Ý nghĩa rằm tháng tư
LỜI NGỎ
Hằng năm, nhằm vào ngày rằm
tháng tư (âm lịch), tất cả mọi người Phật tử trên toàn thế giới nói chung và tại
Việt Nam nói riêng đều tôt chức trọng thể lễ kỷ niệm ngày Đức Bồ Tát
Sidddhattha đản sinh, Đức Bồ Tát Sidddhattha chứng đắc thành Đức Phật Gotama và
Đức Phật Gotama tịch diệt Niết Bàn. Ba sự kiện trọng đại này, tuy thời
gian cách xa nhau, nhưng cùng trùng hợp vào ngày, đêm rằm tháng tư ấy.
Để tìm hiểu những sự kiện của Đức Bồ Tát Siddhattha đản sanh kiếp chót vào rằm tháng tư; Đức Bồ Tát Siddhattha chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, danh hiệu Đức Phật Gotama, vào canh chót đêm rằm tháng tư; và cuối cùng Đức Phật Gotama tịch diệt Niết Bàn cũng vào canh chót đêm rằm tháng tư.
Hằng năm, nhằm vào ngày rằm
tháng tư (âm lịch), tất cả mọi người Phật tử trên toàn thế giới nói chung và tại
Việt Nam nói riêng đều tôt chức trọng thể lễ kỷ niệm ngày Đức Bồ Tát
Sidddhattha đản sinh, Đức Bồ Tát Sidddhattha chứng đắc thành Đức Phật Gotama và
Đức Phật Gotama tịch diệt Niết Bàn. Ba sự kiện trọng đại này, tuy thời
gian cách xa nhau, nhưng cùng trùng hợp vào ngày, đêm rằm tháng tư ấy.Để tìm hiểu những sự kiện của Đức Bồ Tát Siddhattha đản sanh kiếp chót vào rằm tháng tư; Đức Bồ Tát Siddhattha chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, danh hiệu Đức Phật Gotama, vào canh chót đêm rằm tháng tư; và cuối cùng Đức Phật Gotama tịch diệt Niết Bàn cũng vào canh chót đêm rằm tháng tư.
Như vậy, đem rằm tháng tư
có ý nghĩa trọng đại như thế nào? Soạn phẩm "Ý Nghĩa Đêm
Rằm Tháng Tư" được biên soạn do tỳ khưu Hộ Pháp, tuy là quyển
sách nhỏ, song cũng có thể giúp cho chúng ta hiểu được một phần quan trong về ý
nghĩa của đêm rằm tháng tư.
Nhận thức thấy rõ sự lợi
ích trong soạn phẩm nên Phật tử Tổ đình bửu Long xin ấn hành quyển sách nhỏ này
để cống hiến đến quý vị gần xa làm món quà pháp trong dịp ngày rằm tháng tư -
Phật lịch 2550, quyển sách nhỏ này sẽ là món quà pháp quý giá, để cho các chùa
phân phát đến các Phật tử; để cho những người Phật tử kính biếu đến những người
thân yêu của mình. Món quà này không những là pháp thí thanh cao làm thiện pháp
tăng trưởng, mà còn tạo được tình cảm sâu sắt khó quên đối với những người thân
yêu của mình.
Sàdhu! Sàdhu! Sàdhu!
Lành thay! Lành thay! Lành
thay!
Với thiện tâm trong sáng
Phật tử Tổ đình Bửu Long
Ý NGHĨA ĐÊM RẰM THÁNG
TƯ
- PHẬT LỊCH 2550 -
Soạn giả: Tỳ khưu Hộ Pháp
(Dhammarakkhita Bhikkhu)
1- Kỷ niệm 2550 năm, Đức Phật
Gotama tịch diệt Niết
Bàn.
2- Kỷ niệm 2595 năm, Đức Bồ
Tát Siddhattha thành Đức Phật Gotama.
3- Kỷ niệm 2630 năm, Đức Bồ
Tát Siddhattha đản sinh kiếp chót.
Đêm nào cũng là đêm, song đêm rằm tháng tư (âm
lịch) là một đêm có ý nghĩa lịch sử trọng đại của Phật giáo.
Lịch sử trọng đại như thế nào?
* Ngày rằm tháng tư cách nay 2630 năm, tại khu rừng Lumbinī (nay thuộc xứ Nepal), khoảng giữa kinh
thành Kapilavatthu và kinh thành Devadaha, Đức Bồ Tát Thái tử
Siddhattha đản sinh kiếp chót từ lòng
bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayadevī của
Đức vua Suddhodana thuộc dòng dõi Sakya.
* Canh chót đêm rằm tháng tư
cách nay 2595 năm, tại Đại cội Bồ Đề
trong khu rừng Uruvela (nay gọi Bodh Gaya xứ Ấn Độ), tỉnh Senanigama, Đức Bồ Tát Siddhattha chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng
Giác có danh hiệu Đức Phật Gotama.
* Canh chót đêm rằm tháng tư
cách nay 2550 năm, tại khu rừng Sālā xứ Kusinārā (xứ Ấn Độ), Đức Phật Gotama tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi
trong ba giới bốn loài.
Đó là 3 sự kiện trọng đại, tuy khoảng cách thời
gian khác nhau, nhưng xảy ra đều trùng hợp vào đêm rằm tháng tư, đúng theo ý nguyện của Đức Phật Gotama. Cho nên, tất cả mọi người Phật tử từ những bậc
xuất gia đến các hàng tại gia cư sĩ trên toàn thế giới, đều lấy đêm rằm tháng
tư, làm ngày lễ cúng dường Đức Phật, gọi là: “Vesakhapūjā”.
ĐỨC BỒ TÁT THÁI TỬ
SIDDHATTHA
ĐẢN SINH KIẾP CHÓT
Đức Bồ Tát Thái tử
đản sinh kiếp này là kiếp chót.
Vậy kiếp bắt đầu của Ngài từ thuở nào?
Thật ra, từ vô thủy trước
khi Đức Bồ Tát phát nguyện muốn trở
thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác, thì
không rõ kiếp bắt đầu của Ngài. Khi Đức Bồ Tát phát nguyện muốn trở
thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt hơn đức tin và tinh tấn, Ngài đã trải qua vô số kiếp tử sinh luân
hồi để hoàn thành 30 pháp hạnh ba-la-mật hầu mong chứng đắc thành Đức
Phật Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt, trong suốt khoảng thời gian bằng một nửa
thời gian của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có đức tin ưu việt, và bằng một phần
tư thời gian của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có tinh tấn ưu việt.
10 pháp hạnh ba-la-mật là:
1- Bố
thí ba-la-mật (dānapāramī)
2- Giữ
giới ba-la-mật (sīlapāramī)
3- Xuất
gia ba-la-mật (nekkhammapāramī)
4- Trí
tuệ ba-la-mật (paññāpāramī)
5- Tinh
tấn ba-la-mật (vīriyapāramī)
6- Nhẫn
nại ba-la-mật (khantipāramī)
7- Chân
thật ba-la-mật (saccapāramī)
8- Chí
nguyện ba-la-mật (adhiṭṭhānapāramī)
9- Tâm
từ ba-la-mật (mettāpāramī)
10- Tâm
xả ba-la-mật (upekkhāpāramī)
30 pháp hạnh ba-la-mật chia làm 3 bậc:
- 10
pháp hạnh ba-la-mật bậc thường.
- 10
pháp hạnh ba-la-mật bậc trung.
- 10
pháp hạnh ba-la-mật bậc thượng.
Đức Bồ Tát tạo pháp hạnh
ba-la-mật bậc thường nào chỉ có hy
sinh của cải tài sản, ngôi báu, thậm chí
đến vợ con,… để thành tựu pháp hạnh ba-la-mật bậc thường ấy mà
thôi; nhưng không liên quan đến những bộ
phận trong thân thể và sinh mạng của Ngài.
* 10
pháp hạnh ba-la-mật bậc trung như thế nào?
Đức Bồ Tát tạo pháp hạnh ba-la-mật bậc trung
nào không những hy sinh của cải bên ngoài mình, mà còn phải hy sinh những bộ phận
trong thân thể như mắt, v.v… để thành tựu pháp hạnh ba-la-mật bậc trung ấy; nhưng không liên quan đến sự hy sinh sinh
mạng của Ngài.
* 10
pháp hạnh ba-la-mật bậc thượng như thế nào?
Đức Bồ Tát tạo pháp hạnh
ba-la-mật bậc thượng nào không những
hy sinh những của cải bên ngoài và các bộ phận trong thân thể, mà còn phải hy
sinh sinh mạng của Ngài để thành tựu pháp hạnh ba-la-mật bậc thượng ấy.
Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có 3 hạng
1- Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt (paññādhikabodhisatta)
thời gian tạo 30 pháp hạnh ba-la-mật trải qua 3 thời kỳ:
- Thời kỳ đầu: Đức Bồ Tát phát nguyện trong tâm suốt 7 a-tăng-kỳ.
- Thời
kỳ giữa: Đức Bồ Tát phát nguyện ra bằng lời nói suốt 9 a-tăng-kỳ.
- Thời kỳ cuối: Đức Bồ Tát được Đức Phật Chánh Đẳng Giác thọ ký xác định
thời gian còn lại là 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành Đức
Phật Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt.
2- Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có đức tin ưu việt (saddhādhikabodhisatta) thời gian tạo 30
pháp hạnh ba-la-mật gấp đôi thời gian của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng
Giác có trí tuệ ưu việt, trải qua 3 thời kỳ:
- Thời kỳ đầu: Đức Bồ Tát phát nguyện trong tâm suốt 14 a-tăng-kỳ.
- Thời
kỳ giữa: Đức Bồ Tát phát nguyện ra bằng lời nói suốt 18 a-tăng-kỳ.
- Thời kỳ cuối: Đức Bồ Tát được Đức Phật Chánh Đẳng Giác thọ ký xác định thời gian còn lại là 8 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở
thành Đức Phật Chánh Đẳng Giáccó đức tin ưu việt.
3- Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có tinh tấn ưu việt (vīriyādhikabodhisatta)
thời gian tạo 30 pháp hạnh ba-la-mật gấp đôi thời gian của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có đức tin ưu việt, và gấp 4 lần thời
gian của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng
Giác có trí tuệ ưu việt, trải qua 3 thời kỳ:
- Thời kỳ đầu: Đức Bồ Tát phát nguyện trong tâm suốt 28 a-tăng-kỳ.
- Thời
kỳ giữa: Đức Bồ Tát phát nguyện ra bằng lời nói suốt 36 a-tăng-kỳ.
- Thời kỳ cuối: Đức Bồ Tát được Đức Phật Chánh Đẳng Giác thọ ký xác định
thời gian còn lại là 16 a-tăng-kỳ và
100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giáccó
tinh tấn ưu việt.
Đức Phật Gotama là Đức Phật Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt. Tiền kiếp của Đức Phật Gotama là Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có
trí tuệ ưu việt đã tạo các pháp hạnh ba-la-mật, trải qua 3 thời kỳ:
* Thời kỳ đầu: Đức Bồ Tát phát nguyện trong tâm muốn trở thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác, để tế độ, cứu vớt chúng sinh giải thoát khỏi biển khổ
luân hồi trong ba giới bốn loài, trải qua suốt 7 a-tăng-kỳ như sau:
1- Nanda asaṅkheyya: Có 5.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên
thế gian.
2- Sunanda asaṅkheyya: Có 9.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần
tự xuất hiện trên thế gian.
3- Pathavī asaṅkheyya: Có 10.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác
tuần tự xuất hiện trên thế gian.
4- Maṇḍa asaṅkheyya: Có 11.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên
thế gian.
5- Dharaṇīasaṅkheyya: Có 20.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác
tuần tự xuất hiện trên thế gian.
6- Sāgara asaṅkheyya: Có 30.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác
tuần tự xuất hiện trên thế gian.
7- Puṇḍarika
asaṅkheyya: Có 40.000 Đức Phật Chánh
Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.
Tổng cộng trong 7 a-tăng-kỳ
có 125.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác
tuần tự xuất hiện trên thế gian.
Khi các pháp hạnh ba-la-mật
của Đức Bồ Tát đã có đủ năng lực để
tiến triển đến thời kỳ giữa.
* Thời
kỳ giữa: Đức Bồ Tát phát nguyện ra bằng lời nói cho chúng sinh biết ý nguyện của Ngài muốn trở thành một Đức Phật Chánh
Đẳng Giác, để tế độ, cứu vớt chúng sinh giải thoát khỏi biển khổ luân hồi trong
ba giới bốn loài, trải qua suốt 9 a-tăng-kỳ như sau:
1- Sabbabhadda
asaṅkheyya: Có 5.000 Đức Phật Chánh
Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.
2- Sabbalulla
asaṅkheyya: Có 60.000 Đức Phật Chánh
Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.
3- Sabbaratanā asaṅkheyya: Có 70.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.
4- Usabhakkhandha
asaṅkheyya: Có 80.000 Đức Phật Chánh
Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.
5- Mānibhadda
asaṅkheyya: Có 90.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế
gian.
6- Paduma asaṅkheyya: Có 20.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác
tuần tự xuất hiện trên thế gian.
7- Usabha asaṅkheyya: Có 10.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác
tuần tự xuất hiện trên thế gian.
8- Khandhuttama
asaṅkheyya: Có 5.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế
gian.
9- Sabbapāla asaṅkheyya: Có 2.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.
Tổng cộng trong 9 a-tăng-kỳ
có 342.000 Đức Phật Chánh
Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.
* Những tên a-tăng-kỳ (asaṅkheyya) và số lượng Đức
Phật Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế gian được ghi chép trong những bộ Sotattakī,
bộ Tathā-gatuppatti, Chiengmaipaṇṇāsa, bộ Jinakālamāli mà
trong 6 kỳ kết tập Tam Tạng và Chú giải, Phụ chú giải không ghi lại rõ.
Tuy đã tạo các pháp hạnh
ba-la-mật trải qua hai thời kỳ trên,
nhưng vì Đức Bồ Tát chưa được một Đức Phật
Chánh Đẳng Giác nào thọ ký xác định thời gian còn lại sẽ trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, nên
Ngài vẫn còn là Đức Bồ Tát bất định (aniyatabodhisatta) nghĩa là Đức Bồ Tát vẫn
có thể thoái chí, từ bỏ ý nguyện muốn trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác chỉ muốn trở thành Đức Phật
Độc Giác hoặc Bậc Thánh Thanh Văn Giác.
Nếu Đức Bồ Tát có quyết
tâm không lay chuyển, có ý nguyện muốn trở thành
một Đức Phật Chánh Đẳng Giác, và tiếp tục tạo 30 pháp hạnh
ba-la-mật, thì sẽ tiến triển đến thời kỳ
cuối.
* Thời kỳ cuối: Đức Bồ Tát được Đức Phật Chánh Đẳng Giác thọ ký xác định
thời gian còn lại, chắc chắn trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác trong thời vị
lai.
Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama là Đạo
sĩ Sumedha đã chứng đắc 8 bậc thiền: 4
bậc thiền hữu sắc và 4 bậc thiền vô sắc; chứng
đắc ngũ thông: Thần túc thông, nhãn
thông, nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông (thuộc trong tam giới). Một hôm, Đức Bồ Tát Đạo sĩ Sumedha du hành bay trên
hư không, nhìn thấy dân chúng xứ Rammavatī đang vui mừng hoan hỷ sửa sang đường sá. Muốn biết do nguyên nhân nào khiến người ta làm việc một
cách hoan hỷ như vậy, Đạo sĩ liền
đáp xuống và hỏi rằng:
- Thưa
bà con, bà con sửa sang con đường này để
cho ai đi, mà thấy bà con vui mừng hoan hỷ thế?
- Kính thưa Ngài Đạo sĩ Sumedha, Đức Phật Dīpaṅkara
cao thượng nhất trong toàn cõi thế giới chúng sinh đã xuất hiện trên thế gian.
Chúng tôi đang sửa sang con đường này để
đón rước Đức Phật Dīpaṅkara cùng 400 ngàn chư Thánh A-ra-hán sắp ngự
qua đây.
Đức Bồ Tát Đạo sĩ Sumedha
vừa lắng nghe danh từ “Buddha” (Đức Phật), tâm vô cùng
hoan hỷ, suy nghĩ: “Đức Phật
xuất hiện trên thế gian là một điều hiếm có, thật vô cùng hy
hữu. Ta nên cố gắng gieo phước thiện, tạo duyên lành nơi Đức Phật”.
Đức Bồ Tát Đạo sĩ liền thưa với bà con rằng:
– Thưa bà con, bà con sửa sang con đường này để đón rước Đức Phật Dīpaṅkara cùng 400 ngàn vị
Thánh A-ra-hán ngự đến; xin bà con nhường cho bần đạo một đoạn đường, để bần đạo cùng sửa sang, đón rước Đức
Phật cùng chư Thánh A-ra-hán.
Dân chúng biết Đạo sĩ có
nhiều oai lực thần thông, nên họ chỉ
cho Đạo sĩ đoạn đường bùn lầy khó khăn nhất. Đạo sĩ nghĩ rằng:
“Nếu ta dùng phép thần
thông để sửa đoạn đường này
thì quá dễ, phước thiện sẽ không nhiều được. Vậy, ta nên tự dùng sức mình để sửa sang, chắc chắn sẽ có
nhiều phước thiện vô lượng”.
Đức Bồ Tát dùng sức lực của
chính mình, lấy đất từ nơi khác đến để
san lấp mặt bằng, công việc sửa đoạn đường còn độ một sải tay nữa là hoàn
thành.
Khi ấy, nghe mọi người reo hò vui mừng đón Đức Phật Dīpaṅkara cùng 400 ngàn chư Thánh A-ra-hán sắp đến. Đức Bồ Tát Sumedha quyết định rằng:
“Hôm nay ta xin cúng dường sinh mạng của ta đến Đức Phật Dīpaṅkara, bằng cách nằm sấp trên đoạn
đường còn lại. Nguyện lấy tấm thân này làm một chiếc cầu, để cúng dường Đức Phật Dīpaṅkara cùng 400 ngàn chư Thánh A-ra-hán ngự đi qua. Chắc chắn
ta sẽ được sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài”.
Đức Bồ Tát Sumedha suy tư rằng:
“Hôm nay, nếu ta từ bỏ
ý nguyện muốn trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, thì chắc chắn ta sẽ trở thành
một bậc Thánh A-ra-hán trong giáo pháp của Đức Phật Dīpaṅkara, rồi sẽ tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong tam giới chỉ một mình
ta; nhưng còn bao nhiêu chúng
sinh khác vẫn đang chìm đắm trong biển khổ tử sinh luân hồi. Ta không đành giải
thoát khổ riêng một mình ta”.
Nghĩ vậy, với tâm đại bi vô lượng thương xót
chúng sinh, nên Đức Bồ Tát Sumedha phát nguyện rằng:
- “Buddho
bodheyyaṃ...” Khi ta tự mình chứng ngộ
chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác
rồi; khi ấy ta sẽ thuyết pháp giáo hóa chúng sinh cũng chứng ngộ chân lý Tứ
Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh
Quả và Niết Bàn trở thành bậc
Thánh A-ra-hán y theo ta vậy (tự giác -
giác tha).
- “Mutto
moceyyaṃ...” Khi ta tự mình giải thoát khỏi mọi sự ràng buộc của tham ái, phiền não, chứng ngộ Niết Bàn rồi; khi ấy, ta sẽ dẫn dắt
chúng sinh cùng giải thoát
khỏi mọi sự ràng buộc của tham ái,
phiền não, chứng ngộ Niết Bàn y theo ta vậy (tự độ - độ tha).
- “Tinno tareyyaṃ...” Khi ta tự mình vượt qua được biển khổ tử sinh luân hồi, đạt đến Niết Bàn
an lạc rồi; khi ấy, ta sẽ
cứu vớt, dẫn dắt chúng sinh cùng vượt
qua biển khổ tử sinh luân hồi, đạt đến Niết Bàn an lạc y theo ta vậy (tự
đáo - đáo tha).
Trong khi đó có một nữ
Bà-la-môn tên là Sumittā(1) trên
tay cầm 8 đóa hoa sen để cúng dường Đức Phật Dīpaṅkara, nhìn thấy Đạo
sĩ Sumedha nằm sấp, lấy thân mình làm
chiếc cầu trên đoạn đường ấy, cô liền phát sinh đức tin trong sạch,
kính dâng đến vị Đạo sĩ 5 đóa hoa sen, còn lại 3 đóa hoa sen, cô để cúng dường đến Đức Phật. Đạo sĩ Sumedha nằm sấp, hai tay
cầm 5 đóa hoa sen để trên trán cúng dường đến Đức Phật. Khi ấy, Đức Phật
Dīpaṅkara cùng 400ngàn chư vị Thánh A-ra-hán ngự đi ngang qua bằng phép thần
thông một cách nhẹ nhàng trên tấm thân của Đạo sĩ Sumedha; cho nên, sinh mạng
của Đức Bồ Tát vẫn an toàn, chẳng hề hấn gì.
Thường Đức Phật Chánh Đẳng Giác chỉ thọ ký lần
đầu tiên cho Đức Bồ Tát nào có đầy đủ 8 điều kiện như sau:
1- Là loài người thật (không phải Long vương hoặc chư
thiên hóa thành người).
2- Là
người nam thật (không phải là ái nam, ái nữ).
3- Kiếp
hiện tại có đầy đủ pháp hạnh ba-la-mật, có thể chứng đắc 4 Thánh Đạo,
4 Thánh Quả và Niết Bàn trở thành bậc Thánh A-ra-hán.
4- Trực
tiếp đến hầu Đức Phật Chánh Đẳng Giác.
5- Là
bậc xuất gia Đạo sĩ có chánh kiến về nghiệp.
6- Chứng đắc đầy đủ 4 bậc thiền hữu sắc và 4 bậc thiền
vô sắc, chứng đắc ngũ thông tam giới.
7- Quyết
định cúng dường sinh mạng đến Đức Phật.
8- Có ý nguyện vững chắc,
không thoái chí nản lòng, quyết tâm trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác.
Đức Phật Dīpaṅkara ngự đứng
phía trên đầu của Đức Bồ Tát Đạo sĩ Sumedha
quán xét ý nguyện muốn trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác của Đạo sĩ
Sumedha có thành tựu hay không.
Với trí tuệ thấy rõ, biết rõ trong kiếp vị lai (anāgataṃsañāṇa),
vị Bồ Tát Đạo sĩ này chắc chắn sẽ thành tựu như ý nguyện, nên Đức Phật Dīpaṅkara
thọ ký xác định thời gian còn lại rằng:
“Trong thời vị lai, còn 4 a-tăng-kỳ và 100
ngàn đại kiếp trái đất nữa, Đạo sĩ Sumedha này sẽ trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, có danh hiệu là Đức
Phật Gotama”.
Đức Phật Dīpaṅkara là Đức Phật Chánh Đẳng Giác đầu tiên thọ ký cho Đức Bồ Tát Sumedha, tiền kiếp
của Đức Phật Gotama.
Đức Bồ Tát Sumedha đương
nhiên trở thành Đức Bồ Tát cố định (niyatabodhisatta) chắc chắn sẽ trở
thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, trong thời vị lai. Khi lắng nghe lời thọ ký của Đức Phật Dīpaṅkara, Đức Bồ
Tát phát sinh tâm thiện vô cùng hoan hỷ. Tất cả nhân loại, chư thiên, chư phạm
thiên đồng hoan hỷ chắp tay lễ bái Đức
Bồ Tát Đạo sĩ, tán dương ca tụng rằng:
Từ đó, Đức Bồ Tát tiền kiếp
của Đức Phật Gotama tinh tấn không ngừng bồi bổ cho đầy đủ 30 pháp hạnh
ba-la-mật trong thời gian còn lại 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất.
1- A-tăng-kỳ
thứ nhất: Kể từ Đức Phật Dīpaṅkara đến
Đức Phật Koṇḍañña, thời gian trải qua 1 a-tăng-kỳ thứ nhất gọi là Sela
asaṅkheyya, chỉ có một Đức Phật Koṇḍañña xuất hiện trên thế gian.
2- A-tăng-kỳ thứ nhì: Kể từ Đức Phật Koṇḍañña đến Đức Phật Maṅgala, thời gian trải qua 1 a-tăng-kỳ
thứ nhì gọi là Bhāsa asaṅkheyya,
có 4 Đức Phật là: Đức Phật Maṅgala,
Đức Phật Sumana, Đức Phật Revata và Đức Phật Sobhita tuần tự xuất hiện trên thế gian.
3- A-tăng-kỳ thứ ba: Kể từ Đức Phật Maṅgala đến Đức Phật Anomadassī thời gian trải qua 1 a-tăng kỳ thứ ba gọi là Jaya asaṅkheyya, có
3 Đức Phật là: Đức Phật Anomadassī, Đức Phật Paduma và Đức Phật
Nārada tuần tự xuất hiện trên thế gian.
4- A-tăng-kỳ
thứ tư: Kể từ Đức Phật Anomadassī đến
Đức Phật Padumutara thời gian trải qua 1 a-tăng-kỳ thứ tư gọi là Ruci asaṅkheyya, chỉ có một Đức Phật Padumutara xuất hiện trên thế
gian.
100 ngàn đại kiếp trái đất
Trong khoảng thời gian lâu 100 ngàn đại kiếp
trái đất, có 14 Đức Phật tuần tự xuất hiện trên thế gian là Đức Phật Sumedha,
Đức Phật Sujāta, Đức Phật Piyadassī, Đức PhậtAtthadassī, Đức Phật Dhammadassī, Đức Phật Siddhattha, Đức Phật Tissa, Đức Phật Phussa, Đức Phật Vipassī, Đức
Phật Sikhī, Đức Phật Vessabhū, Đức Phật Kakusandha, Đức
Phật Koṇāgamana, Đức Phật Kassapa.
Mỗi khi Đức Phật nào xuất hiện trên thế gian, Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama đều đến hầu Đức Phật ấy và được Ngài thọ ký xác định thời gian còn lại, chắc chắn sẽ trở thành Đức Phật
Chánh Đẳng Giác có danh hiệu là Đức
Phật Gotama.
Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức
Phật Gotama đến kiếp áp chót hóa
sinh làm thiên nam tên là Setaketu trong cõi trời
Tusita; cõi trời thứ tư trong 6 cõi trời dục giới.
Thỉnh Đức Bồ Tát Giáng Thế
Bốn Đức vua trời cõi Tứ Đại
Thiên Vương, Đức vua trời
Sakka cõi Tam Thập Tam Thiên, Đức vua trời Suyāma cõi Dạ Ma Thiên, Đức vua trời Santussita cõi Đấu Xuất Đà Thiên, Đức vua trời Sunimmita cõi Hóa Lạc Thiên, Đức vua trời
Vasavatti cõi Tha Hóa Tự Tại
Thiên, cùng chư thiên 6 cõi trời dục giới, chư phạm thiên các cõi
trời sắc giới cùng tụ hội đến
hầu Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu, tất cả đồng chắp tay bạch rằng:
- Kính bạch Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu, Ngài đã tạo
đầy đủ trọn vẹn pháp hạnh ba-la-mật xong rồi. Các pháp hạnh ba-la-mật ấy không
phải Ngài để mong ngôi vị các vua trời, cũng không phải để mong sinh làm phạm thiên, cũng không phải để mong ngôi vị Đức Chuyển Luân Thánh Vương; mà sự thật, các pháp hạnh ba-la-mật ấy là để hỗ trợ Ngài chứng đắc
thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, để thuyết pháp tế độ chúng sinh giải thoát khỏi
khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.
Kính bạch Đức Bồ Tát thiên
nam, bây giờ là đúng lúc, đúng thời kỳ, để cho Ngài trở thành một Đức
Phật Chánh Đẳng Giác.
Kính bạch Đức Bồ Tát thiên nam, tất cả chúng con thành kính thỉnh Ngài tái sinh làm người, để trở thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác, để thuyết pháp tế độ chúng sinh giải
thoát khỏi khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.
Lắng nghe lời thỉnh cầu của chư thiên, phạm thiên, Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu chưa nhận lời
thỉnh cầu ấy, mà Ngài quán xét trong thời quá khứ: “Chư Bồ Tát kiếp chót tái sinh xuống làm người, để
trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, đã quán xét như thế nào?
Theo lệ thường Chư Bồ Tát
kiếp chót tái sinh xuống làm người để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác,
cần phải quán xét đầy đủ 5 điều như sau:
1- Quán xét thời kỳ tuổi thọ con người: Đức Bồ Tát Setaketu quán xét thấy tuổi
thọ con người vào thời kỳ ấy khoảng 100 năm, thích hợp đối với Đức Phật Chánh Đẳng
Giác có trí tuệ ưu việt.
2- Quán
xét châu đến tái sinh: Trong 4 châu loài người, cõi Nam Thiện Bộ Châu là châu mà Đức Bồ Tát kiếp chót
tái sinh để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác.
3- Quán xét xứ sở đến tái sinh: Trong cõi Nam Thiện Bộ Châu rộng lớn,
Đức Bồ Tát kiếp chót tái sinh trong
Trung xứ vùng Sakka kinh thành Kapilavatthu.
4- Quán xét dòng họ nơi tái sinh: Đức Bồ Tát kiếp chót tái sinh trong dòng họ Sakya, Đức vua Suddhodana trải qua nhiều đời vua tinh khiết (không
lẫn lộn với dòng khác).
5- Quán xét mẫu thân và tuổi thọ của bà: Bà Mahā-mayādevī chánh cung Hoàng hậu của Đức vua Suddhodana là người có giới hạnh trong sạch. Bà từng tạo pháp hạnh ba-la-mật
suốt 100 ngàn đại kiếp và được Đức Phật
Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ thọ ký rằng: “Bà sẽ là Mẫu
thân của Đức Phật trong thời vị lai”. Bà chánh cung Hoàng hậu có tuổi thọ còn đúng 10 tháng 7 ngày. Đức
Bồ Tát kiếp chót chọn bà Mahāmayādevī làm Mẫu thân của Ngài.
Sau khi quán xét thấy đầy
đủ 5 điều rồi, Đức Bồ Tát Thiên nam
Setaketu quyết định tái sinh xuống làm
người để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác.
Đức Bồ Tát Thiên nam
Setaketu truyền dạy rằng:
“Này chư thiên, chư phạm
thiên, ta đồng ý nhận lời thỉnh cầu của các ngươi. Ta sẽ tái sinh xuống làm người trong cõi Nam Thiện Bộ châu, Trung xứ, kinh thành Kapilavatthu, trong dòng vua Sakya, Đức vua Suddhodana là phụ thân và bà Mahāmayādevī - chánh cung Hoàng hậu của
Đức vua Suddhodana, làm mẫu thân của ta”.
Sau khi lắng nghe lời truyền
dạy của Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu, tất cả chư thiên và chư phạm thiên vô cùng hoan hỷ cùng nhau tán dương ca tụng Đức
Bồ Tát thiên nam Setaketu, rồi cùng nhau xin phép trở về cảnh giới của mình. Chư thiên, chư phạm thiên loan báo cho khắp toàn thế giới chúng sinh biết
rằng:
“Đức Phật sẽ xuất hiện trên thế gian!”
Đức Bồ Tát Kiếp Chót Tái
Sinh Làm Người
Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu quyết
định từ bỏ kiếp
thiên nam ở cõi trời Tusita (Đấu Xuất Đà Thiên) sẽ tái sinh đầu thai vào
lòng mẫu thân Mahāmayādevī - chánh cung Hoàng hậu của Đức vua Suddhodana, kinh thành Kapilavatthu vào ngày
thứ năm, nhằm ngày rằm tháng sáu lúc canh chót.
Vào ngày rằm tháng sáu (âm lịch), Chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī của Đức vua
Suddhodana đến hầu vị Đạo sư Kāḷadevila xin thọ trì uposathasīla (bát
giới). Canh chót đêm ấy, trước khi
Đức Bồ Tát tái sinh đầu thai vào lòng bà Mahāmayādevī, bà nằm mộng
thấy Tứ Đại Thiên Vương cung nghinh bà lên núi Himavanta, đặt bà nằm trên một tảng đá lớn gần
hồAnotatta. Sau đó, có 4 chánh cung Hoàng hậu của Tứ Đại Thiên Vương cùng chư thiên nữ đếntắm sạch sẽ cho
bà, xoa các thứ vật thơm của cõi trời, dâng những đóa hoa trời xinh đẹp, rồi
cung nghinh bà đến một ngọn núi bằng bạc, có một lâu đài bằng vàng nguy nga tráng lệ và đặt bà nằm nghiêng bên phải nghỉ ngơi nơi đó. Khi ấy, một con
bạch tượng cao thượng hiện đến lâu đài bằng vàng nơi
bà đang nằm nghỉ. Con bạch tượng ấy đi vòng quanh nơi bà nằm 3 vòng, rồi chui
vào hông phía bên phải của bà.
Khi bà Mahāmayādevī
đang nằm mộng, đó cũng là lúc Đức Bồ Tát thiên nam Setaketutừ
bỏ kiếp thiên nam ở cõi trời Tusita (Đâu Suất
Đà Thiên), đồng thời với đệ
nhất đại quả tâm(đại quả tâm thứ nhất hợp với trí tuệ đồng sinh với hỷ, không cần động
viên) làm phận sự tái sinh đầu thai vào lòng mẫu thân Mahāmayādevī, nhằm
vào ngày thứ năm canh chót
đêm rằm tháng sáu (âm lịch). Khi ấy, bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī có
tuổi thọ được 55 năm 6 tháng 20 ngày (5).
Ngay lúc ấy, trái đất rùng mình rung chuyển và có 32 hiện tượng xảy ra chưa từng thấy bao giờ;
chư thiên, phạm thiên trong 10 ngàn thế giới chúng sinh vô cùng hoan hỷ loan
báo tin lành rằng:
“Đức Bồ Tát đã tái sinh rồi!”
Chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī đã trải qua giấc mộng lành và sau khi tỉnh dậy, bà đến chầu Đức vua Suddhodana và tâu trình lên Đức vua về giấc
mộng của bà.
Sáng sớm hôm sau, Đức vua Suddhodana bèn truyền lệnh cho mời nhóm Bà-la-môn quân sư vào triều yết kiến. Sau khi thiết đãi và ban thưởng
xong, Đức vua bèn tường thuật
lại giấc mộng canh chót đêm qua của chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī cho nhóm quân
sư Bà-la-môn nghe để họ cùng nhau suy đoán.
Đức vua truyền hỏi rằng:
- Thưa quân sư, giấc mộng như vậy có ý nghĩa như thế
nào? Xin quý quân sư tâu cho Trẫm được rõ.
Một vị Bà-la-môn trưởng bèn tâu rằng:
- Muôn
tâu Đại vương, xin Đại vương an tâm, chánh cung Hoàng hậu đã thụ thai,
thai nhi không phải là Công chúa mà chắc
chắn là Thái tử, Bậc cao thượng nhất.
* Nếu Thái tử sống trong triều, thì sẽ là Đức Chuyển Luân Thánh Vương trị vì thiên hạ có 4 biển làm
ranh giới.
* Nếu Thái tử bỏ nhà đi xuất gia, thì sẽ là Đức Phật Chánh
Đẳng Giác cao thượng nhất trong toàn cõi thế giới chúng sinh.
Từ khi Đức Bồ Tát kiếp chót tái sinh đầu thai
vào lòng mẫu thân, do oai lực của Đức Bồ Tát, nên ngày đêm Tứ Đại Thiên Vương theo hầu, để tỏ lòng cung kính;
không phải theo hộ trì bà chánh cung Hoàng
hậu Mahāmayādevī; bởi vì, Đức Bồ Tát kiếp chót có oai lực phi thường,
nên không có một ai có thể làm hại bà được.
Mẫu thân của Đức Bồ Tát có giới đức tự nhiên, bà không phải đến làm học trò vị Đạo sư Kāḷadevila, để
xin thọ giới như trước đây nữa; thân và tâm của bà thường an lạc. Tâm tham muốn trong dục lạc không hề phát sinh và khi Đức vua Suddhodana nhìn thấy
bà liền phát sinh thiện tâm trong sáng, do đó Đức vua rất tôn trọng bà.
Đức Bồ Tát phát triển và tăng trưởng ở trong
bào thai mẫu thân, như ở trong một căn phòng sạch sẽ và sang trọng. Đức Bồ Tát
ngồi kiết già như vị Pháp sư đang ngồi trên pháp tòa, cho đến khi tròn đủ 10
tháng.
Đức Bồ Tát Kiếp Chót Đản Sinh
Bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī biết gần đến ngày đản sinh Thái tử, bà đến chầu Đức vua Suddhodana
bèn tâu rằng:
- Muôn
tâu Bệ hạ, thần thiếp xin phép trở về Cố quốc Devadaha để hạ sinh Thái tử.
Đức vua chuẩn tấu lời xin của
bà và truyền lệnh cho các quan
sửa sang đường sá bằng phẳng, trang hoàng đẹp đẽ từ xứ Kapilavatthu cho đến xứ Devadaha,
để làm lễ tiễn đưa chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī trở về cố quốc; Đức
vua còn truyền lệnh làm một chiếc kiệu mới thật sang trọng để cho bà ngự
đi.
Mọi việc đều chuẩn bị sẵn sàng, bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī được thỉnh ngự lên chiếc kiệu,
các quan khiêng chiếc kiệu đi từ kinh thành Kapilavatthu đến kinh thànhDevadaha. Trên đường, khi
đoàn người vừa đến khu vườn Lumbinī, hôm ấy, thật tuyệt vời! Cả
muôn hoa đều đua nở và muôn chim cùng
ca hót như hân hoan đón mừng một sự kiện trọng đại. Bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī muốn dừng kiệu
lại, ghé vào vườn Lumbinī, để du
lãm. Các quan tuân lệnh dừng kiệu.
Khi bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī ngự vào vườn Lumbinī, hôm ấy chư thiên, chư
phạm thiên tụ hội tại khu vườn, và cả vạn thế giới chúng sinh vui mừng
reo hò rằng:
“Hôm nay, tại khu vườn Lumbinī này, Đức Bồ
Tát sẽ đản sinh ra đời khỏi lòng bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī”.
Chư thiên, chư phạm
thiên, tay cầm những món quà từ cõi trời như vật thơm trời, những đóa hoa
trời, nhạc trời trỗi lên để cúng dường Đức Bồ Tát cùng với
những chiếc lọng trắng che phủ khắp không gian.
Bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī ngự đến một cây Sālā có thân to, cành cây đầy hoa đang nở
rộ. Khi bà đứng đưa cánh tay phải lên, thì cành cây tự nhiên sà xuống, bà đưa tay nắm lấy cành cây với tư thế
dáng đứng rất đẹp và rất vững vàng, các quan,
các cung nữ che màn xung quanh nơi bà đang đứng; khi ấy, Đức
Bồ Tát cao thượng đản sinh ra đời khỏi
lòng bà chánh cung Hoàng hậu Mahā-mayādevī
bằng đôi chân ra trước, rồi xuôi hai tay, toàn thân mình sạch sẽ ra
sau, một cách suôn sẻ an lành cho cả Đức Bồ Tát lẫn mẫu thân của Ngài. Lúc đó,
vào ban ngày của ngày thứ 6, nhằm ngày rằm tháng tư (âm
lịch). Khi ấy, một dòng nước ấmvà một dòng nước lạnh từ trên hư không chảy xuống làm cho sạch
sẽ thân hình của Đức Bồ Tát và mẫu thân của Ngài.
Khi Đức Bồ Tát cao thượng vừa
ra khỏi lòng bà chánh cung
Hoàng hậu Mahāmayādevī, trước tiên 4 vị Đại Phạm Thiên có thiện tâm trong
sạch, không bị ô nhiễm bởi phiền não, mỗi vị cầm mỗi chéo tấm lưới bằng vàng đón nhận Đức Bồ Tát xong,
rồi đặt trước mặt bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī và tâu rằng:
- Muôn
tâu chánh cung Hoàng hậu, xin bà phát sinh tâm hoan hỷ! Đây là Thái tử của bà,
cũng là Đức Bồ Tát kiếp chót cao thượng. Ngài là Bậc đại phước, có nhiều oai lực nhất trong tất cả chúng
sinh trong tam giới.
Sau đó, Đức Bồ Tát từ trên tay 4 vị Đại Phạm Thiên được trao sang cho 4 vị Tứ Đại Thiên Vương đón
tiếp bằng tấm da mềm mại; một lần nữa, Đức Bồ Tát từ tay 4 vị Tứ Đại Thiên
Vương được trao sang cho các quan đón tiếp bằng tấm vải trắng tinh.
Khi ấy, Đức Bồ Tát từ trên tay các quan, bước xuống đạp trên mặt đất bằng đôi bàn chân bằng phẳng của Ngài, Đức Bồ Tát đứng quay mặt nhìn về hướng Đông,
chư thiên dâng hoa cúng dường Đức Bồ Tát, rồi tán dương ca tụng rằng:
- Kính bạch Đức Đại Nhân, trong tất cả chúng sinh trong
hướng này, Ngài là Bậc cao thượng nhất, không có một ai cao thượng
hơn Ngài.
Tiếp đến, Đức Bồ Tát quay mặt nhìn về hướng Nam ...
hướng Tây... hướng Bắc... hướng Đông Nam... hướng Tây Nam ... hướng
Tây Bắc... hướng Đông Bắc trong tám hướng, mỗi hướng chư thiên và nhân loại đều dâng hoa cúng dường Đức Bồ Tát, rồi
tán dương ca tụng rằng:
- Kính bạch Đức Đại Nhân, trong tất cả chúng sinh trong
hướng này, Ngài là Bậc cao thượng nhất, không có một ai cao thượng
hơn Ngài.
Đức Bồ Tát cúi mặt nhìn xuống
hướng dưới, rồi ngẩng mặt nhìn lên hướng trên, chư thiên, chư phạm thiên
đều dâng hoa tán dương và ca tụng rằng:
- Kính
bạch Đức Đại Nhân, trong số chư thiên, chư phạm thiên hướng trên này, Ngài
là Bậc cao thượng nhất, không có chư
thiên, chư phạm thiên nào cao thượng hơn Ngài.
Đức Bồ Tát đứng nhìn về hướng
Bắc rồi bước đi 7 bước, bước đầu
tiên Ngài bước bằng chân phải(6).
Khi Đức Bồ Tát bước đi, Vua trời phạm thiên cầm chiếc lọng màu trắng che cho Ngài, Đức vua Suyāma cầm quạt
lông, còn 3 thứ khác là đôi hia, gươm báu, vương miện, mỗi vị Vua trời cầm
mỗi thứ đi theo sau Đức Bồ Tát. Đó là 5 bảo vật của lễ phong vương.
Đức Bồ Tát dừng lại ở bước chân thứ 7. Khi ấy tất
cả chư thiên, chư phạm thiên đều bảo với nhau rằng:
“Bây giờ, Đức Bồ Tát
cao thượng sẽ truyền dạy những
lời tối quan trọng”.
Tất cả đều im lặng, chờ lắng nghe, Đức Bồ Tát
dõng dạc truyền dạy rằng:
“Ago’ ham’ asmi lokassa!
Jeṭṭho’ ham’ asmi lokassa!
Seṭṭho’ ham’ asmi lokassa!
Ayamantimā jāti
Natthi dāni punabbhavo”.
“Ta là Bậc
Cao Cả nhất, trong toàn cõi thế giới chúng sinh!
Ta là Bậc Vĩ Đại nhất, trong toàn cõi thế
giới chúng sinh!
Ta là Bậc Tối Thượng nhất, trong toàn cõi
thế giới chúng sinh!
Kiếp này là kiếp chót của ta
Ta không
còn tái sinh kiếp nào khác nữa!”
Chư thiên, chư phạm
thiên và nhân loại vô cùng hoan hỷ, đồng thanh tán dương ca tụng Đức Bồ Tát.
Đức Bồ Tát Thái tử Siddhattha kiếp chót chắc chắn
sẽ trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác. Khi Ngài đản sinh ra đời có đầy đủ 32 tướng
tốt chính của Bậc Đại Nhân và 80 tướng tốt phụ. Đó là quả của nghiệp thiện mà Đức
Bồ Tát đã tạo và tích lũy từ vô số kiếp trong quá khứ, hoàn toàn không liên quan huyết thống của Đức vua Suddhodana và chánh
cung Hoàng hậu Mahāmayādevī hay dòng dõi Sakya.
1 Nữ
Bà-la-môn Sumittà chính là tiền kiếp của Công chúa Yasodhara.
1- Gaṇana
asaṅkheyya: A-tăng-kỳ tính bằng số là số 1 theo sau 140 số 0, viết tắt: 10140.
2- Anumāna asaṅkheyya: A-tăng-kỳ ước lượng. Ví dụ: Trời
mưa trên toàn mặt đất suốt 3 ngày, ước
lượng a-tăng-kỳ số giọt mưa rơi xuống mặt đất.
3- Kappa asaṅkheyya: A-tăng-kỳ kiếp có 4 loại:
* Āyukappa: Kiếp
tuổi thọ.
* Antarakappa:
Khoảng thời gian kiếp giảm còn 10 năm và kiếp tăng đến a-tăng-kỳ năm.
* Asaṅkheyya
kappa: A-tăng-kỳ kiếp trái đất hoại rồi thành trở lại.
* Mahākappa: Đại kiếp trái đất trải
qua 4 thời kỳ: a-tăng-kỳ hoại kiếp trái đất ® a-tăng-kỳ không kiếp
trái đất ®a-tăng-kỳ thành kiếp trái đất ® a-tăng-kỳ trụ kiếp trái đất.
4- Buddha asaṅkheyya: A-tăng-kỳ thời gian tạo ba-la-mật để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác không thể tính bằng
số lượng. Thời gian trải
qua vô số đại kiếp trái đất thành-trụ-hoại-không không thể tính được, như
vậy gọi Buddha asaṅkheyya.
Ví
dụ: Đức Bồ Tát Đạo sĩ Sumedha cần phải bồi bổ thêm 30 pháp hạnh ba-la-mật suốt 4 a-tăng-kỳ và 100
ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành Đức Phật Gotama.
ĐỨC BỒ THÁI THÁI TỬ
SIDDHATTHA THÀNH ĐỨC PHẬT GOTAMA
Đức Bồ Tát Thái tử Siddhattha lên
ngôi Vua năm 16 tuổi và thành hôn với Công chúa Yasodhara(1). Đức vua Siddhattha tấn phong Công chúa
Yasodhara lên ngôi chánh cung Hoàng hậu. Đức vua trị vì đất nước thanh bình thịnh vượng, thần dân thiên hạ được an
cư lạc nghiệp.
Đức vua Bồ Tát an hưởng sự
an lạc trên ngai vàng trải qua thời
gian 13 năm.
Đức vua Bồ Tát ngự đi du
lãm ngoại thành 4 lần đến vườn thượng uyển(2),
mỗi lần cách nhau 3 tháng, mỗi lần nhìn thấy một cảnh do chư thiên biến hóa để
làm cho Đức Bồ Tát phát sinh động tâm mà đi xuất gia, để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng
Giác.
* Lần thứ nhất: Vào
ngày rằm tháng 6, Đức Bồ Tát nhìn thấy người già.
* Lần thứ nhì: Vào
ngày rằm tháng 10, Đức Bồ Tát nhìn thấy người bệnh.
* Lần thứ ba: Vào ngày rằm tháng 2, Đức
Bồ Tát nhìn thấy người chết.
* Lần thứ tư: Vào ngày rằm tháng 6, Đức
Bồ Tát nhìn thấy bậc xuất gia.
Trải qua 4 lần tròn đúng một
năm; vào đêm rằm tháng 6 Đức vua Bồ Tát quyết định xuất gia, để tìm con
đường giải thoát khổ già, khổ bệnh, khổ chết.
Đức Bồ Tát xuất gia năm 29 tuổi, Ngài tìm đến vị
Đạo sư Ālāra Kālāmagotta xin thọ giáo. Vị Đạo sư hân hoan tiếp nhận Ngài, rồi dạy pháp hành thiền định. Trải qua một thời gian thực hành thiền định không lâu, Đức Bồ Tát đã chứng đắc 4 bậc thiền hữu sắc và đến đệ tam thiền vô sắc gọi là vô
sở hữu xứ thiền, ngang bằng với bậc thiền mà
vị Đạo sư Ālāra Kālāmagotta đã chứng đắc. Đức Bồ Tát suy xét rằng: “Bậc đệ
tam thiền vô sắc, vô sở hữu xứthiền này sẽ cho quả tái sinh lên cõi Phạm Thiên vô sắc giới, Vô Sở Hữu Xứ Thiên có tuổi thọ 60.000 đại kiếp, không phải là pháp dẫn đến sự nhàm chán ngũ
uẩn, không diệt tận được tham ái, không đoạn diệt được phiền não, không chứng
ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, không tịch diệt
Niết Bàn, không giải thoát được
mọi cảnh khổ sinh-lão-bệnh-tử luân hồi trong tam giới”
Đức Bồ Tát không bằng lòng
với sở đắc của mình, Ngài xin từ giã vị
Đạo sư Ālāra Kālāmagotta khả kính, để đi tìm pháp môn khác hầu mong giải
thoát khổ sinh - lão - bệnh - tử.
Sau khi từ giã vị Đạo sư
Ālāra Kālāmagotta, Đức Bồ Tát tìm đến vị
Đạo sư Udaka Rāmaputta xin thọ
giáo. Vị Đạo sư hân hoan tiếp nhận Ngài, rồi truyền dạy pháp hành thiền định. Trải qua thời gian
không lâu, Đức Bồ Tát đã chứng đắc 4 bậc thiền hữu sắc và 4 bậc thiền vô sắc, bậc
đệ tứ thiền vô sắc tột đỉnh gọi là phi
tưởng phi phi tưởng xứ thiền, ngang bằng với
bậc thiền mà vị Đạo sư Udaka Rāmaputta đã chứng đắc.
Đức Bồ Tát suy xét rằng: “Bậc đệ tứ thiền vô sắc, phi
tưởng phi phi tưởng xứ thiềnnày sẽ cho quả tái sinh lên cõi trời Phạm Thiên vô sắc giới. Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng Xứ Thiên có tuổi thọ 84.000 đại kiếp, không phải là pháp dẫn đến sự nhàm chán ngũ uẩn,
không diệt tận được tham ái, không đoạn diệt được phiền não, không chứng ngộ
chân lý Tứ Thánh Đế, không tịch diệt Niết
Bàn, không giải thoát được mọi cảnh
khổ sinh-lão-bệnh-tử luân hồi trong tam giới”.
Đức Bồ Tát xin từ giã vị Đạo
sư Udaka Rāmaputta khả kính để đi
tìm pháp môn khác, hầu mong giải thoát khổ sinh-lão-bệnh-tử.
Sau khi từ giã vị Đạo sư
Udaka Rāmaputta, Đức Bồ Tát đi đến
khu rừng Uruvela gần con sông Nerañjarā;
tại nơi đây có nhóm 5 Tỳ khưu: Ngài Kondañña, Ngài Vappa, Ngài Bhaddiya, Ngài Mahānāma
và Ngài Assaji xin theo hộ độ Ngài.
Đức Bồ Tát tinh tấn hành pháp khổ hạnh nín
thở đến nỗi làm cho Ngài chết ngất; thấy không có kết quả, Ngài lại giảm vật thực dần dần, cho đến khi mỗi
ngày chỉ ăn lượng vật thực còn bằng hạt sen. Do đó, kim thân của Ngài gầy ốm chỉ
còn da bọc xương, ốm đến nỗi sờ da bụng thì đụng phải đường xương sống.
Trước kia kim thân của Đức Bồ Tát có đầy
đủ 32 tướng tốt của Bậc Đại Nhân và 80 tướng tốt phụ, có làn da màu
vàng sáng ngời, đến nay các tướng tốt ấy đã biến mất, còn làn da đã trở thành
màu đen sẫm.
Một hôm Đức Bồ Tát suy
xét: “Ta đã hành pháp khổ hạnh đến chỗ tột cùng rồi. Trong thời quá khứ, chưa từng
có Sa-môn, Bà-la-môn nào đã hành pháp khổ hạnh đến mức như ta đang hành. Thời
hiện tại và thời vị lai cũng sẽ không
có Sa-môn, Bà-la-môn nào có thể
hành pháp khổ hạnh như ta; thế mà, ta không thể chứng đắc thành Đức
Phật Chánh Đẳng Giác. Như vậy, chắc chắn
phải còn có một pháp hành nào khác”.
Đức Bồ Tát hồi tưởng lại rằng:
“Khi ta còn nhỏ, cùng Phụ vương ra đồng làm lễ hạ điền, Phụ vương để ta ngồi trong một chiếc lều vải dưới gốc cây mận (đào). Ta đã ngồi niệm đề mục hơi thở: hít vô - thở ra,
và ta đã chứng đắc đệ nhất thiền hữu sắc. Vậy, chắc chắn pháp hành thiền định
này làm nền tảng, để ta có thể chứng đắc
thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác cũng nên”.
Đức Bồ Tát xét thấy rằng:
“Bây giờ, thân thể của ta gầy ốm, sức khỏe yếu
đuối, ta không thể thực hành thiền định đề mục niệm hơi thở được. Vậy,
điều tốt hơn hết là ta nên thọ thực trở lại, cho có sức khỏe rồi ta mới có thể
thực hành thiền định”.
Đức Bồ Tát đã hành pháp khổ hạnh suốt 6 năm trường
ròng rã, mà không đạt đến mục đích chứng đắc
thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, nên Ngài đã từ bỏ pháp hành khổ hạnh.
Đức Bồ Tát mang bát vào xóm Senā khất thực;
sau một thời gian thọ thực bình thường trở lại, sức khỏe của Ngài được hồi phục.
Trong thời kỳ hành pháp khổ hạnh, mọi
tướng tốt của Ngài đã biến mất. Nay
kim thân Ngài lại hiện rõ 32 tướng tốt chính của Bậc Đại Nhân và 80
tướng tốt phụ, có làn da màu vàng sáng ngời như trước.
Năm Điều Đại Mộng (Mahāsupina)
Đêm 14 tháng tư âm lịch, vào cuối canh chót,
lúc rạng đông, Đức Bồ Tát Sidhattha nằm thấy 5 điều đại mộng (mahāsupina)(3) như
sau:
1- Đức Bồ Tát nằm mộng thấy mặt đất làm chỗ nằm, dãy núi Himavanta (Hy Mã Lạp Sơn) là chiếc gối, cánh tay trái đặt xuống đại dương hướng Đông, cánh
tay phải đặt xuống đại dương hướng Tây, hai chân duỗi thẳng đại dương hướng
Nam.
Đó là điều đại mộng thứ nhất,
điều này là pubba-nimitta hiện tượng báo
trước Đức Bồ Tát chắc chắn chứng đắc
thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác cao thượng, độc nhất vô nhị trong
toàn cõi thế giới chúng sinh.
2- Đức Bồ Tát nằm mộng thấy cây cỏ tranh (tiriyā) mọc
lên từ lỗ rún của Ngài, cao từ 1 gang, 1 hắt tay, 1 sải tay,… 1 do
tuần tay thẳng lên trên hư không.
Đó là điều đại mộng thứ
nhì, điều này là pubba-nimitta hiện tượng báo
trước Đức Phật Chánh Đẳng Giác sẽ thuyết pháp
hành Trung đạo là pháp hành Bát chánh đạo hợp đủ 8 chánh cao thượng để tế độ chúng sinh, nhân loại, chư thiên, phạm thiên cùng chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc
Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, giải thoát
khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.
3- Đức
Bồ Tát nằm mộng thấy những con dòi, sâu (kimi)
có thân mình trắng, đầu đen bò từ đôi bàn chân lên đầu gối của
Ngài.
Đó là điều đại mộng thứ ba, điều này là pubba-nimitta hiện
tượng báo trước phần đông người tại gia có đức tin trong sạch nơi Đức Phật, đến
xin quy y nương nhờ nơi Tam Bảo trọn đời.
4- Đức Bồ Tát nằm mộng thấy 4 loại chim đủ màu: Xanh, vàng, đỏ, xám từ bốn phương bay đến đậu dưới hai bàn chân của Ngài, 4 loại chim trở thành màu
trắng trong.
Đó là điều đại mộng thứ tư, điều này là pubba-nimitta hiện
tượng báo trước 4 giai cấp:Vua chúa, Bà-la-môn, thương gia, dân nghèo; 4
hạng người ấy là bậc thiện trí có đức
tin trong sạch nơi Đức Phật, xin phép xuất gia trở thành Tỳ khưu trong giáo pháp của Đức Phật, rồi thực hành theo pháp hành Trung đạo là pháp hành Bát chánh đạo hợp đủ 8 chánh, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả
và Niết Bàn trở thành bậc Thánh A-ra-hán cao thượng.
5- Đức
Bồ Tát nằm mộng thấy, Ngài đi kinh hành qua lại trên dãy núi phân, nhưng
chân không dính phân.
Đó là điều đại mộng thứ
năm, điều này là pubba-nimitta hiện tượng báo
trước khi đã trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, những thứ vật dụng
như y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc
trị bệnh phát sinh rất nhiều. Suy xét xong rồi mới sử dụng những thứ vật dụng ấy, cho
nên Đức Phật không bao giờ dính mắc, say mê trong thứ vật dụng ấy.
Nguyên Nhân Nằm Mộng
(Chiêm Bao)
Người nằm mộng (chiêm bao)
do 4 nguyên nhân:
1- Do
tứ đại không điều hòa: Khi nằm không yên giấc bởi vì đất, nước, lửa,
giókhông điều hòa, cho nên nằm mộng (chiêm bao) như mình rơi từ trên núi cao xuống, hoặc bị voi, cọp đuổi theo, hoặc
bị người đuổi theo v.v… thấy toàn những cảnh khủng khiếp, đáng sợ.
2- Do những việc đã từng thấy, đã từng biết, đã từng sử dụng… từ trước, nay nằm mộng (chiêm bao) thấy cảnh ấy
hiện ra đối với người ấy.
3- Do
chư thiên báo mộng: Do chư thiên có năng lực báo mộng cho biết trước những
sự việc sẽ xảy ra đến cho người ấy. Điều mộng này có khi chư thiên báo mộng đúng, cũng có khi chư thiên có
tác ý báo mộng sai.
4- Do hiện tượng báo trước (pubbanimitta): Do năng lực của
nghiệp thiện hoặc nghiệp ác phát sinh hiện tượng báo mộng trước những quả tốt của
nghiệp thiện, hoặc những quả xấu của nghiệp ác đối với người ấy.
Ví dụ:
Chánh cung Hoàng hậu Mahāmāyā nằm mộng (chiêm bao) thấy những cảnh tượng xảy ra trước khi Đức Bồ Tát Thái tử Siddhattha đầu thai kiếp chót.
Đức vua Kosala nằm mộng thấy
16 điều mộng. Đức Bồ Tát Siddhattha nằm mộng thấy 5 đại mộng…
Trong 4 trường hợp nằm mộng, trường hợp thứ nhất
do tứ đại không điều hòa, và trường hợp thứ nhì do những sự việc đã từng thấy,
đã từng biết, đã từng sử dụng… từ trước,
những điều mộng này không có thật, không đúng theo sự thật.
Trường hợp thứ ba do chư thiên báo mộng có khi
thật, có khi không có thật.
Trường hợp thứ tư do nghiệp thiện hoặc nghiệp ác phát sinh hiện tượng báo trước (pubbanimitta)
thì lúc nào cũng thật, cũng đúng, chắc chắn kết quả sẽ xảy ra như nằm
mộng (chiêm bao).
* Hạng người nào nằm mộng?
Những hạng phàm nhân, bậc Thánh Nhập Lưu, bậc
Thánh Nhất Lai và bậc Thánh Bất Lai có thể nằm mộng, bởi vì những người ấy
còn có các pháp đảo điên (vipallāsadhamma).
Bậc Thánh A-ra-hán hoàn toàn không còn nằm mộng,
bởi vì quý Ngài đã diệt đoạn tuyệt các pháp đảo điên không còn
dư sót nữa.
* Lúc nào nằm mộng?
Lúc người ngủ say yên giấc không nằm mộng. Lúc
người tỉnh giấc cũng không nằm mộng. Người nằm mộng khi không phải lúc ngủ say
và cũng không phải lúc tỉnh giấc.
* Nằm mộng lúc nào mới có thật?
Người nằm mộng ban ngày,
canh đầu đêm, canh giữa đêm, canh chót đêm đều không có thật. Chỉ có cuối canh chót lúc rạng đông (bình minh) người nằm mộng
mới có thật mà thôi.
* Tính chất của giấc mộng như thế nào?
Giấc mộng có 3 tính chất:
a) Ác mộng: Nằm mộng thấy cảnh tượng đáng ghê sợ, hồi hộp,… như bị thú
dữ đuổi theo,…
b) Mộng
lành: Nằm mộng thấy cảnh tượng đáng hài lòng,… như đảnh lễ ngôi Tháp Bảo,
nghe pháp, thuyết pháp,…
c) Mộng
không dữ, không lành: Nằm mộng thấy cảnh tượng bình thường.
* Nằm mộng có thành nghiệp hay không?
Khi nào người nằm ngủ say
yên giấc, khi ấy tâm quả làm phận sự hộ kiếp (bhavaṅga) có đối
tượng cũ lộ trình tâm chưa phát
sinh, nên không nằm mộng.
Khi nào người nằm mộng, khi ấy lộ trình
tâm đã phát sinh, trong lộ trình ấy có tâm tác hành tạo
nghiệp thiện hoặc nghiệp ác, nhưng tâm sở tác ý trong tác hành tâm có năng lực rất yếu, không đáng kể.
Cho nên, tuy có nghiệp thiện hoặc nghiệp ác nhưng không có khả năng có quả
tái sinh kiếp sau. Nếu có cơ hội thì nghiệp thiện hoặc nghiệp ác ấy cho quả rất
yếu, sau khi đã tái sinh.
Các giấc mộng, những người khác có thể nằm mộng
thấy được. Song 5 điều đại mộng thì chỉ có duy nhất Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác
kiếp chót, trước một đêm chắc chắn sẽ chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, mới có khả năng nằm mộng thấy
5 điều đại mộng này mà thôi.
Đêm 14 tháng tư âm lịch, vào cuối canh chót rạng
đông, Đức Bồ Tát Siddhattha nằm thấy 5 điều đại mộng (mahāsupina). Qua 5
điều đại mộng này, Ngài đoán biết rằng: “Ngài chắc chắn sẽ chứng đắc
thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác”.
Sáng ngày rằm tháng tư âm lịch, Đức Bồ Tát đi
đến ngồi dưới gốc cây da để chờ đến giờ đi vào xóm khất thực. Tại nơi đây, hằng năm, vào ngày rằm
tháng tư này, nàng Sujātā thường đem lễ vật đến cúng dường, để tạ ơn thiên
thần đã giúp cho nàng toại nguyện.
Như thường lệ, sáng ngày rằm
tháng tư âm lịch, nàng Sujātā trang
điểm bằng những đồ trang sức quý giá rồi
đi đến cội cây da, trên đầu đội một chiếc mâm vàng đựng 49 vắt cơm
nấu bằng sữa tươi tinh khiết, bổ dưỡng,
có chư thiên bỏ thêm hương vị trời. Khi đến nơi, nhìn thấy Đức Bồ Tát có 32 tướng tốt của Bậc Đại Nhân và 80 tướng tốt phụ, có làn da
màu vàng sáng ngời, có hào quang tỏa ra xung quanh, nàng tưởng rằng:
“Ngài là vị thiên thần hiện xuống thọ nhận phẩm vật cúng dường tạ ơn của nàng”. Nàng Sujātā vô cùng hoan hỷ đến gần
Đức Bồ Tátcung kính dâng Ngài chiếc mâm vàng
đầy 49 vắt cơm sữa cùng bình nước,
hoa quả… Khi ấy, cái bát của Ngài bỗng nhiên biến mất, Ngài nhìn
nàng Sujātā.
- Kính bạch Đức Thiên Thần,
con thành kính dâng Ngài chiếc mâm vàng đầy những phẩm vật này. Kính xin
Ngài từ bi hoan hỷ thọ nhận, để cho con được sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc
lâu dài.
Đức Bồ Tát đưa hai tay ra thọ nhận chiếc mâm
vàng đầy các phẩm vật quý giá ấy.
Sau khi thọ nhận chiếc mâm vàng đầy cơm sữa xong, Đức Bồ Tát đứng dậy rời khỏi gốc cây da, tay
bưng chiếc mâm vàng đầy cơm sữa đi đến bến sông Nerañjarā, nơi mà chư Bồ Tát Chánh Đẳng Giác quá khứ, trước khi chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng
Giác, cũng đều ngự đến đây để tắm, nên bến sông này gọi là bến Supaṭitthita. Ngài đặt mâm ở bến Supaṭitthita, rồi xuống dòng sông Nerañjarā tắm. Khi
tắm xong, Ngài mặc y cà sa màu lõi mít tượng trưng cho lá cờ chiến thắng của
chư Thánh A-ra-hán, đoạn Ngài ngồi quay
mặt về hướng Đông, độ hết 49 vắt cơm sữa, rồi uống hết bình nước (từ đó về sau suốt 7 tuần lễ (49
ngày), Đức Phật không độ vật thực và nước, chỉ
an hưởng vị giải thoát Niết Bàn).
Sau khi độ cơm xong, Ngài
cầm chiếc mâm vàng phát nguyện rằng:
- Nếu hôm nay ta được chứng
đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác,
thì xin cho chiếc mâm vàng này sẽ trôi
ngược dòng nước; nếu không, thì chiếc mâm vàng này sẽ trôi xuôi
theo dòng nước.
Nguyện xong, Ngài ném chiếc
mâm vàng xuống dòng
sông. Thật phi thường thay! Chiếc mâm vàng cắt ngang dòng nước đang chảy, trôi
ra giữa sông, rồi từ đó trôi ngược dòng nước một cách vô cùng mau lẹ. Trôi khoảng
một đoạn khá xa, chiếc mâm vàng chìm sâu xuống đáy nước, đụng phải ba
chiếc mâm vàng của ba Đức Phật quá khứ là Đức Phật Kakusandha,Đức
Phật Koṇāgamana và Đức Phật Kassapa, phát
ra một âm thanh vang dội, làm cho Long vương Kālanāga tỉnh giấc nghĩ rằng:
“Hôm qua một Đức Phật
đã xuất hiện, hôm nay sẽ có một Đức Phật nữa xuất hiện”, rồi thức dậy tán dương ca tụng hằng trăm bài kệ.
Trưa hôm ấy, Đức Bồ Tát nghỉ trong một khu rừng
Sālā, bên bờ sông Nerañjarā, những cây Sālā tự nhiên đua nhau nở hoa khắp cả
khu rừng. Chiều hôm ấy, Ngài ngự đến cội
cây Assattha, dọc theo hai bên đường, chư thiên trang hoàng những
đóa hoa trời rất xinh đẹp, chư thiên ở các cõi trời đua nhau cúng dường hương
thơm cùng với thiên nhạc vang rền khắp 10 ngàn thế giới chúng sinh. Cùng lúc ấy,
một người cắt cỏ tên Sotthiya, trên đường đi ngượcchiều lại phía Đức Bồ Tát, nhìn thấy Ngài, liền phát sinh đức tin trong sạch, nên dâng cúng Ngài tám nắm cỏ.
Đức Bồ Tát cầm tám nắm cỏ ngự thẳng đến cội cây Assattha.
Khi đứng hướng Nam của cội cây, Ngài nhìn thẳng
về hướng Bắc, Ngài có cảm giác mất thăng bằng,
như toàn cõi thế giới hướng Nam bị chìm sâu xuống cõi địa ngục Avīci, còn toàn cõi thế giới hướng Bắc được
nổi lên đến cõi trời sắc giới phạm thiên tột đỉnh. Ngài nghĩ rằng:
“Đây không phải là chỗ
ngồi để ta có thể chứng đắc
thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác”.
Ngài ngự đi sang hướng khác.
Khi đứng hướng Tây của cội
cây, Ngài nhìn về hướng Đông; rồi đứng hướng Bắc, Ngài nhìn về hướng Nam cũng có cảm giác mất
thăng bằng như vậy.
Sau cùng, đứng hướng Đông của cội cây, Ngài nhìn thẳng về hướng Tây, Ngài có cảm giác toàn cõi thế
giới thăng bằng.
Ngài nghĩ rằng: “Chính đây là chỗ ngồi
để ta có thể chứng đắc thành Bậc Chánh Đẳng Giác”.
Ngài trải tám nắm cỏ tại hướng Đông của cội
Assattha. Thật phi thường thay! Tại ngay chỗ ngồi ấy bỗng nhiên trở thành ngôi
Bồ đoàn quý báu, có chiều cao 14 hắc tay thật nguy nga lộng lẫy, mà không
có một nhà kiến trúc mỹ thuật nào có thể tạo nên một Bồ đoàn tuyệt đẹp như
vậy! Bởi vì, ngôi Bồ đoàn quý báu này phát sinh do phước báu ba-la-mật tròn đủ của Đức Bồ Tát sắp trở thành Đức
Phật Chánh Đẳng Giác.
Ngài ngồi kiết già vững
vàng trên ngôi Bồ đoàn quý báu, quay mặt
về hướng Đông rồi phát nguyện rằng:
- Dù cho thịt và máu trong thân ta khô cạn hết, dù sắc thân này chỉ còn da bọc xương đi nữa, nếu
ta chưa chứng đắc thành Đức Phật
Chánh Đẳng Giác, ta quyết không
bao giờ rời khỏi Bồ đoàn này.
Lúc ấy, từ cung trời Tha Hóa Tự Tại Thiên, Ác
Ma Thiên hóa ra hàng ngàn cánh tay cầm khí giới, cỡi voi Girimekhala cầm đầu
đoàn thiên ma binh, thiên ma tướng rầm rộ hiện xuống vây quanh cội Assattha, kéo dài 12 do tuần. Bên
trên hư không, chúng thiên ma dày đặc 9 do tuần, chúng la hét âm thanh vang dội kinh khủng làm chấn động khắp mọi nơi, quyết tranh giành ngôi Bồ đoàn của Đức Bồ
Tát. Mới đây, chư thiên, chư phạm thiên từ 10 ngàn thế giới đến cung kính cúng dường, tán dương ca
tụng Đức Bồ Tát, khi thoáng nhìn thấy Ác
Ma Thiên cùng với thiên ma binh, thiên ma tướng trùng trùng điệp
điệp từng đoàn, từng lớp hiện xuống; tất cảchư thiên, phạm thiên đều bay xa
lánh mặt, trở về chỗ ở của mình, chỉ
còn một mình Đức Bồ Tát đang điềm nhiên ngự trên ngôi Bồ đoàn.
Ác Ma Thiên đã sử dụng
đủ mọi loại vũ khí và phép thuật cực kỳ nguy hiểm, quyết sát hại Đức Bồ Tát, để chiếm đoạt ngôi Bồ đoàn, với mục đích ngăn cản không cho Đức Bồ Tát chứng đắc thành Đức Phật Chánh
Đẳng Giác. Nhưng do oai lực 30 pháp hạnh ba-la-mật
đầy đủ trọn vẹn của Đức Bồ Tát sắp chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng
Giác, nên không có một loại phép thuật hay vũ khí nguy hiểm nào có thể sát hại
được Ngài.
Quả
thật như thế! Do oai lực pháp hạnh ba-la-mật của Đức Bồ Tát, các loại
vũ khí và phép thuật của Ác Ma
Thiên đều hóa thành những vật cúng dường Ngài.
Ngồi
trên lưng voi Girimekhala, Ác Ma Thiên vô cùng căm uất, chỉ tay về
Đức Bồ Tát nói như ra lệnh:
- Này Sa-môn Gotama, nhà
ngươi hãy mau mau rời khỏi ngôi Bồ đoàn ấy, vì ngôi Bồ đoàn ấy là của
ta, không phải của ngươi!
Đức Bồ Tát từ tốn đáp lại:
- Này Ác Ma Thiên, ngôi Bồ
đoàn quý báu này phát sinh
do phước thiện của 30 pháp hạnh ba-la-mật, 5 hạnh đại thí, 3 pháp hành mà Như
Lai đã tạo từ vô số kiếp. Do đó, ngôi Bồ
đoàn này thuộc về của Như Lai, không phải của ngươi.
Khi ấy, chỉ một mình Đức
Bồ Tát ngự trên Bồ đoàn, ngoài ra, không còn có một ai bên cạnh Đức Bồ Tát cả,
nên Ác Ma Thiên đặt câu hỏi bắt bí Đức Bồ Tát rằng:
- Thưa Sa-môn Gotama, Ngài nói rằng: “Ngôi Bồ đoàn quý báu ấy thuộc về của Ngài. Vậy ai làm chứng cho
Ngài!”
Nhìn xung quanh đều
không có một chư thiên, phạm thiên nào
cả, Đức Bồ Tát bèn đưa bàn tay phải ra, rồi dùng ngón trỏ chỉ xuống
mặt đất, truyền dạy bằng lời chân thật rằng:
“Trong
những tiền kiếp, Như Lai đã từng tạo 30 pháp hạnh ba-la-mật, 5 hạnh đại thí, 3 pháp hành. Bây giờ, tại nơi đây không có chúng sinh nào đứng
ra làm chứng cho Như Lai, chỉ có mặt đất, mặt đất không có tâm thức này có thể
làm chứng cho Như Lai được không?”.
Thật phi thường thay! Lời
chân thật của Đức Bồ Tát vừa chấm dứt,
ngay tức khắc, mặt đất chuyển mình, rung động, phát ra những tiếng
sấm sét long trời lở đất, làm cho Ác Ma Thiên kinh hoàng khiếp đảm, giục voi
Girimekhala bỏ chạy trở về cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên; còn đám ma binh thì hỗn
quân, hỗn quan vô cùng khiếp sợ, cũng hốt hoảng chạy tán loạn theo chủ
soái để thoát thân.
Đức Bồ Tát ngự trên Bồ
đoàn quý báu dưới cội cây Assattha toàn
thắng Ác Ma Thiên, vừa đúng lúc mặt
trời sắp lặn hướng Tây, mặt trăng ló dạng hướng Đông. Khi ấy, mười ngàn thế giới, chư thiên cõi trời dục
giới, phạm thiên cõi trời sắc giới, Long vương dưới
thủy cung… vui mừng reo hò vang dội khắp các tầng trời, tán dương
ca tụng oai lực ba-la-mật của Đức Bồ Tát rằng:
Đức Bồ Tát Siddhattha đã
toàn thắng rồi!
Ác Ma Thiên đã hoàn toàn thất bại rồi!
Do
đó, ngôi Bồ đoàn quý báu này gọi là “Aparā-jitapallaṇka” nghĩa là ngôi Bồ
đoàn quý báu nơi toàn thắng Ác Ma
Thiên.
Chư thiên, phạm
thiên đem những đoá hoa trời xinh đẹp, những hương thơm đến cúng dường, tán
dương ca tụng ba-la-mật của Đức Bồ Tát.
Sau khi Đức Bồ Tát đã toàn
thắng Ác Ma Thiên, vào canh đầu đêm
rằm tháng tư âm lịch, Ngài thực hành thiền
định (samathabhāvanā) với đề mục niệm hơi thở vô - hơi thở ra(ānāpānassati) tuần tự chứng đắc
4 bậc thiền hữu sắc như sau:
- Đệ nhất thiền hữu sắc: Có 5 chi thiền: Hướng tâm,
quan sát, hỷ, lạc, định, do chế ngự được 5 pháp chướng ngại tham dục, sân hận, buồn
chán - buồn ngủ, phóng tâm - hối hận, hoài nghi.
- Đệ nhị thiền hữu sắc: Có 3 chi thiền: Hỷ,
lạc, định, do chế ngự được 2
chi thiềnhướng tâm, quan sát.
- Đệ tam thiền hữu sắc: Có 2 chi thiền: Lạc,
định, do chế ngự
được 1 chi thiền hỷ.
- Đệ tứ thiền hữu sắc: Có 2 chi thiền: Xả,
định, do chế ngự được 1 chi thiền lạc, thay
bằng chi thiền xả.
Đó là 4 bậc thiền hữu sắc
làm nền tảng để chứng đắc Tam Minh.
TAM MINH (TEVIJJA)
1- Túc
mạng minh (Pubbenivāsānussatinñāṇa)
Đức Bồ Tát có đệ tứ thiền
hữu sắc, định tâm trong sáng thanh tịnh,
thiền tâm không lay động làm nền tảng,
Ngài hướng tâm đến chứng đắc túc mạng minh: Trí tuệ nhớ rõ lại tiền kiếp, từ 1 kiếp đến
hàng trăm kiếp, hàng ngàn kiếp,
hàng vạn kiếp, hàng triệu kiếp, hàng
triệu triệu kiếp… cho đến vô lượng kiếp không giới hạn (4).
Túc mạng minh là trí tuệ
nhớ rõ tiền kiếp thuộc loại chúng sinh nào, tên gì, thuộc dòng dõi nào, đã tạo nghiệp thiện , nghiệp bất thiện, tạo ba-la-mật, thọ
lạc, thọ khổ, tuổi thọ như thế nào… đều nhớ rõ ràng mọi chi tiết.
Túc mạng minh là minh thứ nhất mà Đức
Bồ Tát đã chứng đắc vào canh đầu đêm rằm tháng tư (âm lịch).
2- Thiên nhãn minh (Dibbacakkhunñāṇa)
Đức Bồ Tát có đệ tứ thiền hữu sắc, định tâm
trong sáng thanh tịnh, thiền tâm không
lay động làm nền tảng, Ngài hướng tâm đến chứng đắc thiên
nhãn minh: Trí tuệ thấy rõ, biết rõ kiếp quá khứ, kiếp vị lai của
tất cả chúng sinh như mắt của chư thiên, phạm thiên.
Thiên nhãn minh có 2 loại:
- Tử sanh minh (cutūpapātañāṇa): Trí
tuệ thấy rõ biết rõ sự tử, sự tái sinh của tất cả chúng sinh. Sau khi chết, do
nghiệp nào cho quả tái sinh cảnh giới nào, thọ khổ, thọ lạc như thế nào…
- Vị lai kiến minh (anāgataṃsañāṇa): Trí
tuệ thấy rõ những kiếp vị
lai của tất cả chúng sinh.
Chư Phật dùng vị
lai kiến minh này để thọ ký chúng
sinh trong những kiếp vị lai xa xăm, còn thời gian bao nhiêu đại kiếp
trái đất nữa sẽ trở thành Đức Phật
Chánh Đẳng Giác, hoặc Đức Phật Độc Giác, hoặc bậc Thánh Thanh Văn
Giác...
Thiên nhãn minh là minh thứ nhì mà Đức Bồ
Tát đã chứng đắc vào lúc canh giữa đêm rằm tháng tư (âm lịch).
3- Lậu
tận minh (Āsavakkhayañāṇa)
Đức Bồ Tát dùng đệ tứ thiền hữu sắc làm nền tảng,
để thực hành thiền tuệ, quán xét Thập Nhị Duyên Sanh (Paṭiccasamuppāda) là đối tượng thiền tuệ của Chư Bồ Tát. Ngài quán xét để chứng đắc thành
Đức Phật Chánh Đẳng Giác.
Đức Bồ Tát quán xét Thập
Nhị Duyên Sanh theo chiều thuận, chiều sinh như sau:
- Do vô minh làm duyên, nên hành sanh.
(Avijjāpaccayā saṅkhārā)
- Do hành làm duyên, nên thức sanh.
(Saṅkhārapaccayā
viññāṇaṃ)
- Do thức làm duyên, nên danh sắc sanh.
(Viññāṇapaccayā
nāmarūpaṃ)
- Do danh sắc làm duyên, nên lục nhập sanh.
(Nāmarūpapaccayā
saḷāyatanaṃ)
- Do lục nhập làm duyên, nên lục xúc sanh.
(Saḷāyatanapaccayā
phasso)
- Do lục xúc làm duyên, nên lục thọ sanh.
(Phassapaccayā
vedanā)
- Do lục thọ làm duyên, nên lục ái sanh.
(Vedanāpaccayā
taṇhā)
- Do lục ái làm duyên, nên tứ thủ sanh.
(Taṇhāpaccayā
upādānaṃ)
- Do tứ thủ làm duyên, nên nhị hữu sanh.
(Upādānapaccayā
bhavo)
- Do nhị hữu làm duyên, nên tái sinh sanh.
(Bhavapaccayā
jāti)
- Do tái sinh làm duyên, nên lão tử… sanh.
Đức
Bồ Tát quán xét Thập Nhị Duyên Sanh theo chiều thuận,
chiều sinh, để trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ “sự sinh” của
mỗi pháp, trí tuệ thiền tuệ chứng ngộ chân lý Khổ Thánh Đế và Nhân
sanh Khổ
Thánh Đế hay Tập
Thánh Đế.
Đức Bồ Tát quán xét Thập
Nhị Nhân Diệt theo chiều
nghịch, chiều diệt như sau:
- Do diệt tận vô minh, nên diệt hành.
(Avijjāyatveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho)
- Do diệt hành, nên diệt thức.
(Saṅkhāranirodhā viññaṇanirodho)
- Do diệt thức, nên diệt danh sắc.
(Viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho)
- Do diệt danh sắc, nên diệt lục nhập.
(Nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho)
- Do diệt lục nhập, nên diệt lục xúc.
(Saḷāyatananirodhā phassanirodho)
- Do diệt lục xúc, nên diệt lục thọ.
(Phassanirodhā vedanānirodho)
- Do diệt lục thọ, nên diệt lục ái.
(Vedanānirodhā taṇhānirodho)
- Do diệt lục ái, nên diệt tứ thủ.
(Taṇhānirodhā upādānanirodho)
- Do diệt tứ thủ, nên diệt nhị hữu.
(Upādānanirodhā bhavanirodho)
- Do diệt nhị hữu, nên diệt tái sinh.
(Bhavanirodhā jātinirodho)
- Do diệt tái sinh, nên diệt lão tử….
(Jātinirodhā jarāmaraṇa… nirodho)
Đức
Bồ Tát quán xét Thập Nhị Nhân Diệt theo chiều nghịch, chiều diệt, để trí tuệ thiền
tuệ thấy rõ, biết rõ “sự diệt” của mỗi pháp, trí
tuệ thiền tuệ chứng ngộ chân lý: Diệt Khổ Thánh Đế và Pháp
hành diệt Khổ Thánh Đế hay Đạo Thánh Đế.
Đức Bồ Tát quán xét Thập Nhị Duyên
Sanh - Thập Nhị Nhân Diệt theo chiều thuận -
chiều nghịch, chiều sanh -
chiều diệt, trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ sự
sinh - sự diệt của mỗi pháp, trí tuệ
thiền tuệ thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường, trạng
thái khổ, trạng thái vô ngã, dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế,
chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt 4 pháp trầm
luân (āsava) bằng 4 Thánh Đạo Tuệ tuần tự như sau:
- Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 1 pháp là tà kiến trầm luân(diṭṭhāsava), cùng
với các tà kiến khác.
- Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 1
pháp là tham dục trầm luân(kāmāsava) trong
ngũ trần loại thô (còn loại vi tế chưa diệt được),
cùng với các tâm tham loại thô khác.
- Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 1 pháp là tham dục trầm luân(kāmāsava) trong
ngũ trần loại vi tế không còn dư sót, cùng với các tâm tham loại vi tế khác.
- A-ra-hán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 pháp là kiếp trầm luân(bhavāsava) và vô
minh trầm luân (avijjāsava), đồng thời diệt
đoạn tuyệt được hoàn toàn mọi tham ái, phiền não, và các ác pháp không còn
dư sót.
Như vậy, Đức Bồ Tát đã tự
mình chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế,
chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và
Niết Bàn đầu tiên, diệt đoạn tuyệt mọi tham ái, mọi phiền não,
mọi ác pháp không còn dư sót; đặc biệt diệt được mọi tiền khiên tật (5)(vāsanā) do đã tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp
trong quá khứ, trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác có danh hiệu “Đức
Phật Gotama”, độc nhất vô nhị trong toàn cõi thế giới chúng sinh.
Đức Phật Gotama có đầy đủ trọn vẹn 73 loại trí tuệ(6).
Trong 73 loại trí tuệ này, có những loại trí tuệ mà Chư Phật Độc Giác, Chư Thanh Văn Giác không thể có, đó là 6 Asādhāraṇañāna: 6 trí tuệ
không có chung với Chư Phật Độc Giác, Chư Thánh
Thanh Văn Giác; 10 Dasabalañāna: 10 tuệ lực;
v.v…
Đức Phật Gotama có những
Ân đức riêng biệt như:
* 18 āveṇikāguṇa: 18 Ân đức riêng biệt
của Đức Phật Chánh Đẳng Giác. Những Ân
đức này chỉ có ở Đức Phật Chánh
Đẳng Giác mà thôi, hoàn toàn không có ở Chư Phật Độc Giác, Chư Thánh Thanh Văn Giác.
* 4 anantarāyikaguṇa: 4 Ân đức an
toàn vô hại, không có một ai có khả năng sát hại Đức Phật, làm hư hỏng các thứ
vật dụng của Đức Phật, gây tai hại tướng
tốt của Đức Phật, hoặc làm mất ánh hào quang của Đức Phật.
Lậu tận minh là minh thứ 3 mà Đức Bồ
Tát đã chứng đắc vào canh chót của đêm
rằm tháng tư (âm lịch), vào lúc
rạng đông. Ngài đã trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác cao
thượng trong toàn cõi thế giới chúng
sinh, tại cội cây Assattha. Do đó, cây Assattha này gọi làBodhirukkha (7): Cây
Bồ Đề, đối với Đức Phật Gotama của chúng ta.
Như vậy, Đức Phật Gotama
là Đức Chánh Đẳng Giác Vô Thượng trong toàn thế giới chúng sinh. Khi ấy,
Ngài đúng 35 tuổi.
Mười ngàn thế giới chúng
sinh từ mặt đất lên đến
cõi sắc giới phạm thiên tột đỉnh, chư thiên, phạm thiên vô cùng vui mừng, hoan hỷ thốt lên
lời:
- Sādhu! Sādhu!
(Lành thay! Lành thay!)
- Buddho uppanno!
(Đức Phật xuất hiện trên thế gian rồi!)
- Dhammo uppanno!
(Đức Pháp xuất hiện trên thế gian rồi!)
- Saṃgho uppanno!
(Đức Tăng cũng sẽ xuất hiện trên thế gian này!)
Tiếng hoan hô vang dội
khắp toàn cõi 10 ngàn thế giới chúng sinh.
Những
điều phi thường chưa từng có trên thế gian này là:
* Tất cả các loài hoa đều đua nhau nở để cúng dường
đến Đức Phật.
* Tất cả các loại cây ăn trái
đều cho quả ngon ngọt.
* Tất cả những người mù từ lúc
đầu thai, khi sinh ra không thấy được gì, thì nay có đôi mắt sáng,
có thể nhìn thấy mọi vật trên đời.
* Tất cả những người điếc từ
lúc đầu thai, khi sinh ra không nghe được
âm thanh gì, thì nay hai tai có thể nghe rõ mọi thứ âm thanh.
* Tất cả những người què, bại liệt từ lúc đầu
thai, khi sinh ra không đi lại được, thì nay có thể đi lại dễ dàng.
* Đặc biệt nhất, ở địa ngục Lokantarika rộng lớn tối tăm, nơi giáp ranh với 3 thế giới, dành cho những chúng
sinh có tà kiến cố định (niyatamicchādiṭṭhi) hoàn
toàn không tin nghiệp - quả. Trong địa ngục rất tối tăm ấy, dầu ánh sáng của
7 mặt trời mọc lên cùng một lúc, cũng không thể chiếu thấu đến tận nơi;
nhưng ánh sáng hào quang của Đức Phật tỏa khắp 10 ngàn thế giới, chiếu
sáng đến tận địa ngục Lokantarika. Cho
nên, những chúng sinh ở trong địa ngục có thể nhìn thấy lẫn nhau.
Toàn thể mười ngàn thế giới, chư thiên, phạm thiên
đem những phẩm vật cao quý và những đóa hoa
xinh đẹp cúng dường đến Đức Phật và tán dương ca tụng Đức Phật bằng
hàng ngàn bài kệ.
Khi ấy, Đức Thế Tôn tự
thuyết ở trong tâm bằng 2 bài kệ rằng:
153- Anekajātisaṃsāraṃ,
Sandhāvissaṃ anibbisaṃ.
Gahakāraṃ gavesanto,
Dukkhājāti punappunaṃ.
154- Gahakāraka!
diṭṭho’si,
Puna gehaṃ na kāhasi.
Sabbā te phāsukā
bhaggā,
Gahakūtaṃ visaṅkhataṃ.
Visaṅkhāraṃ gataṃ cittaṃ,
153- Này người thợ “tham ái” xây nhà
“thân”,
Như Lai cố tìm ngươi mà chưa gặp,
Nên tử sinh luân hồi vô số kiếp,
Tái sinh mãi trong tam giới là khổ.
154- Này
“tham ái”, người thợ xây nhà “thân”!
Bây giờ Như Lai đã gặp ngươi rồi!
Như Lai đã hủy hoại sạch cả rồi,
Đỉnh nhà “vô minh”, cũng bị tiêu diệt,
Ngươi không còn xây nhà Như Lai nữa,
Tâm Như Lai đã chứng ngộ Niết Bàn,
Như Lai đã chứng đắc A-ra-hán.
Hai bài kệ cảm ứng tự thuyết
ở trong tâm, đó là Phật ngôn đầu tiên của Đức Phật (Paṭhama-buddhavacana).
Đức Phật Chánh Đẳng Giác là kết quả của sự chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế theo Tam Tuệ Luân, như trong bài kinh Chuyển Pháp Luân Đức Thế Tôn đã
khẳng định, truyền dạy rằng:
– “Này chư Tỳ khưu, khi nào trí tuệ thiền tuệ
đã thấy rõ, biết rõ đúng thực tánh của Tứ Thánh Đế theo Tam Tuệ Luân, thành 12 loại trí tuệ trong sáng thanh tịnh,
đã phát sinh đến với Như Lai.
Này chư Tỳ khưu, khi ấy, Như Lai khẳng định, truyền dạy rằng: Như Lai đã chứng
đắc thành Đức Phật Chánh
Đẳng Giác Vô Thượng trong toàn thế
giới chúng sinh: Nhân loại, Vua chúa, Sa-môn, Bà-la-môn, Chư thiên, Ma Vương và Phạm
thiên cả thảy”.
Đức Thế Tôn xuất hiện trên thế gian để đem lại sự
lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài cho tất cả chúng sinh. Như Ngài đã
dạy:
“Này chư Tỳ khưu, Bậc
cao thượng độc nhất xuất
hiện trên thế gian, để đem lại sự tiến hóa cho nhiều chúng sinh, để đem lại sự
an lạc cho nhiều chúng sinh, để tế độ thế gian, để có sự lợi ích, sự tiến
hóa, sự an lạc cho chư thiên, chư phạm thiên và nhân loại.
Bậc cao thượng độc nhất ấy là ai?
Bậc cao thượng độc nhất ấy chính là Như Lai, Đức
A-ra-hán, Đức Chánh Đẳng Giác.
Này chư Tỳ khưu, Như Lai là Bậc cao thượng độc
nhất xuất hiện trên thế gian, để đem lại sự tiến hóa cho nhiều chúng sinh, để
đem lại sự an lạc cho nhiều chúng sinh,
để tế độ thế gian, để có sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc cho chư thiên, chư phạm thiên và nhân
loại” (11).
1 Công chúa Yasodhara là hậu
thân của nữ Bà-la-môn Sumittā từ thời Đức Phật Dīpaṅkara, cô dâng cho vị Đạo sĩ
Sumedha 5 đóa hoa sen và phát nguyện cho đến kiếp chót.
2 Tìm hiểu rộng trong
Nền Tảng Phật Giáo quyển I “Tam Bảo” cùng một soạn giả (trang
111-115).
3 Tóm lược theo bài kinh
Mahāsupinasutta trong Aṅg. Pañcakanipāta.
4 Đối với Đức Phật Độc Giác, bậc Thánh Thanh Văn
Giác thì Túc mạng minh có giới hạn.
5 Tiền khiên tật: Những tật xấu còn dư sót
lại từ những kiếp trước.
6 Bộ Paṭisambhidāmagga phần Ñāṇakathā.
7 Dưới cội cây nào mỗi Đức Bồ Tát chứng đắc thành Bậc Chánh Đẳng
Giác, cây ấy đều được gọi là Bodhirukkha. Mỗi Đức Phật có mỗi cây Bồ Đề khác
nhau.
ĐỨC PHẬT GOTAMA TỊCH DIỆT
NIẾT BÀN
Sau khi chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, Đức Phật thuyết pháp
tế độ chúng sinh có duyên lành nên tế độ. Ngài thuyết bài kinh Chuyển Pháp
Luân(Dhammacakkappavattanasutta)
lần đầu tiên vào ngày rằm
tháng 6 âm lịch, hai tháng sau khi
trở thành Đức Phật, để tế độ nhóm 5 Tỳ khưu: Ngài Koṇḍañña, Ngài Vappa, Ngài Bhaddiya, NgàiMahānāma
và Ngài Assaji. Sau khi lắng nghe bài kinh ấy, Ngài Koṇḍañña là vị Tỳ khưu đầu tiên chứng ngộ
chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Nhập Lưu Thánh Đạo, Nhập Lưu Thánh Quả và Niết
Bàn, trở thành bậc Thánh Nhập Lưu đầu tiên trong giáo pháp của
Đức Phật Gotama, cùng với 180 triệu chư thiên và
phạm thiên cũng chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, tùy theo pháp hạnh ba-la-mật của từng vị.
Mỗi ngày đêm, Đức Phật luôn tinh tấn không ngừng hành 5 phận sự gọi làBuddhakicca (1): Phận sự của Đức Phật.
5 Phận Sự Của Đức Phật:
* Phận sự buổi sáng trước
khi độ ngọ (purebhatta-kicca).
* Phận sự sau khi độ ngọ (pacchābhattakicca).
* Phận sự canh đầu đêm (paṭhamayāma).
* Phận sự canh giữa đêm (majjhimayāma).
* Phận sự canh chót đêm (pacchimayāma).
1- Phận sự buổi sáng trước khi
độ ngọ như thế nào?
Mỗi buổi sáng đến giờ đi khất thực, có khi Đức Phật
ngự đi khất thực một mình để tế độ chúng sinh nào đó, có khi Đức Phật ngự cùng với
chư Tỳ khưu Tăng đi vào xóm, vào kinh thành để khất thực. Khi Đức Phật thọ thực xong, có số dân chúng thỉnh Đức Phật
thuyết pháp, có số xin thọ phép quy y Tam Bảo thọ trì ngũ giới…, có số xin Đức Phật cho phép xuất gia, xong rồi Đức Phật ngự trở về chùa.
2- Phận sự sau khi độ ngọ như
thế nào?
Khi Đức Phật ngự trở về chùa, rửa chân xong, đứng
trên bục giảng, Ngài khuyên dạy chư Tỳ khưu:
“Bhikkhave appamādena sampādetha,
Dullabho Buddhuppādo lokasmiṃ,
Dullabho manussattapaṭilābho,
Dullabhā khaṇasampatti,
Dullabhā pabbajjā,
Dullabhaṃ saddhammassavanaṃ” (2)
“Này chư Tỳ khưu, các con hãy nên cố gắng
hoàn thành mọi phận sự Tứ Thánh Đế, bằng pháp không dể duôi, thực hành
Tứ niệm xứ.
- Đức Phật xuất hiện trên thế
gian là một điều khó.
- Được sinh làm người là một điều khó.
- Có được cơ hội hành phạm hạnh cao thượng là một
điều khó.
- Được xuất gia trở thành Tỳ
khưu là một điều khó.
- Được nghe chánh pháp là một điều khó”
Đó là những điều khó có được. Do đó, Đức Phật hằng ngày thường khuyên dạy
chư Tỳ khưu chớ nên dễ duôi.
Sau đó, Đức Phật ngự vào cốc Gandhakuṭi, còn chư Tỳ khưu mỗi vị ở một nơi để thực hành thiền
định, hoặc thực hành thiền tuệ.
3- Phận sự canh đầu đêm như thế
nào?
- Canh đầu: Đức Phật giáo huấn chư Tỳ
khưu, có số
Tỳ khưu hỏi về pháp, về luật; có số Tỳ khưu xin thọ pháp hành thiền định, pháp
hành thiền tuệ; có số Tỳ khưu nghe pháp. Qua hết canh đầu, chư Tỳ khưu đảnh lễ
Đức Phật trở về chỗ ở của mình.
4- Phận sự canh giữa đêm như thế
nào?
- Canh giữa: Đức Phật cho phép Chư Thiên, Phạm Thiên trong 10.000 thế giới đến hầu Ngài, đảnh
lễ xong đứng một nơi hợp lẽ, bạch hỏi pháp. Đức Phật giảng giải những câu hỏi của Chư Thiên, Phạm Thiên
xong, hết canh giữa, Chư Thiên, Phạm Thiên
đảnh lễ Đức Phật trở về cảnh giới của mình.
5- Phận sự canh chót đêm như thế
nào?
Đức Phật phân chia canh
chót làm ba thời:
- Thời đầu: Đức Phật đi kinh hành.
- Thời giữa: Đức Phật ngự vào cốc Gandhakuṭi nghỉ
ngơi, nằm nghiêng bên phải, có chánh niệm, trí tuệ tỉnh giác, định giờ tỉnh dậy.
- Thời chót: Đức Phật nhập thiền đại bi, khi xả thiền,
quán xét chúng sinh trong 10.000 thế giới bằng Phật Nhãn Tuệ, xem xét chúng sinh nào đã có gieo duyên lành với Ngài, hoặc
đã từng tạo ba-la-mật từ Chư Phật quá khứ đến kiếp hiện tại này, có khả năng chứng
ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn,
Ngài ngự đến để tế độ
chúng sinh ấy, dầu ở gần hay xa, trong thế giới này hay thế giới khác.
Có khi Đức Phật ngự một mình tìm đến chúng sinh ấy như:
* Đức Phật một mình ngự đến khu rừng nơi ẩn náu của kẻ cướp sát nhân có biệt
danhAṅgulimāla (giết người cắt ngón tay làm vòng đeo cổ), để tế độ Ngài Aṅgulimāla xuất gia trở thành bậc Thánh A-ra-hán.
* Đức Phật một mình ngự đến lâu đài của Dạ xoa Āḷavaka trong xứ Āḷavī, Dạ xoa Āḷavaka có phép mầu phi thường, rất tàn nhẫn
hung bạo, dũng mãnh hơn Ác Ma Thiên. Đức Phật đã tế độ Dạ xoa Āḷavaka trở thành bậc Thánh Nhập Lưu.
* Đức Phật một mình ngự lên cõi trời Phạm Thiên để tế độ Phạm Thiên Baka có tà kiến mê lầm, trở thành Phạm Thiên có chánh kiến, v.v…
Có khi Đức Phật ngự cùng với chư Tỳ khưu du hành khắp mọi nơi để tế
độ chúng sinh có duyên lành nên tế độ.
Mỗi ngày, mỗi đêm Đức Phật hành đầy đủ 5 phận
sự ròng rã suốt 45 năm cho đến phút giây cuối cùng tịch diệt Niết Bàn.
Đến ngày rằm tháng tư, Đức Phật cùng chư Tỳ khưu
ngự đến khu rừng Sālā xứ Kusinārā của Hoàng tộc Malla, để tế độ vị Đạo sĩ Subhadda, bậc Thanh Văn
đệ tử cuối cùng của Đức Phật, bởi vì ngoài Ngài ra, không có một vị nào có khả năng tế
độ vị Đạo sĩ Subhadda được.
Thật vậy, vào canh chót đêm ấy, vị Đạo sĩ Subhadda đến hầu Đức Phật, bạch hỏi Ngài những vấn
đề thắc mắc mà không có một vị Sa-môn, Bà-la-môn nào
có thể giải đáp, làm cho vị Đạo sĩ Subhadda hài lòng, thỏa mãn. Vị Đạo sĩ Subhadda đã
bạch hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trực tiếp giải đáp những câu hỏi ấy, mà Ngài chỉ thuyết dạy Bát
Chánh Đạo trong giáo pháp của Ngài. Vị Đạo sĩ Subhadda phát sinh thiện tâm trong sạch, vô cùng
hoan hỷ với lời giáo huấn của Đức Phật, kính xin Đức Phật cho phép xuất
gia trong giáo pháp của Ngài. Sau khi được xuất gia
trở thành Tỳ khưu không lâu, Ngài Subhadda thực hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả
và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiềnnão, mọi
tham ái, trở thành bậc Thánh A-ra-hán trước lúc Đức Phật tịch diệt Niết Bàn. Ngài
Đại đức Subhadda là vị Thánh Thanh Văn đệ tử cuối cùng của Đức Phật Gotama.
Canh chót, Đức Phật gọi Đại đức Ānanda khuyên dạy rằng:
- Này Ānanda, trong số các
con, nếu có người nào nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn tịch diệt
Niết Bàn rồi, chúng ta không còn Đức Tôn Sư (natthi no satthā)”, thì các con chớ có nên nghĩ như vậy.
Đức Phật dạy rằng:
“Này Ānanda, chánh pháp nào mà Như Lai đã thuyết, luật nào mà
Như Lai đã chế định; khi Như Lai tịch diệt Niết Bàn rồi, chánh pháp ấy, luật ấy
là Tôn Sư của các con”.
Trong Chú giải bài kinh Mahāparinibhānasutta giải thích rằng:
* Dhammo: Chánh pháp gồm có toàn bộ
Tạng Kinh và
toàn bộ Tạng Vi Diệu Pháp.
* Vinayo: Luật là toàn bộ Tạng Luật.
Giáo pháp của Đức Phật đã thuyết giảng suốt
45 năm,
kể từ khi chứng đắc thành Bậc Chánh Đẳng Giác cho đến khi Đức Phật tịch diệt Niết Bàn, được kết tập lại thành Tam Tạng là:Tạng Luật, Tạng
Kinh, Tạng
Vi Diệu Pháp gồm có 84.000
pháp môn được phân chia như sau:
- Tạng Luật gồm có 21.000 pháp môn.
- Tạng Kinh gồm có 21.000 pháp môn.
- Tạng Vi Diệu Pháp có 42.000 pháp môn.
Đức Phật giải thích rằng:
“Iti imāni
caturāsitidhammakkhandhasahassāni tiṭṭhanti, ahaṃ ekova
parinibbayāmi. Ahañca kho dāni ekakova ovadāmi anusāsāmi;
mayi parinibbute imāni caturāsitidhammakkhandhasahassāni tumhe
ovadissanti anusāsissanti...”
“Như vậy, 84.000 pháp môn này tồn tại, chỉ có một mình Như Lai
tịch diệt Niết Bàn. Thật ra, bây giờ chỉ có một mình Như Lai giáo huấn các con, dạy dỗ các con; khi Như Lai tịch diệt Niết
Bàn rồi, thì còn có 84.000 pháp môn ấy là “Đức Tôn Sư” sẽ giáo huấn các con, sẽ dạy dỗ các con”.
Qua đoạn Chú giải mà chính Đức Phật giải
thích cho
các hàng Thanh Văn đệ tử hiểu rõ rằng: Như vậy sau khi Đức Phật tịch diệt Niết
Bàn rồi, không phải chúng ta không còn có Tôn Sư; thật ra, còn có 84.000
pháp môn là Tôn Sư của chúng ta, mỗi pháp môn là một vị Tôn Sư có khả năng dẫn dắt,
dạy bảo chúng ta đạt đến sự chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế,
chứng đắc Thánh Đạo, Thánh Quả và Niết Bàn, giải
thoát khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.
Cuối cùng canh chót, Đức Thế Tôn một lần nữa nhắc nhở khuyên bảo các hàng Thanh Văn đệ tử lần cuối cùng rằng:
“Handa dāni bhikkhave āmantayāmi vo,
Vayadhammā saṅkhārā, appamādena
sampādetha”
“Này chư Tỳ khưu, Tỳ khưu
ni, cận sự nam, cận sự nữ,
bây giờ Như Lai nhắc nhở, khuyên bảo các con lần cuối cùng rằng:
Các pháp hữu vi (ngũ uẩn) có sự diệt là thường, các con nên cố gắng tinh tấn hoàn thành xong
mọi phận sự Tứ Thánh Đế, bằng pháp không dể duôi, thực hành Tứ niệm xứ.”
Đức Thế Tôn vừa chấm dứt câu: “Appamādena sampādetha” từ đó không còn dạy thêm một câu nào khác nữa.
Do đó, câu: “Handa dāni bhikkhave... appamādena sampādetha”, gọi làPacchimabuddhavacana: Câu Phật ngôn cuối cùng.
Sau khi chấm dứt lời giáo huấn cuối cùng bằng câu: “Appamādena
sampādetha”.
- Đức Phật nhập đệ nhất thiền, rồi xả đệ nhất
thiền.
- Nhập đệ nhị thiền, rồi xả đệ nhị thiền.
- Nhập đệ tam thiền, rồi xả đệ tam thiền.
- Nhập đệ tứ thiền, rồi xả đệ tứ thiền.
- Nhập không vô biên xứ thiền, rồi xả không vô biên xứ thiền.
- Nhập thức vô biên xứ thiền, rồi xả thức vô biên xứ thiền.
- Nhập vô sở hữu xứ thiền, rồi xả vô sở hữu xứ
thiền.
- Nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền, rồi xả phi tưởng phi phi tưởng
xứ thiền.
- Nhập diệt thọ tưởng.
Khi ấy, Ngài Đại đức Ānanda hỏi Ngài Đại đức Anuruddha rằng:
- Thưa pháp huynh Anuruddha,
Đức Thế Tôn tịch diệt Niết Bàn rồi có phải không?
- Này pháp đệ Ānanda, Đức Thế
Tôn chưa tịch diệt Niết Bàn, Ngài đang nhập diệt thọ tưởng.
- Đức Thế Tôn xả diệt thọ tưởng.
- Nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền, rồi xả phi tưởng phi phi tưởng
xứ thiền.
- Nhập vô sở hữu xứ thiền, rồi xả vô sở hữu xứ
thiền.
- Nhập thức vô biên xứ thiền, rồi xả thức vô biên xứ thiền.
- Nhập không vô biên xứ thiền, rồi xả không vô biên xứ thiền.
- Nhập đệ tứ thiền, rồi xả đệ tứ thiền.
- Nhập đệ tam thiền, rồi xả đệ tam thiền.
- Nhập đệ nhị thiền, rồi xả đệ nhị thiền.
- Nhập đệ nhất thiền, rồi xả đệ nhất thiền.
- Nhập đệ nhị thiền, rồi xả đệ nhị thiền.
- Nhập đệ tam thiền, rồi xả đệ tam thiền.
- Nhập đệ tứ thiền, xả đệ tứ thiền rồi Đức Phật tịch
diệt Niết Bàn gọi làKhandhaparinibbāna: Ngũ uẩn Niết Bàn, nghĩa là
diệt ngũ uẩn rồi không còn nhân duyên nào để tái sinh ngũ uẩn khác; chấm dứt khổ
tử sinh luân hồi trong tam giới. Ngay khi ấy, trái đất rùng mình chuyển động.
Đó là một trong tám hiện tượng thường xảy ra đối với Chư Phật.
Đức Phật có danh hiệu Đức Phật Gotama là Bậc Cao Cả nhất, Bậc Vĩ Đại
nhất, Bậc Tối Thượng nhất trong toàn cõi thế giới chúng sinh, đã tịch diệt Niết Bàn.
Tất cả chúng sinh hễ có sinh, thì ắt phải có tử, không ngoại trừ một
ai cả. Đức Phật và chư Thánh A-ra-hán không gọi là tử (chết) mà gọi là tịch diệt Niết Bàn,
chấm dứt tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài; bởi vì, Đức Phật và chư Thánh A-ra-hán đã diệt đoạn tuyệt mọitham ái không còn dư sót, cho nên, không
có tham ái dẫn dắt nghiệp cho quả tái sinh kiếp
sau nữa. Còn các chúng sinh khác, dù là
bậc Thánh Nhập Lưu, bậc Thánh Nhất Lai, bậc Thánh
Bất Lai, vẫn còn tham ái là nhân sinh khổ, dẫn
dắt tái sinh kiếp sau, tiếp tục tử sinh luân hồi trong tam giới.
Muốn được gần gũi thân cận với Đức Phật, mỗi người chúng ta cố gắng tinh tấn họcpháp học
Phật giáo và hành
pháp hành Phật giáo; tùy theo khả năng của
mỗi người, để cho Phật giáo được duy trì ở trong tâm của mỗi người Phật tử. Những người
nào có Phật giáo ở trong tâm, những người ấy được
nương nhờ nơi Đức Phật, nương nhờ nơi Đức Pháp, nương nhờ nơi Đức Tăng, được nương nhờ nơi
Tam Bảo cao thượng, để cho họ có thể trở nên con người cao thượng và để đem lại
sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài cho chính họ trong kiếp hiện tại lẫn
những kiếp vị lai; đặc biệt
còn làm duyên lành trên con đường
dẫn đến sự giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài. Đồng thời giữ gìn duy trì
Phật giáo được trường tồn
trên thế gian, đến hết tuổi thọ Phật giáo 5.000 năm, nhằm đem lại sự lợi ích, sự
tiến hóa, sự an lạc lâu
dài đến tất cả chúng sinh, nhất là chư thiên và nhân loại.
Mỗi Đức Phật Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế
gian, có khả năng tế độ một số lượng khoảng 24 a-tăng-kỳ(4) 600 triệu và 100 ngàn chúng sinh được giải
thoát khỏi biển khổ tử sinh luân hồi trong tam giới.
Đức Phật Gotama có tuổi thọ 80 năm, thuyết
pháp tế độ chúng sinh suốt 45 năm, chưa đủ số lượng
24 a-tăng-kỳ
600 triệu và 100 ngàn chúng sinh. Cho nên, khi Đức Phật Gotama đã tịch
diệt Niết Bàn rồi, giáo pháp được lưu truyền lại cho đến 5.000 năm
trên cõi người, để tiếp tục tế độ chúng sinh cho đủ số lượng ấy.
Tuổi thọ Phật giáo 5.000 năm trải qua 5 thời kỳ. Theo Chú giải Chi Bộ Kinh, bài kinhGotamisutta giải thích như sau:
* 1.000 năm đầu: Các hàng Thanh Văn thực
hành thiền
tuệ có khả năng chứng đắc thành bậc Thánh
A-ra-hán cùng với Tứ tuệ phân tích, Lục thông.
* 1.000 năm thứ nhì: Các hàng Thanh Văn thực hành thiền tuệ có khả năng
chứng đắc thành bậc Thánh A-ra-hán, đoạn tuyệt mọi phiền não
(Sukkhavipassaka) (không có các bậc thiền).
* 1.000 năm thứ ba: Các hàng Thanh Văn thực
hành thiền tuệ có khả năng chứng đắc thành bậc Thánh Bất Lai.
* 1.000 năm thứ tư: Các hàng Thanh Văn thực
hành thiền
tuệ có khả năng chứng đắc thành bậc Thánh
Nhất Lai.
* 1.000 năm thứ năm: Các hàng Thanh Văn thực hành thiền tuệ có khả
năng chứng đắc thành bậc Thánh
Nhập Lưu.
Rồi sau đó, các hành giả thực hành thiền tuệ
không có
khả năng chứng đắc thành bậc Thánh Nhân nữa, mà chỉ có thể bồi bổ pháp hạnh
ba-la-mật để có thể chứng đắc trong kiếp vị lai.
Căn cứ vào Chú giải trên, năm nay Phật lịch 2.550,
những người Phật tử chúng ta đang ở vào thời kỳ
1.000 năm thứ ba, tuổi thọ Phật giáo còn lại 2.450 năm nữa. Trong thời kỳ này, chúng ta
nên có niềm tin hy vọng nơi giáo pháp của Đức Phật Gotama, còn có thể cứu vớt mỗi người trong chúng
ta giải thoát khỏi biển khổ tử sinh luân hồi trong tam giới, mà con
đường giải thoát khổ đó là pháp
hành thiền tuệ đúng
theo pháp hành Trung đạo.
Pháp hành Trung đạo có 2 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu: Thực hành Tứ niệm xứ: Niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, đó là pháp hành Trung đạo phần đầu, cũng gọi là chánh
niệm trong Bát
chánh đạo.Chánh niệm có 4
đối tượng là thân, thọ, tâm, pháp cũng gọi là sắc
pháp, danh pháp,
mà sắc pháp, danh pháp là đối tượng của thiền tuệ. Do đó, thực hành Tứ niệm xứ hoặc thực
hành thiền tuệ có đối tượng giống nhau, chỉ khác nhau danh từ.
- Giai đoạn cuối: Thực hành Tứ niệm xứ hoặc thực hành
thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ
chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn
tuyệt được mọi phiền não, mọi tham ái không còn dư sót. Thánh Đạo Tâm và Thánh Quả Tâm có hợp đủ Bát chánh đạo
(chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và
chánh định). Đó là pháp
hành Trung đạo phần cuối, hoàn thành xong phận sự Tứ Thánh Đế.
Nếu hành giả có đầy đủ ba-la-mật thực hành
thiền tuệ
đúng theo pháp hành Trung đạo có thể dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng
đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Nhân, thì thật là điều hạnh phúc cao
thượng biết dường nào!
Nếu hành giả thực hành thiền tuệ, mà chưa chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả
nào, thì cũng là một cơ hội tốt, duyên lành bồi bổ thêm pháp hạnh
ba-la-mật, để mong chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn trong thời vị lai. Đó
cũng là điều hạnh phúc cao thượng biết bao!
Thật ra, điều chắc chắn là chúng ta không có
một ai có khả năng biết được mình có đầy đủ ba-la-mật hay chưa. Nếu
như mình có đủ ba-la-mật mà không thực hành thiền tuệ thì cũng không thể chứng đắc Thánh
Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn. Như vậy, mình đã
làm mất đi một cơ hội tốt, trong kiếp có duyên lành gặp được Phật giáo, thật đáng tiếc biết dường nào!
Chúng ta nên tâm niệm lời giáo huấn cuối cùng của Đức Phật, câu
chót:
“Appamādena sampādetha”.
“Các con nên cố gắng tinh tấn
hoàn thành xong mọi phận sự Tứ Thánh Đế bằng pháp không dể duôi, thực hành Tứ niệm xứ”.
Trong Tứ Thánh Đế, mỗi Đế có một phận sự riêng biệt:
- Khổ Thánh Đế: Đó là chấp thủ
ngũ uẩn; hoặc sắc pháp,
danh pháp trong tam giới là
pháp mà hành giả có phận sự nên biết, thì đã biết xong.
- Nhân Sanh Khổ Thánh Đế (Tập Thánh Đế): Đó là tham
ái là pháp mà hành giả có phận
sự nên diệt, thì đã diệt xong.
- Diệt Khổ Thánh Đế (Diệt Thánh Đế): Đó là Niết Bàn là pháp mà hành giả có phận sự nên chứng ngộ,
thì đã chứng ngộ xong.
- Pháp hành diệt Khổ Thánh Đế (Đạo Thánh Đế): Đó là pháp hành Bát chánh đạolà pháp
mà hành giả có phận sự nên thực hành, thì đã thực hành xong.
Như vậy gọi là hoàn thành xong mọi phận sự Tứ Thánh Đế.
Mọi phận sự Tứ Thánh Đế này được hoàn thành bằng pháp không
dể duôi, luôn luôn có chánh niệm và trí tuệ tỉnh giác. Đó chính là pháp hành Tứ niệm xứ hoặc pháp
hành thiền tuệđúng theo pháp
hành Trung đạo, bởi vì chỉ có pháp hành này mới có khả năng dẫn đến hoàn
thành mọi phận sự Tứ Thánh Đế mà thôi.
Pháp không dể duôi là như thế nào?
*Pháp dể duôi (pamāda) đó là pháp
thất niệm, quên mình,
không có trí nhớ, không có trí tuệ biết mình.
*Pháp không dể duôi (appamāda) đó là chánh niệm: Niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp và trí tuệ tỉnh giác thấy rõ, biết rõ thực tánh của các pháp, dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ
Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt
đoạn tuyệt mọi phiền não, mọi tham ái không còn dư
sót, hoàn thành xong mọi phận sự Tứ Thánh Đế.
Đức Phật dạy về pháp không dể duôi và pháp dể duôi rằng:
Appamādo amatapadaṃ,
Pamādo maccuno padaṃ.
Appamattā na mīyanti,
Ye pamattā yathà matā.(5)
Ýnghĩa:
Pháp không dể duôi, thường có chánh niệm,
Là con đường đến Niết Bàn bất tử.
Và pháp dể duôi, thường hay thất niệm,
Là con đường vòng, tử sinh luân hồi.
Những chúng sinh nào tính không dể duôi,
Chúng sinh ấy chết cũng như không chết.
Những chúng sinh nào có tính dể duôi,
Chúng sinh ấy sống cũng như chết rồi!
Trong Chi Bộ Kinh, Đức Phật dạy có hai cách cúng dường:
1- Āmisapūjā: Cúng dường bằng các thứ
phẩm vật.
2- Dhammapūjā: Cúng dường bằng pháp
hành các thiện
pháp.
Trong 2 cách cúng dường này, Đức Phật dạy, cúng dường bằng thực hành
pháp hành giới - định - tuệ là cao thượng nhất.
Trong những ngày tháng cuối Đức Phật sắp tịch diệt Niết Bàn, Ngài lại đề cao sự cúng dường bằng các pháp hành,
nhất là pháp hành thiền tuệ.
Ngài dạy sự cúng dường bằng các thứ phẩm vật không gọi là cúng dường cao thượng
đến Ngài, mà chỉ có cúng dường bằng thực hành pháp hành thiền tuệ mới thật là sự cúng dường cao thượng đến
Ngài.
Khi nghe Đức Phật truyền dạy Ngài sắp tịch diệt Niết Bàn, có số chư Tỳ khưu còn là phàm
nhân vô cùng cảm động không ngăn được nước mắt,
còn chư bậc Thánh A-ra-hán phát sinhđộng tâm (saṃvega): Ngũ uẩn là vô thường sinh
rồi diệt, không trừ một ai. Cho nên, chư Tỳ khưu thường đến hầu Đức
Phật, lắng nghe lời giáo huấn của Ngài.
Trường hợp Ngài Đại đức Attadattha nghĩ rằng: “Đức Phật sắp đến ngày tịch diệt Niết Bàn mà ta vẫn còn tham ái
chưa diệt đoạn tuyệt được, vậy ta nên cố gắng tinh tấn thực hành thiền tuệ để
chứng đắc thành bậc Thánh A-ra-hán, khi Đức Phật hiện đang còn trên thế gian”.
Nghĩ xong, Ngài ở một mình một nơi thanh vắng thực hành thiền tuệ, không tiếp xúc với các vị
Tỳ khưu khác. Dù có vị Tỳ khưu đến gặp Ngài, động viên khuyến khích Ngài đến hầu
Đức Phật, Ngài vẫn không nói chuyện. Các vị Tỳ khưu ấy không biết được ý nghĩ của Ngài nên cho rằng Ngài
không có lòng kính yêu Đức Phật.
Các vị Tỳ khưu đến đảnh lễ Đức Phật, bạch rằng:
-Tỳ khưu Attadattha không có lòng kính yêu đến Đức
Thế Tôn.
Đức Phật cho truyền gọi Tỳ khưu Attadattha đến hầu Ngài. Đức Phật bèn hỏi Tỳ khưu Attadattha
rằng:
- Này Attadattha, con nghĩ thế nào mà làm như vậy?
Tỳ khưu Attadattha đảnh lễ Đức Thế Tôn bèn bạch ý nghĩ của mình rằng:
- Kính bạch Đức Thế Tôn, con
nghe Đức Thế Tôn sắp đến ngày tịch diệt Niết Bàn, nên con cố gắng
thực hành thiền tuệ để chứng đắc thành bậc Thánh A-ra-hán, khi Đức Thế Tôn hiện đang
còn trên thế gian. Bạch Ngài.
Đức Phật tán dương ca tụng: “Sādhu!” “Lành thay!”, rồi truyền
dạy chư Tỳ khưu rằng:
“Bhikkhave yassa mayi sineho atthi, tena
Attha-datthena viya bhavituṃ
vaṭṭati. Na hi gandhādīhi pujentā maṃ pūjenti, dhammānudhammapaṭipattiyā pana
maṃ pūjenti. Tasmā aññenapi Attadattha-sadiseneva bhavitabbaṃ” (6)
“Này chư Tỳ khưu, Thanh Văn đệ tử nào có
lòng kính yêu Như Lai, Thanh Văn đệ tử ấy nên noi
gương theo Attadattha. Thật vậy,
những người cúng dường bằng những phẩm vật như vật
thơm, tràng hoa v.v… không phải là cúng dường đến Như Lai; các Thanh
Văn đệ tử cúng dường bằng thực hành pháp hành thiền tuệ dẫn đến chứng đắc 9
pháp Siêu tam giới, mới thật là cúng dường đến Như Lai một cách cao thượng. Vì
vậy, các Thanh Văn đệ tử khác nên noi gương theo Attadattha”.
Attadatthaṃ paratthena,
Bahunāpi na hāpaye.
Attadatthamabhiññāya,
Sadatthapasuto siyā (7).
(Lợi ích của người khác dù được nhiều,
Không làm lợi ích của mình bị suy giảm.
Trí tuệ biết rõ lợi ích của mình,
Nên tinh tấn đạt đến lợi ích ấy.)
Lắng nghe bài kệ xong, Ngài Đại đức
Attadattha liền
chứng đắc thành bậc Thánh A-ra-hán, còn các vị Tỳ khưu khác cũng được lợi ích
tùy theo khả năng ba-la-mật của mình.
Trường hợp tương tự như tích trên, Ngài Đại đức Tissa nghe Đức Phật sắp tịch diệt Niết Bàn,
Ngài nghĩ rằng: “Đức Phật sắp tịch diệt Niết Bàn, ta vẫn còn tham ái chưa diệt
đoạn tuyệt được. Vậy ta nên cố gắng tinh tấn thực hành thiền tuệ để chứng đắc thành bậc Thánh A-ra-hán, khi Đức
Phật hiện đang còn trên thế gian”.
Nghĩ xong, Ngài ở một mình một nơi thanh vắng, thực hành 4 oai nghi đi, đứng,
ngồi, nằm. Dù các Tỳ khưu đến gặp Ngài, động viên khuyến khích Ngài đến hầu Đức Phật, Ngài vẫn im lặng không
nói lời nào với các vị Tỳ khưu ấy.
Các vị Tỳ khưu đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bèn bạch rằng:
“Bhante,
tumhesu Tissattherassa sineho natthi”
- Kính bạch Đức Thế Tôn, Đại
đức Tissa không có lòng kính yêu
đối với Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn cho truyền gọi Đại đức Tissa đến hầu
Ngài. Đức Thế Tôn bèn hỏi Tỳ khưu Tissa rằng:
“Kasmā Tissa evaṃ akāsi?”
- Này Tissa, tại sao con mà làm như vậy?
Ngài Đại đức Tissa bạch với Đức Thế Tôn đúng theo ý nghĩ của mình.
Đức Thế Tôn tán dương ca tụng: “Sādhu!”
“Lành thay!”, rồi truyền dạy chư Tỳ
khưu rằng:
“Bhikkhave, mayi sineho Tissasadisova hotu, gandhamālādīhi pūjaṃ
karontāpi ṅeva maṃ pūjenti, dhammānudhammaṃ paṭipajjamānāyeva
pana maṃ pūjenti” (8)
“Này chư Tỳ khưu, các con có lòng kính yêu
nơi Như Lai, nên noi gương theo như Tissa. Những
người cúng dường bằng hương thơm, tràng hoa v.v…
không phải là cúng dường đến Như Lai, chỉ có các Thanh Văn đệ tử đang thực
hành thiền tuệ dẫn đến chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, mới thật
là cúng dường đến Như Lai một cách cao thượng nhất mà thôi”.
Trường hợp tương tự như tích trên, Ngài Đại đức Dhammārāma nghe Đức Phật sắp tịch diệt Niết Bàn. Ngài nghĩ rằng: “Đức Phật sắp tịch diệt Niết
Bàn, ta vẫn còn tham ái chưa diệt
đoạn tuyệt được. Vậy ta nên cố gắng tinh tấn thực hành thiền tuệ để chứng đắc
thành bậc Thánh A-ra-hán, khi Đức Phật hiện đang còn trên thế gian”.
Ngài Đại đức Dhammārāma ở một mình nơi thanh vắng tư duy về lời giáo huấn
của Đức Phật, rồi thực hành thiền tuệ; Ngài không tiếp xúc, không
nói chuyện với
các vị Tỳ khưu khác. Chư Tỳ khưu ấy đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn bèn bạch rằng:
“Bhante,
Dhammārāmassa tumhesu
sineha-mattampi
natthi”.
- Kính
bạch Đức Thế Tôn, Tỳ khưu Dhammārāma chẳng có một chút lòng kính yêu Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn cho truyền gọi Đại đức Dhammā-rāma đến hầu Ngài. Đức Thế Tôn bèn hỏi Tỳ khưu
Dhammārāma rằng:
“Saccaṃ kira tvaṃ evaṃ karosi?”
- Này Dhammārāma, có thật
con đã đối xử với các Tỳ khưu như vậy phải không?
Ngài Đại đức Dhammārāma bạch với Đức Thế Tôn rằng:
“Saccaṃ, Bhante”.
- Kính bạch Đức Thế Tôn, sự thật đúng như vậy. Bạch
Ngài.
- Này Dhammārāma, con nghĩ
thế nào mà đối xử như vậy?
- Kính bạch Đức Thế Tôn, con
nghe Đức Thế Tôn sắp tịch diệt Niết Bàn,
con vẫn còn tham ái chưa diệt đoạn tuyệt được, nên con cố
gắng tinh tấn thực hành thiền tuệ để chứng đắc thành bậc Thánh
A-ra-hán, khi Đức Thế Tôn hiện
đang còn trên thế gian.
Đức Thế Tôn tán dương ca tụng: “Sādhu!”
“Lành thay!”, rồi truyền dạy chư Tỳ
khưu rằng:
“Bhikkhave, aññenāpi mayi sinehavantena Bhikkhunā nāma, Dhammārāmasadiseneva bhavi-tabbaṃ. Na hi mayhaṃ mālāgandhādīhi pūjaṃ karontā mama pūjaṃ karonti nāma,
dhammānudhammaṃ paṭipajjantāyeva pana maṃ pūjenti nāma” (9)
“Này chư Tỳ khưu, Tỳ khưu nào có lòng kính
yêu nơi Như Lai, thì Tỳ khưu ấy nên noi gương theo Dhammārāma. Những người
làm lễ cúng dường đến Như Lai bằng vật thơm, tràng hoa v.v… không phải là cúng dường đến Như Lai. Các Thanh
Văn đệ tử đang thực hành pháp hành thiền tuệ dẫn đến chứng đắc
9 pháp Siêu tam giới, mới thật gọi là cúng dường đến Như Lai”.
Sau đó, Đức Thế Tôn dạy câu kệ rằng:
Dhammārāmo dhammarato,
Dhammaṃ anucicintayaṃ,
Dhammaṃ anussaraṃ bhikkhu
Saddhammaṃ na parihāyati (10).
Tỳ khưu nào ham pháp hành thiền tuệ,
Mải miết thực hành pháp hành thiền tuệ
Tư duy, suy xét sâu sắc các pháp,
Chánh niệm theo dõi đến các pháp hành,
Tỳ khưu ấy không làm hoại chánh pháp
Duy trì các chánh pháp được trường tồn.
* 37 pháp phát sinh 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn
là:
- 4 pháp niệm xứ (satipaṭṭhāna)
- 4 pháp chánh tinh tấn (sammappadhāna)
- 4 pháp thành tựu (iddhipāda)
- 5 pháp chủ (indriya)
- 5 pháp lực (bala)
- 7 pháp giác chi (bojjhaṅga)
* 9 pháp Siêu tam giới (nava Lokuttaradhamma) đó là:
- 4 Thánh Đạo (Ariyamagga)
- 4 Thánh Quả (Ariyaphala)
- 1 Niết Bàn (Nibbāna)
Cúng Dường Đức Thế Tôn
Vào buổi chiều ngày rằm tháng tư (âm lịch) Đức Thế Tôn ngự đến khu rừng Sālā xứ Kusinārā, nơi nghỉ
ngơi của Hoàng tộc Malla, Ngài truyền bảo Đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, con nên đặt
chiếc giường quay đầu về hướng Bắc, giữa hai cây Sālā (song long thọ).
Khi ấy, Đức Thế Tôn nằm nghiêng bên phải, đầu quay về hướng Bắc, hai chân duỗi so le, chân phải duỗi
thẳng, chân trái đầu gối hơi co, hai chân không bằng
nhau (tư thế tịch diệt Niết Bàn). Đức Thế Tôn có chánh niệm trí tuệ tỉnh giác mà không
định giờ xả.
Hai cây Sālā trổ hoa trái mùa, những đóa hoa rơi
xuống kim thân của Đức Thế Tôn, để cúng dường Ngài.
Các cây hoa trong khu rừng đều nở rộ, những đóa hoa trời, vật thơm trời, hương trời,
… từ các cõi trời rơi xuống như mưa, để cúng dường Đức Thế
Tôn. Những tiếng nhạc trời từ các cõi trời cũng trỗi lên, để cúng dường Đức Thế Tôn.
Khi ấy, Đức Thế Tôn truyền dạy Đại đức Ānanda rằng:
“…Na kho Ānanda, ettāvatā Tathāgato sakkato vā hoti garukato vā
mānito vā pūjito vā apacito vā. Yo kho Ānanda, Bhikkhu vā Bhikkhunī vā upāsako vā
upāsikā vā dhammānudhammapaṭipanno viharati sāmicippaṭipanno anudhammacārī, so
Tathāgataṃsakkaroti garuṃ karoti māneti
pūjeti apaciyati paramāya
pūjāya. Tasmātihānanda, dhammānudhammapaṭipannā viharissāma sāmīcippaṭipannā
anudhammacārinoti. Evañhi vo Ānanda sikkhitabbaṃ”(11).
“…Này Ānanda, cúng dường Như Lai bằng phẩm vật nhiều đến như thế,
không phải là cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, tôn kính Như Lai.
Này Ānanda, hàng Thanh Văn đệ tử nào là Tỳ khưu, hoặc Tỳ khưu ni, hoặc cận sự nam, hoặc cận sự
nữ thực hành pháp hành thiền tuệ dẫn đến chứng đắc
Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, thực hành pháp hành Bát chánh đạo, thực hành đúng theo
chánh pháp; Thanh Văn đệ tử ấy gọi là người hết lòng
cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, tôn kính Như
Lai một cách cao thượng nhất.
Này Ānanda, như vậy, các con nên luôn luôn
tâm niệm rằng: Chúng ta là hành giả thực hành thiền tuệ dẫn đến chứng
đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, thực hành pháp hành Bát chánh đạo, thực hành đúng theo chánh pháp”.
Những ngày tháng cuối cùng của Đức Phật, thậm chí trong thời gian ngắn ngủi
trước khi tịch diệt Niết Bàn, Đức Phật không
nhận sự cúng dường bằng những thứ vật phẩm quý giá, dầu từ các cõi trời; Đức Phật đề cao sự cúng dường
đến Ngài bằng thực hành
pháp thiền tuệ dẫn đến chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, đó là sự
cúng dường cao thượng nhất
(paramāya pūjāya).
Sở dĩ Đức Phật không nhận sự cúng dường bằng những thứ vật phẩm quý giá
ấy, là vì sự cúng dường này thuộc về phước thiện trong cõi dục giới
cho quả an
lạc tạm thời trong cõi dục giới, vẫn còn khổ tử sinh
luân hồi. Và Đức Phật đề cao sự cúng dường bằng pháp hành thiền tuệ, vì chỉ có pháp hành thiền tuệ
mới có khả năng dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh
Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, giải thoát khỏi khổ tử sinh
luân hồi trong ba giới bốn loài; đồng thời có thể giữ gìn duy trì
chánh pháp của Đức Phật được trường tồn lâu dài trên thế gian, đến hết tuổi
thọ của Phật giáo 5.000 năm.
Vesākhapūjā
Vesākha hoặc Vesākhamāsa là tên tháng tư (âm lịch). Vào ngày rằm tháng
tư này có 3 sự kiện lịch sử trọng đại xuất hiện trong Phật giáo, tuy thời gian cách xa nhau, song cũng trùng vào ngày
rằm tháng tư này, đó là:
* Ngày rằm tháng tư là ngày
đản sanh của Đức Bồ Tát Siddhattha tại khu rừng Lumbinī.
* Đêm rằm tháng tư là đêm Đức Bồ Tát Siddhattha chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác có danh hiệu là Đức Phật Gotama, tại Đại
cội Bồ Đề, lúc Ngài tròn 35 tuổi.
* Đêm rằm tháng tư là đêm Đức Phật Gotama tịch diệt Niết Bàn tại khu rừng Sālā xứ Kusinārā, lúc Ngài tròn 80
tuổi.
Cho nên, hằng năm, các hàng Thanh Văn đệ tử của
Đức Phật Gotama làm lễ kỷ niệm ngày rằm tháng tư gọi chung danh từ: “Vesākhapūjā”.
Năm 2006, Phật lịch 2550, vào ngày rằm tháng tư âm lịch, tất cả các
hàng Thanh Văn đệ tử của Đức Phật Gotama trên toàn thế giới, mỗi nơi đều tổ
chức long
trọng lễ cúng dường Đức Phật.
* Kỷ niệm 2550 năm, Đức Phật Gotama đã tịch diệt Niết Bàn tại khu rừng Sālā
xứ Kusinārā (xứ Ấn Độ).
* Kỷ niệm 2595 năm, Đức Bồ Tát Siddhattha đã chứng đắc thành Đức Phật Gotama tại Đại
cội Bồ Đề (nay Bodh Gaya xứ Ấn Độ).
* Kỷ niệm 2.630 năm, Đức Bồ Tát Thái tử
Siddhattha đản
sanh kiếp chót tại khu rừng Sālā Lumbinī (nay thuộc xứ Nepal).
Để tỏ lòng tôn kính Đức Phật, mỗi người Phật tử
đều có mỗi cách cúng dường, ai cũng muốn mình là
người cúng dường một cách cao thượng đến Đức Phật.
Các nước Phật giáo tổ chức rất long trọng ngày lễ
rằm tháng tư âm lịch với nhiều hình thức khác nhau:
Tại nước Myanmar, chư Đại Trưởng Lão, Đại đức, Tỳ khưu, Sadi, cùng các cận
sự nam, cận sự nữ cùng nhau tụ hội tại Đại cội Bồ Đề; chư Đại đức Tăng tụng 2 bài kệ Phật ngôn đầu tiên của Đức
Phật.
“Anekajāti saṃsāraṃ…”(12)
tiếp theo tán dương Ân đức Phật, Ân đức Pháp, Ân đức Tăng, v.v…
Tại nước Thái Lan, buổi tối, chư Đại Trưởng
Lão Đại
đức, Tỳ khưu, Sadi, cùng các cận sự nam, cận sự nữ tổ chức nghi lễ cúng dường Đức
Phật tại nơi công cộng xong, vị Đại Trưởng Lão chấp tay cầm đèn hoa dẫn đầu,
các hàng phật tử chắp tay cầm đèn hoa theo sau đi vòng quanh kim thân Đức Phật theo
chiều từ trái sang phải (chiều quay của kim đồng hồ) 3 vòng với tâm niệm 9 Ân đức Phật,
6 Ân đức Pháp, 9 Ân đức Tăng.
Tại mỗi ngôi chùa chư Đại đức, Tỳ khưu, Sadi, cùng
cận sự nam, cận sự nữ làm lễ cúng dường Đức Phật tại chánh điện xong, vị Đại đức
chấp tay cầm đèn hoa dẫn đầu, các hàng Phật tử chấp tay cầm đèn hoa
theo sau đi vòng quanh chánh điện theo chiều từ trái
sang phải 3 vòng với tâm niệm Ân đức Tam Bảo.
Thậm chí Đức vua Thái cùng Hoàng gia, các quan chức, v.v… cũng làm lễ
cúng dường Đức Phật tại ngôi chùa Đức Phật Ngọc, vị Đại Trưởng Lão chắp tay cầm đèn
hoa dẫn đầu chư Tăng, Đức vua Thái cùng Hoàng gia, các quan chức… chắp tay cầm đèn hoa theo sau đi vòng quanh chánh
điện ngôi chùa Đức Phật Ngọc 3
vòng với tâm niệm Ân đức Tam Bảo, v.v…
Tại nước Việt Nam của chúng ta, hầu hết các ngôi
chùa đều tổ chức nghi lễ cúng dường Đức Phật rất
long trọng. Đặc biệt số ngôi chùa Phật giáo Nguyên Thủy Theravāda, ban đêm chư Đại đức, Tỳ
khưu, Sadi, cùng các cận sự nam,
cận sự nữ tổ chức nghi lễ cúng dường Đức Phật Bảo, Đức Pháp Bảo, Đức Tăng
Bảo bằng cách thọ pháp hạnh đầu
đà ngăn oai nghi nằm(13), chỉ thọ trì
oai nghi ngồi là chính và oai
nghi đi, đứng mà thôi, suốt
đêm rằm tháng tư cho đến rạng ngày 16 tháng tư.
Trong suốt đêm rằm tháng tư, chư Đại đức Pháp sư luân phiên thuyết pháp, chư Tỳ khưu, Sadi,
các cận sự nam, cận sự nữ nghe
pháp, đàm đạo pháp, hoặc thực hành thiền định niệm 9 Ân đức Phật, hoặc thực hành thiền tuệ.
Đó là cách thức cúng dường cao thượng nhất đến Đức Phật.
Pháp hạnh đầu đà nghĩa là gì?
Danh từ đầu
đà âm từ chữ Pāḷi: “Dhutaṅga” nghĩa là dẹp được những phiền não, loại trừ được
những phiền não.
Hành giả thọ pháp hạnh đầu đà là người ít tham muốn,
biết tri túc, hoan hỷ ở nơi thanh vắng, không sống chung đụng với nhiều người, cố gắng
tinh tấn tạo mọi thiện pháp, giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn,
thực hành thiền định để chứng đắc các bậc thiền hữu sắc; thực hành thiền tuệ để chứng
ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt phiền não,
tham ái.
Pháp hạnh đầu đà có 13 pháp; pháp hạnh ngăn oai nghi nằm là 1
trong 13 pháp hạnh đầu đà ấy.
Pháp hạnh đầu đà ngăn oai nghi nằm có có 3 bậc:
1- Bậc thượng: Hành giả ngồi ngay thẳng, không dựa lưng, đầu vào một nơi nào cả.
2- Bậc trung: Hành giả có thể ngồi dựa lưng, đầu vào tường…
3- Bậc hạ: Hành giả có thể ngồi trên giường, trên ghế dựa…
Hành giả sau khi thọ trì pháp hạnh đầu đà này rồi, suốt đêm: Canh đầu, canh giữa, canh cuối chỉ sử dụng 3 oai nghi: Oai nghi ngồi là chính và oai nghi đi, oai nghi đứng
là phụtuyệt đối không sử dụng oai nghi nằm, cho đến rạng sáng ngày hôm sau.
Nếu hành giả muốn ngủ để thân tâm được nghỉ ngơi, thì hành giả có
thể ngủ trong oai nghi ngồi.
Như vậy, hành giả đã thành tựu kết quả pháp hạnh đầu đà này.
Hành giả đã thọ pháp hành đầu đà này rồi, ban đêm
có 3 canh: Canh đầu, canh giữa,
canh cuối, nếu hành
giả đặt lưng và đầu xuống mặt phẳng nằm nghỉ ngơi
vào canh nào, thì pháp hành đầu đà này bị đứt. Tuy pháp hành đầu đà này bị đứt nhưng
không có tội, chỉ không được phước mà thôi. Hành giả có thể nguyện thọ pháp hạnh đầu đà này trở lại.
Pháp hạnh đầu đà ngăn oai nghi nằm này, chỉ thọ trì oai nghi ngồi là chính và oai
nghi đi, hành giả được thành tựu
các quả báu như sau:
- Cắt đứt tâm ham nằm ngủ ngon giấc.
- Thuận lợi thực hành mọi pháp hành thiền định,
pháp hành thiền tuệ.
- Giữ gìn các oai nghi đáng
kính, dễ phát sinh đức tin trong sạch.
- Tinh tấn thực hành thiền định, hoặc thực hành
thiền tuệ liên tục.
- Hỗ trợ cho các pháp hành giới - định - tuệ…
được phát triển và tăng trưởng tốt.
Trong bộ Chú giải Mahāvagga thuộc Chú giải Trường Bộ Kinh, kinhSakkapañhasuttavaṇṇanā có đề
cập đến chư Thánh A-ra-hán thọ trì pháp hạnh đầu đà ngăn
oai nghi nằm đó là:
- Nhị vị Tối Thượng Thanh Văn đệ tử: Ngài Đại Trưởng Lão Sāriputta và Ngài Đại Trưởng
Lão Mahāmoggallāna không nằm suốt
30 năm.
- Ngài Đại Trưởng Lão Mahākassapa không nằm suốt cuộc đời xuất gia (Ngài thọ 120 tuổi).
- Ngài Trưởng Lão Anuruddha không nằm suốt 50 năm.
- Ngài Trưởng Lão Bhaddiya không nằm suốt 30 năm.
- Ngài Trưởng Lão Soṇa không nằm suốt 18 năm.
- Ngài Trưởng Lão Raṭṭhapāla không nằm suốt 12 năm.
- Ngài Trưởng Lão Ānanda không nằm suốt 15 năm.
- Ngài Trưởng Lão Rāhula không nằm suốt 12 năm.
- Ngài Trưởng Lão Bākula không nằm suốt 80 năm (Ngài thọ 160 tuổi).
- Ngài Trưởng Lão Rāhula không nằm suốt 12 năm.
- Ngài Trưởng Lão Bākula không nằm suốt 80 năm (Ngài thọ 160 tuổi).
- Ngài Trưởng Lão Nāḷaka không nằm cho đến khi tịch diệt Niết Bàn.
Tuy quý Ngài là bậc Thánh A-ra-hán đã diệt đoạn tuyệt mọi phiền não, mọi
tham ái không còn dư sót, nhưng quý Ngài thọ pháp hạnh đầu đà ngăn oai
nghi nằm,
chỉ thọ trì oai nghi ngồi là chính và oai nghi đi,
oai nghi đứng là cốt để làm gương tốt cho lớp hậu sinh noi theo.
Các pháp hạnh đầu đà đều có khả năng ngăn được phiền não, nghĩa là diệt tâm ác, để tâm
thiện sinh, làm cho các thiện pháp phát sinh như dục
giới thiện pháp, sắc giới thiện pháp, vô sắc giới
thiện pháp cho đến Siêu tam giới thiện pháp phát sinh.
Nghi Thức Thọ Pháp Hạnh Đầu Đà
Trước khi thọ pháp hạnh đầu đà:
- Nếu hành giả là Tỳ khưu,
thì nên sám hối āpatti xong.
- Nếu hành giả là Sadi, thì nên xin thọ lại phép
quy y Tam Bảo và Sadi thập giới.
- Nếu hành giả là cận sự nam, cận sự nữ, thì nên
xin thọ phép quy y Tam Bảo và ngũ giới, hoặc bát giới.
Mỗi hành giả sau khi đã có giới rồi, phát sinh thiện tâm trong sạch, cung
kính thọ pháp hạnh đầu đà.
Pháp hạnh đầu đà ngăn oai nghi nằm, thọ trì oai nghi ngồi là chính và oai nghi đi, oai nghi đứng tuần tự như sau:
1- Kính Lễ Đức Phật Gotama:
Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Đức A-ra-hán, Đức
Chánh Đẳng Giác ấy.
2- Thọ Trì Pháp Hạnh Đầu Đà:
Seyyaṃ paṭikkhipāmi,
Nesajjikaṅgaṃ samādiyāmi.
Con nguyện xin ngăn oai nghi nằm.
Con xin thọ trì oai nghi ngồi là chính và oai
nghi đi, đứng.
3- Cúng Dường Tam Bảo:
Imāya dhammānudhammapaṭipattiyā Buddhaṃ pūjemi.
Con đem hết lòng thành kính cúng dường Đức Phật
Bảo bằng thực hành pháp hạnh đầu đà này.
Imāya dhammānudhammapaṭipattiyā Dhammaṃ pūjemi.
Con đem hết lòng thành kính cúng dường Đức Pháp
Bảo bằng thực hành pháp hạnh đầu đà này.
Imāya dhammānudhammapaṭipattiyā Saṃghaṃ pūjemi.
Con đem hết lòng thành kính cúng dường Đức Tăng
Bảo bằng thực hành pháp hạnh đầu đà này.
4- Lời Nguyện Cầu:
Addhā imāya paṭipattiyā jāti jarā maraṇamhā parimuccissāmi.
Chắc chắn, con sẽ giải thoát khỏi sinh, già,
chết do nhờ duyên lành thực hành pháp hạnh đầu đà này.
Ciraṃ tiṭṭhatu saddhammo lokasmiṃ.
Ciraṃ tiṭṭhatu saddhammo Vietnamraṭṭhasmiṃ
Nguyện cầu chánh pháp được trường tồn trên thế gian.
Nguyện cầu chánh pháp được trường tồn trên Tổ quốc Việt Nam thân yêu.
1 Chú giải Aṅguttaranikāya,
phần Ekakanipātaṭṭhakathā.
2 Chú giải Aṅguttaranikāya, phần Ekakanipātaṭṭhakathā.
3 Dìghanikàya, Mahàvagga, kinh Mahàparinibhànasutta.
4 A-tăng-kỳ (asaṅkheyya)
tính theo số lượng số 1 đứng trước 140 số không (0) viết tắt 10140.
5 Dhammapadagàthà thứ 21.
6 Dhammapadaṭṭhakathā tích Ngài Đại
Đức Aṭṭadattha.
7 Dhammapadaṭṭhakathā tích Ngài Đại
Đức Aṭṭadattha
8 Dhammapadaṭṭhakathā tích Ngài Tissattheravatthu.
9 Dhammapadaṭṭhakathā tích Ngài
Dhammārāmattheravatthu.
10 Dhammapadagāthā số 364.
11 Dī. Mahāvagga, kinh Mahāparinibbānasutta.
13 Pháp hạnh đầu đà ngăn oai nghi nằm, không phải
không ngủ, hành
giả có thể ngủ trong oai nghi ngồi được.
Hộ Pháp
Theo http://trungtamhotong.org/




















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét