Năm 1991, sau khi công bố phát hiện Vương Bột tử nạn nơi
nào !? ở báo Văn Nghệ, nhà thơ Hữu Thỉnh lúc đó là Tổng biên tập của
báo đến nhà chúng tôi ở Sài Gòn chơi, cùng tác giả nhấm nháp thành tích phát hiện
ra mộ tổ của nền thơ Đường bất hủ. Đó là sự kiện làm “sửng sốt cả thế giới” (chữ
dùng của tạp chí Liêu Vọng, cơ quan văn hóa đối ngoại của Hội nhà văn Trung Quốc).
Nhà thơ Hữu Thỉnh phát giác ra là tôi có bản Ba thi hào họ Nguyễn… và cứ
đòi xin nằng nặc. Tôi thưa với Hữu Thỉnh là các luận điểm của tôi còn non, chờ
cho một thời gian để nó cứng cáp đã. Nay đã trên 24 năm, vấn đề này đã ổn và
chín, tôi xin thông báo với nhà thơ Hữu Thỉnh là tôi công bố đây.
Để khỏi vòng vo Tam quốc mất thì giờ quý vị bạn đọc, và mọi
người đỡ sốt ruột, tôi xin thưa ngay: Vị thủy tổ của ba thi hào họ Nguyễn :
Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Nguyễn Đình Chiểu là Thái tể triều Đinh, Định
Quốc công Nguyễn Bặc.
Vậy, Nguyễn Bặc là ai?
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Wikiphedia thì Nguyễn
Bặc sinh năm 924 –15
tháng 10, 979 âm
lịch là công thần khai quốc nhà
Đinh, cùng với Đinh Điền giúp Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp, chấm dứt loạn 12 sứ quân vào thế
kỷ 10 trong lịch sử Việt Nam. Theo sách Khâm định Việt sử Thông giám
Cương mục, Nguyễn Bặc là người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng, Ninh Bình.
Từ thuở nhỏ, ông đã cùng kết bạn với Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Trịnh
Tú và Lưu Cơ.
Khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn tử trận (965), các sứ quân nổi dậy.
Anh em Nguyễn Bặc theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp. Theo thần phả, khi đánh dẹp một sứ
quân mạnh là Nguyễn
Siêu, Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục cùng 2 tướng khác bị tử trận. Vạn Thắng Vương liền sai Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Lê Hoàn mang
quân đánh báo thù, kết quả diệt được Nguyễn Siêu (967).
Ngoài trận đánh Nguyễn Siêu, Nguyễn Bặc đóng góp nhiều công
lao trong việc đánh dẹp các sứ quân, thống nhất toàn quốc dưới tay vua Đinh.
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tức là Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Bặc được phong làm Định quốc
công, Đinh Điền được phong làm ngoại giáp. Chính sử không
nói rõ nhưng các gia phả họ Nguyễn có giải thích thêm rằng: Nguyễn Bặc làm quốc
công, coi việc nội giáp, tức là việc nội chính, còn Đinh Điền làm ngoại giáp coi việc bên
ngoài.
Theo các gia phổ họ Nguyễn và tài liệu “Lược sử họ Nguyễn tại
Việt Nam”, Nguyễn Bặc được coi là bậc tiền thủy tổ họ Nguyễn ở Việt
Nam.
Nguyễn Trãi (1380-1442)
Nguyễn Du (1766-1820)
Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888)
Sau khi vương quyền nhà Đinh mà Thái hậu Dương Vân Nga cùng
quần thần chuyển giao sang tay họ Lê, Đinh Điền, Nguyễn Bặc khởi binh
đánh Lê Hoàn và cả hai vị khai quốc công thần này đều tử trận. Nguyễn Bặc có một
người con trai cả là Nguyễn Đê ở lại làm quan cho triều Lê Đại Hành. Cuối đời
ông dời cư vào Gia Miêu Thế thứ các đời họ Nguyễn ở Gia Miêu từ thế
kỷ X sắp xếp như sau: Nguyễn Bặc: 1-Nguyễn Đê. 2-Nguyễn Viễn. 3- Nguyễn Phụng. 4- Nguyễn Nộn. 5- Nguyễn Thế Tứ. 6- Nguyễn Hoằng Du. 7- Nguyễn Biện. 8- Nguyễn Sử. 9-Nguyễn Công Duẩn (hay
Chuẩn). 10- Nguyễn Đức Trung.
Muốn nghiên cứu nguồn gốc họ Nguyễn ở Việt Nam, chúng ta hãy
tìm đến Gia Miêu ngoại trang, là cái nôi, nơi xuất phát điểm của nhiều dòng họ
Nguyễn tỏa đi khắp nước.
Gia Miêu ngoại trang là một trang ấp có từ xa xưa. Trang là
làng, ấp nhưng ở tiếp giáp với núi, nằm trong thung lũng nhỏ sông Tống Giang,
có Long Khê chảy qua ở phía tây bắc huyện Tống sơn tức huyện Hà Trung, Thanh
Hóa bây giờ, phía bắc Gia Miêu có rặnng núi Răng Cưa, nằm ở Bắc Thiên Tôn Sơn,
ngọn núi thiêng của dòng họ Nguyễn. Gia Miêu là nơi tập kết an nghỉ của tổ tiên
bao đời dòng họ Nguyễn sau khi tung hoành khắp bốn phương, tận trung báo quốc
xây dựng và bảo vệ đất nước. Rặng núi Rặng Cưa phía bắc Thiên Tôn Sơn là biên
giới tỉnh Ninh Bình và tỉnh Thanh Hóa. Phía Tây Gia Miêu cách 5 km là núi Thạch
Thành nơi ngày xưa có một đồn binh gọi là Man Bảo (hay Vạn Bảo), nơi tận cùng
phía đông mường Thạch Thành mà Nguyễn Biện (đời thứ7) đã xây dựng thành công 12
sơn động cuối đời Trần, làm hậu thuẫn căn cứ địa cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn,
trở thành rất nhiều khai quốc công thần kháng Minh thời Lê Lợi. ! Làng Mường
này đến thời Pháp cai trị trở thành 37 làng Mường trực thuộc dòng lang cun Nguyễn
Đình ở Quảng Tế. Vùng thung lũng này cao so với các cánh đồng trũng phía đông
và nam, nên không bao giờ ngập lụt. Từ khi ngăn đập Bến Quân làm thủy lợi lấy
nước suối Rồng thì vùng này phì nhiêu không thể thiếu nước
Gia Miêu là quê gốc của nhiều dòng họ Nguyễn. Từ xa xưa, nhiều
người họ Nguyễn đã từ đây chuyển cư đi khắp mọi miền đất nước và thành lập những
dòng họ rất lớn ở Bắc, Trung, Nam. Dòng họ ở đây là con cháu Định quốc công
Nguyễn Bặc, nhưng từ đầu đời Lê đã tách ra làm ba họ Nguyễn : Họ Nguyễn Đình thờ
vị tổ là Bình Ngô khai quốc công thần Nguyễn Lý. Họ Nguyễn Hữu thờ vị tổ
là bình Ngô khai quốc Công thần Nguyễn Công Duẩn. Dòng họ Nguyễn Văn thờ Thịnh
Quận công Nguyễn Chữ. Vì họ to và họ xa phải tách ra làm ba họ Nguyễn để con
cháu có điều kiện kết hôn với nhau. Trong làng còn có họ Mai là họ ngoại của họ
Nguyễn. Từ xa xưa, đình làng Gia Miêu chỉ có thờ bốn vị tiên hiền là tổ của bốn
vị tổ họ Nguyễn Hữu, Tổ họ Nguyễn Lý, Tổ họ Nguyễn Văn và Tổ họ Mai. Từ trước
1945, ở Gia Miêu chỉ có 4 họ trên. Trong thời Nguyễn, không thể có họ nào
khác lọt vào sống ở đây. (1)
Sử sách thường ghi Nguyễn Kim (1468-1545) - cha của chúa
Nguyễn đầu tiên Nguyễn Hoàng – là danh tướng Việt Nam thời nhà
Lê sơ và là người đặt nền móng cho sự thành lập nhà Lê trung hưng
Theo phả hệ họ Nguyễn Gia Miêu cho rằng Nguyễn Kim và Nguyễn
Hoằng Dụ là anh em họ. Người sinh ra Nguyễn Kim là Nguyễn Văn Lưu, anh Nguyễn
Văn Lang và bác Nguyễn Hoằng Dụ (đời thứ 6).
Sau khi tướng Lê - Trịnh là Nguyễn Kim (2) chết do bị đầu
độc bởi hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất, bộ tướng của ông lên thay là Trịnh
Kiểm. Để diệt trừ hậu hoạ, Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông. Thấy anh trai bị hại,
có ngày vạ lây, Nguyễn Hoàng nhờ chị gái là vợ Trịnh Kiểm nói khéo cho Nguyễn
Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, sinh ra chúa Nguyễn sau này.
Danh sách tổ tiên chúa Nguyễn nối đời là: Nguyễn Đức Trung · Nguyễn Văn Lang · Nguyễn Hoằng Dụ · Nguyễn
Kim · Nguyễn Hoàng · Nguyễn Phúc Nguyên · Nguyễn Phúc Lan · Nguyễn Phúc Tần · Nguyễn Phúc Thái ·Nguyễn Phúc Chu · Nguyễn Phúc Trú · Nguyễn Phúc Khoát · Nguyễn Phúc Luân.
Ở Gia Miêu, ông tổ của dòng Nguyễn Đình là Bình Ngô khai quốc
công thần Nguyễn Lý. Cháu của Nguyễn Lý là Nguyễn Đình Thuận theo Chúa Tiên
Nguyễn Hoàng di cư vào xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, Thừa Thiên.
Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ lớn nhất của miền Nam nửa cuối thế
kỷ XIX xuất thân trong gia đình nhà nho là
hậu duệ của 1 trong 3 họ Nguyễn Đình ở Phong Điền.(3) Cha ông là Nguyễn Đình
Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; nay thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Theo gia phả của dòng họ Nguyễn
Đình, ông tổ của họ theo chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp tại nơi này. Lớn
lên, ông Nguyễn Đình Huy cưới vợ ở đây và đã có hai con (một trai và một gái).Mùa hạ, tháng
5 năm Canh Thìn (1820) Tả quân Lê Văn Duyệt được triều đình Huế phái vào
làm Tổng trấn Gia Định Thành. Đến đầu mùa thu,
Nguyễn Đình Huy đi theo Tả quân, để tiếp tục làm thư lại ở Văn hàn ty thuộc
dinh Tổng trấn. Ở Gia
Định, ông Huy có thêm người vợ thứ là bà Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới,
sinh được 7 con (4 trai, 3 gái), và Nguyễn Đình Chiểu chính là con đầu lòng.
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng
5 năm Nhâm Ngọ (1 tháng 7 năm 1822), tại quê mẹ là
làng Tân Thới, phủ Tân
Bình, huyện Bình
Dương, tỉnh Gia
Định (thuộc phường Cầu Kho, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).
Năm 1854, Nguyễn
Đình Chiểu cưới Lê Thị Điền (1835-1886,
người làng Thanh Ba, huyện Cần
Giuộc, trước thuộc Gia Định; nay thuộc tỉnh Long An) làm vợ.
Bà Điền là em gái thứ năm của Lê Tăng Quýnh, học trò ông, vì cảm phục và mến
thương thầy, đã xin gia đình tác hợp. Con của Nguyễn Đình Chiểu có tất cả là ba
trai ba gái. Trong số ấy có nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (con gái thứ tư) và Nguyễn
Đình Chiêm (con trai thứ sáu) là người có tiếng trong giới văn chương, nối nghiệp
cầm bút của cha.
Mộ Nguyễn Đình Chiểu (giữa), mộ vợ Lê Thị Điền
(phải), mộ
Sương Nguyệt Anh (trái), đằng sau là đền thờở Ba Tri, Bến
Tre.
Sau khi cha là Nguyễn Bặc tử nạn, trừ người anh cả Nguyễn Đê ở
lại làm quan cho Lê Hoàn, còn người con thứ hai của Nguyễn Bặc là Nguyễn Thứ bất
cộng đái thiên với triều đình mới nên dời cư về huyện Phượng Sơn, lộ Lạng
Giang (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương). Sau non bốn thế kỷ thì sinh ra Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi (1380–19/9/1442), quê gốc ở làng
Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang. Ông là con trai của hàn sĩ Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu
ngoại của thân vương Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh năm 1400, ông từng làm quan
dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại ách đô hộ nhà Minh. Ông
trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn
thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh. Nguyễn Trãi là khai quốc công thần
và là văn thần có uy tín ở thời đầu nhà Hậu Lê.
Tuy nhiên, năm1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Nòi
giống của Nguyễn Trãi còn sót lại từ Anh Vũ – con bà Phạm Thị Mậnvẫn được
duy trì phát triển. Năm 1969, khi khoa Văn Đại học Sư Phạm Vinh sơ tán về xã Quỳnh
Thạch, Quỳnh Lưu, Nghệ An, lớp chúng tôi thường mượn nhà thờ họ Nguyễn làm nơi
hội thoáng mát. Ông tộc trưởng cho biết chi họ của ông thuộc dòng Nguyễn Trãi,
trực tiếp thờ ông tổ Anh Vũ. Trên đường Nguyễn Trãi kéo dài từ quận 1 đến quân
5 tp Hồ Chí Minh hiện có một nhà thờ lớn thờ Nguyễn Phi Khanh khá lâu đời, do
con cháu Anh Vũ lập. Tôi có chơi thân với nhà thơ Nguyễn Phi Nguyện. Anh Nguyện
thuộc dòng trực hệ Anh Vũ. Như vậy con cháu Nguyễn Trãi vẫn không bị tuyệt chủng.
Có một hậu duệ xuất sắc của Nguyễn Bặc thế kỷ XVI là Tướng
quân Nguyễn Quyện. Nguyễn Quyện là người làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, xứ
Sơn Nam, Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Ông cùng dòng họ với Nguyễn Trãi. Cha ông là
Nguyễn Thiến (có chỗ ghi là Thuyến) đỗ trạng nguyên năm NhâmThìn niên hiệu Đại
Chính Nhà Mạc 1532. Dưới triều vua Mạc Phúc Nguyên, Nguyễn Thiến giữ chức Thượng
thư bộ Lại, tước Thư Quận công. Tướng Nguyễn Quyện được giao giữ vệ Phù Nam, tước
Văn Thái hầu và là con rể Thái tể Lê Bá Ly. Tháng ba năm Tân Hợi, Lê Bá Ly đem
17.000 quân các đạo Tây Nam sang hàng Lê thì Nguyễn Thiến và Nguyễn Quyện
cùng đi theo. Nguyễn Thiến được vua Lê cho giữ nguyên chức tước. Tháng 8 năm
Đinh Tỵ, niên hiệu Quang Bảo thứ tư triều Mạc 1557, Nguyễn Thiến chết,
Nguyễn Quyện cùngg em là Nguyễn Miễn trốn về hàng vua Mạc Phúc Nguyên.
Trong trận chống nhau với vua Lê ở Hồ Trì tháng 9 năm Đinh Tỵ,
Nguyễn Quyện đánh tan quân Lê do Vũ Lăng hầu và Phạm Đức Kỳ chỉ huy, lập
chiến công rực rỡ.
Tháng 6 năm Diên Thành thứ 9 năm 1574 vua Mạc Mậu Hợp sai tướng
Nguyễn Quyện đánh Nghệ An, huyết chiến với tướng Lê Công Tích và Trịnh Mô (tức
Nguyễn Cảnh Mô) vài tháng không phân thắng bại, lại rút quân về.
Ngày 6 tháng giêng năm Diên Thành thứ 10 năm 1575, Nguyễn Quyện
lại cất quân tiến đánh Nghệ An giết được Lại Quốc công Phan Công Tích ngay giữa
trận tiền ở Lèn Hai Vai, Diễn Châu.
Tháng 7 năm Diên Thành thứ 11 năm 1576, Nguyễn Quyện lại đánh
vào Nghệ An, truy bắt sống được Tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Mô (Trịnh Mô) ở núi
Ngọc Sơn Thanh Hóa, giải về kinh sư.
Nhà thờ Nguyễn Du ở Tiên Điền, Hà Tĩnh
Từ đó uy danh của Nguyễn Quyện.càng lẫy lừng. Đương thời coi
ông là một danh tướng. Tháng 4 năm Đan Thái Nguyễn Quyện được vua thăng Thượng
Đẳng Quốc công.
Mùa xuân ngày 6-1 năm Hồng Ninh thứ 3 năm 1592, khi kinh
thành Thăng Long thất thủ, Nguyễn Quyện bị quân Trịnh bắt, được Trịnh Tùng biệt
đãi. Ông than rằng “Ông tướng bại trận không thể nói mạnh được. Trời đất bắt Mạc
suy thì dẫu anh hùng cũng khó ra sức”.
Sau khi vua Mạc Hồng Ninh (Mạc Mậu Hợp) bị giết, Nguyễn
Quyện và các con cháu phải khuất theo nhà Lê, nhưng không phục, tìm cách chống
lại. Việc bại lộ, cả nhà cùng bị thảm sát, chỉ có một người con trai của
Nguyễn Miễn trốn thoát. Đó là Nam Dương hầu Nguyễn Nghiệm. Ông giong buồn vượt
biển chạy trốn vào làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, giấu tên họ,
tung tích, chỉ gọi là ông già Nam Dương. Sau này, con cháu tập hợp lại
thành chi phái họ Nguyễn Tiên Điền, tức là dòng họ của Đại Thi hào Nguyễn Du,
tác giả Truyện Kiều bất hủ. Danh nhân văn hóa thế giới.
(1) Viết theo tài liệu Gia phả dòng họ Thái tể triều Đinh, Định
Quốc công Nguyễn Bặc. Bộ thế phả do tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (1795-1868) biên soạn.
(2) Nguyễn Kim được các vua nhà Nguyễn sau này truy tôn miếu
hiệu là Triệu Tổ, thụy hiệu là Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết
Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế.
(3) Ban tu thư Tuyển tập Nguyễn Đình Chiểu có về xã
Bồ Đề điều tra nhưng không ra manh mối gì cả.
THÁI DOÃN
HIỂU







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét