Platon và khung trời của Ý
Kính mời quí vị đọc bài viết "PLATON & KHUNG TRỜI CỦA
Ý" của TS Kim Thanh Nguyễn Kim Quý viết về Nhạc sĩ Lê Văn Khoa.
Nhóm Nhân Ảnh Tân Văn sẽ tổ
chức buổi giới thiệu sách: "LÊ VĂN KHOA: Một Người Việt Nam".
Buổi giới thiệu sách được tổ
chức vào ngày thứ Bảy 19/9/2015 tại SAIGON 9 RESTAURANT, vào lúc 11:00
trưa, xin xem tờ flyer để biết thêm chi tiết của chương trình. Sách được viết bởi
nhiều tác giả, trình bày trang nhã với nhiều hình ảnh màu đẹp mắt, sách dày 700
trang in trên giấy láng. Tác phẩm này đã được trình làng tại nhiều tiểu bang
Hoa Kỳ. Đây là lần đầu được nhóm văn học thực hiện tác phẩm sẽ giới thiệu đến
quý đồng hương thân thương tại sân nhà Nam California.
Kim
Thanh Nguyễn Klm Quý
1. Khung trời của Ý
Ý, tức Ý
Tưởng. Ý Niệm. L’ univers des Idées. Cũng như tôi, quý bạn nào theo
Ban Triết trước 1975 chắc còn nhớ Platon (khoảng 427-347 BC) - là đệ tử của
Socrate và sư phụ của Aristote, cả ba đều là những triết gia lừng danh thời cổ
đại Hy Lạp - và lý thuyết và tư tưởng đặc sắc của ông. Tác phẩm đồ sộ của
Platon viết theo thể đối thoại (dialogues), dài ngắn khác nhau (từ 22 trang
trong Criton đến 418 trang của Les Lois), ghi lại những bài giảng
dạy của Socrate về đủ vấn đề: khoa học, toán học, công lý, lý luận, siêu hình,
đạo đức, thẩm mỹ, chính trị, luật pháp, giáo dục, tình yêu, nghệ thuật… Đối thoại - làm nẩy sinh nhu cầu khai triển và tranh luận - cũng là hình thức kịch nghệ
(hay tiểu thuyết và phim ảnh trong thời hiện đại) mà người Hy Lạp rất ưa chuộng,
cùng với thi ca và triết học, và chúng ta không ngạc nhiên khi thấy, trong văn
học Cổ Hy Lạp, được vinh danh song song với Homère, Socrate, Platon, còn có những
kịch tác gia lẫy lừng như Sophocle (tác giả vở Antigone bất hủ), Euripide,
hoặc Aristophane.
Những
tác phẩm quen thuộc, kinh điển của Platon gồm có Banquet, Phèdre, Phédon,
và République. Trong đó, những tư tưởng và lý thuyết của “thầy” Socrate được
lặp lại, đào sâu, bàn rộng để rồi với thời gian trở thành độc đáo, độc nhất của
“trò” Platon - mà những triết gia Tây phương cận đại gọi là “platonisme”. Quả
thế, Platon phân biệt hai thế giới tương quan và tương phản: thế giới hữu hình,
vật chất của loài người, dưới trần thế đối nghịch với thế giới vô hình,
tâm linh, ở tận trời cao. Tức là lý thuyết về ý niệm căn bản (archétypes) qua
đó bản chất thật không nằm trong những hiện tượng (phénomènes) cá biệt ta thấy
trước mắt (điều mà, 25 thế kỷ sau, Kierkegaard và Jean - Paul Sartre gọi
là être, thực thể, vô tri vô giác - chỉ trở thành existence, hiện
sinh, khi được thăng hoa bởi sự tự do và chọn lựa, nhưng đó là một vấn đề
khác), tỉ như một quyển sách, một cây táo hay một người nào đó. Những hiện
tượng đó, trái lại, nằm trong vùng Ý Niệm tổng thể về sách, cây hay người.
Socrate thì cho rằng dưới lớp vỏ xác thân, con người cần đạt đến cái đẹp của
tinh thần. Trong Phédon, Platon phụ họa: “Thân xác là nấm mồ” (le corps
est le tombeau). Nói cách khác, những hiện tượng cá thể chỉ là bản sao chép ngắn
hạn và chóng hư từ bản thể vĩnh cửu và bất diệt của Ý. Ý tưởng là vô biên và bất
biến, hiện hữu muôn đời bên ngoài không gian và thời gian. Ý tưởng tạo thành đối
tượng cho mọi khát khao, thèm muốn, và đối tượng của mọi tri thức thật. Ý tưởng
còn là những hình thái trong đó tự biểu lộ thực thể cuối cùng và tuyệt đối có
thật: Ý Niệm tối cao của Điều Thiện. Lý thuyết của Platon tạo thành một hệ thống
gồm những giá trị tinh thần và giáo dục hướng về đời sống tốt đẹp cho cá nhân
và quốc gia.
Bên
cạnh lý thuyết Ý Niệm, Platon còn chủ trương rằng mọi sự hiểu biết, hay học hỏi,
thực ra chỉ là kết quả của hồi niệm (réminiscence). Nói cách khác, linh hồn đã
gặp gỡ Ý Tưởng vào một giai đoạn nào đó trong tiền kiếp. Tất cả học thuật và
kinh nghiệm, như thế, chỉ là việc nhớ lại những Ý Tưởng qua sự gợi ra bởi những
bản sao bất toàn của Ý trong thế giới tri giác (monde des sens). Ví dụ, vẻ đẹp
thể xác nơi một người làm nhớ lại trong linh hồn tình nhân những kỷ niệm hạnh
phúc bất tử về Cái Đẹp lý tưởng đã bắt gặp từ muôn thuở trước.
Trong Phédon, Platon nói rõ hơn, nguồn gốc của mọi Cái Đẹp phải là “một vẻ
đẹp khởi thủy mà chỉ sự hiện diện thôi cũng đủ làm đẹp mọi sự vật trong một mối
thông giao nào đó”.
Từ
Cái Đẹp Platon dẫn đến quan niệm Tình Yêu. Socrate xem tình yêu là một ước muốn - ước muốn điều mình không có, rồi từ đó những điều tốt (bon) và đẹp (beau).
Platon còn đi xa hơn, tình yêu khởi đầu là một quyến rũ xác thịt, rồi thèm khát
tinh thần, hoàn toàn tách biệt khỏi thế giới hữu giác (sensible), để trở thành
tình yêu thuần Ý Tưởng. Giống như, một cách khác, trong Paul Claudel, nhà thơ
Công Giáo hiện đại Pháp, tình yêu tạo vật là nẻo đường dẫn đến sự tôn thờ Đấng
Tạo Hóa. Vì thế, trong văn chương và trên thực tế, có một hình thức tình yêu gọi
là tình yêu mang tên Platon, “amourplatonique” (không phải tình yêu đơn
phương, hoặc tao nhã, amour courtoisthời Trung Cổ Âu Châu), bảo đảm duy nhất
cho Cái Đẹp lý tưởng, theo nấc thang từ dưới lên: tình yêu thể
xác ® tình yêu trí thức (vs nhục dục) ® tình yêu đạo đức ® tình
yêu tuyệt đối. Có thể nói amour platonique là tình yêu lý tưởng,
trong tâm hồn, không chung đụng xác thịt. Đó là, trên thực tế, tình yêu nổi tiếng
của thi hào Pétrarque và Laure, thi hào Dante và Béatrice, thế kỷ XIV. Đó là, về
mặt văn chương, chàng quý tộc Félix de Vandenesse và góa phụ Mme de Morseauf,
trong Le Lys dans la vallée của Balzac, Ngọc và “chú tiểu” Lan
trong Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng, hay “nhà cách mạng lãng mạn”
Dũng và Loan trong Đôi bạn và Đoạn Tuyệt của Nhất Linh
v.v... Đó là, nói một cách khác, sự khắc khoải đi tìm và vươn
lên Cái Đẹp vô biên, đích thực, chưa hề bị ô uế bởi thân xác, màu sắc, hay bất
cứ ảnh hưởng phù phiếm nào của cuộc đời, và lúc ấy linh hồn người sẽ vượt qua thực
thể, để trở về với cội nguồn vĩnh cửu, tuyệt đối, với sự hài hòa toàn vẹn và đồng
nhất căn bản.
Khắc
khoải, vì sao? Như Platon viết trong Phèdre, ở mỗi linh hồn con người có
hai cỗ xe ngựa chạy ngược chiều giằng co nhau, một hướng về trời cao, một kéo
trở lại mặt đất. Có nghĩa là muốn với bắt Cái Đẹp tuyệt đối là một cố gắng phi
thường và không bao giờ dễ dàng. Rồi từ Cái Đẹp ấy, linh hồn tìm về Sự Thật và
Điều Thiện. Cả ba Ý Niệm ấy đồng hiện hữu, liên kết với nhau, và, như mặt trời
chói lọi, tỏa chiếu xuống trần gian những tia vàng vọt, mờ nhạt của khung trời
vĩnh cửu Chân Thiện Mỹ đích thực, tuyệt đối, bất biến.
2. Mỹ
thuật và Triết học:
Học
thuyết Platon không bao gồm một hệ thống thẩm mỹ hoàn toàn được thiết lập, mà
chỉ là những nét chấm phá, gợi ý. Và tâm lý của nghệ sĩ hoặc của công chúng nhường
chỗ cho những nhận xét khác nhau về vai trò đạo đức trong từng bộ môn nghệ thuật.
Hình
như trong tư tưởng của Platon, Thi ca chiếm ghế danh dự, với điều kiện là kỹ
thuật (làm thơ) phải phối hợp với nguồn hứng cao cả. Về thi hứng, Platon viết
trong Phèdre, Triết học (philosophie, nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa “tôi yêu
thích sự khôn ngoan”) sẽ cấu tạo cho Thơ hứng cảm vĩ đại nhất, phong phú nhất,
giàu sang nhất.
Tuy
nhiên Âm nhạc, bằng khí cụ, lời ca, hay khiêu vũ (Platon cho khiêu vũ cũng là một
cách thể hiện âm nhạc) giữ vai trò chủ yếu trong Quốc gia (như dân tộc
Lào, ghi chú của tác giả KT): Đó là “pháo đài” chống giữ Đô Thị
(Cité, cổ ngữ đồng nghĩa với quốc gia, cf République, IV). Âm nhạc
làm dịu phong tục, tập quán. Nhưng bắt buộc nó phải đơn giản tuyệt đối và nhịp
điệu phải được tẩy lọc tối đa.
Và,
một điều quan trọng nữa: âm nhạc phải hoàn toàn lệ thuộc vào và phục vụ cho
Chính Trị và Đạo Đức. Chúng ta hiểu, Đạo Đức Chính Trị. Không thể có Chính Trị
tách rời Đạo Đức. Trong Les Lois, thực vậy, Platon nhận xét về âm nhạc của
một số nước thuộc miền Tiểu Á (Asie Mineure) Cổ Đại: ông chối bỏ âm nhạc của
dân xứ Lydie vì tính cách thở than, làm suy yếu tinh thần (như dòng nhạc phản
chiến của Trịnh Công Sơn và Phạm Duy thời chiến tranh Việt Nam), chê bai âm nhạc
của dân xứ Ionie vì tính cách dâm dật, quá ủy mị. Ông chỉ muốn giữ lại âm nhạc
của xứ Dorie có tính cách chiến đấu, hùng tráng, hay của xứ Phrygie hiền hòa,
đem bình an đến mọi người.
Còn
những bộ môn nghệ thuật khác? Platon rất kỵ thuật hùng biện, ngụy biện, cái bề
ngoài giả dối, giả tạo, có tính lừa gạt, và cho là không xứng đáng được gọi là
đối tượng nghệ thuật. Vì vậy, dưới mắt ông, Hội Họa có vẻ nguy hiểm nhất trong
các bộ môn nghệ thuật. Trong Les Lois, ông khuyên chúng ta cố gắng tìm thấy
trong Hội Họa lý tưởng của cha ông ngày xưa, ví dụ những tuyệt phẩm trong các đền
thờ Ai Cập Cổ, vì tất cả chiếu lên một sự thật khắt khe. Vốn bảo thủ và thích
những nét vẽ có tính cách tôn giáo, thần thánh uy nghi, ông ghét sự đổi mới, những
phương pháp và kỹ thuật tân hội họa với những bức tranh nhìn xa thấy mơ hồ có một
ý nghĩa nào đó, nhưng khi đến gần những màu sắc trộn lẫn với nhau cho thấy những
khối dị dạng “không giống ai”.
Kịch
Nghệ, Điêu Khắc, Kiến Trúc, trái lại, là những bộ môn nghệ thuật mang những nét
đẹp của nguyên tắc tối cao: Cái Đẹp, ở bất cứ nơi đâu, cũng được định nghĩa bởi
sự hài hòa và đo lường đúng đắn, nhưng không có tính toán học hay khoa học khô
khan và máy móc, mà như một sự thỏa mãn, vui sướng đối với sản phẩm của Thẩm Mỹ.
Sự thỏa mãn ấy là một cảm xúc tinh tế nối kết với sự tìm kiếm trí thức bất vụ lợi.
Tóm
lại, triết lý về Nghệ Thuật trong Platon chính là ý tưởng về tính siêu việt
(transcendance), trái ngược với quan niệm của đệ tử Aristote - người đã,
trong Politique VII, cho rằng tất cả đều ở trong chúng ta và lý tưởng
chính là con người, và Nghệ Thuật là một sáng tạo, chứ không phải sự hồi niệm từ
kiếp trước qua khung trời của Ý. Đối với Platon, Cái Đẹp không tự dưng mà có ở
mức đời sống. Nghĩa là không ở trần gian. Nó ở trên và ở ngoài thế giới này. Phải
cố gắng hết sức để trở về với Bản Thể hoặc Ý Tưởng. Phải nắm bắt Ý Niệm căn bản
của sự vật để có thể cảm nhận cái đẹp sâu kín của chúng. Nếu không, chúng ta
không bao giờ có thể hiểu thấu cái gì hết. Cái Đẹp tuyệt đối không thể sờ thấy
được, nhưng chính vì đó mà con người phải thử mọi cách để đến gấn nó. Những ai
đã thấy nó gần nhất sẽ chính là những người mà chúng ta phải ngưỡng mộ vì sự
hoàn hảo về hình thức của nét vẽ hay âm thanh của họ. Và Platon nhắc lại: Tồn cổ
thường chân chính trong lãnh vực của Cái Đẹp, còn Canh tân luôn luôn là một sự
lừa dối. Bởi vì kinh nghiệm của mười ngàn năm không thế thay thế được.
3. Trở về trần gian:
Học
thuyết Platon có ảnh hưởng to lớn trên thời Trung Cổ và Phục Hưng với đông
đảo “đệ tử Tân Platon”, néo-platoniciens, khởi đầu là triết gia Ai Cập
Plotin, thế kỷ III sau TC, rồi các nhà đạo đức và thần học Công Giáo, hai Thánh
Augustin và Thomas d’Aquin, những nhà tư tưởng và triết gia, như phái Khắc Kỷ (Stoïciens),
những danh nhân và thi nhân, kể cả khoa học gia nổi tiếng Galilée, người đã nối
kết tư tưởng của Platon với tương lai của khoa học và con người, và nhà danh họa
Léonard de Vinci, tác giả của hai tuyệt phẩm La Cène (Tiệc Ly)
và La Joconde v.v...
Đọc
Platon tôi không khỏi nghĩ đến những bậc kỳ tài trong thiên hạ về các bộ môn
nghệ thuật, qua bao thời gian và không gian, mà những tác phẩm tràn đầy Cái Đẹp,
Sự Thật và Điều Thiện, dù sao, dưới mắt Platon, chỉ là những hình bóng phản chiếu
ánh sáng bất diệt tự khung trời Chân Thiện Mỹ tuyệt đối. Chỉ là hình bóng trần
gian mà đã hấp dẫn đến thế kia, thì thử hỏi ánh sáng Chân Thiện Mỹ tự trời
Platon phải siêu tuyệt như thế nào.
Về thi
ca, tôi nghĩ đến Virgile, Horace của Latin, Pétrarque và Dante của Ý, Goethe của
Đức, Shakespeare của Anh, Victor Hugo của Pháp, Nguyễn Du của Việt Nam. Tôi
nghĩ đến một người mà tài năng thật đa dạng, Michel Ange, điêu khắc gia, họa
sĩ, kiến trúc sư, và thi sĩ Ý.
Tôi nghĩ
đến, dưới góc nhìn khiêm nhường khác, hai thi sĩ Bích Khê và Đinh Hùng, cũng đã
ít nhiều, vô tình hay cố ý, bắt chước “sư phụ” Platon khi nhớ lại, qua sắc đẹp
của mỹ nhân trần thế, Vẻ Đẹp tuyệt vời và tuyệt đối trong khung trời của Ý:
Ô
tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?
Nàng
ở mô! Xiêm áo bỏ đâu đây?...
Nàng
là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt
ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ
tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm
y huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài
chút trăng say đọng ở làn môi. …
(Bích
Khê, “Tranh lõa thể”)
Ở
bên em, ôi biển sắc rừng hương!
Em
lộng lẫy như một ngàn hoa sớm,
Em
đến đây như đến tự thiên đường ....
Ôi
mắt xa khơi! Ôi mắt dị kỳ!
Ta
trông đó cả trời ta mơ ước,
Ta
thấy đó, một vừng đông thuở trước,
Cả
con đường sao mọc lúc ta đi,
Cả
chiếu sương mây phủ lúc ta về,
Khắp
vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ! …
(Đinh
Hùng, “Kỳ nữ”)
Nay
đến trước xin yêu, hồn khép nép,
Tự
trời xanh rơi xuống để gần em....
Hãy
yêu tôi vì tôi làm nên mộng,
Hãy
yêu tôi vì tôi dệt nên trời
Em
đi trong trời mộng đó em ơi!
Theo
gió nhẹ bay cao hồn vũ trụ. …
(Đinh
Hùng, “Xin hãy yêu tôi”)
Về
âm nhạc, tôi nghĩ đến biết bao nhạc sĩ tài danh từ cổ chí kim, đặc biệt
Beethoven, và của ông, những bản nhạc tuyệt tác làm đắm say lòng người, và bản
đàn Appassionata, sonate # 23, mà tôi mê mẩn vì vẻ đẹp nhuốm màu
Platon của Tình Yêu thần thánh, dù tan vỡ. Nghe nỗi khổ đau tột cùng, mà vẫn đằm
thắm, của tình yêu nát tan mà tôi tưởng tượng đã chết theo mùa thu phai úa,
trên đôi môi hững hờ, bởi những chia lìa, mất mát, và phản bội -dàn
trải ngút ngàn qua suốt bản sonate, trên từng phím đàn thánh thót, đứt
quãng, chìm xuống như từng giọt lệ ngân. Bản đàn, cuối cùng, đưa tâm hồn về với
bình an muôn thuở. Tôi nghĩ, một người nếu thực sự đã nghe
sonateAppassionata một lần rồi sẽ không còn muốn oán thù ai nữa. Và
tôi đọc ở đâu đó, Lénine có nói rằng nếu cứ tiếp tục nghe bản nhạc này ông ta sẽ
không hoàn thành nổi cuộc cách mạng vô sản.
Thực
điên rồ nếu so sánh Beethoven với một nhạc sĩ Việt Nam, Lê Văn Khoa. Nhưng nói
đến Beethoven không khỏi làm tôi nhớ Lê Văn Khoa về mức độ ngưỡng mộ đồng nhất
cho cả hai trong hồn tôi. Sự Thật và Điều Thiện trong
khung trời của Ý mà Platon đã nhắc, mà chỉ những nghệ sĩ trung thực và nhân bản
mới đạt đến.
Lê
Văn Khoa, mà Nhóm Thân Hữu sẽ tiếp đón vào trưa ngày 19/9/2015. Lê Văn Khoa, người đem tình tự quê hương Việt Nam
và chính nghĩa vào trong âm nhạc, tương tự, phần nào, thiên tài Chopin đã mang
vũ điệu dân tộc Ba Lan vào những bản Polonaises bất hủ (Military in A
major, op. 40, hoặc Heroic in A-flat Major, op. 53).
Lê
Văn Khoa, vị nhạc trưởng tài hoa, cần được đồng hương chúng ta đến
xem, thấy, và nghe. Và tin. Để tránh vài ngộ nhận, thắc mắc, xì xèo này nọ của
vài đồng hương. Vì chính vì thế, hôm nay tôi phải lạc đường vào khu rừng triết học quên lãng,
viết bài này để vinh danh ông và những nghệ sĩ chân chính.
Đến
tham dự, quý đồng hương chỉ mất vài tiếng đồng hồ phù du trong ngày thứ Bảy, nhưng
ngược lại được cả niềm vui tinh thần phơi phới dài lâu. Niềm vui mà, Platon
cũng như kẻ hèn này hứa hẹn - Tạm xa lánh những phiền muộn, nhọc
nhằn - sẽ bắt gặp trong khung trời Chân Thiện Mỹ và nghệ thuật không có trên
cõi trần gian này.
Ngày
11/5/2014
Tiến sĩ Kim
Thanh Nguyễn Klm Quý
(Đại diện Nhóm Thân Hữu Lê
Văn Khoa)
GHI CHÚ
Bài viết này dựa trên sách của:
- P. M
Schuhl, Platon et l’art de son temps, PUF, 2ème édition, 1952
- René
Huyghe, L’art et l’âme, Flammarion, 1961
- Denis
Huisman, L’Esthétique, PUF, 1961
-Israël Knox,The
AestheticTheory of Kant, Hegel and Schopenhauer, N.Y, 1936.
Trần
Năng Phùng



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét