Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Du xuân - Nét đẹp ngày Tết

Du xuân - Nét đẹp ngày Tết

Trong sự vận động của vũ trụ, sự luân phiên 4 mùa là một điều kì diệu của nhân gian. Dù chỉ là em bé nhỏ chập chững mùa xuân đầu tiên hay những cụ già đã mấy mươi xuân, không khí ấm áp và rộn ràng của ngày xuân bao giờ cũng được khát khao chờ đón. Vì sao mùa xuân lại mê hoặc đến vậy dù chúng ta đã quá quen với cành mai, cành đào, tiết xuân hây hây, mâm ngũ quả sinh động và khay bánh mứt nhiều màu rực rỡ? ấy đơn giản, chỉ vì xuân về, Tết đến là lúc mà mọi phong tục tập quán của người Việt ta thể hiện rõ nét, và cũng là lúc mà nét đẹp ngày xuân trở nên mặn mà hơn bao giờ hết.
Ngày Tết là dịp “níu kéo” mọi người trở về với nét văn hóa truyền thống mà tổ tiên đã dầy công xây dựng. Và du xuân hái lộc, ngắm cảnh, lễ chùa, trẩy hội, lễ thầy cô… là nét văn hóa không thể thiếu trong “tháng ăn chơi”. Giai điệu của bài hát Du xuân đang vang vang ở đâu đó trong từng con phố, từng mái ấm. 
“Du xuân du xuân í a
Đã hẹn cùng tình í a
Đường Xuân tơ non gót son í a
Nón ba tằm em xoay trọn tháng Giêng 
Du Xuân du Xuân í a
Tơ trời nhè nhẹ í a
Hạt sương cho em ướt mi í a
Để cho bao trồi non Xuân lộc biết say...”
Vào thời khắc giao hòa của trời đất, giao thừa đã đem đến cho mọi người niềm vui đón năm mới. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, người người nô nức kéo nhau ra đường hái lộc, xuất hành nghinh đón năm mới với mong ước nhiều điều hạnh phúc và may mắn sẽ tới. Du xuân bắt đầu từ giây phút ấy…
Du xuân, hiểu một cách giản dị nhất là đi chơi vào dịp xuân về. Vì thế từ phút đi hái lộc đầu năm, rồi đi lễ cha mẹ, lễ thầy cô, lễ chùa, dự hội xuân… là những giờ phút du xuân đẹp nhất trong năm.
Mùng một là Tết nhà cha. Mùng hai nhà mẹ. Mùng ba nhà Thầy 
Từ bao đời nay, làm con, làm cháu và làm trò, ngày Tết, trước hết phải nhớ đến ông bà cha mẹ tức hai bên nội và ngoại, tức bên cha và bên mẹ. Liền sau đó là nhớ đến Thầy, người châm lên ngọn lửa trí tuệ, thắp lên mơ ước và tương lai, hun đúc con người thành tài năng.
Đây là những nét đẹp về đạo lý làm người mà không phải dân tộc nào cũng có. Nếu tôn ti “Quân-Sư-Phụ” của xã hội có thể bị thay đổi thì ngược lại, nề nếp gia phong luôn được gìn giữ, bảo tồn. Không khí khai xuân của ba ngày tết càng góp phần làm cho lòng người thêm thánh thiện, nghĩa tình. Ngày thứ nhất (mồng một tết) con cháu phải tụ hội đông đủ “ở nhà cha”- là nhà bên nội, để lễ tạ tổ phụ và ông bà, cha mẹ. Mùng hai Tết vẫn đậm đà, là lúc về thăm quê mẹ, quê ngoại để chúc Tết các bậc bề trên, đến lễ viếng tổ tiên, ông bà bên ngoại... Mùng ba vẫn còn Tết, vẫn là ngày cho nghi lễ thăm hỏi, chúc mừng. Ngày này chính là ngày của học trò đi thăm và chúc tết thầy.
Thầy có thể là người dạy chữ, có thể là người chữa bệnh, cũng có thể là người dạy nghề cho con em khôn lớn, trưởng thành. Nếu ơn cha mẹ là sự sinh thành, thì thầy là người có công dưỡng dục, trang bị kiến thức làm người “cơm cha, áo mẹ, chữ thầy”... Dù cuộc sống ngày nay đã có nhiều thay đổi, nhưng mỗi dịp xuân về những nét đẹp của lễ tục này phần đông vẫn còn được biểu hiện một cách trang trọng, nhất là ở các vùng quê, đất học.
Lễ chùa ngày đầu năm
Một nét văn hóa mà ở các vùng miền từ Bắc - Trung - Nam  trên dải đất hình chữ S nơi nào cũng có, đó chính là đi lễ chùa đầu năm. Đi chùa đầu năm không chỉ đơn giản là vãn cảnh chùa mà trong tâm niệm ai cũng cầu mong những điều may mắn, tốt đẹp nhất sẽ đến với mình trong suốt năm. Đi chùa để cầu an, cầu phúc, cầu danh, cầu tài, cầu lộc…
Lễ chùa đêm ba mươi có thể nói là đêm tụ hội đông con cháu phật tử nhất trong năm. Cửa chùa là nơi đón bước chân những con người đến gửi gắm khát vọng đơn sơ, bình dị. Hoặc giả chỉ là một lần đến chùa nghe đọc kinh Phật cuối năm. Bởi 12 tháng – nào đã có mấy lúc thật sự bình tâm rảnh rỗi để mà thong dong ngồi nghe kinh, đọc kinh nơi Tam bảo như đêm tất niên này. Trong khói nhang nghi ngút, trong tiếng tụng kinh lúc trầm lúc bổng như tan vào thinh không, trong sự nhộn nhịp của dòng người vào lễ chùa nhưng vẫn toát ra một vẻ nghiêm trang đầy tính trật tự. Có lẽ là do năm mới đến nên nụ cười ai cũng nở trên môi, sự thân thiện, nhân ái như là bài học giáo lý đang lan tỏa. Chẳng ai muốn vội vã, chẳng ai muốn cãi vã hay cáu gắt vì sợ “dông” cả năm. Mọi người đến đặt lễ lên từng ban, rồi chào hỏi nhau. Có cả những người đi làm ăn xa, ngày Tết mới về ra lễ chùa. Cố Hòa thượng Thích Thanh Tứ, nguyên trụ trì chùa Quán Sứ cho biết: “Lễ ở nhà cũng được, lễ tổ tiên ở nhà là tốt rồi nhưng người ta muốn đến chùa để lễ, đến nơi thờ tự thiêng liêng cầu phúc, cầu tài…”
Người Việt tin rằng đi lễ chùa đầu năm không đơn giản để ước nguyện mà đó còn là thời gian để mọi người tìm về với chốn tâm linh sau những năm tháng vất vả trong cuộc mưu sinh. Hòa vào dòng người đi lễ đầu xuân, trong tiết trời se se lạnh, lất phất giọt mưa xuân, ta như cảm nhận được sự giao hòa của đất trời khi vào xuân. Cửa chùa rộng mở với tiếng chuông ngân vang cùng mùi thơm của khói hương, hoa lễ luôn làm cho tâm hồn con người thanh bình đến lạ. Họ đến chùa không chỉ để cầu may hay gột bỏ những ưu phiền, mà còn để tìm về với cội nguồn dân tộc. Tất cả những điều đó như một gam màu lấp lánh, tạo nên nét đa sắc trong bức tranh văn hóa Việt Nam.
Du Xuân qua các lễ hội truyền thống
Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là vùng văn hóa rất đặc trưng và hầu như có mặt ở khắp mọi miền đất nước. Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn là nhân thần hay nhiên thần. Đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Giúp con người nhớ về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt.
ở nước ta hiện nay có gần 8000 lễ hội (theo số liệu thống kê năm 2009) và các lễ hội truyền thống thường được diễn ra vào mùa xuân. Nhưng hội Xuân truyền thống thường rất khiêm tốn và kéo dài trong một thời gian nhất định. Cũng bởi “Tháng Giêng là tháng ăn chơi...”, dẫu mỗi vùng, miền có cách tổ chức hội khác nhau, nhưng hội Xuân dân tộc chỉ diễn ra trong tháng Giêng và không mang tính cầu kỳ, phô trương. Người tổ chức hội và người tham gia hội hoàn toàn mang tính tự nguyện, hoà mình với nhau theo kiểu “đến hẹn lại lên”.
ở miền Bắc hội Xuân rất phong phú, mỗi lễ hội có nét đẹp riêng và người đi hội gọi là “Trẩy hội”. Người già, trung niên đầu năm thường tham gia trẩy hội Chùa Hương, hội Làng Gióng... Cách thức ăn mặc không rườm rà, miễn sao có lòng thành để mang hương hoa, lễ vật đến cúng Phật, Thánh, Thần. Mục đích chính của người đi hội là để được cầu an gia đạo. Lớp trai thanh, gái lịch thì thường chọn hội Lim để được gặp gỡ các liền anh, liền chị, được thưởng thức tài nghệ của vùng đất Kinh Bắc, nơi đã sản sinh cho văn hóa Việt rất nhiều thuần phong mỹ tục. Hệ thống lễ hội và ca hát là nét đẹp tiêu biểu của đất này. Đây là một sinh hoạt văn hóa nghệ thuật đặc sắc của nền văn hóa truyền thống lâu đời ở miền Bắc. Lúc này, vào thời khắc đầu xuân, trời đất giao hòa, vạn vật sinh sôi, lòng người phơi phới ấy là khi vùng đất Nội Duệ tưng bừng trong không khí lễ hội.
Cũng có những hội chung cho tất cả già trẻ, gái trai; nên tên gọi kiểu hội này mang đậm sắc thái của tiết-mùa: Đó là “Hội xuân”.
Với kiểu hội này thường tổ chức kết hợp cả hương vị ẩm thực lẫn xướng ca, đối đáp. Hằng năm, cứ vào ngày rằm tháng Giêng mọi người cùng kéo nhau về Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để cùng tham gia hội Xuân: “Những cô nàng cắn chỉ môi trầu/ Những cụ già phơ phơ tóc trắng/ Những em sột soạt quần nâu..” (Thơ Hoàng Cầm)
ở miền Trung và miền Nam, nhìn chung phần hội ngày Xuân thường mang tính đặc thù của vùng đất sinh sống. Nếu miền Nam, trong ngày hội thường chú trọng phần ăn uống “lai rai”, thì ở miền Trung lại chủ yếu phần “chơi”: Chơi Bài chòi; chơi lôtô”, nghe hát Sắc bùa đầu năm... Dù “ăn” hay “chơi”, mọi người đều chuộng cách ăn mặc đẹp, trang trọng, giao tiếp cởi mở để lấy “hên” đầu năm. Và do đó, sau mỗi cái tết đi qua mọi người gặp nhau thường hỏi chuyện: Đi được những đâu? Đã gặp may đầu năm chưa?...
Trong sự bộn bề của cuộc sống đời thường, nhiều khi chúng ta tưởng chừng những nét đẹp ấy đã thuộc về “Đời cô Lựu”. Nhưng mỗi dịp tết đến xuân về, trong lòng mỗi người lại gợi lên những điều kỳ thú, thiêng liêng. Phải chăng đó là bản sắc văn hóa riêng, là hồn cốt tạo nên dấu ấn của dân tộc mình?.
VIỆT KHÔI
Theo http://www.vnq.edu.vn/





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...