Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Văn Cao - Mùa xuân còn mãi

Văn Cao - Mùa xuân còn mãi

Câu chuyện về sự nghiệp, cuộc đời của những nhân vật sống mãi cùng lịch sử luôn là tâm điểm chú ý không chỉ trên văn đàn mà cả trong dư luận xã hội. Nhạc sĩ Văn Cao là một nhân vật như thế. Ông đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam với một loạt các bài hát nổi tiếng như Tiến quân ca - quốc ca của Việt Nam, Suối mơ, Thiên Thai, Trương Chi, Tiến về Hà Nội, Trường ca Sông Lô...
Nhạc sỹ Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao (ông còn có bí danh là Văn), người gốc Nam Định, sinh ngày 15-11-1923, tại Lạch Tray, Hải Phòng. Vì gia cảnh sa sút nên học tới lớp Bảy thì ông nghỉ học, xin làm điện thoại viên ở sở bưu điện Hải Phòng.
Vào năm 1939 (16 tuổi), ông sáng tác ca khúc trữ tình đầu tay “Buồn Tàn Thu”. Trong giai đoạn sáng tác đầu tiên này, giống như những nhạc sĩ tiền chiến khác, tác phẩm của ông mang nặng âm hưởng phương Đông, ông đã sử dụng ngũ cung để viết về một hình ảnh quen thuộc trong nghệ thuật châu Á: người phụ nũ đan áo ngồi chờ đợi. Năm 1940, ông sáng tác bản “Thiên Thai” sau khi du ngoạn một chuyến ở Nam về. Bản “Thiên Thai” là một giấc mơ của người nghệ sĩ vào chốn an bình, nơi mà người Việt khó đạt được trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ. Sử dụng ngũ cung để viết về một câu chuyện cổ, “Thiên Thai” có tới 94 khuông nhạc, vừa mang tính trường ca, vừa mang tính nhạc cảnh. Sau này, vào năm 2001, khi phim “Người Mỹ trầm lặng” được thực hiện, “Thiên Thai” được sử dụng làm nhạc nền của bộ phim. Năm 1941, ông gặp Phạm Duy, Phạm Duy chính là người đã hát “Buồn tàn thu”, giúp ca khúc trở nên nổi tiếng, ông đã khuyên Văn Cao lên Hà Nội sống đời nghệ sĩ.
Nghe theo lời khuyên của Phạm Duy, năm 1942, Văn Cao lên Hà Nội học dự thính trường Mỹ thuật Đông Dương. Ông làm thơ, viết truyện in trên Tiểu thuyết thứ Bảy, tham gia triển lãm tranh Duy Nhất. Được sự giác ngộ Cách mạng, Văn Cao viết và phụ trách ấn loát cơ quan Phan Chu Trinh, in sách báo, truyền đơn. Ông còn phụ trách đội danh dự diệt ác trừ gian. Thời gian này ông viết: “Công nhân Việt Nam”, “Chiến sỹ Việt Nam”. Đặc biệt là tác phẩm “Tiến quân ca” vào cuối năm 1944 đầu năm 1945, sau được Bác Hồ chọn làm Quốc ca của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông là phóng viên và trình bày Báo Lao động. Ngoài ra, Văn Cao còn tham gia vào việc chở tiền và vũ khí vào mặt trận mặt trận miền Nam. Bận trăm công ngàn việc nhưng thời gian này ông đã viết được nhiều ca khúc để lại ấn tượng sâu sắc như: “Trương Chi”, “Không quân Việt Nam”, “Hải quân Việt Nam”…, trong đó “Trương Chi” cũng dựa trên tích chuyện cổ nhưng không phải là một truyện ca mà manh tính tự sự. Ca khúc này còn một đoạn lời nữa mà các ca sỹ thường không trình diễn: Từ ngày trăng mơ nước in thành thơ, Lạc loài hương thu thoáng vương đường tơ.... Hình ảnh Trương Chi trong bài hát cũng thường được so sách với hình ảnh của chính Văn Cao.
Năm 1946, Văn Cao hoạt động ở liên khu III. Sau đó, ông phụ trách tổ điều tra của công an Liên khu và viết báo Độc Lập. Đây là thời kỳ thực sự sung sức nhất trong sáng tác của ông, các tác phẩm: “Sông Lô” (1947), “Làng tôi” (1947), “Ngày mùa” (1948), “Toàn quốc thi đua” (1948), “Tiến về Hà Nội” (1949), “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (1949)… lần lượt ra đời. Trong đó, đặc biệt phải kể đến “Trường ca Sông Lô”, ca khúc ghi dấu ấn trong lịch sử tân nhạc. Phạm Duy viết: "Đó là tác phẩm vĩ đại... chẳng thua bất cứ một tuyệt phẩm nào của nhạc cổ điển Tây phương... Bài này đánh dấu sự trưởng thành của Tân nhạc". Cũng theo ý kiến của Phạm Duy, “Trường ca sông Lô” phải là đỉnh cao nhất của nhạc kháng chiến nói riêng, của tân nhạc Việt Nam nói chung và Văn Cao là "cha đẻ" của hùng ca, trường ca Việt Nam.
Ngoài viết ca khúc, Văn Cao còn viết nhạc cho điện ảnh, sân khấu và cả khí nhạc, trong đó có bản giao hưởng thính phòng “Anh bộ đội cụ Hồ”.
Dù rất ít sáng tác vào gần cuối đời, người nghệ sĩ tài hoa này cũng cho ra một bản nhạc vào cuối năm 1975, đó là bài “Mùa Xuân Đầu Tiên”, một bài hát nhẹ nhàng, êm đềm và rất tình người. Khi đó, lần đầu tiên sau 30 năm, cả hai miền cùng ăn chung một cái Tết thống nhất. Niềm hân hoan chợt dậy lên trong lòng Văn Cao. Và những câu đầu tiên của bài hát “Mùa xuân đầu tiên” đã ra đời: “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về/ mùa bình thường mùa vui nay đã về/ Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên/ Với khói bay trên sông gà đang gáy trưa/ Bên sông một trưa nắng vui cho bao tâm hồn”. Lời ca lại nối tiếp lời ca: “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về/ Người mẹ nhìn đàn con nay đã về/ Mùa xuân mơ ước đang đến đầu tiên/ Nước mắt trên vai anh giọt rơi ấm đôi vai anh niềm vui phút giây như đang long lanh”. Không khí khải huyền dâng lên bất tận. Nỗi cảm thán vừa như thắt lại nghẹn ngào, vừa như bật ra nức nở: “Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên/ Ôi giờ phút chia tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm/ Từ đây người biết quê người/ Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người…”.
Bản valse cho ngày toàn thắng của Văn Cao thật sâu lắng, không ồn ã. Ngay lập tức Nhà xuất bản Âm nhạc Matxcova đã dịch sang tiếng Nga và ấn hành. Nhưng ở Hà Nội, đã mấy ai biết niềm vui này của Văn Cao trong một mùa xuân đầu tiên nữa. Mãi tới gần đây, cũng phải sau 20 năm khi bài hát được viết ra, người mến mộ âm nhạc mới dần dà cảm nhận được niềm hạnh phúc chứa chan trong nhịp dịu dàng của điệu valse này. Đời Văn Cao có hai mùa xuân đầu tiên chứng kiến cảnh đất nước liền một dải. Đó là mùa xuân 1946 khi trên đường hành phương Nam và nghe tin Quốc hội khóa I chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca Việt Nam và mùa xuân 1976 khi trở lại Sài Gòn sau 35 năm xa. Từ mùa xuân 1996 đến nay là những mùa xuân vắng Văn Cao. Vắng ông, nhưng những giai điệu mùa xuân của ông thì còn lại mãi mãi.
GIANG NAM
Theo http://www.vnq.edu.vn/




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Trần Bảo Định “gói” bánh tét: Hương vị tết quê hay là biểu tượng văn hóa Nam bộ Ông già Nam bộ nhiều chuyện đã gói bánh. Bạn lòng gần xa...