với bản bài thơ
trong Đại Việt sử ký toàn thư.
Nguyên bản chữ Hán:
南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 分 定 在 天 書 如 何 逆 虜 來 侵 犯 汝 等 行 看 取 敗 虛 |
Bản phiên âm Hán-Việt:
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại Thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư |
Bản dịch thơ:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, Nam đế ở
Rành rành phân định tại sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời |
Dị bản
Nguyên bản chữ Hán:
南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書 如 何 逆 虜 來 侵 犯 汝 等 行 看 取 敗 虛 |
Bản phiên âm Hán-Việt:
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. |
Bản dịch thơ:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam
ở
Rành rành định phận tại sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời |
Phiên âm Hán – Việt:(Trần
Hương Giang dịch)
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Ngữ đẳng hành khan thủ bại hư. |
Bản dịch thơ (Lê Thước –
Nam Trân dịch):
Sông núi nước nam
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ. |
Bản dịch nghĩa (theo thơ
văn Lý- Trần tập):
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam
ở
Giới phận đó đã được định rõ ràng ở sách trời Cớ sao kẻ thù lại dám đến xâm phạm Chúng mày nhất định sẽ nhìn thấy việc chuốc lấy bại vong. |
Quốc tộ (Hán tự: 國祚) là một trong những bài thơ sớm nhất có tên
tác giả của văn học viết Việt Nam. Đây là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử
Việt Nam, nếu như Nam Quốc Sơn Hà được coi là bản tuyên ngôn độc
lập đầu tiên của Việt Nam thì Quốc Tộ được coi là bản tuyên ngôn
hòa bình đầu tiên của Việt Nam. Bài thơ là câu trả lời của thiền sư Đỗ
Pháp Thuận đối với Hoàng đế Lê Hoàn khi được hỏi “Vận nước ngắn
dài thế nào?”.
Nguyên bản Hán Văn:
國祚如藤絡,
南天裏太平。
無為居殿閣,
處處息刀兵。
南天裏太平。
無為居殿閣,
處處息刀兵。
Bản phiên âm Hán-Việt:
Quốc tộ
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh
Bản dịch thơ:
Vận nước
Vận nước như dây mây leo quấn
quýt,
Ở cõi trời Nam [mở ra] cảnh thái bình.
Vô vi ở nơi cung điện,
[Thì] khắp mọi nơi đều tắt hết đao binh.
Ở cõi trời Nam [mở ra] cảnh thái bình.
Vô vi ở nơi cung điện,
[Thì] khắp mọi nơi đều tắt hết đao binh.
Phong trào “Thơ Mới” đầu thập
niên 1930
Tác giả, tác phẩm tiêu biểu:
Thế Lữ: Nhớ rừng, Cây
đàn muôn điệu…
Xuân Diệu: Vội vàng, Nguyệt cầm, Lời kỹ nữ…
Huy Cận: Ngậm ngùi, Tràng giang,…
Lưu Trọng Lư: Tiếng thu,…
Hàn Mặc Tử: Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín…
Nam Trân: Đẹp và Thơ – Cô gái Kim Luông…
Chế Lan Viên: Thu…
Phạm Huy Thông: Tiếng địch sông Ô…
Vũ Đình Liên: Ông đồ…
Nguyễn Nhược Pháp: Chùa Hương…
Tế Hanh: Quê hương…
Nguyễn Bính: Mưa xuân…
Đoàn Phú Tứ: Màu thời gian…
Thâm Tâm: Tống biệt hành…
Vũ Hoàng Chương: Say đi em…
T.T.Kh.: Hai sắc hoa Tigôn…
Xuân Diệu: Vội vàng, Nguyệt cầm, Lời kỹ nữ…
Huy Cận: Ngậm ngùi, Tràng giang,…
Lưu Trọng Lư: Tiếng thu,…
Hàn Mặc Tử: Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín…
Nam Trân: Đẹp và Thơ – Cô gái Kim Luông…
Chế Lan Viên: Thu…
Phạm Huy Thông: Tiếng địch sông Ô…
Vũ Đình Liên: Ông đồ…
Nguyễn Nhược Pháp: Chùa Hương…
Tế Hanh: Quê hương…
Nguyễn Bính: Mưa xuân…
Đoàn Phú Tứ: Màu thời gian…
Thâm Tâm: Tống biệt hành…
Vũ Hoàng Chương: Say đi em…
T.T.Kh.: Hai sắc hoa Tigôn…
(theo Wikipedia)
Phan Khôi
Thơ mới
Thơ mới mặc dù có vẻ như
không theo bất cứ qui luật nào, nhưng thật ra vẫn có âm điệu nhịp nhàng từ
trong tiếng Việt được thi sĩ sắp xếp trong câu thơ của mình, và thi sĩ cũng có
thể gieo vần một cách âm thầm, ví dụ như bài Tình Già của Phan Khôi dưới đây với
các vần được tô đậm.
Tình Già
Tác giả: Phan Khôi
Hai mươi bốn năm xưa, một
đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai mái đầu xanh kề nhau than thở:
– Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng,
Để đến nỗi, tình trước phụ sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau.
– Hay! mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ!
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng.
Mà tính việc thủy chung?
Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi mái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen hung đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi.
(Phong Hóa, 24 janvier 1933)
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai mái đầu xanh kề nhau than thở:
– Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng,
Để đến nỗi, tình trước phụ sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau.
– Hay! mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ!
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng.
Mà tính việc thủy chung?
Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi mái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen hung đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi.
(Phong Hóa, 24 janvier 1933)
Thơ tự do gần đây
Thơ mới là mới hồi 1930.
Ngày nay chúng ta gọi là thơ tự do.
Mẹ khóc
(Nguyễn Nguyên Bảy)
Mỗi khi con thấy mẹ ngồi bệt
xuống hè
Tay cầm cây quạt nan
Là con biết mẹ đang đè buồn nuốt giận
Khóc ở trong lòng
Khóc trong lòng nước mắt chảy đi đâu?
Cầu cho nước mắt chảy vào gan vào ruột
Để nước mắt trôi ra ngoài
Nhưng nước mắt không chảy vào gan ruột
Mà chảy vào tim rồi hòa vào máu
Chẳng bao giờ con có thể lau
Tay cầm cây quạt nan
Là con biết mẹ đang đè buồn nuốt giận
Khóc ở trong lòng
Khóc trong lòng nước mắt chảy đi đâu?
Cầu cho nước mắt chảy vào gan vào ruột
Để nước mắt trôi ra ngoài
Nhưng nước mắt không chảy vào gan ruột
Mà chảy vào tim rồi hòa vào máu
Chẳng bao giờ con có thể lau
Những lúc ấy con qùy trước mẹ
Hai tay dụi gọi Mẹ ơi! Trên trời tất nhiên có Giời
Nhưng sao Giời nỡ bất công
Để con càng lớn càng cao mẹ càng già càng thấp
Hai tay dụi gọi Mẹ ơi! Trên trời tất nhiên có Giời
Nhưng sao Giời nỡ bất công
Để con càng lớn càng cao mẹ càng già càng thấp
Ôm con mặt mẹ úp ngang vai
Mẹ bảo mẹ khóc mừng khóc phúc
Mừng phúc mẹ khóc như mưa
Phùn xuân rào hạ
Mầu khóc hồng son
Mẹ bảo mẹ khóc mừng khóc phúc
Mừng phúc mẹ khóc như mưa
Phùn xuân rào hạ
Mầu khóc hồng son
Con tắm trong khóc mẹ ngập hồn
Tinh chất khóc ngấm vào da vào thịt
Con không chùi không lau
Con không trả khóc về mắt mẹ…
Tinh chất khóc ngấm vào da vào thịt
Con không chùi không lau
Con không trả khóc về mắt mẹ…
Con biết ở cõi trời
Mẹ muốn khóc cũng không thể khóc
Vì thế ở cõi người
Ngày ngày con đem tiếng khóc mẹ ra phơi
Lạy trời đừng phạt mẹ tôi
Tội đón nước mắt con bay ngược về mắt mẹ
Để mẹ lại được khóc
Âm dương cũng đạo làm người
Mẹ muốn khóc cũng không thể khóc
Vì thế ở cõi người
Ngày ngày con đem tiếng khóc mẹ ra phơi
Lạy trời đừng phạt mẹ tôi
Tội đón nước mắt con bay ngược về mắt mẹ
Để mẹ lại được khóc
Âm dương cũng đạo làm người
Hai Ngôi Sao Không Lặn Bao
Giờ
(Thơ Nguyễn Nguyên Bảy)
Anh không nhận ra emMột năm có là bao xa cách
Em ủ đầu anh vào ngực
Anh không thể nào hỏi được
Sao tiều tụy thế mình ơi?
Chỉ còn đôi mắt
Đội mắt chậm chạp u buồn
Một nốt ruồi đẫm lệ
Chỉ còn đôi mắt
Đôi mắt vẫn như ngày nào
Đôi mắt ngày nào tôi nói yêu em
Đôi mắt khép nhận lời.
Đội mắt chậm chạp u buồn
Một nốt ruồi đẫm lệ
Chỉ còn đôi mắt
Đôi mắt vẫn như ngày nào
Đôi mắt ngày nào tôi nói yêu em
Đôi mắt khép nhận lời.
Chỉ còn đôi mắt vợ của tôi
Toàn thân em như cây thị rũ lá
Khô cành trước gió ban mai
Chỉ còn đôi mắt
Đôi mắt kể tôi nghe
Lưng ngày nắng quật
Đêm ngồi bỏng vú môi con
Vai gánh nỗi thương chồng
Đi xa đường đời nhiều cạm bẫy
Chỉ còn đôi mắt
Đôi mắt đổ xiêu.
Toàn thân em như cây thị rũ lá
Khô cành trước gió ban mai
Chỉ còn đôi mắt
Đôi mắt kể tôi nghe
Lưng ngày nắng quật
Đêm ngồi bỏng vú môi con
Vai gánh nỗi thương chồng
Đi xa đường đời nhiều cạm bẫy
Chỉ còn đôi mắt
Đôi mắt đổ xiêu.
Anh ôm đôi mắt ấy
Bỗng òa đôi mắt khóc
Thủy rụa ràn mặt anh
Đôi mắt u hoài trong vắt
Đôi mắt ấy chính là hai ngôi sao trên trời
Đêm đêm nhìn anh
Thức với anh
Đi cùng anh
Hai ngôi sao không lặn bao giờ.
Bỗng òa đôi mắt khóc
Thủy rụa ràn mặt anh
Đôi mắt u hoài trong vắt
Đôi mắt ấy chính là hai ngôi sao trên trời
Đêm đêm nhìn anh
Thức với anh
Đi cùng anh
Hai ngôi sao không lặn bao giờ.
Đôi uyên ương nhà thơ Nguyễn
Nguyên Bảy và nhà thơ Lý Phương Liên
Lời ru với anh
(Lý Phương Liên)
Chim bằng ngoan của em ơi
Đêm nay ngon ngủ sáng mai lên đường
Em ngôi nhìn ngắm yêu thương
Cho no mắt nhớ ngày thường chim bay
Em muốn anh như bàn tay
Xòe ra là gặp
Chim bằng trời biếc
Chim bằng con trai
Ngủ ngoan anh nhé sáng mai lên đường
Ở nhà bên cạnh người thương
Để chim nghỉ cánh dặm trường đời xa
Lồng son phòng hẹp đôi ta
Chim bằng chẳng thể quanh ra quẩn vào
Xa anh nói nhớ làm sao
Chân đứng tổ kiến lòng chao gió cành
Lẽ nào em buộc cánh anh
Buộc cánh anh
Buộc cánh anh cũng chẳng thành tình yêu
Trời lộng chim reo
Mắt em mai sớm dõi theo chim bằng
Nỗi nhớ trong lòng
Cho chim cánh gió
Cho ngày nắng nỏ
Chim bay
Ngủ ngoan anh nhé đêm nay
Để mai xa suốt tháng ngày có em…
Đêm nay ngon ngủ sáng mai lên đường
Em ngôi nhìn ngắm yêu thương
Cho no mắt nhớ ngày thường chim bay
Em muốn anh như bàn tay
Xòe ra là gặp
Chim bằng trời biếc
Chim bằng con trai
Ngủ ngoan anh nhé sáng mai lên đường
Ở nhà bên cạnh người thương
Để chim nghỉ cánh dặm trường đời xa
Lồng son phòng hẹp đôi ta
Chim bằng chẳng thể quanh ra quẩn vào
Xa anh nói nhớ làm sao
Chân đứng tổ kiến lòng chao gió cành
Lẽ nào em buộc cánh anh
Buộc cánh anh
Buộc cánh anh cũng chẳng thành tình yêu
Trời lộng chim reo
Mắt em mai sớm dõi theo chim bằng
Nỗi nhớ trong lòng
Cho chim cánh gió
Cho ngày nắng nỏ
Chim bay
Ngủ ngoan anh nhé đêm nay
Để mai xa suốt tháng ngày có em…
Phượng Hoàng
(Trần Đình Hoành)
Nàng, Phượng hoàng
Đã nhiều lần chết trong ngọn lửa đời
Và trỗi dậy trong vinh quang từ đống tro tàn của chính nàng
Qua bao nhiêu cuộc tái sinh, nàng
Bay lên cao hơn và cao hơn
Dưới những ngọn gió của tiếng thì thầm của Thượng đế
Tới gần hơn và gần hơn
Với vĩnh cửu
Nàng, con gái của Thượng đế
Được sai xuống thế để làm
Bạn đồng hành của ta
Trên những con đường vắng người qua, trong
Chốn sâu hoang dã của yên ắng
Núi, rừng và suối
Nơi chúng ta im lặng
Và mỉm cười lặng lẽ
Tha hồ thỏa thích trái tim.
Đã nhiều lần chết trong ngọn lửa đời
Và trỗi dậy trong vinh quang từ đống tro tàn của chính nàng
Qua bao nhiêu cuộc tái sinh, nàng
Bay lên cao hơn và cao hơn
Dưới những ngọn gió của tiếng thì thầm của Thượng đế
Tới gần hơn và gần hơn
Với vĩnh cửu
Nàng, con gái của Thượng đế
Được sai xuống thế để làm
Bạn đồng hành của ta
Trên những con đường vắng người qua, trong
Chốn sâu hoang dã của yên ắng
Núi, rừng và suối
Nơi chúng ta im lặng
Và mỉm cười lặng lẽ
Tha hồ thỏa thích trái tim.
Phượng
(Trần Đình Hoành)
Phượng
Đỏ
Rực rỡ
Tiệc múa của một triệu chim hồng y
Vỗ cánh trong gió hạ
Hai bên đường thành phố
Mùa hạ đó
Không khí ẩm và vui
Em đến, bước chân quý phái
Đôi mắt sâu buồn kéo anh vào
Nhìn lên Mẹ Maria với hy vọng mới tìm được lần đầu
Sáng đến nỗi thấy được niềm tuyệt vọng đã lâu ngày
Anh rất vui đã đưa em đi nhà thờ
Nơi duy nhất anh biết có thể cho em bình an
Đôi mắt buồn đó anh biết sẽ cần nhiều hơn chỉ là anh
Anh đưa em tới Mẹ Maria
Anh có thể thấy em rất vui
Như một bé thơ
Người đàn bà bé thơ trong một đô thị lớn
Nơi mà tập tục là cô đơn
Và bom nổ và chết chóc
Nhưng trong mắt hai ta là sự sống
Hai đứa trẻ đang yêu
Dưới tháp giáo đường
Anh chẳng ngoan đạo
Nhưng đưa em đến Nhà Bình An
Làm anh vui
Bây giờ mỗi khi nghĩ về em
Anh nghĩ về mùa hạ đầu tiên đó
Giữa chiến tranh
Hai ta chẳng biết gì về chết chóc
Chỉ thấy sự sống.
Đỏ
Rực rỡ
Tiệc múa của một triệu chim hồng y
Vỗ cánh trong gió hạ
Hai bên đường thành phố
Mùa hạ đó
Không khí ẩm và vui
Em đến, bước chân quý phái
Đôi mắt sâu buồn kéo anh vào
Nhìn lên Mẹ Maria với hy vọng mới tìm được lần đầu
Sáng đến nỗi thấy được niềm tuyệt vọng đã lâu ngày
Anh rất vui đã đưa em đi nhà thờ
Nơi duy nhất anh biết có thể cho em bình an
Đôi mắt buồn đó anh biết sẽ cần nhiều hơn chỉ là anh
Anh đưa em tới Mẹ Maria
Anh có thể thấy em rất vui
Như một bé thơ
Người đàn bà bé thơ trong một đô thị lớn
Nơi mà tập tục là cô đơn
Và bom nổ và chết chóc
Nhưng trong mắt hai ta là sự sống
Hai đứa trẻ đang yêu
Dưới tháp giáo đường
Anh chẳng ngoan đạo
Nhưng đưa em đến Nhà Bình An
Làm anh vui
Bây giờ mỗi khi nghĩ về em
Anh nghĩ về mùa hạ đầu tiên đó
Giữa chiến tranh
Hai ta chẳng biết gì về chết chóc
Chỉ thấy sự sống.
Đôi uyên ương Trần Đình
Hoành và Trần Lê Túy Phượng
Kỷ niệm 40 năm
Khi em vui
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em buồn
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em lên tinh thần
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em xuống tinh thần
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em hy vọng
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em tuyệt vọng
Hãy nhớ anh yêu em
Anh luôn luôn yêu em
Mọi lúc
Mọi nơi
Trong mọi hoàn cảnh
Vì em là thiên thần
Chúa đã gởi đến anh
Để ở cùng anh
Cả đời anh
Và đời sống nào sau đó nữa.
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em buồn
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em lên tinh thần
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em xuống tinh thần
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em hy vọng
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em tuyệt vọng
Hãy nhớ anh yêu em
Anh luôn luôn yêu em
Mọi lúc
Mọi nơi
Trong mọi hoàn cảnh
Vì em là thiên thần
Chúa đã gởi đến anh
Để ở cùng anh
Cả đời anh
Và đời sống nào sau đó nữa.
Bước Mẹ Ru
(Trần Lê
Túy Phượng)
Ngày mẹ chết
Tôi còn viễn xứ
Đỏ lòng tìm phương hướng lần quê
-Mẹ ơi
Mẹ đợi con về
Đê mòn quê ngoại con về mẹ ơi !
Tôi còn viễn xứ
Đỏ lòng tìm phương hướng lần quê
-Mẹ ơi
Mẹ đợi con về
Đê mòn quê ngoại con về mẹ ơi !
Đường về ngoại bao lần tôi tới
Suốt tuổi thơ mẹ gửi cho ông
Thay cha, ngoại dạy nằm lòng
Phẩm hạnh, cách sống, đừng hòng lãng xao
Lòng tôi quay quắt
Đảo
Chao
Con đường về ngoại
Năm nào
Trời mưa…
Suốt tuổi thơ mẹ gửi cho ông
Thay cha, ngoại dạy nằm lòng
Phẩm hạnh, cách sống, đừng hòng lãng xao
Lòng tôi quay quắt
Đảo
Chao
Con đường về ngoại
Năm nào
Trời mưa…
Chuyến xe đò vượt xuyên quốc
lộ
Mẹ và tôi ngồi tận góc sau
Mẹ ghì tay chịu trận nhồi nhào
Lưng ghế trước che tôi khỏi nắng
Mẹ và tôi ngồi tận góc sau
Mẹ ghì tay chịu trận nhồi nhào
Lưng ghế trước che tôi khỏi nắng
Xe cập bến mưa rơi ướt thấm
Mẹ và tôi bước vội đường trưa
Hàng trâm bầu chặt lá đẩy đưa
Trong gió bão tràn miền quê ngoại
Mẹ và tôi bước vội đường trưa
Hàng trâm bầu chặt lá đẩy đưa
Trong gió bão tràn miền quê ngoại
Trong hối hả mẹ nhìn ái ngại
Chụp cho tôi mỗi áo đi mưa
Tóc mẹ hiền ướt đẩm
Lưng đưa
Hứng mưa lạnh
Nhường con có áo
Chụp cho tôi mỗi áo đi mưa
Tóc mẹ hiền ướt đẩm
Lưng đưa
Hứng mưa lạnh
Nhường con có áo
Mẹ là thế
Tình không gượng gạo
Như bước chân khổ vẫn khoan thai
Trời đen cuồn cuộn mây dài
Cuốn theo bóng mẹ ngược ngày đường quê
Tình không gượng gạo
Như bước chân khổ vẫn khoan thai
Trời đen cuồn cuộn mây dài
Cuốn theo bóng mẹ ngược ngày đường quê
Lòng tôi sao cứ lê thê
Nhớ hoài bóng mẹ đường về còn đâu
Mẹ ơi con trẻ mặc dầu
Quê người nhưng vẫn mong đầu cố hương
Ầu ơ thân mẹ dặm trường
Ầu ơ thân mẹ chín đường ruột đau
Nhớ hoài bóng mẹ đường về còn đâu
Mẹ ơi con trẻ mặc dầu
Quê người nhưng vẫn mong đầu cố hương
Ầu ơ thân mẹ dặm trường
Ầu ơ thân mẹ chín đường ruột đau
Ngày mẹ chết
Tôi không tận mặt
Trăn trở hoài
Tình mẹ thiên thu
Thèm mẹ
Hỡi thời gian, ngược lại!
Thèm được mẹ dang vòng tay trái
Ôm tôi vui trong giấc ngủ vùi
Lần cuối đời mẹ nói cùng tôi.
“Mẹ ước mẹ được
Thêm lần ngủ chung”
Tôi không tận mặt
Trăn trở hoài
Tình mẹ thiên thu
Thèm mẹ
Hỡi thời gian, ngược lại!
Thèm được mẹ dang vòng tay trái
Ôm tôi vui trong giấc ngủ vùi
Lần cuối đời mẹ nói cùng tôi.
“Mẹ ước mẹ được
Thêm lần ngủ chung”
Ngược Dòng Quê Ngoại
(Trần Lê
Túy Phượng)
Nắng chiều phủ vàng hong lá
mạ
Ông nhìn tôi thẫn thờ
Phút chốc
Thở dài
Ông bảo
Bà đó ông đây bao năm tháng
Ông vẫn ngờ như mới hôm qua
Tình bà
Ông đong không hết
Tình ông
Chẳng thể nhạt nhòa
Ông nhìn tôi thẫn thờ
Phút chốc
Thở dài
Ông bảo
Bà đó ông đây bao năm tháng
Ông vẫn ngờ như mới hôm qua
Tình bà
Ông đong không hết
Tình ông
Chẳng thể nhạt nhòa
Tôi lặng người nhìn ông trân
tráo
Nhủ thầm
Hiện thân này là hoa trái của tình yêu
Tình yêu vượt vết tì xã hội
Bà goá phụ
Sáu con, ba mốt
Ông trai son
Kém tuổi đến mười năm
Phong kiến
Mẹ cha
Xóm làng
Thân tộc họ hàng
Phủ nhận rẻ khinh
Tấm tình son bền vững bóng hình
Tay trong tay ông bà dấn bước
Ông yêu Bà đến không lòng trược
Bà chết rồi một mực thủy chung
Ngày lẫn đêm viếng mộ ngồi cùng
Nhang một nén trầm bay hương khói
Nhủ thầm
Hiện thân này là hoa trái của tình yêu
Tình yêu vượt vết tì xã hội
Bà goá phụ
Sáu con, ba mốt
Ông trai son
Kém tuổi đến mười năm
Phong kiến
Mẹ cha
Xóm làng
Thân tộc họ hàng
Phủ nhận rẻ khinh
Tấm tình son bền vững bóng hình
Tay trong tay ông bà dấn bước
Ông yêu Bà đến không lòng trược
Bà chết rồi một mực thủy chung
Ngày lẫn đêm viếng mộ ngồi cùng
Nhang một nén trầm bay hương khói
Chiều nay sao lòng đau nhói
Chạnh thương ông
Chạnh tưởng đến bà
Cầu ông bà tận cỏi thiên tòa
Ghé thăm cháu một lần cho thỏa
Chạnh thương ông
Chạnh tưởng đến bà
Cầu ông bà tận cỏi thiên tòa
Ghé thăm cháu một lần cho thỏa
Chiều nắng hong vàng cây lá
Nhìn nắng vàng
Hoa cỏ
Lá xanh
Tôi tìm tôi
Trong giấc mộng lành
Về với nắng
Ngược dòng quê ngoại.
Nhìn nắng vàng
Hoa cỏ
Lá xanh
Tôi tìm tôi
Trong giấc mộng lành
Về với nắng
Ngược dòng quê ngoại.
Tạ Ơn
Tạ ơn một tấm hình hài
Cù lao dưỡng dục tháng ngày mẹ mang
Tạ ơn tình ngoại minh mang
Sẻ chia trải nghiệm những trang sử đời
Tạ ơn mình đã cho tôi
Cuộc tình há dễ mấy người tìm ra
Tạ ơn những đứa con ngà
Suối mai rực nắng chan hòa ái yêu
Tạ ơn tình cháu chắt chiu
Nụ cười cho ngoại những chiều hừng đông
Tạ ơn ruộng
Tạ ơn đồng
Tạ Trời tạ Mẹ đoái trông một đời
Cù lao dưỡng dục tháng ngày mẹ mang
Tạ ơn tình ngoại minh mang
Sẻ chia trải nghiệm những trang sử đời
Tạ ơn mình đã cho tôi
Cuộc tình há dễ mấy người tìm ra
Tạ ơn những đứa con ngà
Suối mai rực nắng chan hòa ái yêu
Tạ ơn tình cháu chắt chiu
Nụ cười cho ngoại những chiều hừng đông
Tạ ơn ruộng
Tạ ơn đồng
Tạ Trời tạ Mẹ đoái trông một đời
Dưới đây mình có bài “Các thể
loại ngâm thơ” của ông Trần Quang Hải và bài nói chuyện “Đôi uyên ương Nga Mi - Trần Lãng Minh và các thể điệu ngâm thơ cổ” của đôi uyên ương nghệ sĩ Trần Lãng
Minh – Nga Mi sẽ hướng dẫn các bạn tìm hiểu thêm về bộ môn nghệ thuật đặc trưng
này của chúng ta.
Kế đến mình giới thiệu đến
các bạn:
1 clip bài Hồ Trường do anh Trần Lãng Minh diễn ngâm, chị Nga Mi hát phần nhạc do anh Trần Lãng Minh phổ, 2 clips thơ của anh Trần Đình Hoành và mình trong sách “Thơ Bạn Thơ” do NXB Văn Học phát hành năm 2012, 1 clip thơ “Đám Cưới Bạc” của nhà thơ Nguyễn Nguyễn Bảy, 1 clip thơ phổ nhạc hòa tấu “Lời Ru Với Anh” của nhà thơ Lý Phương Liên, và 7 clips tổng thể các bài thơ hay nổi tiếng qua nhiều thế hệ do các nghệ nhân ưu tú trình diễn để các bạn rộng đường tham khảo và thưởng thức.
1 clip bài Hồ Trường do anh Trần Lãng Minh diễn ngâm, chị Nga Mi hát phần nhạc do anh Trần Lãng Minh phổ, 2 clips thơ của anh Trần Đình Hoành và mình trong sách “Thơ Bạn Thơ” do NXB Văn Học phát hành năm 2012, 1 clip thơ “Đám Cưới Bạc” của nhà thơ Nguyễn Nguyễn Bảy, 1 clip thơ phổ nhạc hòa tấu “Lời Ru Với Anh” của nhà thơ Lý Phương Liên, và 7 clips tổng thể các bài thơ hay nổi tiếng qua nhiều thế hệ do các nghệ nhân ưu tú trình diễn để các bạn rộng đường tham khảo và thưởng thức.
Mời các bạn.
Túy Phượng
Các thể loại ngâm thơ
(Trần Quang Hải)
Nguyên cả Á châu, ngâm thơ đều
là đọc thơ với giọng trịnh trọng, chứ không có ngân nga lên xuống như Việt Nam.
Xứ Việt Nam duy nhứt có nhiều thể loại ngâm thơ không những ở Á châu mà luôn cả
trên thế giới.
Nếu ai nghe người Việt ngâm thơ mà có cảm giác như hát, điều đó dễ hiểu là vì người Việt phát triển thể điệu ngâm thơ trên một bát độ, lên xuống.
Nếu ai nghe người Việt ngâm thơ mà có cảm giác như hát, điều đó dễ hiểu là vì người Việt phát triển thể điệu ngâm thơ trên một bát độ, lên xuống.
Ở miền Bắc có 4 loại ngâm
thơ: ngâm sa mạc, ngâm Kiều hay lẫy Kiều, ngâm thơ theo hát ru, ngâm thơ theo
hát nói.
1. Ngâm Sa Mạc
Thang âm sa mạc rất đặc biệt,
là có sự hiện hữu của quãng ba trung (tierce neutre/ neutral third)
có nghĩa là quãng ba ở chính giữa hai quãng ba thứ (tierce mineure/ minor
third) và quãng ba trưởng (tierce majeure/ major third). Thang âm (échelle
musicale/ musical scale) như sau: Do, Mi trung, Fa, Sol, Sib, Do.
Người ngâm phải biết thể luật ngâm theo điệu Sa Mạc. Tất cả chữ chót của câu
thơ bằng dấu huyền như “làng, buồn, tình, đời, vv” thì phải ngâm ở nốt DO.
Còn chữ chót của câu thơ bằng không dấu như “thương, yêu, tôi, anh,
em” thì ngâm ở nốt MI trung
2. Ngâm Kiều hay Lẫy Kiều
Ai là người Việt cũng đều biết
tới truyện Kiều. Nhưng cách ngâm Kiều không phải là ai cũng biết. Thang âm gần
giống như thang âm Sa mạc nhưng không có quãng ba trung mà là quãng ba thứ và
được trình bày như sau: Do, Mib, Fa, Sol, Sib, Do. Khi ngâm ngừng ở
chữ dấu huyền ở cuối câu thơ thì phải ngâm ở nốt DO. Khi chữ
chót của câu thơ là không dấu thì phải ngâm ở nốt FA. Do
đó tạo sự khác biệt giữa Sa Mạc và lẫy Kiều.
3. Ngâm thơ theo Hát
Ru
Hát ru là điệu ru con miền Bắc,
dựa trên thang âm: Do, Re, Fa, Sol, La, Do. Chữ có dầu huyền ở
cuối câu thơ phải ngâm ở nốt DO, và nếu chữ chót không dấu thì
phải ngâm ở nốt FA. Gọi là ngâm thơ chứ thật ra là hát ru, chỉ trừ
là không có hát „à á a ời! à á a à ơi!„ như trong hát ru.
4. Ngâm thơ theo hát
nói
Hát nói là một thể loại
trong Ca Trù được dùng vào cách ngâm thơ miền Bắc. Thang âm rất đặc
biệt: Do – Fa – Lab - Do. Chữ chót của câu thơ là dấu huyền thì
phải ngâm ở nốt DO, và nếu chữ chót là không dấu thì ngâm ở nốt FA,
chứ không thể ngâm ở bất cứ nốt nào. Người nào ngâm theo thể Hát nói là phải
có căn bản về Ca Trù, nếu không thì sẽ ngâm sai.
Ở miền Trung có ngâm thơ Huế
tức là dựa trên thang âm miền Trung (được nghe lúc hát hò mái nhì, hò mái
đẩy). Thang âm gồm có những nốt nhạc như sau: Do, Re (hơi thấp), Fa (hơi
cao), Sol, La (hơi thấp), Do. Nốt cuối câu có thể ở nốt DO
hay nốt FA tùy theo người ngâm muốn dừng ở đău.
Ở miền Nam có nhiều cách
ngâm thơ. Ở lục tỉnh người ta đọc thơ Vân Tiên (truyện Lục Vân Tiên
của cụ Nguyễn Đình Chiểu). Thang âm: Do, Mib, Fa, Sol, La, Do. Chữ
chót là dấu huyền thì phải ngâm ở nốt DO. Nếu chữ chót là không
dấu thì phải ngâm ở nồt FA
Ngâm thơ theo điệu
Hò thì cũng dựa trên thang âm đặc biệt miền Nam như thang âm dùng trong đọc
thơ Vân Tiên.
Ngâm thơ Tao Đàn đặc biệt
của miền Nam nhưng do nhà thơ Đinh Hùng (người Bắc) tạo ra sau hiệp định
Genève năm 1954 chia nước Việt ra hai miền Bắc/ Nam. Nhà thơ Đinh Hùng có làm
một chương trình ngâm thơ trên đài phát thanh Saigon «Ngâm thơ Tao Đàn».
Trong chương trình này có cách ngâm thơ đặc biệt, và khán giả nghe quen gọi là
ngâm thơ theo điệu Tao đàn. Thang âm hoàn toàn miền Nam: Do, Mib, Fa,
Sol, La, Do. Chữ cuối câu thơ nếu là dấu huyền thì ngâm ở nốt DO.
Còn nếu không dấu thì ngâm ở nốt FA hay có thể ngừng ở nốt
SOL
Lúc trước ở miền Nam trong
chương trình “ngâm thơ Tao Đàn” ngoài Đinh Hùng, còn có bà Hồ Điệp (lúc
trước khi vào Nam là cô đầu hát ca trù rất hay), Tô Kiều Ngân, nữ ca
sĩ Hoàng Oanh, vv…
Ngày nay ở hải ngoại, có nhiều
người thích ngâm thơ nhưng căn bản không có, hoặc không nắm vững các thể loại
và lại thích trộn ba bốn thể loại ngâm thơ vào chung trong một bài khiến cho khi
nghe một chương trình ngâm thơ trở thành nhàm chán.
Lúc khởi đầu vào đầu thế kỷ
20, đệm ngâm thơ chỉ có tiếng sáo, đàn tranh, đàn bầu. Về sau có thêm đàn nguyệt
(hay đàn kìm theo miền Nam).
Từ khi có thể điệu ngâm thơ
Tao đàn thì lại có thêm piano. Lúc trước 1975 ở Saigon, GS Nhạc sĩ Nghiêm
Phú Phi là người đàn piano để đệm ngâm thơ rất được ưa chuộng. Sau này ở hải
ngoại, những người ngâm thơ được đệm chánh là tiếng sáo, tiếng đàn tranh, và
đôi khi đàn bầu. Sự giới hạn nhạc khí là do bởi ở hải ngoại hiếm có nhạc sĩ đàn
kìm.
(Trần Quang Hải)
Đôi uyên ương Nga Mi -Trần
Lãng Minh và các thể điệu ngâm thơ cổ
Hồ Trường - Nguyễn Bá Trác - Trần Lãng Minh
diễn ngâm & Nga Mi hát
Sách THƠ BẠN THƠ/23 - Thơ
Trần Đình Hoành
“Giáng Sinh Đầu”, “Những Hoàng Hôn Ta Đã Đi Qua”,
“Em” - Nhà
thơ Nguyễn Nguyên Bảy đọc:
Sách THƠ BẠN THƠ/42 - Thơ
Trần lê Túy Phượng
“Ngược Dòng Quê Ngoại” - Nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy đọc
Đám Cưới Bạc -Thơ Nguyễn
Nguyên Bảy - tác giả đọc
Hòa tấu LỜI RU VỚI ANH
Thơ
Lý Phương Liên - Am Các Minh phổ nhạc
Giáo Sư Trần Văn Khê - Ngâm
thơ
“Qua Đèo Ngang” - Bà Huyện Thanh Quan - Đàn tranh
Thơ Kiều - Nguyễn Du - Hồng
Vân diễn ngâm
Tống Biệt Hành - Thâm Tâm - Hoài Hương diễn ngâm
Chùa Hương - Nguyễn Nhược
Pháp
Hoàng Oanh và Hồ Điệp diễn ngâm
Ngậm Ngùi - Huy Cận - Hồng
Vân diễn ngâm
Chân Quê - Nguyễn Bính - Hồng
Vân diễn ngâm
Những bài thơ bất tử của nhà
thơ
Hàn Mạc Tử - Hồng Vân diễn ngâm
Trần Lê Túy Phượng





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét