"Tự hát"- Khúc
tự tình của trái tim yêu mãnh liệt
Cảm thức về tình yêu luôn là điểm nhấn sâu sắc trong thơ Xuân
Quỳnh - một hồn thơ đa cảm mà dung dị, một trái tim yêu mãnh liệt “dữ dội và
dịu êm”, “ồn ào và lặng lẽ”, khiêm nhường đấy nhưng cũng ào ạt, đam mê như sẵn
sàng cháy đến tận cùng nỗi khát khao được yêu và dâng hiến. Thơ Xuân Quỳnh luôn
có vị thế đáng trân trọng trong lòng độc giả qua các thế hệ, vì thơ không chỉ
hay và đẹp qua ý, tình, con chữ,… mà hồn thơ thật giản dị mà triết lý thẳm sâu,
lay thức vào những góc khuất lòng người, dư ba cảm xúc,…Dấu ấn về phong cách
thơ Xuân Quỳnh còn được khẳng định mạnh mẽ hơn khi thơ không chỉ là thơ mà
trong thơ như hòa nhuyễn, đồng điệu giữa chuyện thơ, chuyện đời, giữa cuộc đời
nữ sĩ tài sắc và hồn thơ đã sắc điệu, quyến rũ lòng người.
Thơ luôn mang dấu ấn cá tính sáng tạo của người sáng tác. Thơ tình Xuân Quỳnh rất nhiều cảm xúc với những giọng điệu, cung bậc khác nhau nhưng hợp chung và thống nhất một điểm đó là chất men say nồng trong
tâm trạng khao khát yêu và được yêu đến cuồng nhiệt, say mê,…Điều này bắt
nguồn bởi chính tính cách luôn sống hết mình, thẳng thắn, rõ ràng từ trong cảm xúc, suy nghĩ của nhà
thơ. Bài thơ Tự hát được đánh giá là một trong những thi phẩm hay, rất
đàn bà và thật đậm chất Xuân Quỳnh. Ở đây, “Trái tim yêu” của nữ nhân vật trữ
tình được đặt ra trong những chiều cách mang tính giả thiết phủ định.
Chẳng dại gì em ước nó bằng
vàng
Trái tim em, anh đã từng
biết đấy
Anh là người coi thường của
cải
Nên nếu cần anh bán nó đi
ngay.
Em cũng không mong nó giống
mặt trời
Vì sẽ tắt khi bóng chiều đổ
xuống
Lại mình anh với đêm dài
câm lặng
Mà lòng anh xa cách với
lòng em.
Bài thơ như được viết trong tâm trạng hạnh phúc của một người phụ nữ đang
yêu và được yêu bởi những dấu hiệu về sự đắm say, yêu đương cuồng nhiệt. Tuy vậy, đọc hai khổ thơ đầu cũng cho thấy,
có không ít những nghi ngờ, thấp thỏm, lo âu, hoài nghi, buồn nản về tình yêu
không trọn vẹn, về tình người đổi thay, về sự bất lực của trái tim yêu,…của một người phụ nữ đa cảm. Nhưng có lẽ, không phải vô cớ, nhà thơ đặt cho thi phẩm
nhan đề là “Tự hát”, phải chăng đề thể hiện một trạng thái tâm lý hưng phấn của
con người, một tâm hồn thơ được “hát” lên với tấu khúc ca về một bản lĩnh cứng
cỏi, tự tin, đầy thách thức, một trái tim yêu say đắm, một lời ngỏ về tình yêu
trọn vẹn hiến dâng? Nữ nhân vật trữ tình như muốn khẳng định trái tim yêu của
mình không phải là “vàng” quý giá, cũng chẳng là “mặt trời” cao cả, dù hai thứ
đó luôn được người đời ao ước, đem ra để định danh tình yêu. Cô khẳng định: “Trái tim em, anh đã từng biết đấy”. “Từng
biết” là đã biết, đã hiểu, thậm chí hiểu rất rõ (có thể là trong quá khứ) những
cũng là dự báo về nỗi lo âu, một sự đổi thay trong tình yêu của anh dành cho
em. Cô lo sợ sự đơn giản về biểu tượng trái tim yêu chỉ là “vàng” hay “mặt
trời” hữu hình, quý giá mà vô cảm thì tất yếu sẽ dẫn đến sự cách chia, xa lìa
của “lòng anh” với “lòng em”. Nỗi cô đơn trong những “đêm dài câm lặng” có lẽ
là ám ảnh khủng khiếp với trái tim yêu cuồng nhiệt, chân thành của những người
phụ nữ như cô. Và hơn cả, là sự vô cảm, dửng dưng, thờ ơ nguội lạnh của hai tâm
hồn, sống gần nhau mà xa cách vạn trùng. Thơ Xuân Quỳnh thường hay có những
khoảnh khắc tâm hồn day dứt, đau đớn như vậy, nên hơn một lần từng khắc khoải
nhắc: "Ðốt lòng em câu hỏi, Yêu em
nhiều không anh"(Mùa hoa đỏ).
Em trở về đúng nghĩa trái
tim
Biết làm sống những hồng
cầu đã chết,
Biết lấy lại những gì đã
mất,
Biết rút gần khoảng cách
của yêu, tin.
Em trở về đúng nghĩa trái
tim em
Biết khao khát những điều
anh mơ ước
Biết xúc động qua nhiều
nhận thức
Biết yêu anh và biết được
anh yêu.
Nếu hai khổ thơ trên là những giả định phủ
định để khẳng định trái tim yêu của nhân vật trữ tình không cách biệt xa vời
với “anh” và với cuộc đời thực, thì đến hai khổ thơ tiếp nối là một sự khẳng
định không di dịch với điệp câu chắc chắn: “Em trở về đúng nghĩa trái tim”. Một
trái tim yêu mãnh liệt, đắm say những cũng rất “tỉnh táo”, đủ thông minh để
“biết” làm, biết đạt được những điều khó thể và không thể trong tình yêu, trong
cuộc đời. Một loạt hình ảnh thơ đối lập, mạnh mẽ được đặt cạnh nhau trong giọng
điệu gấp gáp như khẳng định bản lĩnh và trí tuệ trái tim yêu hay chính bản thân
cô gái đã trải nghiệm và thành công. Đó là: biết lấy lại sự sống từ cái chết,
biết lấy lại những gì đã mất, biết xóa đi khoảng cách của tình yêu, của niềm
tin, biết cùng nhau mơ ước, biết xúc động,... và trên hết, thành công hơn hết
là: “biết yêu anh và biết được anh yêu”. Đúng, ngàn lần khẳng định, trong tình
yêu, khao khát lớn nhất, hoàn hảo nhất đối với mỗi người tình là: yêu và được
yêu. Tình yêu luôn vĩnh cửu là thế, đơn giản và sâu sắc cũng vì thế. Sự cho và
nhận phải cùng đến từ hai phía, tự tâm, tự nguyện để cùng chia sẻ, tận hưởng.
Xuân Quỳnh không phải là triết gia về tình yêu, song cảm thức về tình yêu của
chị thật chí tình, chí lý, rất nhân văn và cũng tràn đầy bản năng sống nhiệt
tình và hòa hợp. Trong tình yêu để cho đổi tác “biết” và cảm nhận được dư vị
tình yêu không phải là dễ, càng không phải lúc nào cũng được diễn tả bằng lời
một cách tỏ tường. Cả đời sống bên nhau chưa hẳn đã biết hoặc đã cho nhau biết
yêu và được yêu, nên bi kịch tình yêu luôn hiện hữu với bất cứ cuộc tình nào.
Và trong thơ Xuân Quỳnh thì luôn dự báo những trớ trêu, trắc trở đó:
Mùa thu nay sao bão mưa
nhiều
Những cửa sổ con tàu chẳng
đóng
Dải đồng hoang và đại ngàn
tối sẫm
Em lạc loài giữa sâu thẳm
rừng anh.
Trái tim yêu thường không thể vô cảm với cuộc
đời, nó cảm nhận nhanh nhạy và vi tế với những biến đổi, thất thường với mọi
thứ xung quanh, và thường có những lo âu một cách vô cớ, bất ngờ. Trong thơ
Xuân Quỳnh, người ta thường nghĩ, chuyện thơ vận vào chuyện mình hoặc ngược
lại, nên thơ chị được nhiều bạn đọc thích thú bởi tính đồng hiện tâm trạng
trong thơ, của nhà thơ, của nhân vật nữ, hay của số đông tâm trạng phụ nữ đang
yêu, khao khát yêu,...Và nói chung, thơ chị là “tiếng lòng” nói thay những tâm
sự rất “đàn bà” của cả thế giới phụ nữ. Hình ảnh thơ mang tính dự báo, lo sợ về
sự đổi thay về tình yêu, số phận tình yêu qua những tính từ biểu cảm như: lo
âu, cô đơn,...Ngay khi đang tâm trạng yêu đang trong kỳ thăng hoa nhất, tình
yêu đang tràn đầy hạnh phúc viên mãn thì vẫn không không nguôi ngoai những trăn
trở, âu lo, bất ổn: “Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi,
…” (Nói với anh).
Thơ Xuân Quỳnh đẹp như chính chị và tâm hồn chị, càng đọc càng
hay, hay trong sự suy ngẫm về cuộc sống, cuộc đời và cuộc tình nên thường dẫn
người ta đến những triết lý sống, triết lý yêu. Rất dễ nhận ra, là luôn tồn tại một
nghịch lý trong thơ của chị, nó như muột chuỗi hệ lụy gắn kết bền chặt với
nhau, càng hạnh phúc thì lại càng lo âu, khắc khoải, và càng âu lo lại càng mê
đắm, thiết tha, rồi gần nhau đó, hạnh phúc lứa đôi thắm thiết đấy nhưng lại
luôn tiềm ẩn hiện hữu mối nghi ngờ, chất chứa sự tan vỡ, chia lìa, xót xa...
Cái ám ảnh về hạnh phúc trọn vẹn, viên mãn trong tình yêu đi liền với ảo giác
bất ổn, không hòa hợp để dẫn đến những bi kịch tình yêu chua xót. Điều nay được
lí giải từ chính cuộc đời chị với những trải nghiệm về khoảnh khắc tình yêu
hạnh phúc, thật mỏng manh, ngắn ngủi và đầy âu lo. Với chị, tình yêu thật quý
giá những cũng đầy bất ổn, tâm trạng yêu như người đi trên dây, mạo hiểm và đầy
rủi ro, nên cuộc tình nào cũng chất chứa hiểm họa về li tan, bất hòa hợp.
Trái tim đập cồn cào không
thể nói
Trái tim đập cồn cào cơn
đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô
đơn.
Thơ là tiếng lòng tâm sự, sẻ chia thì thơ
Xuân Quỳnh đã tự nguyện mang tiếng lòng của chính nữ sĩ ra đề mà giãi bày, chia
sẻ đặng mong nhận được lời đồng vọng của kẻ tri âm. Hình ảnh “Trái tim yêu”
được nhấn lại trong tâm trạng “em” đang “lo âu” về đường đời, nhân thế, nhân
tình. Ở đây có sự giằng xé trong tâm trạng “em”, giữa điều “không thể nói” và
tình yêu cháy bỏng trong “trái tim đập cồn cào”, giữa “ngọn lửa” tình hừng hực
và cảm thức về tâm trạng lẻ loi, cô đơn. Quả thật khó có thể cắt nghĩa rạch ròi
những uẩn khúc trong tâm trạng yêu của cô gái trong “Tự hát”, vì đó là khúc
giãi bày tâm trạng yêu một phía của cô gái hay là nỗi thổn thức cô đơn về thân
phận tình yêu, niềm khao khát khẳng định tình yêu bất diệt, không đổi thay
trước cuộc đời đầy bất ổn. Thật thú vị đi tìm lời giải đáp như sự kiếm tìm nửa
kia của đời, để “trái tim” kia cất lên tiếng nói đích thực, để ngọn lửa tình
bùng cháy, dữ dội, mênh mang trong khao khát yêu và được yêu của mỗi nhân tình.
Em trở về đúng nghĩa trái
tim em
Là máu thịt, đời thường ai
chẳng có
Cũng ngừng đập lúc cuộc đời
không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi
chết đi rồi.
Không còn lời khẳng định nào mạnh mẽ và
thuyết phục hơn khi “em” chính là “em” yêu say đắm, tỉnh táo thức nhận giữa yêu
và được yêu, thực và mơ, được mất, sống chết,... Nhân vật trữ tình khẳng định
trong da diết, trái tim em giản dị, tồn tại như quy luật lẽ đời nhưng nó đặc
biệt ở chỗ- một “Trái tim yêu” đắm say, dâng hiến và minh tuệ đến mức: “biết
yêu anh cả khi chết đi rồi”. Ý thơ đoạn cuối thật mạnh mẽ, quyết liệt nhưng
giọng thơ thật nhẹ nhàng, bình thản, như trùng xuống, nhấn khắc như nhịp đập
trái tim yêu để thống thiết khẳng định tình yêu là trọn vẹn, là vĩnh cửu.
Thơ Xuân Quỳnh đi vào lòng người qua nhiều thế hệ bằng phong cách
thơ độc đáo, nhẹ nhàng, đắm thắm, giàu nữ tính nhưng cũng đầy mạnh mẽ, quyết
liệt, giọng điệu thơ phong phú, lời thơ giản gị mà ý vị sâu xa, rất dễ tạo được
sự gần gũi, sẻ chia, cảm thông nơi độc giả. Bài thơ “Tự hát” là một bài thơ
tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh, rất cần được chia sẻ và bàn luận sâu
sắc hơn để chiêm nghiệm, tôn vinh những giá trị, niềm tin yêu trong sự đổi thay
của nhân tình, nhân thế.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét