Làng cổ Đường Lâm với
không gian văn hóa tâm linh
Hà Nội vào những ngày mưa sập
sùi nhưng cũng chính thời tiết ấy thúc giục chúng tôi lên đường đi tìm những
cảm giác tươi mới và để được sống trong không gian văn hóa tâm linh tĩnh lặng,
linh thiêng. Lần thứ hai đến với làng cổ Đường Lâm, trong lòng chúng tôi vẫn
phấn chấn, háo hức và cố tình để ý xem Đường Lâm năm 2012 có những gì thay đổi
so với Đường Lâm của 10 năm trước. Nhiều năm mới có dịp quay trở lại Làng cổ,
điểm đến đầu tiên vẫn là ngôi chùa Mía.Chùa Mía có tên chữ là Sùng Nghiêm tự, nằm trên sườn đồi vùng đất
cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây. Dấu tích xưa của chùa là một ngôi miếu nhỏ, đến
đời Đức Long thứ 4 (năm Nhâm Thân 1632) miếu được xây lại thành chùa lớn như
hiện nay.
Thời gian trôi đi, cảnh vật
cũng có thay đổi nhưng cổng chùa vẫn thế, lối mòn vào chùa cũng vẫn vậy. Những
ngôi tượng Phật trong chùa có vẻ đông đúc lên, vì thế chùa Mía hiện được coi là
ngôi chùa có số lượng khổng lồ về tượng. Chùa có đến 287 pho tượng lớn nhỏ, hầu
hết những pho tượng đều có từ khi thành lập chùa. Mỗi bức tượng là 1 câu chuyện
ca ngợi những đức tính tốt đẹp của con người, dân tộc Việt Nam.
Trong 287 bức tượng đó là 6 pho
tượng đồng, 106 pho tượng gỗ và 174 pho tượng làm bằng đất nung được sơn son
thếp vàng. Tất cả những bức tượng đều mang giá trị lớn về nghệ thuật. Đặc biệt
có bức tượng “Thích Ca nhập niết bàn” là một bức tượng thuộc loại quý hiếm, ít
thấy trong các chùa ở miền Bắc cũng như cả nước.
Dãy tượng La hán
Ngoài tượng “Thích ca nhập niết
bàn”, chùa còn có bộ 8 pho tượng “Bát Bộ Kim Cương” được làm hoàn toàn bằng đất
luyện. Mỗi bức tượng miêu tả tư thế của 1 vị võ tướng đang ở trong tư thế chuẩn
bị chiến đấu trừ tà và bảo vệ pháp luật. Miêu tả ngoại hình, tinh thần của
những người đầy khí phách, tinh thần thượng võ một cách đầy sống động, đường
nét nên bộ tượng “Bát Bộ Kim Cương” đã được coi là điển hình nghệ thuật của
tượng Phật.
Ngoài ra, kiến trúc độc đáo của
chùa Mía đã bắt hồn vía của khách vãn cảnh chùa cả Tây lẫn Ta, đó là những cột
trụ thân gỗ có niên đại lâu đời được chạm trổ hoa văn rồng phượng độc đáo, uy
nghi. Chúng tôi bắt gặp nhiều du khách nước ngoài bước vào chùa Mía với đôi mắt
ngỡ ngàng bởi tận mắt thưởng ngoạn lối kiến trúc chùa chiền truyền thống, độc
đáo của Việt Nam, có tòa tháp Cửu phẩm liên hoa, cây đa cổ thụ…
Lấp lánh những ánh sao
trời giữa ban ngày
như đưa du khách lạc vào cõi linh thiêng
như đưa du khách lạc vào cõi linh thiêng
Đến Đường Lâm du khách còn có
cơ hội được đến với mảnh đất “hai Vua”, là Bố cái Đại vương Phùng Hưng và vua
Ngô Quyền. Đình thờ Bố cái Đại vương và lăng mộ Ngô Quyền còn lưu giữ được
những sắc màu thời gian, với một thế giới ẩn chứa nhiều điều bí ẩn dần được hé
mở.
Cùng lật lại trang sử hào hùng
của dân tộc để hiểu rõ hơn công lao to lớn của hai vị vua. Phùng Hưng sinh ra
và lớn lên ở làng Cam Lân (xã Đường Lâm), nửa sau thế kỷ VIII, đất nước ta chịu
ách đô hộ của nhà Tùy Đường cực kỳ hà khắc. Phùng Hưng đã cùng em là Phùng Hãi
và Bồ Phá Cần chiêu tập binh sĩ cùng nhân dân phất cờ khởi nghĩa. Từ quê hương
ông đánh thành Tống Bình (Hà Nội), đập tan tành đạo quân xâm lược của Cao Chính
Bình, giành lại quyền độc lập tự chủ (791- 802). Nhân dân tôn vinh ông là: Bố
Cái Đại Vương!.
Đình thờ Bố cái Đại
vương Phùng Hưng
Ngô Quyền là con trai Châu Mục
Đường Lâm Ngô Mân (người làng Cam Lâm). Ngô Quyền sinh ra tướng mạo tuấn kiệt
hơn người, sáng mắt như sao, sức địch muôn người. Thuở tráng niên đã từng ghì
sừng hai con trâu đực đánh nhau làm cho chúng hoảng sợ mà buông nhau bỏ chạy.
Lớn lên ông làm nha tướng cho Dương Diên Nghệ, trấn thủ châu Hoan, Châu Ái. Sau
loạn Kiều Công Tiễn, ông đã trấn yên nước nhà và tiến hành cuộc kháng chiến
chống thù ngoài. Trận đánh trên sông Bạch Đằng năm 938 đánh đuổi quân Nam Hán
ra khỏi bờ cõi, mở ra một thời đại mới, độc lập, tự chủ cho dân tộc Việt Nam đã
thể hiện sự thông minh, tài trí thiên tài của Ngô Quyền.
Rong ruổi tiếp chặng đường,
chúng tôi đến đền thờ và lăng mộ Ngô Quyền, di tích đã được Nhà nước xếp hạng
là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Ở mỗi khu vực đình chùa đều có hàng
quán bán đặc sản của Sơn Tây như kẹo dồi, kẹo lạc, chè lam. Sắm chút lễ mọn vào
thắp hương để tưởng nhớ công ơn vị anh hùng dân tộc và cầu mong sức khỏe bình
an, chúng tôi cảm nhận được một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng khi ông lão
trông nom khu đền và lăng mộ đánh lên một hồi chuông lúc chúng tôi làm lễ.
Lăng mộ Vua Ngô Quyền
Đền và lăng Ngô Quyền được
xây dựng trên một đồi đất cao, có tên là đồi Cấm, mặt hướng về phía đông. Đền
thờ được xây ở phía trên, cách lăng khoảng 100m. Phía trước lăng là một cánh
đồng rộng nằm giữa 2 sườn đồi; một nguồn nước gọi là vũng Hùm chảy ra sông
Tích; bên cạnh đó là đồi Hổ Gầm, tương truyền xưa là nơi thuở nhỏ Ngô Quyền
thường cùng bạn chăn trâu, cắt cỏ và tập luyện võ nghệ. Đây có lẽ là vị trí đẹp
nhất của ấp Đường Lâm xưa.
Đền thờ Ngô Quyền được xây dựng
từ lâu đời và đã qua nhiều lần trùng tu. Đền có quy mô khá khiêm tốn, gồm: Nghi
Môn, Tả Mạc, Hữu Mạc, Đại Bái (Tiền Đường) và Hậu Cung. Đền được xây bằng
gạch, lợp ngói mũi hài, có tường bao quanh. Lăng mộ Vua Ngô Quyền được xây dựng
năm Tự Đức thứ 27 (1874) và trùng tu năm Minh Mệnh thứ 2 (1821). Lăng được xây
kiểu nhà bia có mái che, cao khoảng 1,5m. Giữa lăng là ngai, trong có bia đá
ghi bốn chữ Hán “Tiền Ngô Vương Lăng” (Lăng mộ Vua Ngô Quyền). Đặc biệt, trong
quần thể đền và lăng Ngô Quyền, 18 cây duối cổ - tương truyền là nơi Ngô Quyền
buộc voi, ngựa - đã được công nhận là “Cây di sản” cấp quốc gia.
Hàng duối cổ thụ được
công nhận là cây di sản cấp quốc gia
Tạm biệt mảnh đất hai vua,
chúng tôi ra về trong lòng đầy thanh thản khi được tận hưởng những phút giây
sống trong không gian văn hóa tâm linh tại Đường Lâm.









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét