Văn Cao - Mùa xuân còn mãi
Câu chuyện về sự nghiệp, cuộc đời của những nhân vật sống mãi cùng
lịch sử luôn là tâm điểm chú ý không chỉ trên văn đàn mà cả trong dư luận xã
hội. Nhạc sĩ Văn Cao là một nhân vật như thế. Ông đi vào lịch sử âm nhạc Việt
Nam với một loạt các bài hát nổi tiếng như Tiến quân ca - quốc ca của
Việt Nam, Suối mơ, Thiên
Thai, Trương Chi, Tiến về Hà Nội, Trường ca Sông Lô...
Nhạc
sỹ Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao (ông còn có bí danh là Văn), người gốc
Nam Định, sinh ngày 15-11-1923, tại Lạch Tray, Hải Phòng. Vì gia cảnh sa sút
nên học tới lớp Bảy thì ông nghỉ học, xin làm điện thoại viên ở sở bưu điện Hải
Phòng.
Vào
năm 1939 (16 tuổi), ông sáng tác ca khúc trữ tình đầu tay “Buồn Tàn Thu”. Trong
giai đoạn sáng tác đầu tiên này, giống như những nhạc sĩ tiền chiến khác, tác
phẩm của ông mang nặng âm hưởng phương Đông, ông đã sử dụng ngũ cung để viết về
một hình ảnh quen thuộc trong nghệ thuật châu Á: người phụ nũ đan áo ngồi chờ
đợi. Năm 1940, ông sáng tác bản “Thiên Thai” sau khi du ngoạn một chuyến ở Nam
về. Bản “Thiên Thai” là một giấc mơ của người nghệ sĩ vào chốn an bình, nơi mà
người Việt khó đạt được trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ. Sử dụng ngũ cung để
viết về một câu chuyện cổ, “Thiên Thai” có tới 94 khuông nhạc, vừa mang tính
trường ca, vừa mang tính nhạc cảnh. Sau này, vào năm 2001, khi phim “Người Mỹ trầm lặng” được thực
hiện, “Thiên Thai” được sử dụng làm nhạc nền của bộ phim. Năm 1941, ông gặp
Phạm Duy, Phạm Duy chính là người đã hát “Buồn tàn thu”, giúp ca khúc trở nên
nổi tiếng, ông đã khuyên Văn Cao lên Hà Nội sống đời nghệ sĩ.
Nghe
theo lời khuyên của Phạm Duy, năm 1942, Văn Cao lên Hà Nội học dự thính trường
Mỹ thuật Đông Dương. Ông làm thơ, viết truyện in trên Tiểu thuyết thứ Bảy, tham
gia triển lãm tranh Duy Nhất. Được sự giác ngộ Cách mạng, Văn Cao viết và phụ
trách ấn loát cơ quan Phan Chu Trinh, in sách báo, truyền đơn. Ông còn phụ
trách đội danh dự diệt ác trừ gian. Thời gian này ông viết: “Công nhân Việt
Nam”, “Chiến sỹ Việt Nam”. Đặc biệt là tác phẩm “Tiến quân ca” vào cuối năm
1944 đầu năm 1945, sau được Bác Hồ chọn làm Quốc ca của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa.
Sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông là phóng viên và trình bày Báo Lao động.
Ngoài ra, Văn Cao còn tham gia vào việc chở tiền và vũ khí vào mặt trận mặt
trận miền Nam. Bận trăm công ngàn việc nhưng thời gian này ông đã viết được
nhiều ca khúc để lại ấn tượng sâu sắc như: “Trương Chi”, “Không quân Việt Nam”,
“Hải quân Việt Nam”…, trong đó “Trương Chi” cũng dựa trên tích
chuyện cổ nhưng không
phải là một truyện ca mà manh tính tự sự. Ca khúc này còn một đoạn lời nữa mà
các ca sỹ thường không trình diễn: Từ ngày trăng mơ nước in thành thơ,
Lạc loài hương thu thoáng vương đường tơ.... Hình ảnh Trương Chi trong bài hát cũng
thường được so sách với hình ảnh của chính Văn Cao.
Năm
1946, Văn Cao hoạt động ở liên khu III. Sau đó, ông phụ trách tổ điều tra của
công an Liên khu và viết báo Độc Lập. Đây là thời kỳ thực sự sung sức nhất
trong sáng tác của ông, các tác phẩm: “Sông Lô” (1947), “Làng tôi” (1947),
“Ngày mùa” (1948), “Toàn quốc thi đua” (1948), “Tiến về Hà Nội” (1949), “Ca
ngợi Hồ Chủ tịch” (1949)… lần lượt ra đời. Trong đó, đặc biệt phải kể đến
“Trường ca Sông Lô”, ca khúc ghi dấu ấn trong lịch sử tân nhạc. Phạm
Duy viết: "Đó là tác phẩm vĩ đại... chẳng thua bất cứ một tuyệt
phẩm nào của nhạc cổ điển Tây phương... Bài này đánh dấu sự trưởng thành của
Tân nhạc". Cũng theo ý kiến của Phạm Duy, “Trường ca sông Lô” phải là đỉnh
cao nhất của nhạc
kháng chiến nói riêng,
của tân nhạc Việt Nam nói chung và Văn Cao là "cha đẻ" của hùng ca,
trường ca Việt Nam.
Ngoài
viết ca khúc, Văn Cao còn viết nhạc cho điện ảnh, sân khấu và cả khí nhạc,
trong đó có bản giao hưởng thính phòng “Anh bộ đội cụ Hồ”.
Dù
rất ít sáng tác vào gần cuối đời, người nghệ sĩ tài hoa này cũng cho ra một bản
nhạc vào cuối năm 1975, đó là bài “Mùa Xuân Đầu Tiên”, một bài hát nhẹ nhàng,
êm đềm và rất tình người. Khi đó, lần đầu tiên sau 30 năm, cả hai miền cùng ăn
chung một cái Tết thống nhất. Niềm hân hoan chợt dậy lên trong lòng Văn Cao. Và
những câu đầu tiên của bài hát “Mùa xuân đầu tiên” đã ra đời: “Rồi
dặt dìu mùa xuân theo én về/ mùa bình thường mùa vui nay đã về/ Mùa xuân mơ ước
ấy đang đến đầu tiên/ Với khói bay trên sông gà đang gáy trưa/ Bên sông một
trưa nắng vui cho bao tâm hồn”. Lời ca lại nối tiếp lời ca: “Rồi
dặt dìu mùa xuân theo én về/ Người mẹ nhìn đàn con nay đã về/ Mùa xuân mơ ước
đang đến đầu tiên/ Nước mắt trên vai anh giọt rơi ấm đôi vai anh niềm vui phút
giây như đang long lanh”. Không khí khải huyền dâng lên bất tận.
Nỗi cảm thán vừa như thắt lại nghẹn ngào, vừa như bật ra nức nở: “Ôi
giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên/ Ôi giờ phút chia tay
anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm/ Từ đây người biết quê người/ Từ đây người biết
thương người/ Từ đây người biết yêu người…”.
Bản
valse cho ngày toàn thắng của Văn Cao thật sâu lắng, không ồn ã. Ngay lập tức
Nhà xuất bản Âm nhạc Matxcova đã dịch sang tiếng Nga và ấn hành. Nhưng ở Hà
Nội, đã mấy ai biết niềm vui này của Văn Cao trong một mùa xuân đầu tiên nữa.
Mãi tới gần đây, cũng phải sau 20 năm khi bài hát được viết ra, người mến mộ âm
nhạc mới dần dà cảm nhận được niềm hạnh phúc chứa chan trong nhịp dịu dàng của
điệu valse này. Đời Văn Cao có hai mùa xuân đầu tiên chứng kiến cảnh đất nước
liền một dải. Đó là mùa xuân 1946 khi trên đường hành phương Nam và nghe tin
Quốc hội khóa I chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca Việt Nam và mùa xuân 1976 khi
trở lại Sài Gòn sau 35 năm xa. Từ mùa xuân 1996 đến nay là những mùa xuân vắng
Văn Cao. Vắng ông, nhưng những giai điệu mùa xuân của ông thì còn lại mãi mãi.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét