Hài cỏ bờ sương
Họ cưỡi sóng trùng dương mà đi về những miền
đất lạ, coi thân sinh tử như giọt sương mai và hành trang chỉ là một lòng đại
nguyện không muốn chỉ riêng mình thoát cõi trầm luân….
Họ chân cứng đá mềm qua những miền gió cát chất
đầy đầu lâu xương trắng, những sơn đạo hoang vu chỉ có gió núi mưa rừng và hành
trang vẫn là một chữ thương đời…
Họ một đời ẩn tích sơn lâm để làm cái gương sống
đạo cho muôn người sinh tử theo đó mà tiến tu…
Họ học giả, họ thiền sư, họ du tăng, họ chẻ
đá khai sơn gầy dựng đạo tràng, họ mở đạo tạo tăng để tìm người truyền thừa mạng
mạch tông môn, họ chịu đánh chửi khinh miệt, họ gánh hết khổ nạn nhân quần, họ
làm mọi sự gian truân chỉ vì một chữ Phật ở đời. Phật là hiểu, là thương, là
bao dung, là chia sẻ chân tình không điều kiện. Đời mất Phật rồi thì thiên hạ
quay về với thuở hồng hoang. Hồng hoang ngay từ trong tâm thức, với những trái
tim không tình người và những khối óc chỉ biết sắt thép. Đại khái buồn ghê gớm.
Vậy là đời cần có Phật.
Tôi muốn thưa rằng họ là những Phật Âm, Huyền
Trang, Giám Chân, Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh, A Đề Xá, Tôn Khách Ba,…Không có họ, có
lẽ Phật giáo hôm nay không có kinh điển và cái gọi là tông môn. Thiếu hai món
này, dám hỏi đạo Phật còn lại gì. Kiểu Phật giáo bất lập văn tự gì đó thực ra
đã tan theo ngọn lửa trà-tỳ ngay sau ngày Thế Tôn viên tịch. Đời nay không có
kinh văn thì hậu nhân cầu pháp khác gì người nấu sỏi tìm cơm !
Rồi chuyện đời biển dâu, hữu hình hữu hoại,
Phật còn bỏ đời mà đi thì nói gì hàng môn đệ phàm nhiều hơn thánh. Thời mạt
pháp đời càng gieo neo nghìn lần mà đạo lực người hoằng dương ngày một thiếu hụt.
Đã huyễn hoá, đời nay càng thêm nhiều trò huyễn hoá, đạo nghiệp hoằng dương từ
đó cũng phải thêm chút cơ xảo để hướng dẫn người sơ học và đó cũng là cái cớ chẵng
đặng đừng cho bao thứ thị phi tan nát can tràng.
Tôi nhớ từng viết ở đâu đó rằng đời vì lục
căn mà trầm luân thì người hành đạo giải thoát cũng phải từ lục căn mà tìm ra
chỗ thoát. Hiền thánh xưa đạo lực thâm hậu với cơ man những phương tiện diệu dụng,
người sứ giả Như Lai hôm nay đôi khi chỉ còn biết trông cậy vào vài món du hí
tam muội thời thượng. Tất thảy những hình ảnh, âm thanh khả dĩ chở được ít nhiều
gợi ý cho người học đạo đều được tận dụng như những thân cây, mảnh gỗ, hay
thùng thau chum chóe cho người chết đuối trên dòng. Ý nghĩa tận dụng đó dĩ
nhiên cũng bị lợi dụng thê thảm, nhưng suy cho cùng, nói theo Cơ-Đốc-Giáo, người
hoằng dương chính là những kẻ vác thập giá khổ nạn mà đi, chen lấn với cả những
người anh em ham chơi để làm cho xong nghiệp lớn và dĩ nhiên tai tiếng chia đều!
Bài báo do một tay ký giả trong nước xem chừng
cũng là người mộ Phật. Chỉ một bài phóng sự con con đăng báo mà tác giả cứ như
rút hết tâm tình mà tán, mà dặm như chuyện riêng đời mình.
Chuyện kể về một vị đại ca giang hồ ở Đà Lạt
sau những sóng gió gặp phải trên đường lăn lộn đã một ngày ngẫu nhiên tìm đến với
Phật qua câu chuyện về một nhà sư nghệ sĩ ở Huế. Bài viết thâm thiết chí tình
và ly kỳ như tiểu thuyết Duyên Anh nhưng lại là chuyện có thật. Bỏ hết những
ngày tháng gay cấn máu hận, chàng trai trẻ kiêu bạt kia đã phủi tóc xuất gia và
chọn lấy một kiểu sống đạo thật lạ và cũng rất thời thượng: Hoằng dương bằng
máy ảnh !
Nhà sư trẻ đó đã chọn lấy một con đường vừa sức
mình và có lẽ cũng là người khai sơn phá thạch cho một kiểu tu hành thời đại.
Sao cũng là hoằng dương hết, đưa người về với Phật qua những âm thanh, sắc tướng
cũng là một kiểu lợi tha. Tôi bỗng nhớ đến một nét riêng rất độc đáo trong văn
hoá tâm linh Việt là hầu như người Việt nào cũng bắt đầu yêu Phật bằng những tiếng
chuông chiều mõ sớm nghe được ở đâu đó, có khi chỉ là tiếng vọng từ một quảng đời
thơ ấu. Rồi thì hình ảnh một bát hương, một mái chùa, đều là một phần hồi ức của
tuyệt đại đa số người Việt nông thôn. Trong những trường hợp đó, mùi thơm vi diệu
ở cõi Chúng Hương gì đó bên Phật giáo Bắc truyền có lẽ không gần gũi bằng chút
mùi nhang phảng phất bên bờ ruộng buổi chiều hay những thảo am lẽ loi đâu đó
bên lưng đồi, chân núi. Cả cái Pháp Âm Sư Tử Hống gì ấy cũng không ru được long
người hữu hiệu như một tiếng chuông rơi rớt đâu đó trong một buổi chiều muộn.
Tôi nhớ mấy câu truyện ngắn của Tự Lực Văn Đoàn cũng đã tận dụng những tiếng
chuông chùa ở xóm làng Bắc Việt để làm nền cho không ít những tình huống rất tế
nhị. Thế là mùi hương hay âm thanh nếu được vận dụng đúng chỗ cũng cứ là những
con đò đưa người sang sông.
Dĩ nhiên không thể đem so sánh một chút mùi
nhang hay một tiếng chuông chiều với một tấm ảnh nghệ thuật, nhưng tôi cứ muốn
thưa rằng gì cũng tốt, làm sao thấy được thì thôi. Cái quan trọng vẫn là cái đó
đưa ta về đâu.
Hai đêm nay cứ ngũ sâu một tí lại mơ thấy
mình bỏ hết kinh tượng để cầm lấy cái máy ảnh lang thang đâu đó bên Ấn, bên Tàu
để chiêm ngắm vạn hữu bằng công phu Nhiếp Ảnh Tam Muội. Nhưng trời ạ, lúc quay
về quán trọ mới hay chiếc máy trên tay mình lâu nay chỉ là loại máy Kodak chụp
hết cuộn phim thì vất. Giật mình thức giấc rồi thì có được một bài học nửa lạ nửa
quen: Mắt tuệ kém cõi thì khả năng ghi nhận dễ có vấn đề.
Xin cảm ơn sư CH, người đã rũ áo giang hồ đề
trở thành phương trượng ngôi chùa Định Quang rách nát mà thiền vị bên dưới chân
đèo Hải Vân. Tôi cũng xin cảm ơn anh nhà báo đã viết bài về nhà sư kỳ lạ đó và
dĩ nhiên cũng phải cảm ơn những người đã đọc bài viết này của tôi. Chỉ cần
trong lòng có Phật, trong tim có tình người thì thể hiện nào cũng là một cách
thế lợi tha. Thôi thì muôn nẻo hoằng dương, đưa nhau được một đổi đường cũng
vui!.
TOẠI KHANH


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét