Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

Thần thi Vương Bột

Thần thi Vương Bột 
Trong sư nghiệp nghiên cứu giảng dạy & phê bình văn học của mình, tôi đã phát hiện ra khá nhiều những khuất tất, sai sót, hiểu lầm, nhầm lẫn của những người đi trước.
Nếu đem những phát hiện độc chiêu ấy khai triển viết thành những luận án tiến sĩ văn học, sử học chắc sẽ thú vị lắm. Việc làm này dễ  trong tầm tay, nhưng tôi đã không làm như vậy, bởi đối với một cư sĩ, sống ẩn dật lẩn quất trong dân gian như mỗ, học vị học hàm Giáo sư  Tiến sĩ  chẳng để làm gì cả.
Tôi đã thử viết một vài cái như “THẤN THI VƯƠNG BỘT VANG VỌNG CỦA PHƯƠNG ĐÔNG”, hay “TRUYỆN KIỀU LÀ TỰ TRUYỆN TÂM LINH CỦA NGUYỄN DU”, làm thì hào hứng  nhưng rồi lại bỏ xó vì  không có tính mục đích.
Nay, tuổi đã tà, đời đã mạn, các phát hiện trên còn nằm mung lung tản mác trong các sách báo suốt 25 năm qua, tôi phải tập hợp chúng lại gửi cho hậu thế trước lúc giã từ cuộc người. Biết đâu được có nhà nghiên cứu văn hóa trẻ nào đó bị gợi hứng mà tiến sâu vào những vấn đề mà tôi chưa muốn khai phá !? Thế thì vạn phúc cho tôi nơi chín suối lắm. Đa tạ!
Sự kiện Vương Bột xẩy ra từ năm 1991, đã 22 năm nhưng khá nhiều người chưa biết. Một số đông độc giả, 7 nhà văn yêu cầu đăng lại. Nhân việc chú Hoàng Hà – nhân vật chính của thiên bút ký điền dã này vừa tạ thế ngày 12-11-2013 – cũng là cách tưởng niệm người chú dạy văn học tài hoa của tôi trên đất Nghi Xuân, Nghi Lộc, Nghệ An
Trong lịch sử văn học Trung Quốc, thi sĩ Vương Bột đã được người đời truyền tụng là một hiện tượng thần đồng.
Thi hào thần đồng Vương Bột (650–676),
Vương Bột, tức Vương Tử An, người được xếp đầu bảng trong nhóm Sơ Đường tứ kiệt (1) (Bốn nhà thơ kiệt xuất đầu đời Đường). Chàng gốc gác người tỉnh Thái Nguyên, sau định cư tại Long Môn (nay là tỉnh Sơn Tây). Xuất thân trong một gia đình quý tộc danh giá: cha là Vương Phúc Cơ làm huyện lệnh Hoan Châu, quận Giao Chỉ (Nghệ An, Việt Nam). Lên 6 tuổi đã nổi tiếng thơ văn và thuộc làu kinh sử, 14 tuổi đạt giải khôi nguyên kỳ thi đối sách của triều đình, danh vang toàn cõi, được Lãnh chúa đất Bái rước về tôn làm thầy giảng sách. Xuất chính làm quan võ nhỏ, có lần bị vua ruồng, biếm ra Nam Trung (đất Thục) làm chỉ huy lính đồn trú ở đó. Trước tác còn lại là bộ sách 16 quyển Vương Tử An tập (Tác phẩm của Vương Tử An), gồm sách biên khảo văn sử triết - viết  từ tài liệu sưu tầm của ông nội Vương Thông (2) và  nổi bật nhất là thơ.
Trong văn nghiệp sáng rực của một cuộc đời ngắn ngủi, tác phẩm làm cho tên tuổi Vương Bột trở nên bất tử lại chỉ là một bài tựa nhỏ Đằng Vương các (Gác Đằng Vương) với hai câu thơ tả cảnh tuyệt bút sống đến muôn đời.
[a]DUYÊN ĐẰNG THUẬN NẺO GIÓ ĐƯA
Chuyện kể rằng:
Thuở ấy, trên bờ sông Chương Giang, quận Nam Xương, thủ phủ tỉnh Giang Tây có một tòa lâu đài nguy nga, ngảnh mặt về phía sông do đức ông Thái sứ hồng Châu Đằng Vương Lý Anh  Hoàng tử của vua Đường Cao Tông dựng lên, gọi là gác Đằng Vương(3).
Bấy giờ Đằng Vương Nguyên Anh đã chết. Diêm Bá Dư mới đến nhậm chức Đô sát ở Hồng Châu, nhân tiết Trùng cửu (mồng 9 tháng 9 âm lịch năm 666) mở đại yến chiêu đãi các tân khách chọn lọc ở gác Đằng Vương.
Vương Bột, mới 16 tuổi, đang giong buồm sang Giao Chỉ thăm cha, nghe tin vội vã rẽ vào sông Chương Giang tìm cuộc vui. Đường rất xa, đáng lẽ phải đi mất hai ngày, nhưng nhờ ngọn gió Trùng cửu nổi lên thuận buồn, thuyền của chàng chỉ đi mất một đêm là kịp ghé  bến dự tiệc.
Giữa tiệc, Diêm công sai gia nhân để bút giấy cung kính đặt trước mặt các danh sĩ, liêu thuộc xin ứng tác cho một bài tựa để lưu niệm cuộc tao ngộ này. Thực ra, mục đích hoàn toàn khác. Diêm Bá Dư (4) có người con rể là Ngô Tử Chương “giỏi” thơ phú, nhân dịp này ông ta muốn làm le  triển lãm cái tàiMạch Học sĩ của con rể ra với bàn dân thiên hạ. Ông bảo Chương làm sẵn bài Đằng Vương các tự rồi lấy đầu đề ấy yêu cầu các quan khách hạ bút. Quan khách toàn là dân tao nhân mặc khách hiểu ý tứ kín đáo ấy nên từ chối, nhường quý tế ông chủ. Riêng Vương Bột, chân ướt chân ráo không hiểu mô tê chi cả, thấy bút giấy bày ra trước mặt cùng lời mời đon đả là phóng  bút viết lia viết lịa.
Dĩ nhiên, ông chủ Diêm Bá Dư rất không  vừa lòng, hằn học ra  mặt trước vẻ ngang tàng của chàng trẻ, sai gia nhân xoi mói vào từng chữ chàng viết, rồi mật báo lại với mình hay. Thoạt đầu, Diêm công cho là Vương chép lại bài làm sẵn, hoặc chép thơ người ta.
Nghe gia nhân báo câu mở đầu: “NamXương cố quân, Hồng Đô tân phủ” (Nam Xương là tên quận cũ, Hồng Đô là tên phủ mới), Diêm cười nhạt:
Thần  đồng Vương Bột  đang sáng tác Đằng Vương các tự
 - Đó là lời kể lể quê kệnh của bọn hủ nho già.
Ông ta nghe báo câu tiếp:
“Tinh phân Dực Chẩn, địa tiết Hành Lư”(Nơi ranh giới sao Dực và sao Chẩn, địa thế tiếp với Hành Sơn và Lư sơn)
Diêm giật mình, tư lữ.
“Thuyền ngư giọng hát chiều hôm réo rắt quanh miền Bành Lãi. Nhạn trận tiếng kêu trời rét, xôn xao lấp bến Hàng Dương”.
Diêm im lặng.
Và, khi nghe báo đến chỗ Vương Bột hạ câu:
Lạc hà dữ cô lộ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
Phần đầu của bài Đằng Vương các tự của Vương Bột (trích đoạn – thư pháp
(Chiếc cò bay với ráng sa
Sông thu cùng với trời xa một màu)
          NAM TRÂN dịch
Thì Diêm đứng phắt dậy, lắc đầu, trố mắt kêu lên:
- Thần cú! Diệu bút! Quả là thiên tài, đáng lưu danh muôn thuở.
Vương kết thúc bài phú.
ĐẰNG VƯƠNG CÁC
Đằng Vương cao các lâm giang chử
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ
Họa đống triêu phi Nam phố vân
Châu liêm mộ quyển Tây Sơn vũ.
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di kỷ độ thu
Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại Trường giang không tự lưu.
(Gác Đằng cao ngất bãi sông thu,
Ngọc múa vàng gieo nay thấy đâu?
Nam Phố mây mai quanh nóc vẽ,Tây Sơn mưa tối, cuốn rèm châu
Đầm nước mây vờn ngày tháng trôi,
Mấy phen vật đổi với sao dời
Con vua thuở trước giờ đâu tá?
Sông lớn hoài hiên luống chảy hoài.)
           TƯƠNG NHƯ dịch
Từ đó, gác Đằng Vương với hai câu thơ của Vương Bột đã đi vào cõi trường sinh! Từ đấy, tên tuổi Vương Bột lại càng lừng lẫy ! Sự tích này đã trở thành điển cố văn học. Về sau, Tô Đông Pha có câu thơ “Thời lai phong tống Đằng Vương các” (Gặp thời thì mới gặp gió đưa tới gác Đằng Vương). Nguyễn Du có câu “Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa” (Kiều). Lê Thánh Tông (Hồng Đức Quốc âm thi tập), Nguyễn Cư Trinh (Trinh thử), Vũ Quốc Trân (Bích câu kỳ ngộ) đều dùng điển tích này để chỉ dịp may hiếm có, cơ hội nghìn năm có một.
Cuộc đời Vương Bột thật huy hoàng bỗng chợt tối vì tai nạn bất ngờ, khép lại đời một thi sĩ tài hoa 26 tuổi! Sử cũ chép: năm 676, trên đường đi thăm cha, bị bão đắm thuyền, chết đuối. Nhưng Vương tử nạn ở đâu thì không nói rõ! không ai biết. Dương Quýnh, bạn thân của Vương Bột, chỉ biết ngậm ngùi gom di cảo của chàng để lại đem in, cầm một nắm hương xá ra ngoài biển, than trời. Về sau, luận thuyết của Mao Trạch Đông cũng chỉ nêu “ Năm tháng.., Vương Bột sang thăm cha ở Giao Chỉ, ngã xuống biển chết.”
Đã có bao nhiêu nhà văn, học giả cất công tìm kiếm. Ngô Tất Tố trong một bài báo viết năm 1939 trên tờ Thời vụ số 118 cho là Vương Bột chết trên hồ Động Đình. Hoàng Ngọc Phách - Kiều Thu Hoạch trongGiai thoại văn học Việt Nam lại cho rằng ở sông Chương Giang. Còn Thái Vũ lại bảo trên sông Bạch Đằng (Việt Nam). Xem ra, đều là những ức đoán, võ đoán có lý nhưng khó thuyết phục, nghe chơi vậy thôi.
[b] VƯƠNG BỘT TỬ NẠN NƠI NÀO?
Thế rồi…
Trong một chuyến đi điền dã về quê Nghệ Tĩnh để lấy thêm tài liệu viết sách, tình cờ tôi phát hiện ra nơi Vương Bột tử nạn.
Đằng Vương Các Tự
Ngày 30-7-1986, từ Sài Gòn tôi hành hương về huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), ghé làng Tiên Điền viếng mộ Nguyễn Du, thắp hương ở nhà thờ La Sơn Phu Tử, xuống làng Uy Viễn hỏi chuyện về Nguyễn Công Trứ, vào làng viếng Tả Ao… Vượt qua sông Lam sang xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) thăm ông chú với cha tôi là anh em con cô cậu, dạy học lâu năm ở đây đã nghỉ hưu: Chú Hoàng Hà. Đêm đó, tôi đọc bản thảo Chuyện hay nhớ mãi (5) cho cả nhà nghe, trong đó có mấy cô sinh viên khoa văn Đại học Sư phạm Vinh cùng nghe. Đến hết truyện Bùi Hữu Nghĩa yểm thơ Vương Bột thì chú Hoàng ngạc nhiên kêu lên:
- Ơ tề, đền thờ Vương Bột ở kia, gần sát nhà ta mà cứ đi tìm quẩn !
Tôi mừng như vớ được vàng, bồn chồn suốt đêm, chờ sáng, cùng chú chạy sang. Tòa đền uy nghi rợp bóng cổ thụ - theo lời kể của chú Hoàng, người đã thành thổ dân ở đây - nằm trong một khuôn viên ngót một hécta, giờ chỉ còn lại cái nền đất, trên đó tọa lạc một cơ quan mới: Xí nghiệp vận tải biển Nghệ Tĩnh!
Thương hải biến vi tang điền, chỉ còn lại cái móng cũ toà đền, cổng tam quan, vài con kỳ lân đá chỏng chơ trước sân chầu, phía sau thấp thoáng núp trong lau lách là một trụ biểu đá hình vuông to đủ hơn vòng tay người ôm, ghi lạc khoản. Nhìn từ phía hậu đền là cả một vùng hoang liêu (6). Phải chăng đây là nơi yên nghỉ cuối cùng, di chỉ còn sót lại, chứng tích  nơi khói hương nghi ngút ngàn năm qua thờ cúng một thiên tài!
Năm 1958, khi xây trường cấp hai, thiếu vật liệu xây cất, chính quyền địa phương đã “mượn” tạm ngôi đền hạ. Thật đau lòng là một trong những người phải thừa hành lệnh trên điều khiển học trò cấp hai phá đền lại chính là ông chú dạy văn nổi tiếng vùng này của tôi !
- Ngài linh lắm – chú Hoàng nói – Ngài xả một đống rui mè suýt nữa thì đè nát cả đám học trò.
Hơn 30 năm sau chú Hoàng tự thú “tội” trên với tôi bằng cái giọng thất kinh, hối tiếc và một dáng dấp buồn còn vương trong cặp mắt mờ đục của chú.
Tiếp đến, cuối tháng 12-1972, bom đạn B52 của Mỹ đã xoá sạch đền, đồ thừa tự ra tro, tượng Vương Bột, Vương Phúc Cơ điêu linh. May thay, người dân Nghi Lộc đã cứu được hai pho tương.
Tôi ngậm ngùi trở ra. Một đàn chim sếu giăng qua bầu trời. Lòng tôi rưng rưng.
Cửu nguyệt, cửu nhật vọng hương đài
Tha tịch tha hương tống khách bôi
Nhân tình dĩ yếm Nam Trung khổ
Hồng nhạn na tòng bắc địa lai.
(Mồng chín tháng chín Vọng hương đài
Cất chén quê người tiễn bước ai,
Nỗi khổ Nam Trung lòng đã chán,
Nhạn hồng đất bắc xuống chi đây ?)
      KHƯƠNG HỮU DỤNG dịch
Tiếng thơ nức nở của Vương Bột hồi đi đày đất Thục cứ ngân nga giữa hồn tôi. Cảm thương người xưa, tôi đọc cho chú Hoàng cùng nghe. Chú bình:
- Cái mệnh yểu là nó xúi ngay trong văn chương…
Chúng tôi đi bộ qua xã Nghi Xuân (huyện Nghi Lộc), tìm đến nhà ông Nguyễn Hữu Uông – viên đại úy  đã nghỉ hưu, có chân trong Mặt trận Tổ quốc huyện Nghi Lộc, thăm pho tượng Vương Phúc Cơ. Hỏi tượng mà ông Uông lại vui vẻ đem khoe với tôi và chú Hoàng - thầy giáo cũ của con ông - một thứ gia bảo khác : chiếc nắp liễn bằng sứ men xanh bóng làm từ đời Khang Hy, mặt trên nắp bé bằng bàn tay chép toàn bộ bài Xích Bích phú của Tô Đông Pha. Ông rất e dè khi đả động đến pho tượng. Pho tượng ông đặt ở gian ngoài, trong một chỗ kín. Tượng được tạc bằng gỗ quý, sơn son thếp vàng, cao lớn giống  người thật, đội mũ (loại mũ như Đường Tăng) và vận trang phục huyện lệnh, sơn đang bong từng mảng trên khuôn mặt  nghiêm nghị và phúc hậu. Ông Uông chỉ nói:
- Thấy pho tượng đẹp giầm mưa giãi nắng, phí quá, không đành, tôi đem về cất giữ thôi.
Trên đường đi, chú Hoàng nháy tôi:
- Ông ta nói thế chứ đêm đêm trong khuya vắng lại dậy lén thắp nhang!
Đến cửa biển sông Lam xã Nghi Hải, chúng tôi ghé vào nhà cụ Nguyễn Sung, 70 tuổi. Ông Sung làm nghề thợ mộc vắng nhà. Bà Sung nhìn tôi từ đầu đến chân, nghi ngại. Chú Hoàng phải phân bua mãi, rằng tôi không phải là cán bộ đi bài trừ mê tín đi đoan đâu, bà mới yên lòng tiếp chúng tôi:
- Một sáng, tôi ra sông lấy nước, có một pho tượng tấp vô dập dềnh trước bến nhà tôi, luôn hai ngày như thế không chịu đi. Tôi đồ là ngài uốn “ngự” lại đây nên lội xuống tắm rửa thánh thể sạch sẽ, sai con cháu hè nhau rước ngài lên lập bàn thờ cúng từ bấy đến nay.
Bà sai cậu con trai đốt một cây đèn cầy, dẫn chúng tôi vàogian cuối cùng. Buồng tối mờ mờ, thâm u vẻ thiền. Vén màn cầm nhang, bà khấn khứa như xin khất hành lễ. Tôi nom thấy tượng Vương Bột trong tư tế bán thân ngồi, trẻ trung, má phinh phính, tọa đường bệ trên bàn thờ sát nóc thượng lương. Tôi tranh thủ xin phép ghi hình.
Theo chỉ dẫn của “`thổ dân”, sáng hôm sau, chú hoàng lại dẫn tôi tìm đến nhà cụ Mai ở xã Nghi Xuân. Cụ Mai đã 75 tuổi, con trai còn lại của Cụ Tú Lê Kế Xuân - một nhà giáo yêu nước đã từng giảng dạy ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục hồi đầu thế kỷ XX.
Cụ  Mai rít hột hơi thuốc lào rõ kêu, phả khói mù mịt khoan khoái, vuốt chòm râu lưa thưa, chậm rãi:
Theo lời cha tôi kể thì Vương Bột nổi danh nhờ ngọn gió Trùng cửu này. Ngài là người con hiếu thảo, lại có tính ưa du sơn ngoạn thủy, thường sang thăm cha luôn. Lần cuối cùng, ngài cũng 7 gia nhân cưỡi thuyền mành, lợi dụng ngọn gió Trùng cửu vượt bể Đông thẳng tiến Hoan Châu. Gần đến bờ thì bão lớn nổi lên.
đùng đùng dìm thuyền chết sạch, xác thuyền xác người
tấp hết vô cửa Hội Thống (tên cũ của Cửu Hội). Riêng thi hài Vương Bột, nước thuỷ triều đầy ngược theo sông đến một cây rưỡi số rồi dạt vào bờ bắc sông Đồng Long (tên cũ của sông Lam), nay thuộc địa phận xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc. Quan huyện lệnh Vương Phúc Cơ tìm được xác con đau đớn kêu trời. Vì cảm cái ơn mưa móc  nhân đức của quan Vương Phúc Cơ.
Tượng Vương Bột dưới chân Đằng Vương Các tự
và tiếc thương người tài Vương Bột  mà công tích đã được chép rành rành trong bộ Đường thư mệnh chung quá sớm, nhân dân Hoan Châu đã long trọng an táng nhà thơ ngay nơi ngài lâm nạn.
- Thế còn hồn ma Vương Bột hiện lên đọc thơ, chuyện ấy có không hở cụ?
- Có thế đấy, cha tôi cũng có nói tương truyền đêm đêm trong thanh vắng, trên ngôi mả ven sông vẳng nghe tiếng than oán, u uất ngâm mãi hai câu thơ bất hủ của mình “Lạc hà…”. Dân quanh vùng rợn gáy sợ hãi, truyền lan lời đồn đại, bàn nhau góp công góp của dựng một ngôi miếu thờ phụng cho vong linh ngài chết oan đầu xanh tuổi trẻ tha hương được siêu thăng tịnh độ. Câu tục ngữ “Nước Cửa Trà, ma Cửa Hội” là có từ thuở ấy.
Sau này, chẳng bao lâu Vương Phúc Cơ cũng qua đời vì tổn thương quá lớn do cái chết của người con, người ta đưa ngài vào đền thờ, tạc hai pho tượng. Hai cha con ngài trở thành phúc thần của nước Việt từ đó.
 - Thiêng vậy, có ai “yểm”  không cụ ? – tôi gạn hỏi.
- Có Tà Ao (7) tiên sinh. Thật buồn cười cho người đời. Ông thầy địa lý tiếng tăm đó đã từng đi chu du khắp nước lo việc cải mả đem lại phúc lộc dồi dào cho không biết bao kẻ, thế mà khi nằm xuống lại không tìm được cho mình một doi đất phát.
Một đêm trăng thanh gió mát, tiên sinh cưỡi thuyền thúng băng qua sông. Đến trước mả Vương Bột, lên tiếng quát “Vương Bột, ngài chớ hợm mình, ngạo đời, tài cán gì ở ngài, làm có hai câu thơ mọn cũng không xong. Ngài muốn khoe tài thì về bên Tàu mà khoe, chứ ở đất này ngài còn dốt lắm !”. Gió rít lên, vẳng nghe như oan hồn Vương Bột dật dờ đâu đây cãi lại bằng cách ngâm hai câu thơ để trêu người thầy địa lý. Tả Ao tiên sinh mới đưa tay xá theo một nắm hương to : “Này ngài Tử An, hà tất “dữ” hà tất “cộng” nhị tự. Đã “tề phi” (cùng bay) thì cần chi phải “dữ” (với), đã “nhất sắc” (một màu) thì cần chi phải “cộng” (cùng). Hay thì có hay thật những gieo 14 chữ mà thừa những hai chữ thì tài giỏi chỗ mô ?”. Lạ thay, dân vùng ấy kể lại từ đó oan hồn của họ Vương tiệt không dám hiện ngâm nga nữa.
Cụ Mai ngưng kể, xoi lại ống điếu. Ngoài xa, sóng biển vỗ rì rầm, buồn bã. Chú Hoàng góp thêm:
- Tuy thế, ngài vẫn hiển linh lắm. Có ba người đụng đến ngài thì cả ba đều đắc tội. Tôi đơn cử vậy thôi thì chuyện này thì nhiều lắm. Đó là một võ quan Nhật năm 1945 ngang ngược nhảy lên cưỡi con ngựa của ngài, bị sưng húp cả bìu dái hệt như dái ngựa. Nhờ dân mách bảo phải sắm lễ đến tạ ngài mới thôi hành. Tiếp đến là một thằng nhỏ vô phép leo lên bệ thờ, giẫm chân vào vai ngài để bắt chim sẻ trên mái ngói bị ngài quở ốm lên chết xuống. Người thứ ba là kẻ hò hét  phá đền năm 1958, mãi đến năm 1969, bị bom ở Hà nội banh xác không nhặt được mảnh nào…
Tôi nghe chuyện, rùng mình, cứ y như là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong văn học châu Mỹ La tinh. Chao ôi ! Đời thật là có quả báo. Tôi hỏi như chất vấn cụ Mai:
- Thế, Vương Bột là phúc thần hay hung thần ?
- Gieo nhân nào thì gặt quả ấy, ác giả thì ác bá. Phật khi cần cũng phải cầm gươm nữa là thần thánh. Các ông coi, chứ tượng ngài bên nhà ông Sung dân vẫn bí mật thờ. Ngài vẫn phù hộ độ trì cho bà con ngư dân chúng tôi ra khơi vào lộng thuận buồm xuôi gió, ăn nên làm ra. Trước sau, ngài vẫn là phúc thần.
Cụ Mai quả quyết kết thúc như một triết gia.
Câu chuyện trên đây bẵng đi thế là đã 5 năm. Trở về Sài Gòn, tôi bận bịu với công việc làm sách nên quên mất. Hôm nay, nhân Việt Nam và Trung Quốc rục rịch nối lại bang giao, tôi giở lại những trang tư lệu ghi chép cũ trong sổ tay, bất giác sững sờ, lòng đầy những rung cảm, tôi ngồi vào bàn viết lại thành văn.
Tôi viết bài bút ký điền dã này với hai mục đích:
1-. Khi biết rõ sự thực về nơi tử nạn của Vương Bột, thì vừa lúc Nhà xuất bản Thuận Hóa ở Huế cho sắp chữ quyển Chuyện hay nhớ mãi của tôi. Tôi chỉ kịp nhắn đến ban biên tập vớt vát được một dòng ở phần chú thích trang 180: “Sự thực thì Vương Bột vào đất Hoan Châu bị bão đắm thuyền ở cửa Hội Thống”…Bạn đọc của cuốn sách đó xin cảm phiền xem đây là đính chính cần thiết.
2- Tôi muốn bài ký khảo cứu khoa học nhỏ này khi đến tai Bộ Văn hóa Thông tin - Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Nghệ Tĩnh, Chính quyền huyện Nghi Lộc mong sẽ được các vị có thẩm quyền xem như một gợi ý: nên xét kỹ đến việc xếp hạng di tích văn hóa quốc gia và cho xây lại ngôi đền Vương Bột ở xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, bởi lẽ trong thời Đường thuộc đen tối, nhân dân Hoan Châu vẫn sáng suốt nhận ra chánh tà, phải trái. Vương Phúc Cơ có thể là một huyện lệnh tốt, biết cách trị dân bằng nhân chính để lại nhiều ân nghĩa với dân. Việc nhân dân Hoan Châu suốt 1.300 năm không bao giờ sao nhãng hương khói thờ phụng một nhà thơ lớn, nhà tư tưởng của Trung Quốc như một vị thần của Việt Nam là biểu hiện của một dân tộc văn hiến, là biểu tượng vĩ đại của tình hữu hảo Việt – Trung.
Thời gian thiên tai, bão lụt, binh lửa chiến tranh liên miên đã bao phen hủy diệt ngôi đền Vương Bột. Hỏng thì xây lại ! Bà con Nghệ Tĩnh đã kiên trì bảo tồn ngôi đền Vương Bột như một tín nghĩa thiêng liêng trong suốt trường kỳ lịch sử (8). Lẽ nào con cháu bây giờ lại thua kém cha ông ? Hơn thế nữa, phải chuộc lại lỗi lầm khi những bàn tay vô thức đã tiếp sức cùng bom đạn giặc tàn phá hàng trăm đình chùa, miếu mạo, trong đó có di chỉ văn hóa cổ nhất - ngôi đền Vương Bột.
Tôi cầu mong sao cho pho tượng danh nhân văn hóa Vương Bột sớm rời chỗ sơ tán trở về vị trí cũ. Mong sao cho tòa đền lại mọc lên như một huyền thoại trên nền đất cũ oai nghiêm, cổ kính soi bóng xuống dòng Lam xanh êm đềm, trở thành điểm du lịch văn hóa lý tưởng thú vị không riêng của Nghệ Tĩnh mà là chung của cả nước.
Nghi Lộc, 30-7-1986
Thành phố Hồ chí Minh 5-6-1991
Bài đã đăng:
BáoVăn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam số  1991
 Tạp chí Liêu Vọng - những vấn đề văn hóa đối ngoại của Trung Quốc, số ra  11-6-1992.
Kỷ yếu về Thần thi Vương Bột - Hội LHVHNT Nghệ Tĩnh xuất bản 1992.
- Theo Biên tập viên báo Văn Nghệ thuật lại thì Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội được tin này sớm nhất đã phóng xe tới Viện Quan hệ Quốc tế bộ Ngoại giao, bộ Văn hóa, báo Văn Nghệ hỏi thực hư, xong fax bài báo về Bắc Kinh. Nhân dân Trung Quốc đã “sửng sốt” (9) trước sự kiện trọng đại này.
- Tiếp đến học giả Giáo sư Lâm Trọng Hàm và nữ thạc sĩ Nghê Hà Vận - hai nhà Việt Nam học sang tiền trạm, làm công việc thị sát.
- Giới trí thức và bô lão địa phương thì tận tình giúp đỡ khoa Sử trường Đại học Tổng hợp về khảo sát, xác minh.
-  Nền thơ Đường rực rỡ với 2.300 thi sĩ và 5 vạn bài thơ cho đến nay vẫn là đỉnh cao của văn hóa nhân loại, không nước trên thế giới  vượt qua nổi mà Vương Bột là kiện tướng đi tiên phong khai sơn phá thạch. Ngài tử nạn trên xứ mình, bí mật trùm màn đen suốt hơn 13 thế kỷ. Chúng ta đã phát hiện cho Trung Quốc một ngôi mộ tổ vào thời điểm chính rị nhạy cảm nối lại bang giao sau cả chục năm tuyệt giao hảo. Người Tàu là họ rất quý trọng mồ mả tiền nhân. Chúng ta đã “điểm đúng huyệt của thời đại” (chữ dùng của Giáo sư Nguyễn Trung Hiếu)
- Sự kiện này rúng động cả thế giới, đặc biệt gây sốc cho con cháu dòng Vương Bột ở Nhật Bản, Đài Loan. Cô xướng ngôn viên của đài phát thanh truyền hình Đài Bắc Thiên Kim đã sang tận Sài Gòn tìm tôi xin tài liệu về Vương Bột  để phát sóng trong chuyên đề Vương Bột tử nạn nơi nào ?
(1) Ba vị kia là: Lạc Tân Vương, Dương Quýnh và Lư Chiếu Lân
(2) Vương Thông dưới tên chữ là Văn Trung Tử - nhà triết học thời Tùy.
(3) Gác trở thành nổi tiếng hơn 13 thế kỷ nay của Trung Quốc. Đến đời Mimh đổ nát  được trùng tu lại lấy tên là Tây Giang đệ nhất lâu. Đến đời Thanh lại lấy tên cũ. Bị phá tan tành sau 9 giờ huyết chiến giữa quân đội Trùng Khánh và quân đội Nhật trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật, 1939.
(4) Có sách chép là Dữ, có sách lại chép là Phù.
(5) Cuốn thứ nhất trong bộ Chân dung các nhà văn qua giai thoại (6 tập)
(6)  Lần tôi trở về mới nhất là tháng 8-2009 thì thấy hiện trên nền đất cũ là một nhà gửi trẻ. Vùng đất này hiện trở thành đất vàng nhưng nhưng đất của thần thánh không ai dám mua.
(7) Tả Ao tên thật là Nguyễn Đức Huyền (sách Tang thương ngẫu lục), vì là người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh nên gọi là thầy địa lý Tả Ao. Tả Ao sống vào thế kỷ XVIII.
(8) Lần cuối cùng đền Vương Bột được dựng lại sau chiến tranh là dưới thời nhà Nguyễn năm 1854 (theo trụ biểu đá còn lại sau đền Vương Bột)
(9) Chữ dùng của tạp chí Liêu Vọng.
(10) Một sai lầm nghiêm trọng của Kỷ yếu Thần thi Vương Bột, ảnh tượng của Vương Bột là tượng giả làm bằng thạch cao. 
[c] ĐỀN PHÚC VỊ, HUYỀN THOẠI VÀ SỰ THẬT:
Tôi lại hành hương về xứ Nghệ để thỉnh Kinh (1) viếng phần mộ Thân phụ và thăm Từ mậu đang sống chập  chờn trong cõi âm dương. Giữa những ngày tử biệt sinh ly tan nát lòng này, tôi vẫn biết tỉnh táo nén đau thương không quên lặn lội xuống tận Cửa Hội cùng chú Hoàng Hà  (lại vẫn chú Hoàng thân kíuh) chụp cho bạn đọc những tấm hình màu từ những di vật còn sót lại ở ngôi đền Vương Bột - những tấm hình có lẽ không riêng gì bạn đọcViệt Nam mà cả bạn đọc Trung Quốc đang mong chờ!
Vào thu, biển Cửa Hội xanh đậm, nắng vàng ươm lao rao trên sóng bạc đầu. Tôi phóng tầm mắt nhìn vào mung lung: trong những cánh buồm no gió ngang tàng ngoài khơi xa nào đâu là cánh buồm của chàng Vương sang Hoan Châu nước Việt thăm cha thuở trước?
Năm năm lìa xứ, tôi vẫn mang đi trong tâm tưởng mặt biển lặng xanh trong mơ màng với thấp thoáng những cánh buồm nâu dân dã trong màu mắt ai mỏi mòn chờ đợi !
Phải chăng những câu thơ hay nhất trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã tả là từ chỗ này đây, nơi tôi đang đứng, sóng bủa mơn man dưới bàn chân cát mịn, nơi cách đây đúng 1.315 năm thi hào Trung Quốc “Vương Bột ải tử đầu hà, phá quân (sao) hãm thiên thương (sao) thủy cục”.(Vương Bột chết khổ  đầu sông, chết đuối về  nước (2). Giờ, tôi đọc to câu ấy lên hỏi trước muôn trùng sóng vỗ, nơi chàng thi sĩ họ Vương tử nạn mà sởn hết gai ốc trong người, bàng hoàng vì sự linh ứng của nó.
Anh Văn Tự, người thợ may ở xã Nghi Xuân, Nghi  Lộc, môt bạn đọc trung thành của báo Văn Nghệ, người vẫn luôn giữ một  gián cách tiết độ vừa phải đứng bên tôi dường như tiếp nhận được sự thần giao cách cảm đó đã kể tôi nghe:
- Hồi nhỏ, tôi được các cụ từ trực tiếp thờ cúng đền Vương Bột nói lại là trên khúc sông này, vào khoảng đúng giờ Ngọ, mòi nước nổi lên cơn lốc nhẹ xoáy rộng vùng, rồi một chàng trai trẻ tuấn tú độ 25-27 tuổi,  dáng quắc thước, mặc áo hồng gấm, chân di hài sảo, tay cầm sách thung dung dạo quanh vùng, cứ y như nhà thơ đang trầm tư tìm kiếm thi tứ để ngâm vịnh. Tiếng thơ ai oán, thổn thức cứ nổi lên mỗi ngày. Những người chèo đò, những ngư dân sinh sống ở vùng này thường dâng hương khi qua sông, lúc đánh cá cầu mong được sự yên ổn may mắn. Người ta tìm bộ Đường Thư và nhón lấy những câu thơ hay của Vương Bột để ngâm ngợi thưởng thức hầu làm sống lại tâm linh thơ của ông Thần thi xứ Bắc mà hình hài đã gửi lạ trầm tích vĩnh cửu trên dòng sông Cửa Hội quê kiểng…
Anh Tự kể, tai tôi như âm u vọng về từ một xứ mê huyền. Tôi nhìn trân trân, bất giác chỉ tay sang bờ nam Cửa Hội hỏi anh Tư:
- Mấy năm trước hành hương  về viếng mộ cụ Nguyễn Du, tôi có nghe bà con bên huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) nói có một miếu thờ Vương Bột nữa ở cửa sông bên ấy, anh có biết không ? Rất tiếc hôm đó, tôi cùng giáo sư Hàng Hải mệt phờ không thể đi tiếp tìm hiểu được.
- Thưa không, tôi không rành a.
- Tôi mường tượng và đưa ra giả thiết như thế này anh nghe có lọt tai không nhé: bên đó là nơi thừa tự các gia nhân, chỗ xác người và thuyền tấp vô ấy ?. còn bên này dĩ nhiên là thi hài chàng Vương rồi (?). Sự linh ứng của nhà thơ bao trùm cả một vùng mênh mông sông nước. Mỗi xứ đã lập miếu thờ riêng theo lòng thành của mình.
- Nghe cũng có lý đấy ạ. Việc này xin để các  nhà khảo cổ, các sử gia trả lời hộ. Xin mời anh, ta đi tiếp.
Chúng tôi đi ngược dòng sông lên viếng đền. Chú Hoàng bệnh. Anh Văn Tự bỏ việc thay chú dẫn tôi đi. Anh Văn Tự là người trọng nhân nghĩa, chuộng văn học, là học trò cưng, đứa em thân thiết, người bạn tri âm của chú Hoàng Hà. Anh phải gồng mình gánh chịu trên đôi vai mảnh mai mười một  miệng ăn với cái nghề may èo uột nơi thôn mạc mà miếng cơm manh áo cứ đùa cợt từng ngày.
Đến trước đền Vương Bột, chúng tôi gặp một nấm đất kỳ dị. Lòng tôi xao xuyến, linh cả mơ hồ.
Anh Văn Tự chắp tay thi lễ:
- Thưa, người nằm dười đất này là Đầu xứ Thái – Hoàng Phan Thái – Nhà thơ, người anh hùng đã tuẫn nạn nơi đây.Cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình nhà nguyễn không thành, Đông hải Đại tướng quân bị Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm đem quân về vây bủa bắt được giải về nguyên quán hành quyết ngay chỗ này năm 1865, nghĩa là sau khi ngôi đền Vương Bột trùng tu khánh thành được đúng 9 năm.
Tôi lịm người kêu lên:
- Ôi trời ! té ra nhân vật kẻ sĩ yêu qúy của tôi (3) lại nằm đây bầu bạn bên cạnh Vượng Bột. Hai nhà thơ cũng chung một nòi tình ! Rõ là hai khí phách một tinh thần phản kháng !
Nhìn gò đất, tôi lầm nhẩm đôi câu đối của Hoàng Phan Thái khảng khái đọc trong đề lao Vinh:
Thiên khả thê thân, huyền đảo giang hà thanh nhất nộ ( Trời nếu thương thân, dốc ngược giang hà nguôi mối giận)
Địa nan mai cốt, vãn hồi nhật nguyệt bạch tam quân (Đất khôn vùi cốt, kéo lùi nhật nguyệt rõ ba quân)
… mà chạnh niềm đau. Lẽ nào chính quyền địa phương mãi đến bây giờ vẫn còn để bậc danh nhân đất nước này nằm hòa trong cát bụi giữa thập loại chúng sinh !?
-  Sinh thời – Anh Văn Tự thủ thỉ kể - Khi còn là một bậc nho sinh hay chữ, ông Đầu xứ Thái thường từ làng Cổ Đan quê ông  (nay là xã Phúc Thọ,  Nghi Lộc) sang làng Đông Chu, xã Lộc Hải (nay là xóm Xuân Lộc, xã Nghi Xuân) thăm viếng ngôi đền Vương Bột luôn. Hoàng Phan Thái là người đã tích cực truyền bá nền thơ Đường, đặc biệt là thi phẩm của Vương Bột cho toàn xứ. Theo truyền thuyết thì chính ông ta “yểm” thơ Vương chứ không phải là Tả Ao tiên sinh. Xin lỗi anh. Ông Đầu xứ “yểm” ngay trên một con đò ngang, giữa thanh thiên bạch nhật, trong cuộc đàm đạo tương đắc thơ Vương với người… lái đó ! Theo thiển ý của tôi thì truyền thuyết này thích hợp hơn với tài năng, tính cách và tư duy Hoàng Phan Thái, con người đã nổi tiếng ngông ngạo trên pháp trường: “Ba hồi trống giục thây cha kiếp - Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời”; con người khi đầu sắp rụng còn hóm “Thằngg nào chém tớ chém cho đứt  - Trần gian ngoảnh lại nhắn đôi câu - Tấm thân bảy thước coi làm ngắn – Mà chí ngàn năm vẫn sống lâu – Máu đỏ bôi đen trò đế bá - Vết son sổ toẹt mộng công hầu - Thằng nào chém tớ ché cho đứt - Có lấy tiền công tớ trả sau.”
Tôi phì cười khoát tay:
- Hồ Tông Thốc, Tả Ao, giờ lại Hoàng Phan Thái… Thôi, ai “yểm” mà chẳng được. Cứ lãng đãng sương khói thế mà lại hay.
Đến trước cổng đền, tôi cung kính đặt những bước chân bồi hồi như cách cách đây năm năm từng đặt những bước chân bùi ngùi thương cảm. Đến bên một mảng tường đổ nát, tôi dừng chân, thân mật cầm tay anh Văn Tự:
- Này anh, là người vốn đẻ ở đây, lớn lên ở đây, giờ đã ngót 50 năm, anh còn nhớ những gì về ngôi đền này không ? Thử kể, tả cho tôi nghe với ?
Lời thỉnh cầu này đã làm hai mắt anh Văn Tự vụt sáng, con người anh linh động hẳn lên, rút ngắn lại những gián cánh. Giống như một hướng dẫn viên du lịch thục thụ, anh Tự kể vanh vách:
Ngôi miếu cổ cũ nhỏ quá không thể chứa nổi cái chất hào phóng của thi nhân, và người xứ này nhận thấy không thể thỏa mãn với tầm cỡ một thiên tài bèn xúm nhau lại đóng góp dựng lại tòa đền đường bệ, khang trang hơn. Đó là đền Phúc Vị nơi chúng ta đang đứng đây. Đền được khẩn trương trùng tu làm mới và đã hoàn thành vào năm Tự Đức lục niên, tức 1854. Cấu trúc của đền gồm ba khuTiền đền, Trung đền, Hậu đền. Khu Trung đền làm nơi thờ cúng cha con nhà thơ Vương Bột, Vương Phúc Cơ, còn Tiền đền Hậu đền bài trí các đồ tế khí. Dân làng rủ nhau trang trí nội thất, trồng cây cảnh trông tôn kính, râm mát và thanh lịch lạ thường. Đền xây xong, nhân dân vẫn chưa yên lòng vì chưa có tượng để thờ. Một hôm, thần mộng báo cho ông lái đò là sẽ có một cây gỗ quý từ trên nguồn trôi xuống, hãy đưa về làm tượng hai ngài. Quả thật, sáng hôm sau từ đâu giạt đến một cây gỗ to tỏa hương thơm ngát. Ông lái đò giòng cây mộc hương về neo đậu trước bến đình làng. Làng đã cử người dày công đi tìm các nghệ nhân tài hoa về tạc hai pho tượng đó.
Di tượng Vương Bột hiện đang được thờ cúng 
tại gia đìnhông Nguyễn Văn sung xã  Nghi Xuân, Nghệ An
Để công trình nghệ thuật điêu khắc được hoàn hảo về đường nét và hình khôi, khi tượng làm xong, làng đặt hai pho tượng ở ngã ba làng đúng ba tháng mười ngày cho mọi người qua lại chiêm bái, phẩm bình, kể cả các chú khách người Trung Hoa. Khi mọi người đã công nhận là kiệt tác, làng mới quyết định đem sơn son thếp vàng, xong rước hai ngài lên thờ ở cung đình danh dự nhất của khu đền Trung. Bấy giờ, một khó khăn  nữa lại đến với dân làng: chẳng ai biết đích xác nhà thơ Vương Bột mất ngày tháng nào !. Dân làng cho mời các kỳ lão, các vị có học vấn uyên bác, tinh thông Hán học, am tường về văn nghiệp của ngài. Với lòng tôn kính sâu sắc con người và tư tưởng, các vị đó đã dõi theo cuộc đời và thơ văn, quyết định lấy ngày 9 tháng 9 âm lịch làm ngày giỗ chính thức hàng năm. Đó là ngày Trùng Cửu, có lẽ là này đau buồn nặng nề nhất của đời ngài bị vua ruồng bỏ.
Từ đó về sau nhân dân thường có hoa tươi, nến sáng, hương khói suốt ngày. Cảnh đền càng ngày càng trở nên khang trang nhộn nhịp. Hồi còn học cấp hai – anh Văn Tự dim cặp mắt nhớ lại - thầy Hoàng Hà dạy văn thường dẫn tụi học sinh chúng tôi vào tham quan cảnh đền và kính viếng nhà thơ. Được thầy giới thiệu tiểu sử vẻ vang của ngài, chúng tôi mới hết kính nhi viễn chi. Anh biết đấy, tuổi nhỏ quỷ sứ của bọn học trò nhất qủy nhì ma quấy phá khắp nơi thế nhưng đâu dá bén bảng tới chốn linh thiêng này !
Những này đó có thầy đi kèm, chúng tôi mới hết run dạn dĩ lên dắt tay nhau cùng bước vào thánh địa. Từ ngoài cổng, chúng tôi thấy hai con voi đá xanh to khỏe đứng trấn giữ đền. Bốn cây cổ thụ trồng bốn góc vườn. Bốn gốc thông già cao vút chọc trời được trồng ở bốn góc đầu hồi ba toà đền, tán lá xanh rì vi vu đàn hát trước gío. Một cây phượng bằng hai người vầng, lá xanh như khói chen giữa những chùm hoa lửa đỏ chói cháy rực trời, tán xòe ra xum xuê mát rượi cả một vùng.
Vào khu Trung đền là nơi thờ hai vị thần Vương Bột, Vưong Phúc Cơ có bày biện đủ hoa nến, ống đài đươm hoa trái, hòm sắc đựng thần phả ghi chép công đức của hai cha con vị phúc thần đã cứu giúp dân bản xứ. Hai bên bàn thờ là hai câu đối rực rỡ dòng chữ sơn son thếp vàng:
Long Môn văn phái ba lưu viễn
Ngư Hải hương yên tuế nguyệt trường.
Hồi đó, thầy Hoàng Hà đã dịch như sau:
Dòng thi thư của xứ Long Môn (Quê Vương Bột) từ xa sóng đưa đến,
Khói hương dân Ngư Hải (biển cá) xin thờ cúng đến muôn đời.
Trên dưới các tượng là bức hoành phi đại tự chính điện “Thung quê (1) song linh” (cha con đều hiển linh, hai bức hành phi hai bên tả hữu “Nhân kiệt địa linh” (Người tài đất thiêng) “Vật hoa thiên bảo” (Vạn vật và hoa cỏ là báu vật của trời)… đó toàn là những tiếng tôn xưng xứng đáng đối với một bật hiền tài.
Anh Văn Tự dắt tôi đi khắp khuôn viên đền còn sót lại, nơi người ta chưa cất nhà. Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện. Anh văn Tự chỉ trỏ và kể :
-  Thuở đó làng Phúc Vị được chia làm hai khu, mỗi khu có trách nhạêm bảo vệ, tu sửa đường sá về mỗi phía. Tuy được cắt đặt rạch ròi nhưng người dân cả hai khu đều rất có ý thức chăm sóc vườn tược,nến hương chu đáo, cắt tỉa cây cành… làm cho cảnh quan trở nên nghiêm cẩn,thơ mộng. “Đông Nam mỹ”  (khu Đông khu Nam đều đẹp), quả đúng là nơi thờ phượng một thi hào thế giới, điểm sáng hội tụ thu hút khách thập phương về hành hương. Hàng năm đến ngày Trung Cửu giỗ ngài, dân lại rộn ràng tổ chức lễ hội. Cả một khúc sông Lam trước đền huyên náo tiếng mái chèo đua bơi chải khua vang trống giong cờ mở, tiếng nói tiếng cười hân hoan… tưng bừng không kém gì tết Đoan Ngọ (5-5 âl) mà nhân dân Trung Hoa dành tưởng niệm nhà đại ái quốc trung trinh Khuất Nguyên trên sông Mịch La, nơi ngài trầm mình tuẫn tiết.
Giờ đây, người dân Ngư Hải rất lấy làm đau xót tưởng nhớ lại ngôi đến Phúc Vị   thân yêu thờ Vương Bột không còn nữa! Ai mà chẳng óan ghét chiến tranh tàn phá và tác nhân con người vì kém hiểu biết hủy hoại đi cái báu vật trời đất linh thiên đã ban cho chúng ta, phải không anh ?
Giọng anh VănTự lắng xuống gợi một niềm thương cảm man mác. Anh ngưng lại, lóng ngóng đưa tay rút khăn lau mồ hôi lấm tấm trên mặt dưới ánh nắng gắt oi nồng. Tự dưng câu thơ Vương Bột thầm thì âm vang lên trong hồn tôi “Gác Đằng cao ngất bãi sông thu”, rồi tiếng thở dài thoát ra từ miệng tôi trước gương mặt lặng lẽ của anh:
“Đằng Vương thuở trước giờ đâu tá ?” 
Anh Văn Tự cũng chạnh lòng bâng quơ::
Vâng “Đằng Vương thuở trước giờ đâu tá?
Chiều 31-8-1992, tôi ghé thăm Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Nghệ Tĩnh giữa lúc toàn Ban chấp hành Hội đang họp khẩn cấp để chia tỉnh. Gặp nhau lâu ngày anh em bắt tay vồn vã vui vẻ. Ông Chủ tịch Xuân Hoài ngưng cuộc họp dành cho khách quý xa mươi  lăm phút. Nhà thơ Thạch Quỳ xởi lởi:
-  Bài VƯƠNG BỘT TỬ NẠN NƠI MÔ ? của anh đăng trên báo Văn Nghệ sô 29 đã làm cho cả hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh xôn xao.Rằng…thì là chúng tôi rất lấy làm xấu hổ vì từ trụ sở Hội đến nơi Vương Bột tử nạn chỉ có 8 km mà chẳng ai hay biết gì cả, trong lúc anh ở tận mãi Sài Gòn tít tắp mù khơi lại tỏ tường đến thế.
Tôi thưa với anh em văn nghệ quê nhà là tôi chẳng có tài cán gì ghê gớm trong việc phát hiện cả. Tình cờ thôi, tôi đi tìm cái nọ thì nẩy ra cái này. Ngờ đâu một bài báo nhỏ khoắng bút vài ba tiếng đồng hồ lại làm kinh động nhân tâm đến thế, hơn cả hàng loạt sách tâm huyết và công phu của tôi đã được in! Theo Biên tập viên báo Văn Nghệ thì Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội được tin này sớm nhất đã phóng xe tới Viện Quan hệ Quốc tế bộ Ngoại giao, bộ Văn hóa, báo Văn Nghệ hỏi thực hư, xong fax về Bắc Kinh. Nhân dân Trung Quốc đã sửng sốt trước sự kiện này chứ không riêng gì hai học giả Giáo sư Lâm Trọng Hàm và nữ Thạc sĩ Nghê Hà Vận sửng sốt. Tôi nói rằng tôi mới ở dưới Cửa Hội làm phóng sự ảnh chobáoVăn Nghệ vừa lên Vinh. Chính quyền xã Nghi Xuân rất cảm kích đã thảo công văn gửi kiến nghị cho bộ Văn hóa, nhờ báo Văn Nghệ đăng công khai - đề nghị trùng tu ngôi đền thờ Vương Bột trên quê hương của họ. Bà con ở dưới Trang bảo việc tái thiết đền Phúc Vị là rất chính đáng. Giới trí thức của địa phương thì tận tình giúp cán bộ khoa Sử trường Đại học Tổng hợp về khảo sát, xác minh. Các cụ ông cụ bà vô cùng hoan hỉ. Họ đón tôi như đón một sứ giả của điều thiện. Anh Nguyễn Công Thiền giáo viên trường cấp 2 Nghi Phú, Nghi Lộc trầm ngâm nói  là nếu anh có đủ vốn anh sẽ xin đăng cai với chính quyền thầu xây ngôi đền làm tụ điểm du lịch văn hoá cho khách bốn phương. Tầm nhìn doanh nghiệp này rất đáng cho sở Văn hóa Nghệ An tham khảo?
Tôi nói:
Vương Bột tử nạn trên xứ mình, bí mật trùm màn đen suốt 13 thế kỷ. Chúng ta đã phát hiện cho Trung Quốc một ngôi mộ tổ sáng giá. Người Tàu là họ rất quý mồ mả tiền nhân. Việc hai nhà Việt Nam học sang ta để lo vụ này đã chứng tỏ điều đó. Bộ Văn hóa của hai nước Việt – Trung nên hiệp đồng chặt chẽ mà lo chung. Văn hóa là linh hồn của mỗi dân tộc. Ánh sáng toả ra từ ngôi đền Vương Bột chính là thứ văn hóa chung đúc độc đáo của hai dân tộc. Hai dân tộc sẽ hiểu nhau, thấm thía nghĩa tình anh em trong những sắc màu của nền văn hóa riêng chung đó. Các bạn ở Hội văn nghệ quê nhà xin cổ súy cho việc này.
- Cổ súy là làm sao ? Nhà thơ Minh Huệ cắt ngang nói.
-  Thưa anh, là viết kỹ về Vương Bột cho thế hệ này và thế hệ sau đừng tái phạm bi kịch phá đền do kém hiểu biết. Tôi nhớ là có một cụ ở Nghi Xuân rầu rầu nói với tôi :”Giá có bài báocủa anh trước thì ai nỡ dám xúc phạm vào nơi tôn nghiêm thờ ngài là chi ! Chúng tôi càng đọc bài đó càng thương ngài và hối hận.!”
Ông Tổng biên tập Thạch Quỳ và Phó Tổng Đặng Văn Ký:
-  Chúng tôi định đăng lại bài bút ký điền dã của  anh trên báo Văn Nghệ tỉnh nhà (4). Xin phép tác giả.
Ngộ tồông ý ngay ! Nhưng coi chừng lỗi morát bài ấy sai quá xá. Còn ảnh thì quý vị quá bộ xuống Cửa Hội mà “nháy” lấy.
(Còn tiếp kỳ sau: [d] Văn nghiệp của Thi hào Vương Bột
[e] Trao đổi về sự kiện VƯƠNG BỘT TỬ NẠN NƠI NÀO ? giữa Thái Doãn Hiểu và Đoàn Nhà văn Trung Quốc.
(1) Lấy những pho sách cổ từ thư viện gia đình 30-8-1991.
(2) Câu này do Kỹ sư Tăng Văn Phiệt, Phó Giám đốc công ty xây lắp điện 2 Xí nghiệp phụ kiện lưới điện Việt Nam từ Thủ Đức - một người nghiên cứu rành về số tử vi chạy đế thảng thốt nói với tôi hôm ở Sài Gòn là anh rút từ quyển Một nghìn hai trăm câu phú tử vi chuyên luận về các kiểu chết các nhân vật nổi tiếng phương Đông.
(3) Xem CHÂN DUNG CÁC NHÀ VĂN QUA GIAI THOẠI(6 tập) của Thái Doãn Hiểu - Tập 1 Chuyện hay nhớ mãi, mục Hoàng Phan Thái từ trang 154-160
(4) Sau đó thì Hội VHNT Nghệ An đã ra một kỷ yếu về Vương Bột với đầu đề THẦN THI VƯƠG BỘT mà bài viết của tôi đăng đầu quyển với vị trí là “cái ngòi pháo”.
[d] VĂN NGHIỆP CỦA THI HÀO VƯƠNG BỘT:
[LỜI DẪN:Thơ Đường hay Đường thi là toàn bộ thơ ca đời Đường được 2.300 nhà thơ người Trung Quốc sáng tác hơn 55.000 bài thơ trong khoảng TK 7 - 10 (618 - 907).
Thơ Đường chia ra làm 4 giai đoạn: 
Sơ Đường (618 - 713), 
Thịnh Đường (713 - 766), 
Trung Đường (766 - 835), 
Vãn Đường (835 - 907).
Thời Sơ Đường, các nhà thơ mệnh danh là "Tứ kiệt" gồm Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương và Vương Bột đã đổi được phần nào phong khí uỷ mị của thơ các triều đại trước.   
Tới Trần Tử Ngang thì có phong trào đổi mới thi ca theo tinh thần phong nhã của "Kinh thi" và "phong cốt Hán Nguỵ", chủ trương làm thơ phải có "kí thác", nghĩa là nói lên tâm tình của mình, ghi lại cảm xúc thật sự của mình trước hiện thực đời sống, bỏ hẳn thơ sắc tình đời Lục triều, và thơ ca công tụng đức, thơ ứng chế của một số nhà thơ đầu đời Đường như Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn.      
Các nhà thơ sau Trần Tử Ngang làm thơ "kí thác" đều theo 2 khuynh hướng chính là trữ tình, lãng mạn, hoặc hiện thực xã hội. Ba đại biểu lớn là Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.    
Màu sắc phong cách của các nhà thơ đời Đường rất khác nhau, tuỳ người sáng tác theo đạo Nho, đạo Phậthoặc theo Lão Trang.
Thơ Đường có loại thơ như sau: "biên tái" (Cao Thích, Sầm Tham), thơ "điền viên" (Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên), thơ "tân nhạc phủ" (Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn), thơ "chính nhạc phủ" đời Vãn Đường (Bì Nhật Hưu, Đỗ Tuấn Hạc) và theo khuynh hướng hiện thực (Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị).         
Các nhà thơ sáng tác theo 3 thể chính: thơ luật Đường, thơ Cổ phong và Nhạc Phủ         .
Những bài thơ hay nhất của Lý Bạch là thơ nhạc phủ và các bài cổ phong thích hợp với phong cách phóng túng của ông.
Đỗ Phủ thì dùng thể cổ phong khi làm thơ hiện thực và dùng thể luật thi khi làm thơ trữ tình         .
Về nội dung cũng như về nghệ thuật, khó tìm được những đặc điểm chung cho bấy nhiêu nhà thơ, sống ở nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tư tưởng sở thích cũng khác nhau. Nhưng về ngôn ngữ, thơ Đường tinh luyện, súc tích, chọn lọc, âm điệu hài hoà, đa dạng, phong phú. Các nhà thơ Đường không nói hết ý mình khi làm thơ, đó là một cách làm cho người đọc cùng tham gia với nhà thơ trong việc thưởng thức bài thơ. Đời Đường được xem là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc thời phong kiến. Và người nước ngoài thường chỉ biết ba Đại thi hào đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị’, ít khi biết được sơ  Đường tứ kiệt – người tiên phong khai sơn phá thạch cho nền thơ trác việt này, đến nay vẫn là đỉnh cao của văn hóa nhân loại mà không một nền thơ nào trên thế giới vượt được nó.
Một trong bốn nhà thơ kiệt xuất đó là Vương Bột
Trước tác còn lại của Vương Bột là bộ sách 16 quyển Vương Tử An tập (Tác phẩm của Vương Tử An), gồm sách biên khảo văn sử triết - viết  từ tài liệu sưu tầm của ông nội Vương Thông (2) và  nổi bật nhất là thơ            .
Bài văn nổi tiếng của ông là Đằng Vương Các Tự. Các tác phẩm lớn khác của Vương Bột trong bộ Vương Tử An tập có:
Hán Thư Chỉ Hà (10 quyển)
Chu Dịch Phát Huy (5 quyển)
Thứ Luận Ngữ (10 quyển)
Chu Trung Toản Tự (5 quyển)
Thiên Tuế Lịch 
Tất cả các tác phẩm trên đều bị thất bản.
Vương Bột tự Tử An, người đất Long Môn. Sáu tuổi đã biết làm văn.  Mười sáu, mười bảy tuổi nổi danh hạ bút nên vần. Vương có thói quen là mỗi khi làm văn, mài mực sửa soạn bút nghiên xong rồi nằm đắp chăn ngủ, khi tỉnh dậy, cầm ngay cây bút lên viết một loạt nên vần.
Chúng tôi xin trích dẫn dưới đây khoảng một chục bài thơ của Vương Bột để bạn đọc hình dung sáng rõ tài thơ thần đồng của người:
Đằng Vương các tự
Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ.
Tinh phân Dực Chẩn, địa tiếp Hành Lư.
Khâm tam giang nhi đới ngũ hồ, khống Man Kinh nhi dẫn Âu Việt.
Vật hoa thiên bảo, long quang xạ Ngưu Đẩu chi khư;
Nhân kiệt địa linh, Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp.
Hùng châu vụ liệt, tuấn thái tinh trì,
Đài hoàng chẩm Di Hạ chi giao, tân chủ tận đông nam chi mỹ.
Đô đốc Diêm công chi nhã vọng, khể kích dao lâm;
Vũ Văn tân châu chi ý phạm, xiêm duy tạm trú.
Thập tuần hưu hạ, thắng hữu như vân;
Thiên lý phùng nghinh, cao bằng mãn toạ.
Đằng giao khởi phụng, Mạnh học sĩ chi từ tông;
Tử điện thanh sương, Vương tướng quân chi võ khố.
Gia quân tác tể, lộ xuất danh khu;
Đồng tử hà tri, cung phùng thắng tiễn.
Thời duy cửu nguyệt, tự thuộc tam thu.
Lạo thuỷ tận nhi hàn đàm thanh, yên quang ngưng nhi mộ sơn tử.
Nghiễm tham phi ư thượng lộ, phỏng phong cảnh vu sùng a.
Lâm đế tử chi Trường Châu, đắc tiên nhân chi cựu quán.
Tằng đài tủng thuý, thượng xuất trùng tiêu;
Phi các lưu đan, hạ lâm vô địa.
Hạc đinh phù chử, cùng đảo tự chi oanh hồi;
Quế điện lan cung, liệt cương loan chi thể thế.
Phi tú thát, phủ điêu manh,
Sơn nguyên khoáng kỳ doanh thị, xuyên trạch hu kỳ hãi chúc.
Lư diêm phác địa, chung minh đỉnh thực chi gia;
Khả hạm mê tân, thanh tước hoàng long chi trục.
Hồng tiêu vũ tễ, thái triệt vân cù.
Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.
Ngư chu xướng vãn, hưởng cùng Bành Lễ chi tân;
Nhạn trận kinh hàn, thanh đoạn Hành Dương chi phố.
Dao khâm phủ sướng, dật hứng thuyên phi.
Sảng lại phát nhi thanh phong sinh, tiêm ca ngưng nhi bạch vân át.
Kỳ Viên lục trúc, khí lăng Bành Trạch chi tôn;
Nghiệp thuỷ châu hoa, quang chiếu Lâm Xuyên chi bút.
Tứ mỹ cụ, nhị nan tinh.
Cùng thê miện vu trung thiên, cực ngu du ư hạ nhật.
Thiên cao địa huýnh, giác vũ trụ chi vô cùng;
Hứng tận bi lai, thức doanh hư chi hữu số.
Vọng Trường An vu nhật hạ, chỉ Ngô Hội ư vân gian.
Địa thế cực nhi nam minh thâm, thiên trụ cao nhi bắc thần viễn.
Quan san nan việt, thuỳ bi thất lộ chi nhân ?
Bình thuỷ tương phùng, tận thị tha hương chi khách.
Hoài đế hôn nhi bất kiến, phụng Tuyên thất dĩ hà niên ?
Ta hồ!

Thời vận bất tế, mệnh đồ đa suyễn.
Phùng Đường dị lão, Lý Quảng nan phong.
Khuất Giả Nghị vu Trường Sa, phi vô thánh chủ;
Thoán Lương Hồng vu Hải Khúc, khởi phạp minh thời.
Sở lại quân tử an bần, đạt nhân tri mệnh.
Lão đương ích tráng, ninh tri bạch thủ chi tâm?
Cùng thả ích kiên, bất truỵ thanh vân chi chí.
Chước Tham tuyền nhi giác sảng, xử hạc triệt dĩ do hoan.
Bắc hải tuy xa, phù dao khả tiếp;
Đông ngung dĩ thệ, tang du phi vãn.
Mạnh Thường cao khiết, không hoài báo quốc chi tâm;
Nguyễn Tịch xướng cuồng, khởi hiệu cùng đồ chi khốc!
Bột tam xích vi mệnh, nhất giới thư sinh.
Vô lộ thỉnh anh, đẳng Chung Quân chi nhược quán;
Hữu hoài đầu bút, mộ Tông Xác chi trường phong.
Xả trâm hốt ư bách linh, phụng thần hôn ư vạn lý.
Phi Tạ gia chi bảo thụ, tiếp Mạnh thị chi phương lân.
Tha nhật xu đình, thao bồi Lý đối;
Kim thần phủng duệ, hỉ thác Long môn.
Dương Ý bất phùng, phủ Lăng vân nhi tự tích;
Chung Kỳ ký ngộ, tấu lưu thuỷ dĩ hà tàm ?
Ô hô!
Thắng địa bất thường, thịnh diên nan tái.
Lan Đình dĩ hĩ, Tử Trạch khâu khư.
Lâm biệt tặng ngôn, hạnh thừa ân ư vĩ tiễn;
Đăng cao tác phú, thị sở vọng ư quần công.
Cảm kiệt bỉ thành, cung sơ đoản dẫn.
Nhất ngôn quân phú, tứ vận câu thành.
Thỉnh sái Phan giang, các khuynh lục hải vân nhĩ.
Đằng Vương cao các lâm giang chử,
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ.
Hoạ đống triêu phi Nam Phố vân,
Châu liêm mộ quyển Tây Sơn vũ.
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di kỷ độ thu.
Các trung đế tử kim hà tại ?
Hạm ngoại trường giang không tự lưu.
Bài tựa về gác Đằng Vương
(Đây là) quận cũ Nam Xương; phủ mới Hồng Đô.
Sao chia ngôi Dực, ngôi Chẩn; đất nối núi Hành, núi Lư.
Như cổ áo của ba sông, vòng đai của năm hồ; khuất phục đất Man Kinh, tiếp dẫn miền Âu Việt.
Vẻ rực rỡ của vật chính là đồ quý báu của trời; ánh sáng vằn rồng chiếu lên khu vực sao Đẩu sao Ngưu.
Bậc hào kiệt nơi người do khí linh tú của đất mà có; nhà cao sĩ Từ Trĩ hạ chiếc giường treo của Trần Phồn.
Chốn hùng châu như sương mù giải giăng; nguời anh tuấn như ngôi sao rong ruổi.
Đài, hào nằm gối lên giao giới vùng Di, Hạ; khách, chủ đều là những vẻ đẹp miền đông, nam.
Tiếng tăm tốt của đô đốc Diêm Bá Tự cùng với những khải kích đi đến miền xa.
Quan thái thú Vũ Văn Quân, là mô phạm của châu mới, tạm dừng xe tại chốn này.
Mười tuần nhàn rỗi, bạn tốt như mây.
Ngàn dặm đón chào, bạn hiền đầy chỗ.
Giao long vượt cao, phụng hoàng nổi dậy, đó là tài hoa của Mạnh học sĩ, ông tổ của từ chương.
Tia chớp tía, hạt sương trong, đó là tiết tháo của Vương tướng quân, nhà cai quản võ khố.
Nhân gia quân làm quan tể tại Giao Châu, tôi đi thăm miền nổi tiếng đó.
Kẻ đồng tử này đâu biết có việc chi, hân hạnh gặp buổi tiệc linh đình.
Lúc này đương là tháng chín, thuộc về ba thu.
Nước rãnh cạn, đầm lạch trong; ánh khói đọng, núi chiều tia.
Trông ngựa xe trên đường cái; hỏi phong cảnh nơi gò cao.
Đến miền Trường Châu của đế tử; tìm được quán cũ của người tiên.
Núi non cao biếc, nhô khỏi lớp mây; bóng gác bay, màu son chày, dưới không sát đất.

Bến hạc, bãi phù quanh co đến tận đảo cồn; điện quế, cung lan bày ra cái thể thế của núi non.
Mở rộng cửa tô; cúi xem cột chạm.
Đồng núi trông rộng khắp; sông đầm nhìn hãi kinh.
Cửa ngõ giăng mặt đất, đó là những nhà rung chuông, bày vạc.
Thuyền bè chật bến sông, trục vẽ chim sẻ xanh, rồng vàng.
Cầu vồng tan, cơn mưa tạnh; vẻ rực sáng, suốt đường mây.
Ráng chiều rơi xuống, cùng cái cò đơn chiếc đều bay; làn nước sông thu với bầu trời kéo dài một sắc.
Thuyền câu hát ban chiều, tiếng vang đến bến Bành Lễ.
Bầy nhạn kinh giá rét, tiếng kêu dứt bờ Hành Dương.
Khúc ngâm xa xôi sảng khoái; hứng thú phiêu dật bay nhanh.
Tiếng vui phát sinh, gió mát nổi dậy; ca nhẹ lắng chìm, mây trắng lưu lại.
Tre lục vườn Kỳ, khí lan chén rượu Bành Trạch.
Sắc đỏ sông Nghiệp, ánh soi ngọn bút Lâm Xuyên.
Sẵn bốn điều hay; đủ hai bậc tốt.
Ngắm trông khắp cả khoảng trời; vui chơi hết ngày nhàn rỗi.
Trời cao, đất xa, biết vũ trụ rộng vô cùng.
Hứng hết, buồn về, hiểu đầy vơi là có số.
Trông Trường An dưới mặt trời; trỏ Ngô Hội trong khoảng mây.
Thế đất tận cùng, biển Nam sâu thẳm; cột trời cao ngất, sao Bắc xa xôi.
Quan san khó vượt, nào ai sót thương người lạc lối ?
Bèo nước gặp nhau, hết thảy đều là khách tha hương.
Tưởng nhớ chốn cửa vua, không trông thấy được; phụng chiếu nơi Tuyên Thất, chẳng biết năm nào.
Than ôi!
Thời vận chẳng bình thường; đường đời nhiều ngang trái.
Phùng Đường dễ thành già cả; Lý Quảng khó được phong hầu.
Giả Nghị bị khuất nơi Trường Sa, chẳng phải không vua hiền thánh.
Lương Hồng phái náu miền Hải Khúc, đâu có thiếu thời quang minh.
Nhờ được: người quân tử vui cảnh nghèo; bậc đạt nhân biết rõ mệnh.
Tuổi già càng phải mạnh hơn, nên hiểu lòng ông đầu bạc.
Lúc cùng hãy nên thêm vững, không rớt chí đường mây xanh.
Uống nước suối Tham, lòng vẫn sáng; ở nơi cùng khổ, bụng còn vui.
Biển bắc tuy xa xôi, nhưng cưỡi gió có thể đi tới.
Đã để trôi qua lúc mặt trời mọc ở phương đông, nhưng khi bóng lặn khóm tang du, phải đâu đã muộn.
Mạnh Thường thanh cao, vẫn mang tấm lòng báo quốc.
Nguyễn Tịch rồ dại, há bắt chước tiếng khóc đường cùng.
Bột này là đứa nhỏ cao ba thước, một gã học trò.
Không có đường xin dải dây dài, như tuổi niên thiếu của Chung Quân.
Nhưng có hoài bão vứt cây bút, yêu mến cơn gió dài của Tông Xác.
Bỏ rơi trâm hốt ở trăm năm; theo việc thần hôn ngoài vạn dặm.
Tuy không phải là cây báu nhà họ Tạ; nhưng được ở gần hàng xóm tốt của họ Mạnh.
Ngày sau, tôi sẽ rảo bước trước sân, lạm phụ thêm lời đối đáp của ông Lý.
Sớm nay, nâng tay áo, vui mừng được gửi gắm họ tên tại cổng rồng.
Không còn được gặp Dương Ý, nên đọc thiên lăng vân mà tự tiếc.
Nhưng đã gặp Chung Kỳ, thì tấu khúc lưu thuỷ có hổ thẹn gì.
Than ôi!
Chốn danh thắng chẳng thường tồn tại; bữa tiệc lớn khó gặp hai lần.
Lan Đình còn đâu nữa, Tử Trạch thành gò hoang.
Hân hạnh được thừa ân Diêm công trong bữa tiệc vĩ đại này, tôi viết lời tặng khi lâm biệt.
Còn như lên cao làm phú, đó là việc mong mỏi nơi các ông.
Xin dốc lòng thành quê kệch; cung kính làm bài tự ngắn.
Trước ngỏ một lời, sau bày tình ý; đồng thời bốn vận đều xong.
Mời rảy nước sông Phan, cùng làm cho nghiêng mây trong đất liền lẫn mây ngoài biển vậy.
Bên sông, đây gác Đằng Vương.
Múa ca đã tắt, ngọc vàng nào ai ?
Cột rồng Nam Phố mây bay.
Rèm châu mưa cuốn ngàn Tây, sớm chiều.
In đầm, mây vẩn vơ trôi.
Tang thương vật đổi, sao dời mấy thâu.
Đằng vương trong gác giờ đâu ?
Trường Giang nước vẫn chảy mau mé ngoài.
                                  Trần Trọng San dịch
                Trường Giang nước vẫn chảy mau mé ngoài.
Bản dịch thơ của Mai Lăng:
Trước Nam Xương sau Hồng Đô phủ,
Đối Ngũ Hồ hội tụ ba sông.
Nam Kinh chắn, Âu Việt thông,
Sao chia Dực Chẩn, đất vòng Hành Lư.
Đây cảnh sắc đẹp như thiên bảo,
Ánh rồng bay sao Đẩu sao Ngâu,
Địa linh nhân kiệt từ lâu,
Nhà trên Tử Trĩ, giường đâu Trần Phồn.
Đất Hùng Châu sương dồn móc dội,
Trang tuấn tài dong ruổi như sao.
Đài mương Di Hạ liền giao,
Yêu kiều khách chủ trải vào đông nam.
Đô đốc Diêm, đã nhàm tiếng tốt,
Hành quân xa, kích buộc nơ hồng.
Tân quan mô phạm Vũ công,
Áo khăn thân khoát, xe rông chỗ này.
Mười tuần rảnh, bạn tày mây rỡ,
Đón dặm ngàn, khắp chỗ bạn thân.
Phụng giao cao vượt đằng vân
Ấy tài họ Mạnh bút vần từ chương.
Lằng sét tía, màn sương trong tỏ,
Như tiết Vương, vũ khố quản cai.
Gia quân chúa tể cõi ngoài,
Đất thiêng, nhân vượt đường dài thử qua
Gặp tiệc đây, nào ta hay biết,
Tháng chin giờ, vào tiết ba thu.
Non chiều tía khí âm u,
Sắc trong hồ lạnh, rạch khu cạn dần.
Cảnh gò cao ngựa rần xe vượt,
Đất con vua tìm được quán tiên.
Cao xanh đài lớp lớp liền,
Vươn mình đâm thẳng tới miền không trung.
Bóng gác bay, linh lung đỏ ối,
Tỏa lửng lưng, chẳng tới đất bằng.
Bến cò bến vịt thênh thang,
Uốn quanh đảo lớn, kéo sang bãi cồn
Hình thể núi, cung lan điện quế,
Mở cửa thêu, xem vẻ kèo hoa.
Núi đồng nhìn rộng bao la,
Sông đầm mắt mở thấy mà hãi sao.
Đầy mặt đất, biết bao cổng ngõ,
Ấy những nhà, chuông gõ bữa ãn,
Thuyền to thuyền nhỏ bến giăng,
Rồng vàng sẻ biếc trục lăn vẽ vời.
Cầu vồng biến, mưa thời đã dứt,
Thấu đến cùng, sáng rực đường mây.
Ráng chiều cò lẻ cùng bay,
Nước thu trời rộng là đây, một màu.
Chiều thuyền cá, lâu lâu vẳng hát,
Tiếng hát đưa phảng phát bến Bành.
Nhạn bầy sợ lạnh chao quanh,
Tiếng kêu đứt đoạn trên thành Hành Dương.
Buông vạt áo, lòng vương vấn lạ,
Hứng khởi lên nhàn hạ biết bao.
Tiếng vui gió mát lao xao,
Đứng yên mây trắng đọng vào lời ca.
Vườn Kỳ Viên, trúc pha xanh ngát,
Rượu xứ Bành, khí nhạt lan dần.
Rắc lên sông Nghiệp đỏ rần,
Rực lên tia sáng bút thần Lâm Xuyên.
Bốn điều tốt, cảnh thiên tâm sự,
Thảy điều lành, khách chủ hai ngôi.
Mắt trông khắp cả vùng trời,
Tột cùng vui vẻ, cuộc chơi cả ngày.
Trời cao thâm, đất dày tột bậc,
Vũ trụ hay, rằng thật vô ngần.
Vui đi buồn lại đến gần,

Đầy vơi mới biết có phần số thôi.
Ngóng Trường An , gầm trời lưng lửng,
Hướng về Ngô, mây lững thững bay.
Địa hình vô tận là đây,
Biển nam, sao bắc trụ bày trời xa.
Quan san hiểm, vượt qua không thể,
Ai xót thương, cho kẻ lạc miền.
Tha hương bèo bọt có duyên,
Cửa Vua không thấy, lầu Tuyên năm nào.
Không thời vận, đường bao trắc trở,
Phùng dễ già, Lý khó phong hầu.
Trường Sa Gỉa Nghị nằm lâu,
Chúa hiền vua thánh, phải đâu không còn.
Cảnh Lưu Hồng mỏi mòn Hải Khúc,
Há đâu là chẳng lúc minh quân,
Chẳng qua quân tử an bần,
Tận tường số mệnh, đạt nhân ấy mà.
Phải mạnh lên lúc đà có tuổi,
Nên hiểu lòng cho lão tóc sương.
Lúc cùng càng phải kiên cường,
Không nên làm lỡ bước đường mây xanh.
Uống suối Tham, tâm sanh sáng láng,
Nơi khốn cùng lại đáng hân hoan,
Biển bắc xa, cỡi gió sang,
Mé đông đã khuất, cành tang chẳng chầy.
Lòng báo quốc, Mạnh đây cao khiết,
Khóc đường cùng, Nguyễn tiết há dây.
Thư sinh ba thước Bột này,
Chẳng xin dây chắc, chẳng tày Chung Quân.
Vung đầu bút, bao lần mong ước,
Cỡi gió dài, Tông Xác mến thôi.
Trăm năm trâm hốt bỏ rồi,
Dặm muôn công việc hôm mai theo đà.
Cây báu Tạ, tuy là khôn sánh,
Cũng được luôn họ Mạnh cận kề.
Ngày sau, sân rảo bước về,
Chắp thêm lời đối, trọn bề Lý Ngư.
Áo long môn, sáng chừ vui gởi,
Chẳng gặp Dương, tiếc bởi Lăng Vân.
Chung Kỳ gặp lại nên gần,
Tấu chơi Lưu Thủy còn ngần ngại chi.
Nơi danh thắng, dễ gì tồn tại,
Cuộc tiệc sang, có lại được đâu.
Lan Đình mai một từ lâu,
Còn vườn Tử Trạch ra màu gò hoang.
Lúc biệt ly, đôi hàng nay tặng,
Hân hạnh thay ! ơn nặng tiễn đưa.
Lên cao đặt phú làm thơ,
Đấy là công việc cậy nhờ quý ông.
Ngắn ý quê, hết lòng kính cẩn,
Phú một bài, bốn vận nên rồi.
Sông Phan rẩy nước xin mời,
Nghiêng mây từ đất tận trời biển đông.
Gác Đằng Vương, bên sông cao nóc,
Hết múa ca, tiếng ngọc phôi phai.
Cột hoa Nam Phố mây mai,
Rèm châu chiều cuốn, non đoài hạt rơi.
Trải mấy thu, sao dời vật đổi,
Mây ánh đầm, ngày dõi lửng lơ.
Gác đây, đế tử đâu giờ,
Trường Giang vẫn chảy hững hờ ngoài hiên.
Bản dịch thơ của Đinh Vũ Ngọc
Phụng Hà:
Nam Xương quận cũ
Phủ mới Hồng Đô
Sao trời Dực, Chẩn chia ngôi
Hành, Lư hai núi tiếp đôi hai miền
Có năm hồ nối liền Âu Việt
Có ba sông vây siết Kinh Man
Báu trời hoa vật rõ ràng
Ánh rồng rực chiếu huy hoàng Đấu, Ngưu.
Đất linh thiêng nên người tài trí
Giường Trần Phồn, Từ Trĩ hạ xong
Hùng châu sương phủ
Tinh tú ruổi dong
Đài hào Di, Hạ gối lòng
Khách, chủ sáng đẹp vàng ròng Đông nam
Diêm đô đốc vốn trang thanh lịch
Tiếng tăm theo khải kích vang lừng.
Uy nghi Thái thú Văn Quân
Gương mẫu châu mới tạm dừng xe đây
Mười tuần nhàn rỗi
Bạn tốt như mây
Vạn dặm đón nhau
Khách hiền chật ghế
Mạnh học sĩ tài hoa trăm vẻ
Nguồn văn chương phượng múa rồng bay
Vương tướng quân thao lược đủ đầy
Kho võ khí sương thanh chớp tía
Thăm cha làm quan tể
Nên đất lành tìm đi
Tuổi trẻ biết chi
Được hầu yến tiệc
Tháng chín theo thời tiết
Tháng thứ ba thu tàn
Mương rảnh khô khan
Nước đầm trong lạnh
Ảnh khói đọng
Núi chiều hồng
Ngựa xe đường cái ngắm trông
Gò cao dừng lại hỏi phong cảnh nầy
Bãi trường đế tử còn đây
Tìm ra được quán Tiên ngày xưa xa
Tầng tầng cao ngất
Trên mây phủ la đà
Son chảy gác bay
Dưới lìa xa đất lạnh
Bến Hạc, bãi Phủ cồn đảo bọc
Cung Lan, điện Quế núi non che
Vừa mở rộng màn the
Đã phô bày cảnh vật
Núi đồng trải, tầm nhìn ngây ngất
Sông đầm sâu, ánh mắt kinh hoàng
Dinh thự dựng nghênh ngang
Nhà chuông rung vạc đặt
Thuyền bè neo tấp nập
Trục sẻ xanh rồng vàng 
Nào ai thương kẻ bôn ba lạc đường?
Chừ đây bèo nước tương phùng
Cũng đều là khách tha hương xa nhà
Tưởng nhớ chốn cửa vua
Khó mà trông thấy được
Phụng chiếu nơi Tuyên Thất
Chẳng biết đến năm nào
Ô hô!
Thời vận đổi thay sao !
Đường đời nhiều điên đảo
Phùng Đường dễ già lão
Lý Quảng khó phong hầu.
Trường Sa, Giả Nghị chịu đày
Há chẳng phải là vua hiền thánh?
Biếm Lương Hồng nơi biển lạnh
Há chẳng phải thiếu thời quang minh?
Nhờ được
Quân tử vui nghèo
Đạt nhân rõ mệnh
Tuổi già cả càng nên vững mạnh
Xin hiểu lòng ông lão bạc đầu!
Lúc khốn cùng vẫn cứ kiên cường
Không nhụt chí trên đường mây biếc
Dẫu uống nước suối Tham

Sáng trong còn phân biệt
Dẫu sống nơi rãnh cạn
Gò bó vẫn an vui
Biển Bắc tuy xa xôi
Gió cao còn tới được
Vừng Đông dù xế khuyết
Bãi dâu chẳng mất nào
Mạnh Thường đó thanh cao
Cũng dạt dào tấm lòng cứu nước
Nguyễn Tịch kia cuồng ngược
Há nỉ non tiếng khóc đường cùng
Bột này ba thước thân hình
Chỉ là gã thư sinh bé dại
Không đường xin dây dài một sãi
Như Chung Quân trai trẻ thuở nào
Gác bút, lòng những ước ao
Cuối ngọn gió dài Tông Xác
Cõi trăm năm bỏ rơi trâm hốt
Việc sớm chiều ngoài vạn dặm lo xa
Không là cây báu Tạ gia
Cũng cùng hàng xóm Mạnh bà gần nhau
Trước sân rảo bước ngày sau
Sánh cùng ông Lý góp câu luận bàn
Sáng nay, tay áo gọn gàng
Gởi tên lên trước cửa Rồng, mừng thay!
Không cùng Dương Ý gặp nhau
Thiên Lăng Vân đọc tiếc đau cả lòng
Chung Kỳ gặp gỡ nhau xong
Tấu khúc Lưu Thuỷ còn mong chờ gì?
Than ôi!
Chốn danh thắng mấy khi còn mãi
Tiệc vui không trở lại bao giờ
Lan đình chữ đã hoang sơ
Bãi cồn Tử Trạch trơ vơ tháng ngày
Mấy lời viết lúc chia tay
Xin kính thừa ân Diêm chủ
Còn như lên cao làm phú 
Kính mong ở phần quý ngài
Tình cảm đơn sai
Viết bài tựa ngắn
Một lời vừa bén
Bốn vận xin hầu:
Gác Đằng cao ngất bên sông sâu
Múa hát đàn ca vắng bấy lâu
Nam phố mây mai in cột chạm
Tây sơn mưa xế cuốn rèm châu
Mây trôi đầm lặng soi bao thuở
Vật đổi sao dời trải mấy thâu
Trong gác con vua đâu vắng bóng?
Hiên ngoài sông nước vẫn trôi mau.
Đồng Tước kỹ kỳ 1
Kim Phượng lân Đồng Tước,
Chương hà vọng Nghiệp thành.
Quân vương vô xứ sở,
Đài tạ nhược bình sinh.
Vũ tịch phân hà tựu,
Ca lương nghiễm vị khuynh.
Tây lăng tùng giả lãnh,
Thùy kiến ỷ la tình.
Dịch thơ:
Lầu Kim Phượng cạnh đài Đồng Tước
Đầu sông Chương mãi hướng Nghiệp thành
Thấy đâu động tỉnh quân vương
Đài xưa còn ủ những thương yêu vì
Tiệc rượu múa lắm khi trước đã
Cầu xướng ca chưa ngã chưa nghiêng
Đồi tây lạnh lẽo mấy miền
Những người áo lụa niềm riêng một thì.
           Phan Lang dịch
Đồng Tước kỹ kỳ 2
Thiếp bản thâm cung kỹ,
Tằng Thành bế cửu trùng.
Quân vương hoan ái tận,
Ca vũ vị thùy dung.
Cẩm khâm bất phục tị,
La y thùy tái phùng.
Cao đài tây bắc vọng,
Lưu thế hướng thanh tùng.
Dịch thơ:
Thâm cung em vốn là ca kỹ
Khóa cổng Tằng Thành luỹ chín tầng
Quân vương tình giảm mười phần
Sửa sang dáng dấp mà gần được ai
Áo gấm kia đâu còn đẹp mãi
Nọ lụa là có phải may thêm ?
Đài cao tây bắc lạnh lùng
Lệ em chảy đến đám tùng trơ xanh
                       Phan Lang dịch
Tư quy 
Trường Giang bi dĩ trệ
Vạn lý niệm tương qui
Hướng phục cao phong vãn
Sơn sơn hoàng diệp phi
Dịch nghĩa:
Nghĩ lúc trở về
Nỗi thương đau đã lắng đọng trên sông Trường Giang.
Ở nơi xa muôn dặm mong nhớ lúc trở về.
Huống chi lúc chiều tà, có cơn gió thổi lồng lộng
Lá vàng tung bay trên núi non trùng điệp
Dịch thơ: 
Trường Giang sầu lắng trong lòng
Đường xa muôn dặm nhớ mong ngày về
Chiều buông gió lộng lê thê
Lá vàng quanh núi bốn bề tung bay
     Hải Đà dịch 
Giang Nam lộng
Giang Nam lộng,
Vu Sơn liên Sở mộng,
Hành vũ hành vân kỷ tương tống.
Dao hiên kim ốc thượng xuân thì,
Ngọc đồng tiên nữ vô kiến kỳ.
Tử lộ hương yên diểu nan thác,
Thanh phong minh nguyệt dao tương tư.
Dao tương tư, thảo đồ lục.
Dịch thơ:
Giang Nam lộng
Giang Nam đùa dở
Vu Sơn nối liền mộng Sở
Tiếp tiếp mây mưa chia tay mấy độ
Hiên ngọc nhà vàng xuần đế rộ
Tiên nữ ngọc đồng không kỳ hẹn ước
Sương thơm khói biếc khó mong
Gió đông trăng bạc mơ mòng nhớ nhau
Mơ mòng nhớ nhau, đường xanh cỏ biếc một màu.
        Phan Lang dịch
Ky xuân
Khách tâm thiên lý quyện,
Xuân sự nhất triêu quy.
Hoàn thương bắc viên lý,
Trùng kiến lạc hoa phi.
Dịch thơ:
Giữ xuân
Lòng khách ngàn dặm mỏi
Ánh xuân về sớm nay
Thương tâm trong vườn bắc
Lại thấy bóng hoa bay.
       Hồng Hà dịch
Lạc hoa lạc
Lạc hoa lạc, lạc hoa phân mạc mạc.
Lục diệp thanh phu ánh đan ngạc,
Dữ quân bồi hồi thượng kim hợp.
Ảnh phất trang giai đại mạo diên,
Hương phiêu vũ quán thù du mạc.
Lạc hoa phi, liêu loạn nhập trung duy.
Lạc hoa xuân chính mãn,
Xuân nhân quy bất quy.
Dịch thơ:
Hoa tàn rụng
Hoa tàn rụng, hoa tàn rụng cánh bay tung
Lá xanh cuống lục ánh hồng đài hoa
Bồi hồi dưới bóng vàng pha
Tiếng hoa phảng phất thềm xà cừ ru
Hương thơm trướng múa thù du
Hoa bay, bay nhập mịt mù màn vây
Một mùa xuân chín tràn đầy
Người xuân hứa đến mà nay không về.
               Phan Lang dịch
Phổ An Kiếm Âm đề bích
Giang Hán thâm vô cực,
Lương Mân bất khả phan.
Sơn xuyên vân vụ lý,
Du tử kỷ thời hoàn?
Dịch thơ:
Đề vách núi Kiếm Âm ở Phổ An
Giang Hán tin không đến
Lương Mân vào khó ghê
Mây mù sông núi hiểm
Du tử lúc nao về ?
      Nguyễn Hà dịch
Tống Đỗ thiếu phủ chi nhậm Thục Xuyên
Thành khuyết phụ Tam Tần,
Phong yên vọng Ngũ tân.
Dữ quân ly biệt ý,
Ðồng thị hoạn du nhân.
Hải nội tồn tri kỷ,
Thiên nhai nhược tỉ lân.
Vô vi tại kỳ lộ,
Nhi nữ cộng triêm cân.
Dịch xuôi:
Tiễn Đỗ Thiếu phủ nhậm chức ở Thục Xuyên
Quan thiếu phủ họ Đỗ đi làm việc ở Thục Xuyên
Từ kinh thành ra che phủ cho xứ Tam Tần
Trông miền Ngũ Tân trong sương gió mịt mù
Tôi cùng ông đều có cái tình ý biệt ly
(Vì) đều có những kẻ làm quan trôi nổi nơi xa xôi
Trong bốn biển vẫn còn người tri kỉ
Thì ở góc trời xa vẫn gần gũi như bên cạnh
Ở ngõ rẽ thôi đừng làm
Như người con gái khóc ướt cả khăn
Dịch Thơ:
Kinh khuyết giữ Tam Tần
Gió mây ngóng ngũ tân
Cùng lênh đênh bể hoạn
Nên bịn rịn đưa chân
Bốn bể còn tri kỷ
Góc trời vẫn thiết thân
Đừng như nhi nữ nhé
Lối rẽ lệ dầm khăn
      KD
Biệt nhân kỳ 2
Giang thượng phong yên tích
Sơn u vân hạ đa
Tống quân Nam phố ngoại
Hoàn vọng tượng như hài.
Dịch thơ: 
Chia tay người kỳ 2
Núi thẳm mây mù đọng,
Sông dài khói sóng bao.
Tiễn anh rời Nam Phố, 
Dõi mắt biết làm sao!
  Cao Tự Thanh dịch
Thánh Tuyền Yến
Phi khâm thừa thạch đắng
Liệt tịch phủ xuân tuyền
Lan khí huân sơn chước
tùng thanh vận dã huyền
Ảnh phiêu thùy diệp ngoại
Hương độ lạc hoa tiền
Hứng cấp lâm đường vãn
Trùng nham khởi tịch yên 
Dịch xuôi
Dự tiệc ở Thánh Tuyền
Dự tiệc ở đình Thánh tuyền
Vén áo ngồi lên chiếc ghế đá
Người trong bàn tiệc cúi xem suối xuân
Mùi thơm hoa lan quyện vào rượu núi
Tiếng gió thông hoà với khúc nhạc quê
Hình bóng phơ phất ngoài lá rũ
Hương bay qua trước hoa rơi
Rừng suối về chiều càng thêm hứng thú
Khói hoàng hôn bay lèn trong các lớp núi
Dịch thơ:

Vén áo ngồi lên đá
Cúi đầu ngó xuống khe
Lan hoà thơm rượu núi
Thông quyện tiếng đàn quê
Lá rũ hình lay động
Hoa rơi hương thoảng về
Rừng chiều thêm thi vị
Dâng khói mờ sơn khê
Thục Trung Cửu Nhật
Cửu nguyệt cửu nhật vọng hương đài
Tha tịch tha hương tống khách bôi
Nhân tình dĩ yếm nam trung khổ
Hồng nhạn na tòng bắc địa lai
Dịch xuôi
Ngày trùng cửu ở xứ Thục
Ngày mùng chín tháng chín (lên) đài trông quê
Chiều nào ở nơi đất khách nâng chén tiễn người đi
Tình đời đã chán chường nỗi khổ chốn Nam trung
Chim hồng nhạn từ cõi bắc còn đến đây làm gì ?
Dịch thơ:
Trùng cửu lên đài ngóng quê hương
Xứ lạ, rượu sầu tiễn người đi
Chán chường, thân khổ, Nam trung xứ
Đất bắc Nhạn hồng đến mà chi ?
[d] TRAO ĐỔI VỀ SỰ KIỆN “VƯƠNG BỘT TỬ NẠN NƠI NÀO ?” 
GIỮA HỌC GIẢ THÁI DOÃN HIỂU VÀ ĐOÀN NHÀ VĂN TRUNG QUỐC.
(Tường thuật của pv báo Văn Nghệ đăng trên số 47 ra ngày 20-11-1993)
Sáng 2-10-1993, Đoàn Nhà văn Trung Quốc gồm 5 nhà văn đang ở thăm nước ta do ông Trịnh Bá Nông – Bí thư Đảng Đoàn Hội Nhà văn Trung Quốc, Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Trung Quốc dẫn đầu đến thăm Văn phòng thường trực các tỉnh miền Nam của tuần báo Văn Nghệ, 43 Đồng Khởi, Tp Hồ Chí Minh. Toà soạn  mời ông Thái Doãn Hiểu trao đổi trực tiếp với các nhà văn Trung Quốc về sự kiện “Vương Bột tử nạn nơi nào ?”.
Nhà văn Trịnh Bá Nông đặt vấn đề:
- Với vụ Vương Bột, đồng chí đã làm cho chúng tôi sửng sốt và vui mừng, vì đã tìm ra được một ngôi mộ tổ sáng giá. Chúng tôi cho rằng “đã giải đáp được những nghi vấn hơn nghìn năm nay”. Nhưng sau đó báo chí Trung Quốc đã viết bài trao đổi, phản bác không những riêng đồng chí mà còn bác cả luận thuyết có tính chất truyền thống về cái chết bí ẩn của thi hào Vương Bột. Là người phát hiện ra nơi Vương Bột tử nạn tại cửa biển Nghệ An, đồng chí có ý kiến gì về chuyện này ?
Thái Doãn Hiểu từ tốn:
- Có. Tôi có theo dõi nên đã được đọc bài Có phải Vương Bột chết ở tuổi 20? của tiên sinh Ngô Trọng Tương đăng trên tạp chí Liêu Vọng số ra ngày 6-1-1992 (mà thực chất là những luận thuyết của giáo sư trường Đại học Sơn Tây Hà Lâm Thiên).
Nếu những luận thuyết đó thật sự có giá trị về mặt văn bản học thì việc Vương Bột theo cha vế Lục Hợp (Giang Tô) sống thêm được gần 10 năm nữa là một huyền thoại kỳ thú!
Nhưng, trên thực tế, các học giả Trung Quốc làm thế nào để chứng minh được đó là những tài liệu gốc, trong khi nó chỉ là những sao chép của người đời sau dẫu đã được sưu tầm rất công  phu ở Nhật hay Mỹ? Tôi nghĩ: có lẽ vì thương cảm Vương Bột mà một ai đó cứ dàn cảnh làm thơ nối điêu vào thi nghiệp của Vương để chàng sống  mãi trong  lòng ngưỡng vọng của mình ? Và, Hà tiên sinh, Tô tiên sinh đã dựa vào cái hồ sơ giả đó – nói theo các nói hiện đại của ngành tư pháp để trêu chọc người đời chắng ? Nếu quả Vương có sống thêm được thập niên nữa, với tâm trạng của một kẻ sĩ phạm tội giết  người bị kết án tử hình, rồi được Lữ Hậu nể tài tha, cha bị  đày vì vạ lây, Vương phải để lại hàng nghìn bài thơ chứ phải đâu chỉ có lèo tèo có bấy nhiêu bài trong Đường thi toàn tập và vài ba bài do giáosư Hà Lâm Thiên sưu tầm được. Một người lỗi lạc như Vương cho dẫu mai danh ẩn tích, chôn thân vào chốn lâm tuyền thì trong mười năm sống thêm ấy nó cũng phải thòi cái mũi dùi Mao Toại ra chứ?
Điều đáng ngạc nhiên là các thiên sinh đã “cãi” cả Dương Quýnh - bạn chí thân và là nhà thơ nổi tiếng đồng thời với Vương khi ông này nghe tin dữ bạn bất đắc kỳ tử ngoài bể Đông đã cầm một nắm nhang xá ra bể, rồi cẩn thận gom nhặt thi cảo của chàng in thành sách với bài tựa ngậm ngùi thương cảm còn lưu truyền rành rành ra đó trên giấy trắng mực đen?
Nói gì thì nói, các tiên sinh Trung Quốc vẫn chưa tìm ra nơi  Vương Bột tử nạn, trong lúc chúng tôi đã có trong tay những cứ liệu về di chỉ Vương Bột ở xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Nghệ Tĩnh lập tức ra một kỷ yếu Thần thi Vương Bột, trong đó tập hợp hàng chục bài viết của người trong tỉnh chứng kiến hoặc gián tiếp kể về ngôi đền Phúc Vị - nơi thờ Vương Bột. Đáng chú ý có bài của thầy trò trường Sư phạm Liên khu Bốn đi điền dã về ngôi đền năm 1958. Đặc biệt có một bài nghiên cứu của một học giả người Pháp viết khá tỉ mỉ về sự kiện này từ cuối thập niên thứ hai của thế kỷ XX.
Nhà thơ Bành Gia Cẩn hỏi:
-  Thế theo đồng chí, Vương Bột chết ở tuổi nào?
-  Theo tôi, Vương Bột chết ở tuổi hăm sáu.
Các nhà văn Trung Quốc nhìn nhau, nghi vấn.
- Tại sao cho đến nay, đồng chí vẫn chưa cho công bố các tài liệu ? – Nhà Đông phương học Lợi Quốc –  giáo sư Đại học Bắc Kinh nôn nóng hỏi – Trong bài viết chúng ta vừa nhắc đến, học giả Ngô Trọng Tương có nói là học giả Việt Nam “chưa đưa ra được bao nhiêu tài liệu có giá trị”, đồng chí nghĩ gì về vấn đề này ?
- Đâu còn đó cả. Vả lại, nhiệm vụ của chúng tôi dường như đã xong với tư cách là người phát hiện, còn bây giờ là công việc của các nhà khảo cổ học, kiến trúc sư, sử gia… Nhưng do cảm hoài với Vương Bột, tôi đã viết thành một cuốn sách với nhan đề là THẦN THI VƯƠNG BỘT VANG VỌNG CỦA PHƯƠNG ĐÔNG. Vâng, đây quý vị  có thể xem bản thảo đánh máy tôi có mang theo. Phần phụ lục có tư liệu, hiện vật lịch sử, các hoạt động của tỉnh Nghê Tĩnh về sự kiện Vương Bột.
Nhà văn Trịnh Bá Nông:
-  Bao giờ đồng chí cho in quyển sách quý này?
- Trên cơ bản quyển sách đã viết xong, có một vài cứ liệu chưa được ổn lắm về mặt khoa học. Tôi rất thiếu tài liệu và thực tế về phía bên các bạn. Giá được đi điền dã một chuyến sang bên ấy thì tốt quá cho không riêng quyển sách này mà còn một công trình khác nữa, đó là quyển LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN MẠC ĐỈNH CHI. Quyển sách ấy tôi vừa viết xong từ mùa thu 1991, nhưng cho đến nay vẫn nằm trong dạng bản thảo bởi vì chương Náo động thiên triều kể về cuộc đi sứ năm 1308 của đoàn sứ bộ nhà Trần do Mạc Đỉnh Chi - ông tổ của dòng họ chúng tôi - dẫn đầu rất khó viết. Tôi làm sao có thể hư cấu ra được và ai cho phép hư cầu khi khảo cứu? về Yên Kinh (tức Bắc Kinh) về triều đình với bá quan văn võ của vua Nguyên Thế Tổ. Rồi chuyện ông ấy theo sứ thần Cao Ly sang Bình Nhưỡng, lấy vợ, đẻ con và để lại một dòng con cháu ở bên ấy ra sao ? Toàn là những chuyện rắc rối mà trong gia phả tộc Mạc chỉ ghi hết sức vắn tắt (11).
-  Lại có cả những chuyện thần thoại như thế kia ư?
-  Vâng, có chuyện như thế đấy. Thế gian lắm chuyện đến bất ngờ… Nhưng xin trở lại với vần đề chính – Thái Doãn Hiểu khẩn khoản - Tôi nghĩ là bộ Văn hóa hai nước nên quan tâm tích cực  đến vấn đề này, sớm giúp trùng tu ngôi đền Vương Bột. Tôi xin hứa là khi ngôi đền khánh thành, quyển sách của tôi cũng sẽ  in xong như một món quà tặng cho các du khách thập phương đến viếng đền.
Nhà nghiên cứu văn học Thái Doãn Hiểu đã vui vẻ tặng Đoàn Nhà văn Trung quốc bức ảnh màu khổ lớn tượng Thi hào Vương Bột do chính tay ông chụp (10)  và một số tư liệu hiếm về ngôi đền Phúc Vị. Các nhà văn Trung Quốc rất cảm kích khi cầm trên tay các món quà tặng: Các tác phẩm văn học Trung Quốc in bằng tiếng Việt như Mái Tây (Tây sương ký), Tục ngữ Hoa - Việt, Tuyển tập thơ Tống, truyện ngắn hiện đại Trung Quốc Nước mắt của mẹ… mà nhà nghiên cứu Việt Nam đã cộng tác với Nhà xuất bản Văn Học, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh làm ra, cùng những tác phẩm biên khảo khác do vợ chồng ông dày công soạn.
(1) Ba vị kia là: Lạc Tân Vương, Dương Quýnh và Lư Chiếu Lân
(2) Vương Thông dưới tên chữ là Văn Trung Tử - nhà triết học thời Tùy.
(3) Gác trở thành nổi tiếng hơn 13 thế kỷ nay của Trung Quốc. Đến đời Mimh đổ nát  được trùng tu lại lấy tên là Tây Giang đệ nhất lâu. Đến đời Thanh lại lấy tên cũ. Bị phá tan tành sau 9 giờ huyết chiến giữa quân đội Trùng Khánh và quân đội Nhật trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật, 1939.
(4) Có sách chép là Dữ, có sách lại chép là Phù.
(5) Cuốn thứ nhất trong bộ Chân dung các nhà văn qua giai thoại (6 tập)
(6)  Lần tôi trở về mới nhất là tháng 8-2009 thì thấy hiện trên nền đất cũ là một nhà gửi trẻ. Vùng đất này hiện trở thành đất vàng nhưng nhưng đất của thần thánh không ai dám mua.
(7) Tả Ao tên thật là Nguyễn Đức Huyền (sách Tang thương ngẫu lục), vì là người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh nên gọi là thầy địa lý Tả Ao. Tả Ao sống vào thế kỷ XVIII.
(8) Lần cuối cùng đền Vương Bột được dựng lại sau chiến tranh là dưới thời nhà Nguyễn năm 1854 (theo trụ biểu đá còn lại sau đền Vương Bột)
(9) Chữ dùng của tạp chí Liêu Vọng.
(10) Một sai lầm nghiêm trọng của Kỷ yếu Thần thi Vương Bột, ảnh tượng của Vương Bột là tượng giả làm bằng thạch cao.
(11) Chuyến thăm Trung Quốc đã được thực hiện vào tháng 7-2005. Tôi cùng Hoàng Liên đã đi điền dã đến 5 thành phô: Thượng Hải, Tô Châu, Hàng Châu, Vô Tích, Bắc Kinh với quãng đường 5.000 km bằng máy bay, xe hơi, tàu hỏa, thu hoạch được rất nhiều tài liệu quý.
Thái Doãn Hiếu
Theo http://vanhoanghean.com.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nguyễn Trọng Luân và Đi tìm thời gian đã mất

Nguyễn Trọng Luân và Đi tìm thời gian đã mất… Trong “10 truyện ngắn hay năm 2020” (Phụ bản số Tết Tân Sửu Báo Văn Nghệ) nhà văn Nguyễn Trọ...