Thụy Khuê
Giữa Đất Trời Giao Hưởng
Hồ Trường An
Theo Sóng Từ Trường Gặp Gỡ Thụy Khuê
Trên Một Chặng Bút Trình
1/ Hồ Trường An: Chào
chị Thụy Khuê, động cơ nào thúc đẩy chị soạn cuốn biên-khảo-mạn-đàm ''Nói
Chuyện Với Hoàng Xuân Hãn Và Tạ Trọng Hiệp''? Có phải chị muốn chính mình
được biết tư tưởng, hành động, hoài bão, dự phóng của những kẻ tuy nổi trôi
trên dòng lịch sử mà vẫn làm văn hóa không? Có phải chị muốn tìm hiểu thời
đại và xã hội mà họ dấn thân suốt chiều dài hành trình của họ không?
Thụy Khuê: Thưa anh, khi soạn cuốn Nói chuyện
với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp tôi chỉ muốn tập hợp những bài
nói chuyện với hai học giả đã được phát thanh trên đài RFI từ năm 1993 đến
1997 và đã in trên tạp chí Hợp Lưu. Cuốn sách phát hành sau khi họ qua đời
như một tác phẩm tưởng niệm, nhưng cũng để sửa lại những sai lầm về văn bản,
bởi loạt bài nói chuyện với bác Hãn (xin phép anh được dùng chữ bác Hãn, vì
tôi đã quen gọi bác như vậy) in trên Hợp Lưu, đã được sách báo trong nước lấy
lại, nhiều chỗ tùy tiện thêm bớt, trái với tinh thần nghiên cứu khoa học và
làm sai ý bác Hãn. Đó là lý do thực tiễn. Động cơ sâu xa hơn, và cũng để trả
lời chính xác câu hỏi của anh, tại sao tôi tìm gặp hai nhà văn hoá trên, là
như thế này:
Về bác Hãn, có lẽ phần đông chúng ta đều đã
"biết" Hoàng Xuân Hãn qua sách vở giáo khoa, nhưng không mấy ai có
dịp tiếp xúc với con người. Khoảng 1983-84, tôi được đọc bài Hồ Xuân
Hương với vịnh Hạ Long của bác in trên tập san Khoa Học Xã Hội ở
Paris, bài viết đưa ra một Hồ Xuân Hương chưa từng có trong hình ảnh Hồ Xuân
Hương "của tôi". Năm 1988, tôi lại có dịp nghe bác nói chuyện về Hồ
Xuân Hương. Vì thế, từ (1990) khi phụ trách chương trình văn học nghệ thuật
hàng tuần của đài RFI, tôi vẫn muốn giới thiệu với thính giả những khám phá
mới của Hoàng Xuân Hãn về Hồ Xuân Hương, và đầu năm 1993, tôi thực hiện
chương trình nói chuyện đầu tiên với bác Hãn về Hồ Xuân Hương. Sau khi loạt
bài này được phát thanh về nước, có một số người đã sang Pháp, tìm đến bác để
học hỏi thêm. Có lẽ vì thấy ảnh hưởng nhanh chóng và rộng rãi của truyền
thanh, cho nên những lần sau, khi tôi tìm gặp, bác đã nói về tất cả mọi vấn
đề, trả lời mọi câu hỏi mà không ngần ngại gì cả. Điều đó làm cho anh Hiệp có
lúc đã hỏi tôi: "Thụy Khuê làm thế nào mà hỏi bác được những
"chuyện ấy", trong khi bao nhiêu năm tôi ở cạnh, hỏi bác mà bác
không trả lời". Điều mà anh Hiệp gọi là "những chuyện
ấy", chính là cái mà anh (Hồ Trường An) gọi là "tư tưởng, hành
động, hoài bão, dự phóng của những kẻ tuy nổi trôi trên dòng lịch sử mà vẫn
làm văn hóa".
Vâng đúng như anh nghĩ, chủ đích của tôi là
muốn cho người nghe cũng như người đọc biết được con đường Hoàng Xuân Hãn đã
đi, trên hai mặt lịch sử và văn hóa trong bao nhiêu năm sống xa đất nước.
Hoàng Xuân Hãn (cũng như Tạ Trọng Hiệp) đã làm những gì cho văn hoá nước nhà.
Gặp bác tôi mới biết công trình đồ sộ bác nghiên cứu từ nửa thế kỷ qua là
Kiều, bản thảo nhiều trang mực đã nhoè, mà hầu như ít người biết đến. Hoặc là
giới trí thức thân cận bác thời ấy có biết nhưng họ không để ý. Bác say sưa
nói về những khám phá mới, về những chữ trong Kiều bị tam sao thất bản mà bác
đã tìm ra, chỉnh sửa lại...
Hoàng Xuân Hãn là nhà nho kín đáo,
thận trọng, không thích nói về mình, cho nên bác không tự nhiên "thổ
lộ" những điều có tính cách riêng tư, nếu không vì lợi ích chung. Xin kể
anh nghe một chi tiết này: Một hôm tôi đến, bác dẫn vào phòng trong chào bác
gái, lúc ấy đang bận tiếp một bà bạn. Chào xong, đi ra, bác cười và nói nhỏ
với tôi: "Chuyện của các bà thì có đến 90% là thừa". Ý
nghĩ hóm hỉnh ấy của bác cứ theo tôi mãi, nhiều khi đang nói chuyện với ai,
tôi cũng thử kiểm soát xem những điều mình nói có cần thiết không, hay là
"thừa". Anh thử để ý mà xem, mình nói thừa, viết thừa nhiều lắm.
Cho nên tôi lại càng hiểu sự kiệm lời của những người như Hoàng Xuân Hãn. Gặp
tôi đúng lúc bác thấy có những điều cần nói và có lẽ chính bác cũng cảm thấy
không còn thì giờ viết hồi ký, hoặc không muốn viết, cho nên bác đã
"trao" những lời ấy cho tôi. Đó là cái duyên hạnh ngộ anh ạ. Theo
tôi, ở đời mọi chuyện đều do nhân duyên cả. Anh Tạ Trọng Hiệp có tạng khác
hẳn thầy Hãn, trong chỗ riêng tư anh ấy nói hết, anh Hiệp có những lời phê bình
"kinh khủng" đối với những kẻ mà anh không thích. Anh Hiệp là thày
đồ Tây, tôi thích tính nói thẳng của anh. Theo tôi, hai thày trò là hai khuôn
mặt văn hoá dấn thân, nhưng không dấn thân theo nghĩa thông thường, như xuống
đường hành động, viết tham luận chống đối, hoặc làm chính trị (Hoàng Xuân Hãn
có làm chính trị, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn) mà họ dấn thân trong
nghiã sâu hơn, dấn thân trong suy nghĩ, và đó,
tình cờ, cũng là một trong những định nghiã dấn thân rất sâu xa của Sartre.
2/ HTA: Xin chị tóm tắt
phương pháp biên khảo của Hoàng Xuân Hãn và của Tạ Trọng Hiệp ở những điểm
đặc sắc cùng những điểm tương đồng và dị dòng của họ.
TK: Hoàng Xuân Hãn có kiến thức hết sức rộng
bao trùm cả Hán học lẫn Việt học, có cái nhìn vừa tổng hợp, vừa phân tích trên
mọi vấn đề, và có thể nói về bất cứ vần đề gì mà không cần tra cứu. Tạ Trọng
Hiệp không có được kiến thức toàn diện của thày, nhưng anh rất thận trọng, và
khi làm việc anh khoanh vùng, đào sâu vào chi tiết, muốn tất cả phải toàn
bích, do đó anh viết rất kỹ và rất ít. Khi hỏi anh Hiệp một điều gì, thì anh
tra cứu trước khi trả lời, khác hẳn bác Hãn, trả lời ngay. Theo tôi, cả hai
cùng có một tinh thần nghiên cứu khoa học mà ít nhà nghiên cứu (Việt Nam) đạt
được: Hoàng Xuân Hãn đi rộng và đi xa, đưa ra những nghi vấn trong văn học,
mở những hướng mới cho người sau tiếp tục tìm kiếm. Tạ Trọng Hiệp xới lên
những thiếu sót, sai lầm không chấp nhận được trong những văn bản cổ (ví dụ
tìm những chỗ Lê Quý Đôn đã chép lại sách Tàu mà không đề xuất xứ). Tạ Trọng
Hiệp dịch thuật, hiệu đính và phát hiện ra những cái mới.
3/ HTA: Cũng đồng thời
làm thơ chữ Hán, nhưng sao tập ''Lưu Hương Ký'' của bà Hồ Xuân Hương được cụ
Hoàng và ông Tạ cùng ông Nguyễn Ngọc Bích (trong quyển ''Hồ Xuân Hương : Tác
Phẩm'') chiếu cố tận tình trong khi 3 bà công chúa con vua Minh Mạng và cũng
là em cùng mẹ của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm là Nguyệt Đình, Mai Am và Huệ
Phố cũng làm thơ chữ Hán nổi tiếng khắp Đế Đô Huế lại bị văn học sử lãng quên
(hoặc bỏ rơi cũng thế).
TK: Hồ Xuân Hương là tác giả nổi tiếng trong
văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Nhưng chúng ta chỉ biết
văn chương của bà qua những gì đã truyền tụng như một huyền thoại. Cho tới
thập niên 60, người ta vẫn chưa biết, bà sống đích thực vào thời nào, sinh
quán ở đâu. Từ lâu Hoàng Xuân Hãn đã lưu ý đến việc này. Thập niên 50, bác có
đọc một tài liệu nói rằng Hồ Xuân Hương là tiểu thiếp của một ông quan hiệp
trấn tỉnh Quảng Yên. Đến năm 1952, qua Pháp, làm việc ở thư viện quốc gia,
tình cờ bác tìm thấy trong một cuốn sách địa dư có nói đến tỉnh Quảng Yên, và
ở cuối phần ấy ghi sáu bài thơ đề là của Hồ Xuân Hương. Bác Hãn bèn liên lạc
hai sự kiện ấy với nhau và bắt đầu tìm lại dấu vết Hồ Xuân Hương. Bác liên
kết những dữ kiện lẻ tẻ mà một số nhà nghiên cứu trước đã tìm ra, với những
điều bác vừa tìm được, để chứng minh về mặt văn bản rằng: Những bài thơ trong
tập Lưu Hương Ký (do một ông cử nhân người làng Hành Thiện đã phát hiện trong
tủ sách gia đình của mình và gửi cho Trần Thanh Mại thập niên 50), là đích
thực của Hồ Xuân Hương. Trong khi khảo sát văn bản, bác lại tìm ra một số
tình nhân của bà.

Như vậy Hoàng Xuân Hãn đã làm hai việc: xác
định tác phẩm chính của Hồ Xuân Hương (là Lưu Hương Ký) và xác định những nét
chính về cuộc đời Hồ Xuân Hương (mà trước đó chúng ta chỉ mới biết huyền
thoại).
Từ đó, sinh ra một giả thiết mới là có một
Hồ Xuân Hương (tác giả Lưu Hương Ký, thơ chữ Hán rất đứng đắn) và một hay
nhiều, gọi chung là trường phái Hồ Xuân Hương, tác giả những bài thơ nôm nổi
tiếng mà chúng ta đã biết.
Trở về với câu hỏi của anh: Trường hợp Hồ
Xuân Hương khác với trường hợp của các công chúa con vua Minh Mạng. Các công
chúa, tên tuổi, sự nghiệp, trước tác, đều đã được ghi nhận rõ ràng trong sử
sách triều đình, nhưng lại không nổi tiếng trên văn đàn. Còn Hồ Xuân Hương là
người nổi tiếng trên văn đàn, nhưng tác phẩm và tiểu sử lại rất mơ hồ. Vì vậy
mà các nhà nghiên cứu đều cố gắng tìm hiểu để soi tỏ những chỗ mơ hồ ấy. Còn
như nếu cần phải đánh giá (lại) tác phẩm của các công chúa con vua Minh Mệnh,
thì việc ấy thuộc về các nhà phê bình.
4/ HTA: Cụ Hoàng Xuân
Hãn phủ nhận bà Đoàn thị Điểm không phải là tác giả bản dịch thiên trường ca
''Chinh Phụ Ngâm'' và cụ có đủ tài liệu để củng cố cho lập luận của mình.
Nhưng cụ lại hoài nghi Ngọc Hân Công Chúa không phải là tác giả thiên trường
ca đẫm lệ ''Ai Tư Vãn", mà là do người khác trước tác theo cái sentiment
(sic/ tỉnh cảm) của bà mà thôi. Cụ Hoàng Xuân Hãn không có tài liệu nào chứng
minh lập luận của mình. Cái hoài nghi của cụ cũng dựa trên cái sentiment của
cụ đấy thôi. Nhưng chị nghĩ sao đây? Bài ''Văn Tế Vua Quang Trung'' do Ngọc
Hân Công Chúa soạn ra để truy điệu ngài rất đẹp lời, rất thiết tha tình ý và
có giọng điệu của bài ''Ai Tư Vãn''. Không lẽ bài văn tế đó cũng do kẻ khác
viết hay sao?
TK: Trước hết, xin nói rõ hơn về câu tôi hỏi
bác: "Thưa bác, Ai Tư Vãn có thể không phải do Ngọc Hân viết
ra?", đó là một câu hỏi phụ, trong phần về vua Quang
Trung. Sở dĩ tôi hỏi như vậy, vì trong thâm tâm vẫn có ý nghi ngờ không chắc
có phải Ngọc Hân viết bài thơ ấy; một mặt vì tôi thấy văn chương bài Ai
Tư Vãn rất hay, hết sức chải chuốt; một mặt lại cũng không thấy sử
sách nhắc đến thi tài của Ngọc Hân như Hồ Xuân Hương hay Đoàn Thị Điểm. Về
câu hỏi này, Bác Hãn, như thường lệ, cũng đã trả lời ngay: "Oui,
tôi thì tôi không tin là của Ngọc Hân đâu" và bác đưa ra lý do
là những người có chức vị cao như tổng thống Mitterand, thường có
"nègre" viết hộ; hoặc bài Văn Tế Trận Vong Tướng Sĩ mà
mọi người cứ tưởng là của Nguyễn Văn Thành, nhưng có phải Nguyễn Văn Thành
viết đâu, Nguyễn Huy Lãng (tức Nguyễn Huy Lượng) tác giả Tụng Tây Hồ phú viết
hộ đấy. Theo bác, người mình "duy tâm" suy nghĩ theo cảm tính, cứ
thấy cô công chúa thì thích... để như thế. Nhưng bác cũng nói thêm :"Đó
chỉ là một "sentiment" thôi. Cụ Lê Dư trước có nói với tôi rằng,
bài văn ấy của một ông tên là Nhi, gì ấy, tôi không nhớ rõ". Tôi
lại hỏi: vậy có phải Phan Huy Ích viết hộ không? Thì bác bảo: "Không
phải Phan Huy Ích, nhưng nếu chúng ta có chứng cớ gì là của Phan Huy Ích thì
cũng có thể tin được". Đó là lối nói của Hoàng Xuân Hãn để
hướng dẫn người sau tiếp tục tìm kiếm, ít nhất về hai hướng: Phan Huy Ích và
một người nữa tên là Nhi do cụ Lê Dư đề xuất. Giáo sư Trần Văn Khê kể lại một
giai thoại khác: khi làm luận án về nhạc học, ông muốn tìm nguồn gốc giọng sa
mạc, ông hỏi Hoàng Xuân Hãn, bác Hãn bảo: cứ thử tìm về phía Ả Rập chắc sẽ
thấy. Và Trần Văn Khê cho biết: quả như lời bác Hãn, điệu sa mạc của ta có
nguồn gốc Ả Rập.
Cho nên cái mà Hoàng Xuân Hãn gọi là
"sentiment", chỉ có nghĩa là: tôi mới nghĩ như thế, nhưng chưa kiểm
chứng được, vậy bạn hãy tìm cách kiểm chứng, để xác định hoặc phủ định ý kiến
của tôi.
Trong cuốn Quốc Văn Đời Tây Sơn,
Sơn Tùng (tức Hoa Bằng) Hoàng Thúc Trâm - để chứng minh Ngọc Hân mất năm Kỷ
Mùi (1799), trước khi nhà Tây Sơn đổ (1802) - đã tìm ra năm bài văn tế Ngọc
Hân do Phan Huy Ích viết, ông viết: "Chứng cớ ấy tôi tìm được ở
năm bài văn tế, do một yếu nhân đời Tây Sơn là cụ Dụ Am Phan Huy Ích đứng
thảo: Một bài cho vua Cảnh Thịnh, một bài cho các con gái vua Quang Trung,
một bài cho Phù Ninh từ cung là mẹ đẻ của Ngọc Hân, một bài cho cựu hoàng
Sòng là những người trong tôn thất nhà Lê và một bài cho các bà con họ ngoại
bên Phù Ninh để đọc trong những tuần tế điện bà Ngọc Hân tức Vũ Hoàng
Hậu" (trích Quốc Văn Tây Sơn, Sơn Tùng Hoàng Thúc Trâm, trang
82-83, Vĩnh Bảo, Sài gòn, 1950). Điều này càng chứng tỏ Phan Huy Ích là một
trong những cây bút chính thức của triều đình Tây Sơn, do đó, rất có thể, ông
hay một cây bút chính thức khác đã viết hộ Ngọc Hân bài Văn tế vua
Quang Trung chăng? Đây cũng chỉ là một giả thiết, chúng ta chưa có
bằng chứng cụ thể bằng văn bản.
5/ HTA: Cụ Hoàng Xuân
Hãn cho rằng cuốn tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân là tác phẩm có giá trị
làm cụ nghĩ tới văn chương của Honoré de Balzac. Nhưng khi ông Trần Trọng Kim
viết bài tựa cho cuốn ''Truyện Thúy Kiều'' do ông cùng ông Bùi Kỷ biên soạn
thì lại chê tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân tầm thường. Theo chị, thì sao? Có
ai thích xem một quyển sách tầm thường rồi phóng tác nó, để nguyên tên của nhân
vật trong tác phẩm ấy không?
TK: Tôi có đọc tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân
qua bản dịch tiếng Việt, tiếc rằng cuốn sách này tôi đã biếu nhạc sĩ Phạm
Duy, khi ông cần tư liệu để soạn Minh Hoạ Kiều, nên không còn trong tay, để
trích ra đây vài đoạn cho anh thấy cái hay của văn bản này. Về giá trị tác
phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, tôi đồng ý với nhận định của Hoàng Xuân Hãn: đây
là một cuốn tiểu thuyết hiện thực rất hay, lối văn tả chân, sống động và lôi
cuốn, cho nên bác Hãn đã so sánh với lối viết tỷ mỉ của Balzac về xã hội và
phong tục. Văn viết theo lối bạch thoại (văn nói) và trong truyện lại chen
rất nhiều thơ, làm theo lối bình dân, dễ hiểu. Chính bác Hãn cũng nhận xét là
những người theo đường văn cử nghiệp (tức là văn chương bác học) thì chê là tầm
thường, còn những người chuộng văn dân gian thì cho là hay.
Học giả Trần Trọng Kim nghiêng về lối văn
bác học, cho nên ông chê là phải.
Chắc là Nguyễn Du đã đánh giá cao cuốn tiểu
thuyết này, nên cụ mới chọn để viết lại nó bằng thể thơ. Sở dĩ tôi dùng chữ
"viết lại" mà không dùng "phóng tác" vì bác Hãn cũng nói
là: "Cụ Nguyễn Du có quyển ấy rồi thì cụ cứ theo trong
truyện Tàu như thế nào thì cụ kể như thế. Không thêm tí nào. Nhưng cụ bỏ
những cái dông dài", và khi đọc và so sánh hai văn bản, thì tôi thấy đúng
như thế: Nguyễn Du viết lại tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân bằng thơ, mà
không phóng tác.
Điểm này làm sáng tỏ thêm một vấn đề nữa: là
cùng một cốt truyện, cùng những chi tiết trong truyện, nhưng ngôn ngữ thơ của
Nguyễn Du và ngôn ngữ văn nói của Thanh Tâm Tài Nhân hoàn toàn khác nhau, dẫn
đến hai tác phẩm hoàn toàn khác nhau, không thể so sánh được. Và càng chứng
tỏ "cốt truyện" có chỗ đứng rất khiêm nhường trong một tác phẩm văn
học. Cái hay trong tác phẩm Thanh Tâm Tài Nhân nằm trong cách trình bày hiện
thực xã hội. Cái hay trong tác phẩm Nguyễn Du nằm ở sự mô tả cuộc đời toàn
diện trong một cấu trúc ngôn ngữ thi ca tuyệt vời, vừa bình dân vừa bác học,
vừa là thơ vừa nói thơ.

Một điểm nữa: Truyện Kiều là một câu chuyện có thật,
dưới thời nhà Minh. Trước khi Thanh Tâm Tài Nhân đem vào tiểu thuyết đã có
nhiều người viết thành kịch, truyện. Cho nên "cốt truyện" có thể
coi như "cái tích" lấy trong văn chương, lịch sử Trung Quốc. Và
cách viết lại truyện Kiều bằng thơ của Nguyễn Du (từ nguyên bản tiểu thuyết
của Thanh Tâm Tài Nhân), cũng tương tự như cách các nhà văn, nhà thơ, kịch
tác gia... Âu Châu, đời này sang đời khác, lấy lại những tích trong huyền
thoại Hy Lạp, trong Kinh thánh, trong L'Odyssée, L' Iliade của Homère để viết
lại, theo ngôn ngữ và tư tưởng của mình, của thời đại mình. Trong thuật ngữ
phê bình, tất cả những văn bản có chung một gốc như thế, người ta gọi là
những liên văn bản.
6/ HTA: Hình như cụ Tiên
Điền Nguyễn Du là người rành Phật pháp, chuyên trì tụng ''Kinh Kim Cương'',
thế mà sao cụ lại đặt quan niệm ''Trời xanh ghen ghét má hồng'' và ''tài mệnh
tương đố'' cho tiền đề quyển '' Đoạn Trường Tân Thanh''? Đó đâu phải là tư
tưởng nhà Phật. Đạo Phật đâu có tin ông Trời. Lại càng không tin chẳng có
Trời nào hiện hữu có thể nắm giữ định mạng con người trong tay, nhất là cái
thứ ông Trới bốc đồng, ganh ghét nhỏ nhen như vậy. Đạo Phật chủ trương con
người hạnh phúc hay lầm than đau khổ là do thiện nghiệp và ác nghiệp tự chính
mình gây ra. Vậy chị nghĩ sao về cái tiền đề này?
TK: Dường như hầu hết chúng ta đều bị ảnh
hưởng các giáo sư dạy Việt văn ở nhà trường, họ thường nhồi vào đầu óc học
sinh những công thức viết sẵn trong các sách giảng văn trung học, như: Triết
lý trong Kiều là triết lý nhà Phật, hoặc truyện Kiều thể hiện Thuyết tài mệnh
tương đố... Theo tôi, điều đó ai nói cũng được, vì nó chẳng đúng mà cũng
chẳng sai. Bây giờ, mình thử nhìn Kiều dưới một góc cạnh khác, liên quan đến
vấn đề tư tưởng chủ đạo trong một tác phẩm xem: Thật ra có nhiều cách trình
bày tư tưởng, rất khác nhau, tùy tác giả, và tùy tác phẩm: Có trường hợp, như
anh vừa nói, tức là tác giả dùng một triết thuyết nào đó, làm sợi dây chỉ nam
cho tác phẩm của mình (thí dụ: Triết lý đạo Phậtlà tư tưởng chính
trong bài Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, hayChủ
nghiã dân tộc là tư tưởng chỉ đạo trong toàn bộ tác phẩm của Hồ Hữu
Tường). Nhưng cũng không thiếu những trường hợp, trong cùng một tác phẩm, ta
thấy tác giả đi từ triết lý này đến triết lý khác, đi từ hệ tư tưởng này để
đến với một hệ tư tưởng hoàn toàn khác, hoặc tạo ra triết lý bằng những kinh
nghiệm sống, khiểu: "những điều trông thấy mà đau đớn
lòng". Truyện Kiều của Nguyễn Du gần gũi với trường hợp thứ ba.
Là một nghệ sĩ đã làm những câu thơ tình
trác tuyệt như "hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình", Nguyễn
Du phải là một người hết sức tự do, phóng khoáng trong tư tưởng. Và trong
Kiều, cụ đã sử dụng tài tình nhiều loại hình tư tưởng, không riêng gì triết
lý đạo Phật. Chỉ với một đoạn thơ ngắn dưới đây, trong đoạn kết truyện Kiều
(không phải là tiền đề đâu anh), chúng ta thấy rõ ngay điều đó:
Có tài mà cậy chi tài
Chữa tài liền với chữ tai một
vần
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời
xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
Nhìn qua, chúng ta thấy ngay, khi viết: "Có
tài mà cậy chi tài / Chữ tài liền với chữ tai một vần", là cụ
dựa vào hai kinh nghiệm sống. Tiếp theo là: "Đã mang lấy nghiệp
vào thân / Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa / Thiện căn ở tại lòng
ta", " đúng là triết lý nhà Phật. Nhưng ngay sau đó, là một thứ
đạo đức tu thân rất gần với đạo đức học của Kant "Chữ tâm kia
mới bằng ba chữ tài",(nghiã là con người phải hành động theo lương
tri, có tài mà không có lương tri thì cũng vứt đi). Nếu xét toàn bộ tác phẩm,
Nguyễn Du đã mô tả được cuộc đời toàn diện và muôn mặt, đã vẽ chân dung đủ
mọi hạng người, từ anh hùng (Từ Hải): "Râu hùm hàm én mày ngài/
Vai năm thước rộng, thân mười thước cao", đến
chủ nhà chứa (Tú Bà): "Thoắt trông nhờn nhợt màu da / Ăn gì to
lớn đẫy đà làm sao"... mỗi người chỉ cần vài nét mà chính xác
vô cùng, thì mới thấy Nguyễn Du dựa trên sự quan sát và kinh nghiệm sống một
cách triệt để, hơn là trên lý thuyết triết học. Nói cách khác, triết lý trong
tác phẩm của Nguyễn Du gồm thâu những mảnh triết lý "vụn" thu lượm
trong đời sống hàng ngày. Đó là những kinh nghiệm mắt thấy tai nghe, không
phải là những điều rút ra từ một hệ thống triết học cao xa trong kinh sách.
Và chính ở chỗ đó mà Nguyễn Du lớn lao và gần gũi với chúng ta: trong sinh
hoạt hành ngày, người Việt, cả lương lẫn giáo, thường nói đến Trời, chứ không
nói đến Thượng Đế, hay Đức Phật. Người Việt thiếu óc trừu tượng, lại rất ít
tinh thần hệ thống hoá, cho nên không có triết học hiểu theo nghĩa một hệ
thống hoàn chỉnh. Những lại có rất nhiều kinh nghiệm sống thực tiễn, kiểu: cô
này đẹp quá, chắc sau này sẽ khổ đây! Mỗi kinh nghiệm như vậy được thể hiện
trong thơ (văn), dưới nhiều hình thức khác nhau:"Trời xanh quen thói
mà hồng đánh ghen" (Kiều). "Khách má hồng nhiều
nỗi truân truyên" (Chinh Phụ Ngâm), hay "Người
đẹp vẫn thường hay chết yểu / Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai" (J.
Leiba)... Anh thử đọc vài câu Kiều bắt được đâu đó tình cờ mà xem, anh sẽ
thấy rất nhiều câu như thế: Về thân phận người đàn bà: "Đau đớn
thay phận đàn bà", cụ viết hai lần, một lần trongKiều,
một lần trong Văn tế thập loại chúng sinh một câu thơ như
thế có hiệu ứng tương tự như Simone de Beauvoir viết Deuxième sexe,
như người đàn ông Do Thái đọc kinh sáng "Ơn Trên đã sinh con là đàn
ông", hoặc như Platon cám ơn thần thánh, thứ nhất sinh ông là người tự
do, không phải kẻ nô lệ, và thứ hai sinh ông là đàn ông. Về nỗi buồn: "Sầu
đong càng lắc càng đầy". Về sự rủi ro của số phận: "Bắt
phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao", Về
người đẹp yểu tướng: "Rằng hồng nhan tự ngàn xưa / Cái điều bạc
mệnh có chừa ai đâu". Về thân phận người đàn bà làm điếm:"Sống
làm vợ khắp người ta / Hại thay thác xuống làm ma không chồng". Về
cách ăn ở: "Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều". Về
kinh nghiệm chồng chung: "Chồng chung chưa dễ ai chiều cho
ai",... đó toàn là những kinh nghiệm sống đúc kết lại. Nguyễn Du
không những đã vẽ được cuộc đời toàn diện mà còn là nhà thơ bênh vực phụ nữ.
Nguyễn Du đã lột được "dân tộc tính" của người Việt, cho nên mới
gần gũi chúng ta đến thế. Hầu như mỗi tình huống rủi may trong đời sống, ta
đều có thể tìm thấy một câu Kiều "ứng" vào "vận" mình, cho
nên người ta mới hay bói Kiều, mà không bói Cung Oán, Chinh Phụ. Ví thế,
Nguyễn Du đã viết được những "tình huống của con người hôm nay",
tức là cái hiện sinh con người.
Tuy triết lý trong Kiều là những mảnh triết
lý vụn, nhưng cũng đừng coi thường thứ triết lý vụn này: Bởi Socrate, Khổng
Tử, cũng đã "xuống đường" trò chuyện với dân gian như thế; Phật
Thích-Ca hay Chúa Jê-Su cũng đã từng giảng những kinh nghiệm sống
"vụn" như vậy, để mọi người nghe đó mà rút ra bài học cho riêng
mình. Triết học bắt đầu như vậy. Việc lập thuyết thành một hệ thống chặt chẽ
là về sau, những đệ tử của các bậc hiền triết, có khi cả trăm năm sau mới
viết thành sách, hệ thống hoá và thêm thắt vào.
Mà giả sử như Nguyễn Du có đi theo một chủ
thuyết kinh điển để viết truyện Kiều (như triết lý đạo Phật), thì chưa chắc
đã thu hút được người đọc. Bởi tác phẩm văn chương không có nhiệm vụ trực
tiếp giáo dục con người hướng thượng như một triết thuyết tôn giáo.
7/ HTA: Ở cuốn ''Sóng Từ
Trường'', chị cho rằng Trần Vũ viết đa số truyện ngắn hư cấu, trừ truyện ngắn
''Cánh Đồng Mùa Gặt Khô''. Theo tôi, truyện ngắn ''Biển Rợn San Hô'' chẳng
biết là thật hay hư cấu, nhưng đọc lên tôi cảm thấy như được tác giả đặt đối
diện và đưa vào sống trong khung cảnh mà tác giả đã dàn dựng. Nhưng viết văn
hiện thực đâu phải là chuyện quen tay hay thích thú của đương sự? Và đương sự
đâu có chọn đường lối hiện thực cho cuộc bút trình của mình. Chị nghĩ sao
đây? Và theo chị, văn chương của Trần Vũ lạnh lùng, tàn nhẫn và khốc liệt.
Nhưng văn chương ấy cựa quậy trong nội giới sâu thẳm của độc giả ra sao? Nó
đánh thức một điều gì trong đời sống chúng ta?
TK: Về truyện "Biển rợn san
hô" mà anh nhắc tới, nằm trong cuốn "Ngôi nhà sau
lưng văn miếu" là tác phẩm đầu của Trần Vũ thì tôi hoàn toàn
đồng ý với anh: Vũ đã trình bày thực tế theo một lối viết tạm gọi là truyền
thống. Bài viết của tôi về Trần Vũ, nhằm phân tích cuốn Cái chết sau
quá khứ, tác phẩm thứ nhì, mà tôi cho rằng trong cuốn này, Vũ đã tạo được
một thế giới mới, của riêng mình.
Tôi không có ý nói là Trần Vũ viết (hay phải
viết) theo lối hiện thực đâu anh. Mà chỉ muốn tìm hiểu cách Trần Vũ trình bày
hiện thực trong "Cái chết sau quá khứ". Bình
thường nhà văn thường dựa trên một phần thực tế rồi hư cấu thêm, bất kỳ họ
viết văn theo lối nào: truyền kỳ, cổ điển, lãng mạn, hiện thực... Khi phê
bình Trần Vũ, tôi chú ý đến khía cạnh đặc biệt sau đây: trừ một vài truyện Vũ
viết theo thể ký, tạm gọi là tâm ký, rất hay, như "Cánh đồng mùa
gặt khô",người đọc có thể thấy khá rõ một hiện thực tạm gọi là
"bình thường"; phần còn lại, thế giới của Trần Vũ không giống bất
cứ một thế giới hư cấu nào: cái độc đáo của anh là ở chỗ đó. Hư cấu, nói nôm
na là bịa nhưng phải bịa làm sao cho giống thực (Nguyễn Công Hoan đã diễn tả
đơn giản mà rất đúng, như thế). Nhưng Trần Vũ lại không làm như thế, Vũ viết
những câu như:
- "Cuống rún nắm trong tay mụ đỡ
hiểu được số mệnh, vùng vẫy, cựa quậy, tháo thân, cuống rún như con rắn nước
liều lĩnh kháng cự trước lúc bị chặt đầu",
- "đôi mắt u nhìn kỹ trong veo
như đáy sông Thao".
Đó là những câu "bịa không giống
thực", bởi chẳng có "cuống rún" nào "liều lĩnh" như
vậy và sông Thao nổi tiếng nước đục, vì phù sa. Có thể cho đó là những hình
ảnh siêu thực Vũ chịu ảnh hưởng của Marquez. Nhưng cũng không hoàn toàn là
thế, tôi thấy Vũ đã hỗn hợp sách hình, phim chưởng, khoa học giả tưởng, hoạt
hoạ và vi tính, để tạo ra một thế giới tout est possible (tất
cả đều khả thể). Nhưng một lối viết "hoàn toàn bịa đặt" như thế,
tại sao lại có sức lôi cuốn? Là bởi vì, nó sống động, đầy hình ảnh, và nhất
là: nếu "cái thực tại" mà Trần Vũ mô tả không có thật, thì cái dã
man, tàn ác, cái cuồng nhiệt, cái khốc liệt, trong con người, trong chiến
tranh, trong vượt biển... có thực. Những cái ấy, Trần Vũ trải qua trong thời
vị thành niên, rồi Vũ "refouler" nó, vùi đi, cất giấu trong vô thức,
và bây giờ nó hiện lên trong văn chương. Tôi tạm dùng Freud để giải thích
hiện tượng Trần Vũ như thế.
Còn như anh hỏi "văn chương ấy cựa
quậy trong nội giới sâu thẳm của độc giả ra sao? Nó đánh thức một điều gì
trong đời sống chúng ta?". Tôi nghĩ cái đó là tuỳ "gu" của
người đọc. Có người tôn sùng Trần Vũ và có người không chịu được một dòng.
Đối với những người thích nghệ thuật của Trần Vũ thì sẽ thấy đây là một nhà
văn độc đáo, có óc tưởng tượng phong phú, phóng ra những hình ảnh siêu thực
lạ lùng. Chất cực đoan trong chân dung các nhân vật lịch sử làm cho nhiều
người khó chịu, cái dã man, tàn ác trong tác phẩm làm cho người ta sây sẩm
mày mặt: Trần Vũ gây sốc trong lòng người đọc. Đọc Trần Vũ ta có cảm tưởng
như bị dội gáo nước lạnh vào lương tâm. Và đó cũng là một cách vén màn bí mật
để tìm sự thực trong đời sống, trong chiến tranh, khai quật những gian dối
trong con người.
8/ HTA: Trong sự
nghiệp thi ca của Hoàng Cầm (gồm thơ và kịch thơ) chỉ có bài thơ ''Lá Diêu
Bông'' là nổi tiếng nhất (một phần là nhờ Phạm Duy phổ nhạc). Độc giả tha hồ
mà dựng cho nó cái ẩn dụ. Lá diêu bông trở thành một điều bí mật nghìn đời
chưa chắc ai có thể khám phá và tìm gặp. Chính cái ẩn mật của nó tạo cho
chúng ta một vòm trời tưởng tượng mênh mông. Nhưng theo chị, chị có nghĩ mỗi
người tự tạo cho mình một ẩn dụ hay một thứ ngụ ngôn trong bài thơ ấy hay
không?
TK: Tôi không chắc Lá Diêu Bông có
phải là bài thơ "nổi tiếng nhất" của Hoàng Cầm hay không. Hoàng Cầm
là một nhà thơ lớn, ông có nhiều bài rất nổi tiếng, Bên kia sông Đuống, Đêm
liên hoan, là những bài thơ nổi tiếng trong thời kháng chiến chống Pháp,
có tác động sâu xa trong lòng dân tộc. Tập Về Kinh Bắc là
tập thơ quan trọng, khắc ghi tư tưởng bất khuất của Hoàng Cầm sau vụ án Nhân
Văn, mặc dù con người Hoàng Cầm (yếu đuối hơn) đã có lúc cúi đầu nhận tội.
Trong Về Kinh Bắc có bài Lá Diêu Bông. Nếu đọc Lá
Diêu Bôngtrong bối cảnh Về Kinh Bắc, thì có thể hiểu Lá
diêu bông là hình ảnh của Tự do mà nhà thơ không
tìm thấy trong thế giới mà ông đang sống "Em đi trăm suối nghìn
sông, nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ". Nếu đặt trong bối
cảnh đời sống muôn thủa, thì Lá diêu bông là hình ảnh của Hạnh
phúc, con người suốt đời đi tìm hạnh phúc nhưng nào có thấy v.v...
Vì thế, đúng như anh nói: khi đọc bài Lá diêu bông mỗi
người có thể tìm ra một thứ ẩn dụ phù hợp với ý mình, nhưng cũng
chớ nên quên rằng, ý ấy phải hàm chứa trong ngôn ngữ của
tác giả. Nhiều người (sau khi đọc sơ qua vài lý thuyết mới về việc đọc)
lại hiểu lầm rằng "người đọc có toàn quyền sáng tạo ra những ý nghiã
mới". Cái đó rất nguy hiểm, có thể dẫn đến việc nói hươu nói vượn, tán
bịa ra những nghiã không có trong tác phẩm.
9/ HTA: Trong quyển ''Từ
Man Nương Đến AK Và Những Tiểu Luận'' hay quyển ''Marie Sến'', bà Phạm thị
Hoài ưa càu nhàu chì chiết và sẵn sàng lột mặt nạ ngụy trang cuộc đời. Nhưng
nữ sĩ ấy lột biết bao giờ cho xong đây? Cuộc đời vốn oái oăm, hết lớp ngụy
trang này thì khoác cả trăm nghìn lớp ngụy trang khác. Dưới ánh sáng Bát-nhã
của nhà Phật thì cuộc đời là mộng ảo, là huyễn ảnh khoác trùng trùng lớp lớp
ngụy trang. Đành rằng sứ mạng nhà văn là phải nhìn sâu vào cuộc sống, mọi
hiện hữu, còn việc dàn xếp, khâu vá và chữa lành vết thương cuộc đời là dành
cho các tôn giáo, các nhà xã hội học. Nhưng tôi thấy nhà văn Vĩnh Hảo tuy
công kích bọn giáo chủ ác ôn của các giáo phái mị dân, tuy bài xích bọn sư
sải bên Phật giáo lỡ chân trượt qua tà kiến, tuy nhiên dù anh ta không giảng
dạy độc giả theo kiểu ông thầy giảng luân lý trên bục giảng trong lớp học,
nhưng văn chương của anh lóe lên một tia sáng tìm về cái chân thật, cái chân
hạnh phúc nội tại. Riêng chị, chị thấy văn chương của Phạm thị Hoài của chúng
ta có lóe lên một điều gì tích cực không?

TK: Nhưng lột biết bao giờ cho xong
đây? Tôi thích nghi vấn ấy của anh, trong câu hỏi ấy đã có câu trả
lời: Chẳng bao giờ "xong" cả, và đó là nguồn bất tận của văn
chương. Nhà văn luôn luôn tra vấn cuộc đời, mỗi người đưa ra một chủ đề tra
vấn, và tra vấn một cách khác nhau: Có người cả đời chỉ tra vấn có một vấn
đề, có người mỗi tác phẩm viết về một chủ đề, có người trong cùng một tác
phẩm khai thác nhiều chủ đề. Có người chẳng tra vấn gì cả, cũng là một thái
độ văn chương. Tóm lại, mỗi nhà văn có một lối viết và một quan niệm nhân
sinh khác nhau: Vĩnh Hảo khác Phạm Thị Hoài. Cái khác biệt ấy làm nên cá tính
văn chương của mỗi người. Theo tôi, Phạm Thị Hoài không phải là nhà văn có
khuynh hướng "từ bi hỉ xả" của nhà Phật. Cái hay ở Hoài, là đã tạo
ra được mộtthế giới ngôn ngữ sắc bén, châm biếm, chua cay, để lột
trần những hình thức ngụy trang tư tưởng, ngụy trang ngôn ngữ, ngụy trang đạo
đức trong xã hội Việt Nam. Một xã hội -chưa thoát khỏi ảnh hưởng Nho giáo
cuối mùa đã rơi vào chế độ toàn trị- bị thứ ngôn ngữ chính thức ngụy tạo chi
phối: nói vậy mà không phải vậy. Hoài làm được việc ấy, anh có nghĩ rằng đó
là một điều tích cực không?
10/ HTA: Nguyễn Huy
Thiệp có phải là nhà văn tư tưởng không? Vậy tư tưởng gì mà anh dùng văn
chương để anh minh họa và xiển dương? Cái sử quan của đương sự dưới mắt chị
không phải là sửa đổi lịch sử để mang tiếng hiếp dâm lịch sử (violer
l'histoire) như thiên hạ đã gán cho nhà văn tiểu thuyết kiếm hiệp Alexandre
Dumas. Họ Nguyễn cũng không bôi bẩn lịch sử khi viết về Gia Long và Nguyễn
Huệ. Theo tôi, họ Nguyễn dùng những nhân vật lịch sử như một công cụ
(instrument) để trình bày và khai triển nhân sinh quan, cái nhìn đặc thù của
mình đối với văn chương và nền móng tư duy của mình. Chị nghĩ sao về nhận
định này?
TK: Nhà văn đích thực nào cũng có tư tưởng.
Văn không tư tưởng bất thành văn. Tư tưởng của nhà văn tiềm ẩn trong chữ
nghiã của họ. Nguyễn Huy Thiệp, có thể anh không ngờ, tôi cho là người có tư
tưởng Phật Giáo uyên thâm. Điều mà anh vừa đề cập trong câu hỏi về Phạm Thị
Hoài "Dưới ánh sáng Bát-nhã của nhà Phật thì cuộc đời là mộng ảo"
rất hợp với Nguyễn Huy Thiệp, bởi Nguyễn mới là người cho đời là mộng ảo, tất
cả đều phù du, sắc tức thị không không tức thị sắc (qua những lời đối thoại
giữa các nhân vật, trong tiểu luận, và trong lúc Thiệp nói chuyện bình
thường). Trong truyện ngắn Sang sông Nguyễn ngỏ cái ý này
nhiều hơn những chỗ khác: nhà sư và kẻ cướp rồi cũng vậy thôi, tất cả đều là
mộng ảo, thực hư, hư thực. Nhưng trong Con gái Thủy Thần, viết về
Mẹ Cả, Nguyễn lại đề cao đức Mẹ, đề cao niềm tin thiên Thiên Chúa giáo: như
trên tôi đã nói, một nhà văn có thể xử dụng nhiều loại hình tư tưởng trong
sáng tạo, chứ không nhất thiết phải ở yên trong một dòng triết học hay một
dòng tư tưởng đặc biệt nào.
Tôi đồng ý với anh là Nguyễn Huy Thiệp dùng
nhân vật lịch sử để làm "việc riêng" của mình. Nguyễn không viết
tiểu thuyết lịch sử như Alexandre Dumas, điều đó hiển nhiên. Trong xã hội
miền Bắc, những chân dung lãnh tụ (như Lénin, Mao, Bác Hồ) được tô hồng sùng
bái. Thiệp là người đầu tiên hạ bệ những chân dung đó bằng cách nhét vào
miệng Nguyễn Huệ (anh hùng dân tộc, trong tâm cảm nhiều người, có vị trí
tương đương Bác Hồ) những lời lẽ thô tục. Hoặc đưa ra một lúc 3 versions về chuyện
Gia Long tìm vàng... Qua cách viết ấy, Nguyễn Huy Thiệp dùng
"ám hiệu" để đánh thức đám quần chúng mê muội: anh hùng dân tộc
cũng chỉ là người phàm, đừng thần thánh hoá. Lịch sử có nhiều versions, kẻ
thắng có version (thoại) của kẻ thắng, và version đó chưa chắc đã là sự thật.
11/ HTA: Có phải cái
trái cựa trong gia đình ông tướng Thuấn trong tác phẩm ''Tướng Về Hưu'' của
Nguyễn Huy Thiệp làm nên giá trị nhân bản của tác phẩm này. Cái khôi hài của
văn chương đương sự qua cái Vi và ông Bổng đen gấp trăm lần hơn cái khôi hài
trong bộ ''Nho Lâm Ngoại Sử'' của Ngô Kính Tử, chị có đồng ý không?
TK: Tôi chưa đọc Nho Lâm Ngoại Sử của
Ngô Kính Tử nên không thể so sánh. Riêng truyện Tướng về hưu thì
tôi hoàn toàn đồng ý với anh: giá trị nhân bản của tác phẩm nằm ở chỗ Nguyễn
Huy Thiệp đã diễn tả được cả hai khía cạnh tối-sáng trong con người. Hơn thế
nữa, Nguyễn đã diễn tả được con người toàn diện (l'homme totale). Dưới chế độ
xã hội mà mọi người được giáo dục trong sự phân chia rạch ròi thiện-ác, thậm
chí: ta: thiện, địch: ác; Nguyễn là người đầu tiên dám đả động đến cái bất nhân
trong nhân tính, tức là cái ác trong con người.
Hầu như tất cả những nhân vật trong Tướng
về hưu đều chứa những bi kịch, đều có hai mặt, từ người cha, ông
Thuấn, đến người con, tên Thuần, (Thuấn-Thuần, đồng âm), cha truyền con nối,
giống hệt như nhau: một thứ chủ gia đình bù nhìn, xếp bù nhìn... Quyền hành
thực sự và toan tính thông minh ở trong tay người đàn bà: Thủy, vợ Thuần. Ông
tướng về hưu, tưởng bề ngoài oai phong, nhưng bên trong là cả một khối bất
lực. Tưởng ông là cột trụ gia đình, thực ra cả đời ông thoát ly gia đình.
Tưởng ông lèo lái quốc gia, sự thực ông chỉ rành việc chôn người... Không những
Nguyễn đã đảo lộn trật tự lâu đời nhất của xã hội: quyền phụ hệ chuyển sang
mẫu hệ; mà còn đạp đổ cả truyền thống vững bền nhất trong lịch sử như huyền
thoại anh hùng; rồi đạp đổ luôn huyền thoại thời nay là ca ngợi chiến tranh:
Tất cả đều xây dựng trên gian dối của ngôn ngữ. Nguyễn dùng tiếng nói ngây
thơ (nhưng ranh mãnh) của đứa nhỏ như cái Vi, hoặc bỗ bã như ông Bổng, để lật
ngửa sự thật, dưới hình thức khôi hài sâu sắc, cười mà khóc, đúng như anh đã
thấy.

12/ HTA: Bước qua ''Sóng
Từ Trường II, ở chương ''Linh Sơn'' viết về văn chương của Cao Hành Kiện, chị
có nhắc tới quan niệm về phái tính trong quyển ''Le deuxième sexe'' của nữ sĩ
Simone de Beauvoir. Họ Cao, bà Simone de Beauvoir và chị không xem phụ nữ như
là một tha nhân của nam giới. Tôi có nhớ mang máng bà Simone de Beauvoir nói
một câu trặc trẹo như sau: ''Đàn bà khi sinh ra không phải là đàn bà, chính
xã hội làm cho họ trở thành đàn bà''. Nhưng tôi nghĩ đàn bà cận đại và hiện
đại chỉ thích được tự do và bình đằng với đàn ông, luôn cả được hưởng thụ
theo tiếng gọi của thân xác, theo sự đưa đẩy của ảo cảm dục tính (fantasme)
thôi. Nhưng họ vẫn muốn giữ cái sở thích riêng của họ, những rung cảm riêng
của họ: được ăn diện lộng lẫy để mê hoặc đàn ông, thích mình làm đối tượng
(objet) để cho đàn ông đóng vai chủ thể (sujet) ngắm nghía và chiêm ngưỡng
cái đẹp của dung nhan họ. Và họ thích được phái mạnh thèm muốn thân xác của
họ. Họ thích được phái mạnh cưng chiều ve vuốt họ và họ thích giữ nguyên vẹn
cái mầm mống thiên chức làm mẹ (fibres maternelles). Hầu hết 99% đàn bà đều
có những cái đối lập với đàn ông như thế. Chị nghĩ sao?
TK: Có hai điều nên xác định trước khi đi xa
hơn:
- Về chữ L' Autre của
Simone de Beauvoir, người ta hay dịch là tha nhân; theo tôi dịch
như thế chưa lột được đầy đủ ý nghiã. Tha nhân, chỉ có nghiã là
người khác (không ngụ ý xấu), còn chữ L'Autre, Beauvoir dùng để
chỉ địa vị thấp kém của người đàn bà trong xã hội phụ quyền từ xưa đến nay.
Người đàn ông luôn luôn ở vị trí chủ thể và người phụ nữ bị coi là L'Autre,
một cách phân biệt đối xử, kiểu "bọn đàn bà con gái", "bọn đàn
bà con nít", giống như người da đen "bọn mọi". Chữ L'Autre của
de Beauvoir theo tôi nên dịch là Kẻ kia (trong nghĩa: con
kia, con đó, nó). Bà phân tích tại sao người đàn bà -không phải là một thành
phần thiểu số như người da đen (bị kỳ thị khinh bỉ) hay người Do Thái (bị
ganh ghét) mà đông bằng nửa nhân loại -lại có một vị trí thấp kém, vị trí củaL'Autre,
một thứ công dân hạng nhì trong xã hội như vậy.
- Câu de Beauvoir mở đầu cho quyển hai cuốn
Le deuxième sexe (Phái yếu, Phái thứ nhì) nguyên văn như sau: "On
ne nait pas femme: on le devient. Aucun destin biologique, psychique,
économique ne définit la figure que rêvet au sein de la société la femelle
humaine; c'est l'ensemble de la civilisation qui élabore ce produit
intermédiaire entre le mâle et le castrat qu'on qualifie de féminin. Seule la
médiation d'autrui peut constituer un individu comme un Autre".(Người
ta không sinh ra là đàn bà, mà trở thành đàn bà. Không một hệ quả sinh học,
tâm linh, kinh tế nào giải thích được bộ mặt mà xã hội khoác lên cho giống
cái của con người; chính toàn bộ nền văn minh đã tạo nên cái sản phẩm -gọi là
phụ nữ- trung gian giữa giống đực và giống (bị) hoạn. Chỉ một môi giới ngoại
lai mới có thể tạo nên một loại cá thể là Kẻ kia như thế).
Beauvoir dùng toàn bộ tác phẩm để chứng minh
tiền đề này: con người sinh ra, bình đẳng nam nữ, nhưng chính giáo dục gia
đình và xã hội đã gây ra sự bất bình đẳng giữa nam và nữ.
Ngay khi còn trẻ, sống trong gia đình,
Beauvoir đã sớm nhận ra sự bất bình đẳng này qua số phận của người mẹ, của
người bạn gái bất hạnh, và của chính mình: Bà học giỏi, đỗ vào trường Normale
(trường nổi tiếng khó nhất nước Pháp), thi concours thạc sĩ (agrégé) triết
học ra trường, đỗ đầu, đồng hạng với Jean-Paul Sartre; về nhà ông bố bảo: "Tôi
vẫn biết cô có bộ óc đàn ông". Và ông còn nói với bà mẹ: "Con
này đã xấu lại học giỏi như thế thì làm sao mà gả chồng". Những
lời nói ấy, bộc lộ thành kiến đã in sâu trong đầu óc người cha: cứ giỏi thì
phải là đàn ông, và con gái thì chỉ có mục đích là gả chồng. Người cha bảo
thủ đầy quyền thế. Người mẹ nen nét lo sợ, không dám làm gì trừ cam chịu.
Người bạn thân, bị mẹ ép gả chồng giàu, sinh bệnh rồi chết. Qua kinh nghiệm
bản thân như thế, Beauvoir chống lại áp lực của cha mẹ, áp lực xã hội, để
sống đời tự do như ý muốn: Bà thoát ly gia đình, sống với Sartre. Cặp
Sartre-Beauvoir áp dụng chế độ tự do trong đời sống lứa đôi: họ sống chung
nhưng cả hai đều tự do và bình đẳng với nhau về mặt tư tưởng cũng như thân
xác, chống lại tất cả những hình thức đạo đức giả tạo trong xã hội trưởng
giả.
Về mặt tính dục, Beauvoir chủ trương ngang
bằng sổ ngay với người đàn ông, nghĩa là không chấp nhận tình trạng trai năm
bẩy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng. Nếu Sartre tự do đi với những
người đàn bà khác, thì Beauvoir cũng có đời sống tính dục riêng. Họ không dấu
diếm gì nhau, tức là họ công khai, không vụng trộm.
Khi cuốn Deuxième Sexe ra đời
(1949), bà trở thành cái đích để người ta tấn công. Các bà mệnh phụ kiêu hãnh
khoác tay chồng đi dạo phố, gặp Simone, đổi vỉa hè, khinh bỉ; có bà mẹ còn
xông vào hành hung, bởi con gái bà đã bị "đầu độc" vì đọc Deuxième
Sexe, không chịu cho cha mẹ đặt đâu ngồi đấy nữa.
Tư tưởng của Simone de Beauvoir đã dẫn đầu
cho phong trào "giải phóng" phụ nữ trên thế giới. Nói đúng hơn, nhờ
triết thuyết của Beauvoir mà cả một thế hệ phụ nữ, đã tự giải phóng mình ra
khỏi những kiềm toả của gia đình và xã hội.
Tác phẩm của Simone de Beauvoir là tác phẩm
đầu tiên và duy nhất đi sâu vào điều kiện sống phổ quát của phụ nữ từ A đến
Z, nghĩa là từ lúc sinh đến lúc chết, dọc theo lịch sử và văn hoá nhân loại
từ thượng cổ đến ngày nay, với cái nhìn của người trong cuộc, bằng lối tiếp
cận triết học và khoa học, đi từ nguồn: Con người từ lúc còn trong thai đã
được cấu tạo như thế nào. Khảo sát những yếu tố sinh học và tâm linh, trong
con người (nam và nữ). Khảo sát những huyền thoại và dữ kiện văn hóa. Về sinh
học, dựa trên thống kê khoa học (bà trình bày nhưng bác bỏ luận điệu này) thì
người đàn bà có tỷ số cân não (trọng lượng bộ óc/trọng lượng thân thể) tương
đương với đàn ông. Về mặt cơ bắp, người đàn bà yếu hơn, không chạy nhanh bằng
đàn ông, không làm được những việc quá sức nặng nhọc, nhưng sức mạnh không
tạo ra sự bất bình đẳng vì người mẹ và người vợ trong gia đình có một uy tín
khác (cái oai) với chồng con. Nguyên do bất bình đẳng đến tự bên ngoài: tự
nền văn minh, và Beauvoir đã duyệt lại nguồn gốc lịch sử văn minh nhân loại,
để tìm hiểu con người đã làm gì với thể loại giống cái của mình, để biến
người đàn bà thành l'Autre, Kẻ kia.
Trả lời câu hỏi của anh, tôi lại xin dùng ý
của Simone de Beauvoir để giải thích vấn đề này: Khi khảo sát những đứa nhỏ,
từ lúc mới sinh đến 4, 5 tuổi, bà nhận thấy trai gái đều giống nhau: tức là
đều ghen với em, đều muốn "quyến rũ" mẹ để được yêu chiều, nựng
nịu. Con trai đôi khi còn quấn mẹ hơn, còn mau nước mắt hơn con gái.
(Beauvoir đi sâu vào sự phát triển dục tính, để trình bày và phê bình cái mà
Freud gọi là mặc cảm Oedipe ở con trai và mặc cảm Electre nơi con gái...
nhưng ở đây chúng ta không thể nói kỹ được). Vậy, trước hết, nếu chỉ nhận xét
bề mặt thôi, thì cũng thấy cái khả năng quyến rũ (pouvoir de
séduction), không chỉ là đặc sản của phụ nữ. Mà ngay từ lúc sinh ra, cả
trai lẫn gái đều tận dụng cái khả năng đặc biệt này, trước tiên là để
"quyến rũ" mẹ mình. Nhưng giáo dục gia đình đã cấm đứa bé trai, đến
một tuổi nào đó, không còn được quấn mẹ nữa, không được khóc nhè như con gái nữa:
mình là đàn ông mà! Cũng cái giáo dục ấy đã triệt tiêu khả năng phát triển
tri thức nơi con gái: không cho con gái đi học, hoặc nếu đi học có học dốt
cũng chả sao, mai mốt lấy chồng là xong chuyện, trong khi con trai bắt buộc
phải học giỏi, sau này còn gánh vác gia đình. Chưa hết, để nhử người con gái
vào tròng, người ta còn tạo ra những "thiên chức" làm mẹ, làm vợ.
Dậy con gái biết trang điểm, lời ăn tiếng nói phải cho dịu dàng, đừng làm mất
"nữ tính" để dễ lấy chồng. Cái "nữ tính" ấy cũng rất nhân
tạo: con gái không được đánh nhau (như con trai), phải học may vá thêu thùa,
trong khi không cho con trai nhúng đến chuyện bếp núc, việc hạ tiện. Làm gì
có chuyện "thiên chức làm mẹ"! Trong xã hội Tây phương ngày nay
(tương đối bình đẳng), nhiều người đàn ông còn giỏi hơn vợ trong việc tã lót,
trông nom con cái. Tóm lại, lối giáo dục con gái, vừa buông thả (học làm gì),
vừa đe nẹt (quyền huynh thế phụ) vừa phỉnh nịnh (đừng làm mất nữ tính, phải
giữ thiên chức của người phụ nữ) đã tạo nên người đàn bà, một thực thể mà
Beauvoir gọi là trung gian giữa đàn ông và kẻ bị thiến (mất khả năng làm
người).
Được giáo dục trong điều kiện như thế, người
phụ nữ, dễ dàng biến thành một thứ femme-objet, phụ nữ-vật thể, vô trách
nhiệm, tự thoả mãn và hãnh diện về việc sống dựa vào chồng.
Beauvoir cho rằng chỉ có thể chấm dứt tình
trạng nam nữ bất bình đẳng, nếu người phụ nữ tự ý thức được quyền lợi và
trách nhiệm của mình, đạp đổ những phỉnh lừa và áp đặt trong giáo dục gia
đình và xã hội. Một khi đã ý thức được, thì chính người phụ nữ sẽ tìm cách
tháo gỡ, tự lập, không hạ mình để trở thành femme-objet, được người đàn ông
cung phụng, nhưng đồng thời cũng trở thành nô lệ.
Ngày nay, trong xã hội tân tiến, bình đẳng,
đàn ông cũng đã trở thành vật thể homme-objet. Nếu để ý nhìn truyền hình mỗi
ngày, anh sẽ thấy số người mẫu làm dịch vụ quảng cáo, nam cũng đông như nữ.
Hoặc nhiều người đàn ông cũng không ngần ngại dùng khả năng quyến rũ (tức là
bán thân) để kiếm sống. Ở Bắc Âu, nhiều người đàn ông (lương thấp hơn vợ) sẵn
sàng ở nhà làm nội tướng (homme au foyer).
Cũng xin nói thêm một điểm nữa là tác phẩm
của Simone de Beauvoir không hề đặt trọng tâm trên sự khai thác tự do tính
dục như một nguyên tắc bênh vực nữ quyền. Không phải vậy. Nữ quyền
chính là nhân quyền. Đòi hỏi nữ quyền là đòi hỏi sự thể hiện nhân quyền
cho một nửa nhân loại. Vấn đề Simone de Beauvoir đưa ra rộng lớn và phổ quát: đó
là sự tự do và bình đẳng toàn diện trong đời sống con người cả nam lẫn nữ.
13/ HTA: Linh Sơn là núi
Linh Thứu (Linh quiu theo phiên âm) là một hòn núi chỉ có trong ''Kinh Lăng
Già'' mà cái phàm nhãn của con người không thể thấy được. Chị đã viết: ''Linh
Sơn là một cuộc đi, đi đến nát bàn hay đi về cõi chết. Linh Sơn còn là khởi
điểm của tìm kiếm, tìm kiếm bản thân hay tìm kiếm sự thật?''. Nhưng sau đó,
chị cho biết Cao văn gia trải qua 12.000 cây số để đi tìm sự thật (tức là
chân tâm, tức là toàn giác, tức là sự thật tuyệt đối đầu tiên và cuối cùng).
Nhưng theo tinh thần then chốt của Kinh Đại Thừa thì sự thật đã ở sẵn nơi mọi
cát thể, ta cần gì phải tìm nó ở ngoài ta mà phải trải qua vạn dặm trên đường
hành hương? Mà dù có lặn lội như thế, chắc chắn cũng không bao giờ tìm gặp
(chứng ngộ đúng hơn) sự thật. Chỉ vì vọng thức che mờ nên chúng ta không nhận
sự thật đó thôi. Chị nghĩ sao về tư tưởng của Cao Hành Kiện? Ông ta có phải
là một kẻ am hiệu Phật pháp hay chịu ảnh hưởng hệ thống triết học nào khác?
TK: Như trên tôi đã nói: nhà văn không nhất
thiết phải dùng toàn bộ một hệ thống triết học trong một tác phẩm. Mà tư
tưởng của họ thường bay nhảy, theo nhu cầu của nhân vật, của văn cảnh. Theo
tôi Cao Hành Kiện là một nhà văn Trung hoa thầm nhuần Tây học, ông chịu ảnh
hưởng của triết học hiện sinh, ảnh hưởng lối viết kịch phi lý của Beckett,
Ionesco, dùng nhiều kỹ thuật Tây phương trong cách bài bố văn bản, cũng như
cách điều tra sự thực. Linh Sơn chỉ là một cái tên, một địa điểm, có ý nghiã
biểu tượng, luôn luôn thay đổi tùy theo văn cảnh, khi thì là cõi niết bàn,
khi là chân lý, khi là mục đích, khi là cứu cánh, khi là sự thực... Cao Hành
Kiện đã sống ba chìm bảy nổi trong xã hội Cộng sản, có lúc được trọng dụng,
khi bị sa thải, và ông đã có thời gian mười năm đi "trường chinh"
12.000 cây số. Linh Sơn là cuốn tiểu thuyết hư cấu từ kinh nghiệm đi và sống
của tác giả trong cuộc "trường chinh" này, nói lên sự cô đơn của
con người trên chính đất nước mình. Đọc Linh Sơn thấy cái hoang mang vô bờ
của một kẻ đi tìm ánh sáng mà không biết bao giờ mới ra khỏi đường hầm: Trong
bối cảnh ấy, cũng có thể hiểu Linh Sơn là Tự do, là cái đích vượt thoát của
con người bị vây khổn. Nhưng cũng có thể hiểu Linh Sơn là cái đỉnh nghệ thuật
mà nhà văn muốn đạt, và cũng có thể hiểu Linh Sơn là hạnh phúc mà con người
tìm kiếm. Linh Sơn cũng có thể là cái núi trong tâm hồn, như lời Cao Hành
Kiện, tức là tất cả trở ngại đều ở trong tâm mình mà ra, vậy vượt Linh Sơn
chỉ là vượt mình. Nhưng Linh Sơn cũng có thể là hư vô, không có gì hết, trong
triết học hiện sinh. Mà cũng có thể là niết bàn, là tới bến, trong triết học
đông phương. Nếu hiểu Linh Sơn là cõi niết bàn, thì đúng là Phật dậy: niết
bàn ở trong ta, hạnh phúc cũng ở trong ta. Tuy vậy, phần đông đều muốn đến
niết bàn, nhưng mấy ai biết được niết bàn ở đâu? Ai đã dám chắc là niết bàn ở
trong ta? Dù có đọc qua Phật pháp? Linh Sơn là hành trình tìm, mà chưa thấy
ấy, và chính ở chỗ chưa thấy, nó mới lung linh, quyến rũ, nếu đã biết rõ, đã
thấy rõ thì có lẽ Cao Hành Kiện chưa chắc đã viết được Linh Sơn đâu anh ạ.
14/ HTA: Theo tôi, Cung
Trầm Tưởng trước 1975 làm thơ tình yêu. Khi ra hải ngoại, ông làm thơ hiện
thực, thán oán cảnh lao tù qua tập thơ ''Lời Viết Hai Tay''. Trong lối thơ
hiện thực, ông ta chỉ đổi mới ngôn ngữ để khỏi trùng lẫn với thơ của hàng
trăm tác giả cùng cảnh ngộ cùng theo đường lối hiện thực như ông. Nhưng bao
năm qua rồi, vết thương lịch sử có lành lặn phần nào không? Thái độ và hướng
nhắm tới trong thơ của ông có phải để ông banh rộng vết thương đã bắt đầu
khép miệng không? Hay là ông muốn lưu lại một dấu vết gì, một biến động gì
cho hậu thế, trong khi bạn thơ đồng hành đồng cảnh của ông khai thác đề tài
này bấy bầy rồi? Ông có đi muộn và đến cũng muộn không?
TK: Tôi thích thơ tình Cung Trầm Tưởng hồi
trẻ, những bài làm ở Pháp, và đã viết về thơ tình Cung Trầm Tưởng. Tôi chưa
có thì giờ nghiên cứu thơ tù của Cung Trầm Tưởng, nên không dám có ý kiến
ngay bây giờ. Chỉ xin trả lời anh thế này: Theo tôi, trong văn chương, không
có gì sớm, mà cũng chẳng có gì muộn cả; chẳng có đề tài mới mà cũng chẳng có
đề tài cũ, chỉ có hay hoặc dở mà thôi. Có thể có hàng trăm người đã làm thơ
tù trước Cung Trầm Tưởng, nhưng nếu thơ tù của anh Tưởng hay thì người ta vẫn
đọc.
Còn vấn đề vết thương chiến tranh, có người
quên, có người nhớ. Việc vết thương có "lành" hay không là tùy quan
điểm của mỗi người: người nào muốn làm lành vết thương thì viết văn, làm thơ,
theo chiều hướng hoà giải; người nào muốn xé to vấn đề thì lại sáng tác thơ
văn theo chiều hướng xé to. Điều quan trọng là những gì mình viết có giá trị
hay không: Nếu là bài tiểu luận thì phải có sức thuyết phục; nếu là văn, thơ
thì phải có nghệ thuật; như vậy thì chắc chắn nó sẽ đứng vững với thời gian.
15/ HTA: Qua hai câu thơ:
''Trên dốc thời gian hòn đá tuột/ Lăn dài kinh động cả hư vô'', chị đã giao
cảm việc Tô Thùy Yên tự cho mình như hòn đá tuột dốc theo vận nước nổi trôi
để so sánh tiền thân của Giả Bảo Ngọc trong pho ''Hồng Lâu Mộng'' của Tào
Tuyết Cần. Chàng họ Giả vốn là hòn đá ở tiền kiếp. Nhưng hòn đá tiền kiếp kia
tủi hờn thân phận vô dụng của mình vì bà Nữ Oa không đem nó vá trời như các
hòn đá khác nên nó thác sinh xuống đất Kim Lăng nước Tàu để đòi sự hiện hữu
và sự ứng dụng của mình. Nó chủ động. Còn hòn đá Tô Thùy Yên bị thời cuộc và
vận nước bắt nó hóa thân thì lại ở vào thế bị động, bị cưỡng ép, do bạo lực
bắt nó lăn tuột giốc.Như vậy cái định mạng oan khiên (la fatalité) trong thơ
Tô Thùy Yên và cái chủ động của tiền thân Giả Bảo Ngọc tuy trái ngược nhau nhưng
có điểm chung nào trong cõi văn chương không?
TK: Khi đọc một tác giả, tôi luôn luôn chú ý
đến những điểm mà tôi cho là mấu chốt trong tư tưởng của tác giả. Đọc thơ Tô
Thùy Yên, tôi tìm thấy bốn yếu tố chính, đã xây dựng nên thành trì thơ anh:
đó là thời gian, sự tồn tại, nỗi cô đơn và đá. Mặt khác, Tô Thùy Yên cũng là
một trong những nhà thơ thuộc dòng cách tân, cùng với Thanh Tâm Tuyền, trong
nhóm Sáng Tạo. Nhưng nếu Thanh Tâm Tuyền (thời ấy) cách tân 100%, tức là dứt
khoát cắt đứt với thơ cổ điển, thì Tô Thùy Yên là cầu nối giữa cổ điển và
hiện đại: Thơ Tô Thùy Yên, tuy dùng rất nhiều chữ của triết học hiện sinh như
hư vô, thời gian, tồn tại... dùng nhiều hình ảnh siêu thục như: kỷ
niệm buông tay rú ngất chìm... nhưng thơ anh Tô lại có không khí u uẩn
Đông phương: "Nao nao mường tượng bóng mình / Mịt mùng cõi tới,
u minh tiếng rền", "Chim đã bay quanh từ vạn cổ / Gió
thật xưa, mây thật già nua", một không khí rất Đường thi, và đặc
biệt anh suy nghĩ về đá: "Trên dốc thời gian, hòn đá tuột", "Tiếng
kêu đá lở long thiên cổ". Đá trong thơ Tô Thùy Yên, dường như có âm
hưởng đông phương, là đá ta, chứ không phải đá tây, như lệ đá xanh của
Thanh Tâm Tuyền hay tuổi đá buồn của Trịnh Công Sơn. Vì vậy
tôi liên hệ đá của Tô Thùy Yên với nguồn đá trong truyền thuyết đông phương
là bà Nữ Oa đội đá vá trời, kế đến Giả Bảo Ngọc, trong truyện của Tào Tuyết
Cần, có tiền thân là đá. Nếu đá của Tô Thùy Yên có nguồn từ đông, thì cái
không gian và thời gian trong thơ anh lại khởi đi từ triết học Heidegger. Và
đó là cái mấu chốt sâu xa tôi tìm thấy trong thơ Tô Thùy Yên: giao cầu giữa
đông và tây, tạo ra một mô típ "cô đơn hành giả" trong thơ Việt. Đá
của Tào Tuyết Cần và Tô Thùy Yên giống nhau ở chỗ cùng phát xuất từ gốc huyền
thoại mẹ Nữ Oa; nhưng khác nhau vì Tô Thùy Yên dùng đá để nói về nỗi đau, nỗi
bơ vơ hiện sinh nơi con người, trong khi Tào Tuyết Cần hướng về tiền thân của
con người phát xuất từ trời, từ đá.

16/ HTA: Tôi có cảm
tưởng Khánh Trường hung hăng trong lúc cầm bút. Nhưng anh ta chỉ chửi thề chứ
không gào thét, chỉ hằn học muốn tát vả cuộc đời và xã hội xáo trộn ly tán vì
bạo lực và chiến tranh chứ không gây bao giờ để đầu óc mình bị bạo hành manh
nha. Các nhân vật của anh làm tình hùng hục và dữ dội theo kiểu dã thú (amour
sauvage), chứ không giở trò bạo dâm (le sadisme) đổ máu... Có phải Khánh
Trường chỉ hung hăng trong khuôn khổ chứ không để cái hung hăng lọt ra ngoài
xã hội, ra ngoài cuộc đời không? Và nếu tôi không lầm do nhận định theo kiểu
''ý tại ngôn ngoại'': anh ấy thương xót cuộc đời theo kiểu Lỗ Tấn thương xót
A Q. dù Lỗ văn gia vẽ chân dung A Q. theo lối biếm họa trong văn chương. Chị
có ý kiến gì?
TK: Về chiến tranh Việt Nam có rất nhiều người
viết, nhưng theo tôi, Khánh Trường và Cao Xuân Huy là hai ngòi bút mạnh bạo
nhất từ 1975 đến ngày nay. Cả hai đều nói thẳng, nói thực, phanh phui những
điều mà người khác còn e dè hoặc giấu diếm. Theo tôi, có ba yếu tố khơi dậy
ngòi bút trong Khánh Trường: bản năng, nổi loạn và cảm tính. Khánh Trưòng
"nổi loạn" trước những khăn đai áo mão vái nhau, trước những đạo
đức giả của người cùng thời. Khánh Trường "bản năng" khi anh viết
về sự tàn bạo phi nhân của chiến tranh, khi viết về sexe. Và Khánh Trưòng đầy
thương cảm, khi viết về Mai Thảo, về những bạn văn mà anh yêu mến. Khánh
Trường không giống Lỗ Tấn, bởi hai bản chất hoàn toàn khác nhau, hai văn
phong khác nhau: Lỗ Tấn thâm trầm, sâu sắc, và trí thức, ông đứng trên nhân
vật, ông dùng thiên tài của mình để vẽ nên một nhân vật bất hủ như AQ. Trong
khi Khánh Trưòng nhập vào nhân vật của mình, thường là những người lính.
Truyện của Khánh Trường là chính Khánh Trường, một nhân vật phản diện: thô
bạo, ăn tục nói phét, chửi thề bạt mạng. Và anh đã thành công trong việc đem
xương tủy của mình để tạo nên nhân vật. Đọc Khánh Trường, người ta có thể khó
chịu, nhưng không khỏi thấy sự thật trào máu một cách xót xa cay đắng.
17/ HTA: Qua truyện
''Euridice'' (Tình Xưa) của Nguyễn Tiến Lãng, qua tích ''Trầu Cau'' mà Phạm
Duy Khiêm đưa vào quyển ''Les Légendes des Terres Sereines'', chị đã hướng
dẫn độc giả tìm cái ẩn dụ trong hai truyện ấy. Vậy thừa thắng xông lên, chị
có ý định viết một cuốn nói về ẩn dụ của những câu chuyện cổ tích của nước
nhà không? Theo tôi biết, những câu chuyện thần thoại và truyền kỳ của Hy Lạp
và La Mã đều có ẩn dụ, đều có cái đáy thẳm dung chưa nhiều tư tưởng triết học
lẫn nhân sinh quan. Cuốn ''Mythologie et Légendes Grecques et Latines'' được
người Tây phương xem như cái nôi nghệ thuật của họ, có phải? Như vậy các cụ
ta khi sáng ta các truyện cổ tích lẽ nào chỉ kể truyện suông trơn hay sao?
TK: Không anh ạ. Nhân viết về Nguyễn Tiến Lãng
và Phạm Duy Khiêm, tôi thử phân tích và tìm hiểu những gì không hiển nhiên
đằng sau văn bản "cổ tích" của hai nhà văn này mà thôi, chứ tôi
không có ý định viết về ẩn dụ trong các truyện cổ tích Việt Nam, vì đó là một
đề tài rất rộng, cần phải thông bác nhiều lãnh vực văn hoá, ngoài ngữ học,
triết học, dân tộc học, còn phải biết sâu về Hán học và Việt học nữa.
Tôi kể anh nghe chuyện này, để thấy là vấn
đề biểu tượng (mà anh gọi là ẩn dụ) trong văn chương, trong đời sống, không
đơn giản chút nào. Khi khảo sát về mộng, Freud cho rằng: muốn đoán mộng thì
phải hiểu những biểu tượng trong mộng, và muốn hiểu những biểu tượng trong
mộng (ta thường gọi là điềm), thì phải tìm ý nghiã trong huyền thoại học,
trong ngôn ngữ học, trong nhân chủng học, trong tâm lý dân tộc, trong khoa
học tôn giáo... thì sẽ thấy. Ấy mới chỉ là để đoán những "điềm"
trong mộng thôi, mà đã khó khăn như thế, cho nên phải biết rằng những vị quân
sư ngày trước, như Khổng Minh, muốn đoán (tương đối) trúng một điềm mằm mơ,
trước khi ra trận, hay của vua, họ đã phải thông bác như thế nào. Bởi vì,
ngôn ngữ trong mộng không giống như ngôn ngữ thường: thí dụ anh nằm mơ thấy
một căn phòng thì đó là biểu tượng của đàn bà (điều này làm cho ta hiểu tại
sao trong thơ cổ điển hay nói đến khuê phòng (phòng đàn bà) mà không nói đến
phòng đàn ông). Hoặc anh nằm mộng thấy cái nhà, thì đó là biểu tượng của
người, mà các cửa sổ, cửa ra vào là những bộ phận có lỗ hổng nhập vào thân
thể (điều này có thể giải thích tại sao người ta gọi chồng hay vợ là nhà
tôi). Hoặc thời cổ xưa người ta gọi việc làm tình là travail (điều này có thể
giải thích tại sao trong tiếng Nam (bình dân), làm tình được gọi là mần hay
mần ăn). Nhưng còn một điểm nữa rất lý thú: chữ "trèo" (monter) hay
leo thang, là biểu tượng chính của hành động làm tình. Như thế, ta hiểu ngay
ý nghiã "sexy" của câu ca dao "Trèo lên cây bưởi hái
hoa / Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân" mà xưa nay mình cứ
giải thích "tào lao" rằng câu ca dao ấy vô nghiã, hoặc trèo lên
trèo xuống là thái độ ngẩn ngơ của anh chàng thất tình.
Chính Freud cũng nhận rằng "Điạ
hạt biểu tượng là một điạ hạt mênh mông mà biểu tượng trong mơ chỉ là một
khoảng nhỏ tý". Như vậy để thấy rõ: biểu tượng trong huyền thoại và
cổ tích dân gian của mỗi dân tộc rộng lớn như thế nào (truyền kỳ Hy Lạp đối
với văn hoá Tây phương là một trường hợp). Và đúng như anh nhận xét: mỗi
truyện cổ đều có rất nhiều hàm ý, vì thế chúng mới được truyền tụng đến ngày
nay, khiến người sau cứ dựa vào đó mà viết đi, viết lại hết đời nay sang đời
khác. Đó là cái nền chung của văn hoá nhân loại.
18/ HTA: Ở cuốn
''Sóng Từ Trường III ''và ở chương ''Hồ Hữu Tường Và Chủ Nghĩa Dân Tộc'', chị
có cho rằng qua bài ''Tiếng Gọi Đàn'', Hồ Hữu Tường chủ trương rèn luyện con
người bằng văn hóa để trở thành Người (chữ N viết hoa). Người ở đây tương tự
như Siêu nhân (le surhomme) của Nietzsche. Nhưng hình như muốn có siêu nhân
xuất hiện và tồn tại, ông Nietzsche đòi phải tiêu diệt những người thất bại,
yếu kém, trái hẳn tinh thần Bác Ái của đấng Christ. Cho nên Nietzsche lại hô
hào nên bài trừ Phúc Âm, bài trừ những gì Giáo Hội dẫn dạy. Như thế lối so
sánh của chị nhắm vào điều gì?
TK: Khi đọc cuốn Tương lai văn hóa
Việt nam, tôi thấy Hồ Hữu Tường chịu ảnh hưởng tư tưởng siêu nhân của
Nietzsche. Một mặt khác, tôi lại chắc ông cũng đã đọc Nietzsche, vì khi viết
về Nguyễn An Ninh (Hồ rất hâm mộ Nguyễn An Ninh, coi Ninh như người anh,
người thày) ông "khoe" Nguyễn An Ninh là người Việt Nam đầu tiên
đọc Nietzsche.
Nietzsche được coi là "ông tổ" của
triết học hiện sinh vô thần. Ông không tin vào Thượng đế. Đây cũng không phải
là điều mới. Kant là người đầu tiên, dù viết về Thượng đế một cách kinh cẩn,
nhưng Kant cũng trả lời nước đôi kiểu Khổng Tử: là những gì mình không thể
biết được thì đừng nên bàn. Đạo đức học của Kant dựa trên nền tảng lương
tri con người. Theo Kant: anh phải hành động theo lương tri của anh.
Cứu người vì lương tri bảo phải cứu, mặc dù việc đó có thể gây họa cho anh.
Kant đặt con người đứng trước lương tri để hành động chứ không hành động (hay
giúp người) vì Thượng đế, Phật, Chúa, hay một đấng thần linh nào khác bảo
phải làm như vậy. Kant đã làm cuộc cách mạng triết học, khi đem người trở về
với con người: con người hành động theo lẽ phải vì lương tri của mình bảo
vậy.
Triết học hiện sinh, thừa hưởng tinh thần
Kant, cũng đưa con người về với con người, cũng đặt con người trước bổn phận
và trách nhiệm của mình. Nhưng Nietzsche thường có giọng cực đoan, ông bảo:
Thượng đế đã chết rồi. Phải giết Thượng đế thì người hùng, tức người siêu
nhân (surhomme) mới có cơ xuất hiện. Mà người siêu nhân là gì? Người siêu
nhân là người đã tự giác. Người siêu nhân của Nietzsche là người tự do, người
làm chủ mình, không chịu lệ thuộc vào bất cứ ai. Nietzsche cho rằng
nhân loại đầy người, nhưng toàn bọn hèn mọn, bảo sao nghe vậy, đạo thiên chúa
làm "mê muội" con người, biến người thành những con chiên. Triết
học của ông độc đáo trong đạo tu thân, thúc đẩy con người phải tiến triển
không ngừng: nghiã là anh không thể sống ù lỳ như "cây cỏ", chỉ
biết ăn, ngủ, rồi chết; sống như thế là không đáng sống, sống như thế thì
chết đi cho rồi. Nietzsche thúc đẩy con người luôn luôn phải tự vượt mình:
sáng tạo trong tinh thần đừng để mất mình, cái tôi hôm nay phải hơn cái tôi
hôm qua và kém cái tôi ngày mai. Nếu Hồ Hữu Tường và Lê Văn Trương lấy lại tư
tưởng siêu nhân của Nietzsche để giáo dục thanh niên thì cũng là điều dễ
hiểu. Nhưng triết thuyết nào cũng có thể bị hiểu lầm, bị trưng dụng trong
những ý đồ bất chính: triết thuyết của Nietzsche bị Hitler và Mussolini xuyên
tạc và xử dụng để tôn vinh dòng giống Aryen thành surhomme/siêu nhân,
cần được bảo tồn, và loại trừ dòng giống Do Thái, bị coi là soushomme/
hạ nhân, dưới người.

19/ HTA: Trong chương
''Dương Nghiễm Mậu, Con Người Nội Soi Trong Bạo Lực Chiến Tranh Và Thân Phận
Nhược Tiểu'', chị có nhắc tới nhân vật Meursault trong cuốn tiểu thuyết
''L'Étranger'' (Người Xa Lạ) của Albert Camus. Nhân vật này thuộc loại thụ
động, bất cần đời, đối với hắn thì sao cũng được. Hắn giết người không do ý
thức tự vệ mà do bản năng tự vệ đúng hơn. Nhưng khi hắn bị đưa ra tòa các
nhân chứng dựng hắn thành một người khác: chôn mẹ bằng tấm lòng của một hung
thủ, giết người có lý do, cư xử với tha nhân ác ý. Mọi người dựng ở hắn thành
những con người khác, tuy có vài điểm chung, nhưng hoàn toàn xa lạ với
Meursault. Ở phần nội dung và tư tưởng chánh, chị đã nhận định như sau:
''Người Xa Lạ'' là bi kịch của nhân sinh, một nhân sinh không biết gì về
mình, lại càng không biết gì về những người khác''. Nhưng tôi lại nghĩ thêm
một phần khác theo kiểu ''ý tại ngôn ngoại'' về cốt truyện trong ''
L'Étranger''. Cốt truyện này hơi giống cốt truyện trong cuốn phim Rashomon
''Lã Sinh Môn'' của thiên tài điện ảnh gia Akira Kurosawa (Nhật) về lời khai
của người trong cuộc lẫn của các nhân chứng về cái chết (bị ám sát) của chàng
hiệp sĩ. Chị nghĩ sao điều này?
TK: Cuốn phim Rashomon tôi xem đã lâu rồi, nên
không nhớ rõ chi tiết, vậy chỉ xin trả lời anh theo trí nhớ mài mại: Theo
tôi, cái khác biệt sâu xa giữa Rashomon và L'Etranger khá sâu xa, vì Kurosawa
và Camus có hai tư tưởng, hai chủ đích khác nhau. Trong Rashomon có cái bí
mật trinh thám: tức là người xem không biết rõ người hiệp sĩ đã bị giết trong
hoàn cảnh nào. Nếu dựa vào lời khai của những nhân chứng, thì mỗi người khai
một khác. Kurosawa dường như muốn trình bày hai vấn đề:
1/ Cùng một dữ kiện nhưng mỗi người có một
"sự thực" khác nhau, vậy đâu là sự thực?
2/ Trong các nhân chứng, có thủ phạm: Vậy
mỗi người đều có một khía cạnh đen tối cần phải giấu đi và cái "sự
thật" mà họ trình bày, là "sự thật" đã loại trừ "sự thật
nhất" tức là tội ác của họ ra ngoài.
Kurosawa cho rằng mọi cố gắng tìm kiếm sự
thật đều thất bại. Bởi đằng sau con người là bóng tối.
Ngược lại trong L'Etranger, Camus đặt tất cả
các yếu tố sáng tỏ như ban ngày: tất cả mọi hành động của Meursault đều được
ghi rõ từng ly từng tí, không sót một chi tiết nhỏ. Nhưng cái mà Meursault không
biết là tại sao anh ta lại làm như thế? Và những điều mà mọi người
phán đoán anh ta, là sự sai lầm trong interpretation, nôm na là không
biết mà đoán mò.
Sự không biết của Meursault
là con người không biết gì về mình. Sự không biếtcủa
những người xử án là không biết gì về người khác.
Sự thể như thế này: Được tin mẹ mất,
Meursault đến nhà xác viếng mẹ, người gác cửa hỏi có muốn nhìn mặt mẹ không?
Anh ta bảo không. Chính Meursault cũng chẳng biết tại sao mình lại nói không.
Nhưng ra toà thì họ dựa vào lời khai của người gác cổng để kết án Meursault
là kẻ bất hiếu. Về án mạng cũng thế: Meursault đánh nhau với một tay Ả Rập,
rồi đi dạo bờ biển, tình cờ gặp lại hắn. Trời nắng gắt, bị mặt trời chiếu
thẳng vào mắt, chói quá, Meursault mới tiến lên một bước để tránh ánh mặt
trời, tay Ả Rập tưởng Meursault tiến lên tấn công, hắn bèn rút dao găm ra.
Sẵn có súng (cũng lại tình cờ có súng lục trong túi), Meursault rút súng ra
tự vệ, viên đạn bay đi và án mạng xẩy ra. Mọi sự kiện liên tiếp diễn ra, do
một chuỗi tình cờ phi lý, không thể giải thích nổi. Ra tòa, bị hỏi tại sao
giết người, Meursault trả lời: Tại vì trời nắng! (Anh nói đúng, nếu không bị
nắng chiếu vào mắt, thì anh ta đâu có tiến lên một bước, và nếu anh ta không
tiến lên một bước, thì đối thủ đâu có rút dao găm ra, và anh ta đâu có phải
rút súng ra, thì làm gì có án mạng). Nhưng không ai chấp nhận một lý do án
mạng vì trời nắng cả. Họ phải tìm một điều gì "hợp lý" hơn, và họ
đã dựng nên câu chuyện éo le, tình tiết: con bất hiếu, bỏ mẹ vào viện tế bần,
mẹ chết không thèm nhìn mặt, mẹ vừa chết còn đi chơi gái, đánh lộn...rồi giết
người. Meursault không thấy có một chút gì về mình trong cái chân dung mà họ
vẽ và anh cũng không hiểu gì cả.
Camus làm cho chúng ta suy nghĩ và ghê sợ
tất cả các hình thức kết án, các sự buộc tội chặt chẽ và hợp lý. Bởi theo
ông, cuộc đời là một chuỗi dữ kiện phi lý và con người không biết rõ về mình:
không hiểu rõ tại sao mình lại làm cái này mà không làm cái kia, con người
"xa lạ" với chính mình, và khi đứng trên bục để phán xét người
khác, con người lại phạm cái sai lầm thứ nhì: là anh đã không hiểu gì về
mình, thì làm sao anh có thể phán đoán, kết tội kẻ khác được.
20/ HTA: Chị không làm
thơ, tất nhiên là không có kinh nghiệm về thơ, tại sao chị lại viết Cấu Trúc
Thơ?
TK: Thỉnh thoảng cũng có một vài người hỏi tôi
như vậy, xin cảm ơn anh đã cho tôi cơ hội để giải thích vấn đề này.
Thực ra phê bình và sáng tác là hai ngành
khác nhau trong văn học. Trường hợp những người kiêm cả hai rất hiếm. Tại sao
người viết lý luận, phê bình, thườngkhông sáng tác? Không ở
đây có thể là không muốn sáng tác: Bởi "cơ sở phê bình"
đã "tự kiểm duyệt" các sáng tác của mình vì thấy chúng chưa đạt; mà
cũng có thể là không biết sáng tác vì óc sáng tác và óc phê
bình là hai "ngăn" khác nhau, một bên thiên về lý trí, luận
giải..., một bên thiên về cảm quan, trí tưởng tượng.
Tuy vậy, trong phê bình hiện đại, người ta
vẫn nhấn mạnh đến khía cạnh "sáng tác", vì hai lý do: văn bản phê
bình cũng phải là một tác phẩm văn chương và người viết cần phải đem lại
những ánh sáng mới về văn bản mà mình khảo sát. Nhưng tính chất "sáng
tác" này rất khác với tính chất sáng tác của nhà văn: Nhà văn sáng tác
tự phát, lấy chất liệu từ cuộc đời. Người phê bình sáng tác từ một tác phẩm
văn học, lấy chất liệu trong chữ nghiã.
Bây giờ xin trả lời anh câu hỏi: Không
có kinh nghiệm về thơ thì có thể viết phê bình thơ được không?
Theo tôi, đọc thơ và làm thơ là hai kinh
nghiệm khác nhau. Kinh nghiệm làm thơ, nếu người phê bình biết được thì càng
tốt, nhưng đó không phải là yếu tố chủ chốt. Điều cần thiết hơn là phải có
kiến thức về vấn đề mình định phê bình. Ví dụ muốn phê bình thơ, thì không
cần biết làm thơ nhưng phải "hiểu" thơ. Muốn phê bình hội họa thì
không cần biết vẽ, nhưng phải "hiểu" hội họa v.v... Sự
"hiểu" ấy, một phần là do "cái khiếu" của bản thân, một
phần là do đọc, học và quan sát, rồi tích lũy những điều mình đã tiếp thu
được, để áp dụng vào việc phân tích tác phẩm, và từ đó tạo ra văn bản của
chính mình.
Tất nhiên có những người làm văn, làm thơ
cũng viết lý thuyết văn học. Nhưng chúng ta nên phân biệt: Lý thuyết văn học
của người sáng tác rất khác với lý thuyết văn học của những người nghiên cứu,
phê bình.
21/ HTA: Xin chị giải
thích rõ về điểm này, về sự khác nhau giữa lý thuyết văn học của người sáng
tác và của người nhận định, phê bình.
TK: Lý thuyết văn học của người sáng tác thường
có mục đích giải thích quan niệm sáng tác của riêng họ hoặc của một phong
trào do họ đề xướng: Tức là sự lập thuyết về một quan điểm mỹ học mới
mà họ vừa sáng tạo ra. Vì mới nên cần phải giải thích và phổ biến.
Ví dụ Tuyên Ngôn Siêu Thực của
nhóm Breton, đưa ra một kỹ thuật tạo hình mới cho thơ và họa, dựa trên quan
điểm triết học phân tâm của Freud, coi vô thức như cơ sở chỉ
đạo của hành động sáng tạo, đem mơ vào đời sống, trộn mơ với thực để đưa ra
những hình ảnh lạ lùng vượt trên sự thực. Hình ảnh này không tìm thấy trong
thực tế thông thường mà chỉ thấy trong những giấc mơ và đó, theo lập luận của
Breton, mới là sự thực, rất thực, tức là siêu thực, surréalisme.
Tuyên ngôn của nhóm Xuân Thu Nhã Tập đưa ra một quan điểm triết
lý về thơ dựa trên chữ Đạo của Đông phương, từ chối Tây phương nhưng lại dùng
kỹ thuật tạo hình của siêu thực.
Tuyên ngôn "Nỗi buồn trong thơ hôm
nay" của Thanh
Tâm Tuyền, ảnh hưởng trực tiếp tư tưởng của Nietzche trong cuốn Nguồn
gốc bi tráng kịch (La naissance de la tragédie). Thanh Tâm Tuyền
trong bài này muốn giải thích sự lựa chọn khuynh hướng bi tráng kịch của
mình, để diễn tả cái đau đớn quằn quại của nhân sinh, và sự phá vỡ các quy
luật về cái đẹp tròn trĩnh, tổng hợp trong thơ cổ điển, để tìm đến một mỹ
quan rạn vỡ, tứ tán trong thơ tự do.
Tóm lại, lý thuyết thơ của các nhà thơ,
thường có chủ đích giải thích quan điểm mỹ học của riêng họ, hoặc của trường
phái mà họ chủ xướng.
Lý thuyết phê bình văn học nói chung, hoặc lý
thuyết thơ nói riêng, của các nhà nghiên cứu lý luận văn học thường hướng đến
sự lý giải các vấn đề phổ quát trong văn, thơ của tất cả mọi người, mọi
trường phái, kim, cổ.
Xin đơn cử một vài thí dụ:
- Roman Jakobson (và trường phái hình thức
Nga), qua phương pháp nghiên cứu ngữ học cấu trúc, khám phá toàn diện cấu
trúc ngôn ngữ thi ca của nhân loại.
- Lý thuyết văn học của Sartre, bàn đến bản
chất triết lý của hành động viết, của ngôn ngữ văn chương.
Nếu lý thuyết thơ của nhà thơ giúp cho độc
giả hiểu rõ thơ của họ hơn, thì lý thuyết thơ của các nhà lý thuyết văn học,
giúp cho người nghiên cứu phê bình có những cơ sở để giải thích các tác phẩm,
các hiện tượng văn học. Một điểm không nên nhầm lẫn: là người phê bình không
thể "dạy" người sáng tác viết văn (theo lối phê bình giáo khoa ngày
trước) hoặc có ảo tưởng là mình có thể "dìu dắt" nhà văn đi theo
một lối sáng tác avant-garde (tiên phong) nào đó. Không nên lầm lẫn vai trò:
Mỗi nhà văn phải tự kiếm ra hướng đi riêng của mình, và người phê bình có mục
đích tìm hiểu, phân tích, và lý giải những "cái riêng" ấy, trong
sáng tác.
22/ HTA: Chị đi vào việc
tìm hiểu thi ca như thế nào?
TK: Tôi học được một điều của Nguyễn Hiến Lê
là muốn viết về một đề tài nào thì phải "học" về đề tài đó. Và sau
này đọc Eco, thì ông cũng có kinh nghiệm tương tự. Khi quyết định viết về thơ,
tôi đã "học" về lý thuyết thơ trong mấy năm. Trước đó, tôi chỉ cảm
nhận thơ bằng trực giác như mọi người, vì vậy chỉ hiểu được những tác giả dễ
đọc. Khi gặp những tác giả khó và lạ như Thanh Tâm Tuyền, Đặng Đình Hưng, Lê
Đạt, ... thì thấy mình không hiểu họ.
Cho nên bước khởi đầu là học, mới thấy rằng
kiến thức vế cấu trúc và ngữ học rất cần thiết cho sự đọc thơ. Và nói tới ngữ
học cấu trúc là nói tới Roman Jakobson, bởi vì công việc nghiên cứu ngôn ngữ,
áp dụng vào thi ca của ông đã mở đường cho thi học hiện đại.
Ở Việt Nam hầu như vấn đề thi học chưa được
các nhà nghiên cứu thực sự chú ý. Cuốn Ngôn Ngữ Thơ của
Nguyễn Phan Cảnh, xuất bản năm 1987 tại Hà Nội có lẽ là cuốn sách nghiên cứu
đầu tiên về thi học: Nguyễn Phan Cảnh áp dụng phương pháp phân tích ngữ học
cấu trúc của Roman Jakobson để giải thích thơ Việt (tuy ông không nói rõ điều
này trong sách). Nhưng có lẽ vì là nhà ngữ học, nên ông không làm công việc
của người phê bình, tức là ông mới chỉ áp dụng lý thuyết ngữ học để phân tích
cấu trúc thơ, chứ ông chưa khai thác tính chất biến thiên trong ngôn ngữ thơ
(phát sinh từ cấu trúc) để giải thích phần đa âm, đa nghĩa, trong mỗi câu,
mỗi chữ. Chính khía cạnh ấy mới cần thiết cho người đọc bình thường, để hiểu
thơ hơn. Khía cạnh này tôi tìm thấy trong cuốn L'Ecriture Poétique
Chinoise (Ngôn Ngữ Thơ Trung Quốc), trong đó François Cheng đã bình
thơ Đường bằng phương pháp ngữ học cấu trúc của Jakobson. Đọc François Cheng,
tôi thấy nhiều vấn đề rõ hơn, và mới thật sự hiểu cái hay của thơ Đường. Vì
không biết chữ Hán, tôi vẫn phải đọc thơ Đường qua các bản dịch tiếng Việt mà
các dịch giả, khi chuyển ngữ, thường viết sang thể lục bát, hoặc song thất
lục bát, thêm vào những chữ thừa cho hợp vần, hợp điệu, hoặc bỏ đi những chữ
quan trọng vì không hợp vần hoặc vì không thể dịch được. Lối dịch như vậy rất
tai hại vì:
- làm mất tính chất cô đọng của
nguyên bản,
- làm mất nhiều hình ảnh, có thể
khiến một câu thơ đa nghĩa, trở nên đơn nghĩa,
- làm mất tính chất độc lập của
mỗi chữ trong thơ chữ Hán
Tính chất độc lập này rất quan trọng, vì nó
biểu dương tích cách đứt đoạn của đời sống và tích cách độc lập của mỗi cá
thể trong vũ trụ. Thơ Lê Đạt có tính chất ấy, chắc chắn là ông đã chiêm
nghiệm từ thơ Đường.
Mỗi chữ Hán còn là một đồ hình gồm nhiều nét
ghép lại. Bản chất chữ Hán đã có khả năng gợi hình. Vì vậy, người biết đọc
chữ Hán sẽ tìm thấy trong mỗi chữ, một số hình tượng mà người đọc chữ Hán
phiên âm không thấy được.
Tính chất độc lập của mỗi chữ trong thơ
Trung Hoa, khi dịch sang tiếng Việt thường bị mất đi vì người dịch, hoặc
không hiểu rõ vấn đề cấu trúc, hoặc không nắm bắt được tính cách quan trọng
trong cấu trúc độc lập của chữ trong thơ, cho nên vô tình, đã chuyển ngữ
thành một câu thơ mạch lạc, lục bát, dễ hiểu và rõ nghĩa; và như thế tức là
đã làm mất khía cạnh phiếm định, đa âm, đa nghĩa trong thơ chữ Hán.
23/ HTA: Chị có thể cho
một thí dụ cụ thể về vấn đề này?
TK: Tôi xin đơn cử một ví dụ rất thông thường:
Chinh Phụ Ngâm là một tác phẩm dịch được coi như tuyệt tác. Ngay câu đầu,
Đặng Trần Côn viết:
Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Chúng ta thấy những chữ Hán này có tính chất
độc lập với nhau. Riêng 4 chữthiên | địa | phong | trần : trời
| đất | gió | bụi là 4 hình ảnh độc lập. Tự chúng có thể đứng vững
một mình, và có thể hoán vị trật tự các chữ 4! = 2x3x4 = 24 lần, thành 24 câu
thơ khác nhau:
đất trời gió bụi
đất bụi gió trời
đất gió bụi trời
gió đất bụi trời
bụi đất trời gió...
Mỗi lần hoán vị, người đọc có một câu thơ
mới, một hình ảnh mới. Sự hoán vị được toàn diện tối đa vì 4 chữ hoàn toàn
độc lập.
Đến câu thơ thứ nhì
Hồng nhan đa truân
tính chất độc lập đã bớt đi, chỉ có thể tách
làm hai nhóm: hồng nhan và đa truân. Do đó có 2 cách hoán vị:
hồng nhan đa truân
đa truân hồng nhan
(cũng có thể tách hồng | nhan và đa | truân
, nhưng hơi gượng ép)
Khi chuyển sang tiếng Việt, mặc dù Phan Huy
Ích đã làm thành hai câu tuyệt bút:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân
chuyên
về mặt âm điệu thì tuyệt hay, nhưng so với
nguyên tác, có kém giá trị đi:
- Bớt cô đọng vì những chữ thừa,
không có trong nguyên bản: thuở, nổi cơn, khách, nỗi.
- Biến câu thơ chữ Hán, gồm
những chữ độc lập, có khả năng chuyển động, hoán vị chữ để tạo các hình ảnh
mới thành hai câu thơ Việt có cấu trúc liên tục, cố định, không thể hoán vị
trật tự chữ được, nghĩa rõ ràng hơn, mất tính chất phiếm định, đa nghĩa đi.
Do đó mà Jakobson phát biểu: Thơ
không thể dịch được. Chỉ có thể chuyển thơ sang hình thức nghệ thuật khác
như âm nhạc, hội họa... Phát biểu này mới nghe qua có vẻ cực đoan, nhưng thực
sự là dựa trên cơ sở cấu trúc để chứng minh tính cách không trung thành của
thơ dịch, so sánh với nguyên bản.
Cho nên, khi dịch thơ chữ Hán, điều hay nhất
có lẽ là nên ghi rõ 4 ấn bản:
- phần chữ Hán, cho những người
biết đọc chữ Hán tìm thấy những hình tượng trong mỗi chữ,
- phần chữ Hán phiên âm sang
tiếng Việt,
- phần dịch sát nghĩa từng chữ
một (để thấy rõ tính chất độc lập của mỗi chữ),
- và sau cùng mới là câu thơ
dịch sang tiếng Việt.
Như vậy người đọc mới có thể so sánh và cảm
nhận được cái hay của cả bản gốc lẫn bản dịch.
24/ HTA: Chị đã tiếp cận
Jakobson như thế nào? Tại sao lại Jakobson mà không là một tác giả nào khác?
TK: Trong các cách biểu đạt văn hóa bằng ngôn
từ của các dân tộc, thơ là một thể loại mang nhiều tính chất chung như vần,
điệu, hình ảnh, v.v... Đây mới chỉ là một ấn tượng, một nhận xét qua kinh
nghiệm của mọi người. Hegel cho "thơ là nguồn cảm thông chung
của nhân loại".
Trường phái hình thúc Nga, hồi đầu thế Kỷ
XX, đã đi tiên phong trong việc dùng ngữ học để nghiên cứu các thể loại văn
chương khác nhau như thơ, văn xuôi, cổ tích... Riêng về thơ thì Jakobson là
người đi xa nhất, khi ông kết hợp ngữ học với thuyết cấu trúc của
Lévi-Strauss để tạo thành một lý thuyết phổ quát về cấu trúc chung của thi ca
nhân loại, nghiã là ông đã chứng minh rằng thơ, bất kể tiếng nước nào, đều có
chung một số đặc tính:
- Thơ là ngôn ngữ trong chức
năng thẩm mỹ của nó,
- Thơ là sự kết tinh trong cách
biểu đạt tư tưởng bằng ngôn từ,
- Thơ chủ yếu dùng ẩn dụ (hoặc
những phương pháp tu từ khác) để tạo hình và tạo tính chất phiếm định,
- Cấu trúc ngôn ngữ của thơ dựa
trên nguyên lý song song, tức là sự lập lại. Điều này rất kỵ
trong văn.
Những yếu tính này xuất hiện trong mọi ngôn
ngữ thơ. Sau khi Jakobson và Lévi-Strauss dùng ngữ học cơ cấu để phân tích
bài thơ: Les Chats (Mèo) của Baudelaire thì gần như những vấn
đề thi pháp trong thơ đã được giải quyết, ít ra là đã được tìm hiểu và phân
tích một cách khá tường tận. Cho nên việc sử dụng những khám phá của Jakobson
vào việc tìm hiểu thi ca là tất yếu cho những ai muốn đẩy xa hơn công việc
phê bình, nhận định của mình.
25/ HTA: Nguyên lý song
song đứng ở trong giai đoạn nào của sự khám phá?
TK: Thực ra Jakobson không phải là người đầu
tiên khám phá ra tính chất song song trong thơ. Ông sử dụng những khám phá
của người trước, mở rộng thêm và hệ thống hóa thành một lý thuyết hoàn chỉnh.
Theo Jakobson thì chữ "song song"
được Robert Lowth dùng lần đầu vào năm 1778, khi khảo sát thơ cổ tiếng Hébreu
của người Do Thái. Lowth viết: "Tôi gọi tính chất liên vận giữa
hai câu thơ là tính song song" và Lowth phân biệt ba loại song
song:
- Song song tương đồng:
Khi hai câu thơ đi cạnh nhau đồng âm, đồng nghĩa. Ví dụ:
"Chòng chành như nón không
quai/ Như thuyền không lái như ai không chồng"
- Song song đối ngữ:
Khi hai câu thơ cạnh nhau, đối âm, đối nghĩa, ví dụ:
"Chìm đáy nước cá lừ đừ lặn
/ Lửng da trời, nhạn ngẩn ngơ sa"
- Song song tổng hợp:
Khi hai câu thơ cạnh nhau bổ túc âm và nghĩa cho nhau, ví dụ:
"Trăm năm trong cõi người
ta / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau".
Nhưng sự khám toàn diện về tính chất song
song thuộc về Gérard Manley Hopkins. Năm 1865, cậu sinh viên trẻ này đã viết
trên một tờ báo đại học rằng: Tất cả thủ pháp thi ca dựa trên nguyên tắc song
song. Song song trong nhịp điệu (nhắc đi nhắc lại một số cách ngắt câu; ví
dụ: Buồn trông | cửa bể | chiều hôm là
nhịp 2 được nhắc lại 3 lần). Song song trong âm luật (lập đi lập lại một chu
kỳ chữ: thơ 4 chữ, thơ 5 chữ, thơ lục bát, thơ song thất lục bát, thơ Đường
luật, v.v...). Song song trong niêm luật (luật bằng, trắc). Song song trong
sự láy âm, láy nghĩa v.v... Đặc biệt trong thơ Việt Nam, từ láy là một hiện
tượng thông dụng và là đơn vị song song nhỏ nhất, có khả năng gợi âm, gợi
hình. Tóm lại, thơ dùng nguyên tắc lập lại (tức là song song) như một hình
thức cấu trúc cốt yếu và hình thức này tối kỵ trong văn.
26/ HTA: Về mặt cấu
trúc, thơ hiện đại có khác thơ cổ điển: Trong thơ hiện đại tôi không thấy yếu
tố song song như chị nói. Vậy thơ cổ điển khác thơ hiện đại ở những điểm nào?
TK: Có thể nói về mặt cấu trúc hình thức, thơ
cổ điển dựa trên ba cơ sở căn bản:
- Tạo hình bằng các phép tu từ,
chủ yếu là ẩn dụ.
- Dùng nguyên lý song
song để kiến trúc câu thơ.
- Dùng vần để
tạo âm nhạc.
Cả ba cơ sở này, đã bị phá vỡ trong thơ hiện
đại (ở đây, tôi dùng từ hiện đại trong nghiã "mới" của chữ
moderne). Vậy thơ hiện đại của chúng ta có thể nói, là bắt đầu từ Thanh Tâm
Tuyền, vì từ ông mới có sự phá thể hoàn toàn. Thơ Mới, vẫn còn mang tính
chất: lãng mạn với cấu trúc hoàn chỉnh và dựa trên nguyên lý song song. Thơ
hiện đại mang tinh thần phá vỡ mọi quy lệ chung và nhà thơ tự do tạo ra một
mỹ học riêng của chính mình.
Để hiểu rõ hơn sự khác biệt này, có lẽ chúng
ta nên đi lại từ đầu. Từ thời cổ đại, nghệ thuật Hy lạp đã chia làm hai dòng
chủ lưu: nghệ thuật Apollon, là nghệ thuật tạo hình (art plastique) và nghệ
thuật Dionysos, là nghệ thuật phi hình (art non plastique). Nietzsche đã phân
tích thấu đáo về sự khác biệt giữa hai dòng nghệ thuật này trong cuốn Nguồn
gốc bi tráng kịch (La naissance de la tragédie). Sự khác biệt này có
thể tóm tắt như sau:
Nghệ thuật Apollon (mà đại diện là Homère)
tạo ra anh hùng ca, với cấu trúc hoàn chỉnh, lời hay, ý đẹp. Nghệ thuật
Apollon, là nguồn gốc của thứ nghệ thuật mà chúng ta thường gọi là cổ điển,
trong văn thơ cũng như hội họa, kiến trúc... đó là quan niệm liên tục, hoàn
chỉnh và tổng hợp về đời sống: truyện phải có đầu đuôi, kết có hậu; thơ phải
đúng niêm luật. Tranh phải là những bức chân dung hoàn mỹ, những cảnh tượng
tô màu... Tóm lại: cuộc đời là liên tục, tác phẩm phải hoàn tất.
Nghệ thuật Dionysos (mà Archiloque là đại biểu)
tạo ra bi tráng kịch (tragédie), xây dựng trên âm nhạc, nói lên cái tăm tối,
bi đát trong con người (như bi tráng kịch của Eschyle). Vẫn theo Nietzsche,
dưới sức quyến rũ của thần Dionysos, không những mối liên hệ giữa người với
người được nối lại, mà thiên nhiên, dù đối nghịch với con người hay bị con
người kiềm chế, cũng trở lại chào đón con người. Con người bước vào thế giới
mới hơn, cao hơn, chẳng cần đi và nói nữa, mà múa may bay bổng trên không
trung. Mọi sinh vật từ nay sẽ biết nói, đất nứt cho sữa mật trào ra, con
người tự cảm thấy mình cũng bay bổng như thần thánh. (Những yếu tố này về
sau, được tìm lại và mở rộng trong nghệ thuật siêu thực). Nghệ thuật Dionysos
từ chối cái nhìn chủ quan của con người, và mở ra cái nhìn khách quan của vũ
trụ hoà đồng, cũng là đầu mối của nghệ thuật hiện đại, được thiết lập lại sau
nhiều thế kỷ suy đồi.
Tại sao lại có sự suy đồi? Nietzsche kết tội
Socrate là căn nguyên của sự suy đồi ấy. Socrate đã tiêu diệt bi tráng kịch
Hy Lạp: Socrate không hiểu âm nhạc, đề cao con người lý trí, đưa ra một thế
giới quan thuần lý, tiêu diệt con người nghệ sĩ. Cái đẹp, theo Socrate phải
là cái có lý, có ích. Dùng quan niệm thế giới lý thuyết để thay thế giới bi
kịch, Socrate đưa ra mẫu người lý thuyết (l'homme théorique)
để tiêu diệt con người bi đát (l'homme tragique), tiêu diệt
tinh thần huyền thoại và âm nhạc trong bi tráng kịch. Kịch bây giờ, theo
Socrate, nhân vật phải biết lý luận, phải có tài hùng biện. Bi tráng kịch bị
tiêu tan trong nhiều thế kỷ, phải đến Shakespeare mới được hồi phục lại phần
nào trong Hamlet.
Thơ Thanh Tâm Tuyền có cái bi đát của bi
tráng kịch và có sự phá vỡ trong chủ trương nghệ thuật của Nietzsche: "Nghệ
thuật là đạp đổ cái cũ để xây cái mới."
Quan niệm hiện đại phát triển trở lại, đi
sát hơn với đời sống con người "hôm nay", và chính đời sống công kỹ
nghệ cũng nẩy sinh sự hoang mang của con người, tính cách nhập nhòe giữa
thiện và ác, tính chất đứt đoạn của đời sống:
1) Cái tôi trong thơ văn hiện đại mất đi
tính chất chủ quan, trở thành cái tôi khách quan và đa diện: Cái tôi có thể
là cái tôi con chó, cái tôi hòn sỏi, cái tôi cây đa nhìn về con người, và do
đó chúng có quyền nhìn thấy nơi -cái mà người ta gọi là con người- thật ra
chỉ là một đống nạc mỡ bầy nhầy v.v... (Francis Ponge). Nhà thơ khám phá ra
những cái tôi "chưa biết" (le moi inconnu) và chính cái tôi ấy có
quyền vật hóa cõi nhân sinh.
2) Đời sống không phải là một cấu trúc liên
tục mà là những mảnh đứt đoạn trong thời gian, trong không gian, trong mọi
tình thế: Chúng ta đang nghĩ cái nọ xọ sang cái kia, đang làm việc này chạy
sang việc khác v.v... Từ cấu trúc đứt đoạn phát sinh tiểu thuyết mới: Truyện
không có truyện, thường là những mảnh (fragment) của đời sống được lắp ghép
lại, không theo một trình tự logique nào.
4) Phá vỡ cấu trúc hoàn chỉnh: Thơ tự do,
hội họa trừu tượng, rứt khỏi cấu trúc "đóng" cũ để tạo ra "tác
phẩm mở", khiến người xem, người đọc có thể góp trí tưởng tượng và kiến
thức của mình để nhìn, hay đọc tác phẩm. Đưa đến quan niệm mới về việc đọc,
đến tính đối thoại giữa người đọc và người viết.
Đứng trước một bức tranh trừu tượng, anh có
quyền thưởng thức, hiểu theo cái "gu" của anh, dĩ nhiên bức họa vẫn
là mỹ quan và bố cục của họa sĩ, nhưng anh không nhất thiết phải nhìn ra đây
là một cái gì chính xác: một cô gái, hay một phong cảnh, như trong tranh cổ
điển.
Đọc thơ hiện đại, tính cách "phá"
cũng mở rộng phương trời hơn. Trong cái tôicủa Thanh Tâm Tuyền có
thể là hai, ba cái tôi khác. Trong cái không tôi của Đặng
Đình Hưng, chứa chất những cái tôi tù tội, đói, khát, "siêu hầm"
v.v... Trong phó cả ngựa của Lê Đạt có bao nhiêu kiếp
ngựa-người, người-ngựa, cha-con, người và "phó người", v.v...
Vì đa nghĩa, nên thơ hiện đại khó đọc và bị
mang tiếng bí hiểm. Nhưng nếu đã hé cửa vào được vũ trụ của tác giả thì người
đọc có thể sinh động, cộng tác... chứ không giữ vai trò thụ động của người
tiếp nhận, như đối với những tác phẩm đã hoàn tất và toàn mỹ trong văn học cổ
điển.
Có lẽ đặc tính lớn nhất của văn nghệ hiện
đại là biện chứng mở, nó mở cửa cho tự do, cho sự cộng tác sáng
tạo, cho tinh thần khách quan... và đó là những điểm khiến nó khác với văn
nghệ cổ điển nói chung, và thơ cổ điển nói riêng.
27/ HTA: Chủ nghĩa siêu
thực có một chỗ đứng như thế nào trong thơ hiện đại?
TK: Nếu nói gọn lại, thì tôi xin trình bày như
thế này: Siêu thực chủ trương một cách tạo hình mới hoàn toàn khác với cách
tạo hình trong thơ cổ điển. Cách tạo hình này dựa trên sự nhận xét thực tế:
Con người sống quen với một thứ ngôn ngữ sáo mòn, thứ lô gích cũ rích, họ bị
ý thức điều khiển, họ không để ý đến khía cạnh thứ nhì của đời sống, đó là
thực tại của những giấc mơ.
Dựa vào sự phân tích các giấc mơ trong phân
tâm học Freud, Breton định vị lại vai trò của mơ trong đời sống con người:
Giấc mơ giải tỏa con người khỏi thực tại sáo mòn, bị chi phối bởi ý thức. Ý
thức kiểm duyệt những gì mà nó cho là tối tăm, tồi tệ, tội lỗi như dục tình,
như khát vọng; nó ném những thứ đó vào tiềm thức, rồi lại dồn nén vào vùng
sâu hơn nữa là vô thức (và bỏ quên ở đó). Breton chủ trương lục lọi trong vô
thức, lấy lại những điều mà ý thức ngăn cấm, đem ra ánh sáng và sử dụng.
Lập luận này còn dựa trên một thực tế thứ
nhì: Trong con người, thời gian thức (ý thức) và ngủ (vô thức, mơ) gần sấp sỉ
ngang nhau, tại sao không sử dụng những gì đến trong giấc ngủ?
Từ đó siêu thực đề nghị một cách nhìn đời
khác, bao gồm cả hai thực tế: mơ (ngủ) và thực (thức), và theo họ thì đó mới
là hoạt động đích thực và toàn diện của tư tưởng.
Cách nhìn đời này cho phép con người thoát
ra khỏi sự kiểm soát của lý trí, thoát khỏi thứ đạo đức rập khuôn hàng ngày
để sống một thực tại cao hơn: đó là thực tại tổng hợp giữa mơ và thực, đó là
sự "tự do tuyệt đối" của con người: tất cả đều làm được (tout est
possible). Sự tự do này cho phép nhà thơ, họa sĩ ghép những thực thể vô cùng
xa nhau lại với nhau, tạo ra những hình ảnh vô cùng độc đáo, chưa thấy xuất
hiện bao giờ. Những quái vật đầu người mình thú trong tranh siêu thực chẳng
qua chỉ biểu dương tính chất "khẩu phật tâm xà" trong con người.
Những cô dâu bay trong tranh Chagall là giấc mơ bay bổng của con người. Những
máu mê chuyển động trong truyện của Marquez là những oán cừu truyền kiếp của
các dân tộc ở Châu Mỹ la tinh đối với "tổ tiên" Y Pha Nho của họ.
Và như trên đã nói, tất cả những hình thái siêu thực này đã có nguồn cội từ
nghệ thuật Dionysos. Tựu trung, những hình ảnh thành công của siêu thực
thường diễn tả được những thực tại chát chúa, khốc liệt, đớn đau, sâu sắc hơn
những hình ảnh tìm thấy trong thơ cổ điển.
Siêu thực du nhập vào Việt Nam qua nghệ
thuật của nhiều nhà thơ. Từ Xuân Thu Nhã Tập, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan
Viên đến Thanh Tâm Tuyền, Trịnh Công Sơn. Ở Xuân Thu Nhã Tập, mới là những
bước đầu ghép chữ, đưa đến những hình ảnh lạ như rót nguyệt, nhạc
trầm mi, hồn xanh ngát v.v... nhưng Xuân Thu Nhã Tập chưa đi khỏi
"cái tôi, cái ta" cổ điển và chủ quan, chưa tách khỏi quan niệm cái
đẹp hoàn mỹ cổ điển.
Trong Trường thơ loạn (Hàn Mặc Tử, Bích Khê
và Chế Lan Viên), Hàn Mặc Tử tuy vẫn giữ vần điệu của thơ mới, nhưng pha trộn
nỗi điên loạn của bệnh hoạn với nỗi đau tâm linh thành những hình ảnh dị kỳ
đau đớn lạ thường: Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi... Tiếng
rú hồn tôi xô vỡ sóng...Một vũng cô liêu cũ vạn đời... Có thể coi đó
là những hình ảnh siêu thực, hoặc từ ảnh hưởng của Edgar Poe, nhưng đó cũng
chính là cái đớn đau phát xuất từ nghệ thuật Dionysos.
Thanh Tâm Tuyền đặc biệt làm thay đổi cả
hình thức vần điệu lẫn nội dung tư tưởng trong thơ. Ông là đệ tử của
Nietzsche, tôn thờ nghệ thuật Dionysos, giao hưởng những hình ảnh siêu thực
với tâm thức hiện sinh để tìm đến những nhận thức sâu xa về bản thể con
người. Thanh Tâm Tuyền hội nhập hai dòng chảy đối cực để đưa ra những hình
ảnh chói buốt của: những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình, lệ
là những viên đá xanh tim rũ rượi.
28/ HTA: Qua quyển ''Cấu
Trúc Thơ'', cái tiếng ''cấu trúc'' dễ làm cho độc giả nghĩ rằng chị chỉ chú
trọng cái kỹ thuật của thơ. Họ cũng có thể nghĩ rằng chị đồng ý với nhà văn
Võ Phiến khi ông bảo rằng thơ chỉ cần ý chứ không cần lời, chỉ có cái xác thơ
mới đáng kể chớ không phải cái hồn thơ. Như thế, thơ của Rabindranarh Tagor
hay về ý hay là tuyệt vời về lời?
TK: Chữ "cấu trúc" là tiếng khá
thông dụng trong ngôn ngữ phê bình, nhất là từ khi thuyết cấu trúc của
Levi-Strauss được phổ biến rông rãi, cấu trúc có nghiã làcấu
trúc hình thức, nhưng hình thức này cũng là nội dung. Từ đầu
thế kỷ XX, người ta đã quan niệm trong văn chương hình thức là nội dung và
nội dung là hình thức (Paul Valéry cũng như các nhà hình thức Nga đều xác
nhận như vậy). Người ta không còn phân biệt: hình thức là cái bình và nội
dung là chất lỏng chứa trong cái bình ấy, như xưa nữa. Điều này hiển nhiên vì
trong lời có ý và trong ý có lời, không thể tách biệt hai yếu tố này được.
Một câu thơ hay, là hay trong cả hai nghĩa: lời và ý đều
hay. Nếu chỉ có ý hay mà lời không ra gì,
thì mới chỉ là một ý tưởng. Và ý tưởng chưa phải là thơ và cũng chưa phải là
văn, bởi ý thì nhiều người có ý hay lắm, nhưng từ ý đó mà làm thành một câu
thơ, một câu văn hay, lại là chuyện khác. Văn bạch thoại hay văn nói cũng là
văn, và cũng phải biết cách viết. Còn lời nói, thì chỉ để chuyển tải thông
tin, nghe xong có thể bỏ qua. Cũng đừng nhầm câu văn giản dị (không làm văn,
không hoa mỹ) với lời nói: đạt tới mức giản dị như văn Trang Tử trong Nam
Hoa Kinh là tuyệt bút. Nhất Linh, phải đến cuối đời mới đạt được lối
viết giản dị trong Xóm Cầu Mới.
Trong thơ có hai yếu tố quan trọng là chữ (tức
là lời) và âm (nhạc). Chữ và âm là hai yếu tố chính trong
thơ, vì nhiều người không biết điều đó, cho nên cứ thấy viết văn không được
thì quay ra làm thơ, hiện nay người ta làm "thơ" như vậy nhiều lắm,
nhưng có phải thơ đâu.
Tôi không biết trong tiếng Ấn Độ ngôn ngữ
(tức là chữ và âm) của Tagore ra sao, chắc là phải tuyệt vời, chúng ta chỉ
đọc được những bản dịch đã tam sao thất bản (từ tiếng Ấn sang tiếng Anh rồi
từ tiếng Anh sang tiếng Việt), thì làm sao thấy được cái hay của thi hào này.
Anh thử đọc những bản dịch truyện Kiều mà xem, sẽ chỉ thấy người ta viết lại
thơ Nguyễn Du sang văn xuôi thôi. Thơ hay không thể dịch được. Theo tôi, muốn
hiểu cái hay của Tagore hay Nguyễn Du thì phải đọc được nguyên bản tiếng Ấn,
tiếng Việt.
29/ HTA: Nhà thơ Paul
Valéry cho rằng ông không muốn ai ai cũng cảm nhận thơ ông y chang như nhau.
Thế có nghĩa là ông muốn thơ ông đi vào tâm hồn mỗi người đọc bằng một thế
giới riêng, bằng một cảm nhận riêng, bằng một liên tưởng riêng. Riêng chị,
chị nghĩ sao? Nhất là nghĩ về loại thơ siêu thực và loại thơ trừu tượng?
TK: Paul Valéry luôn luôn đi trước thời đại,
khi ông nói thơ ông chỉ có một nghĩa dành riêng cho ông thôi, còn đối với
người khác thì nó có nghiã khác: điều đó chứng tỏ ông đã nhìn thấy cách đọc
nhiều chiều trước một tác phẩm đa nghiã; mà phải khoảng nửa thế kỷ sau, giới
phê bình văn học mới "khám phá" ra. Như trên tôi đã nói thuật ngữ
phê bình gọi đó là những tác phẩm "mở", tức là đa nghiã. Các hình
ảnh trong thơ, trong hội họa siêu thực và trừu tượng luôn luôn đa nghiã, cho
nên mỗi người có thể cảm nhận với tâm tư và chủ kiến của riêng mình, đúng như
anh đã nhận xét. Cái nghĩa mà tác giả đưa ra chỉ đúng với tác giả mà thôi.
Cho nên khi đọc một tác phẩm, tôi thường không hỏi tác giả về bất cứ điều gì
trong tác phẩm, mà chỉ tra vấn chữ của tác giả mà thôi.
30/ HTA: Thanh Tâm Tuyền
trong bài tiểu luận ''Nỗi Buồn Trong Thơ Hôm Nay'' đại khái cho rằng:
''(Người thơ hôm nay) không mơ mộng nghĩa là không tạo những hình dáng, họ
muốn nhìn thực tế bằng con mắt trợn tròn, căng thẳng phá vỡ hết mọi hình dáng
để sự vật hiện ra với cái thực chất hổn loạn, không che đậy''. Chị nhận thấy
ông ta tân tiến hay chủ quan? Nhà nghệ sĩ cần dựa vào cái có thật để nói dối,
nói dối mà sinh động như nói thật mới là bản lĩnh của họ, có phải? Chị nghĩ
sao về chủ trương bóc trần lớp sơn ảo mộng tô phết lên sự vật một khi nó được
thi sĩ đưa nó vào thi ca. Cái đổi mới của Thanh Tâm Tuyền có tàn nhẫn đối với
cảm quan của độc giả không?
TK: Như trên tôi đã nói Thanh Tâm Tuyền dựa
vào lý thuyết của Nietzsche trong cuốn Nguồn gốc bi tráng kịch,
để viết bài "Nỗi buồn trong thơ hôm nay".
Tinh thần phá vỡ trong nghệ thuật, không
phải bây giờ mới có mà có từ xưa; xin nhắc lại, trong cuốn Nguồn gốc
bi tráng kịch, Nietzsche nói rõ: Apollon, thần của nghệ thuật tạo hình,
cũng là thần tiên tri. Apollon có nghiã là "huy hoàng", là thần của
ánh sáng, trị vì trên cái đẹp hào nhoáng trong nội giới của tưởng tượng, là
chân lý thượng đẳng, là sự toàn bích của các trạng thái nội tâm đối diện với
cái sơ hở, bất tri trong thực tế hàng ngày. Nghệ thuật Apollon (mà Homère là
đại biểu), dựa trên mơ mộng (le rêve), xây dựng cái đẹp hoàn
chỉnh, dưới cái nhìn chủ quan của con người.
Nghệ thuật Dyonysos (mà Archiloque là đại
biểu), dựa trên sức sống say sưa (l'ivresse), là nghệ thuật phi
hình dáng, với những tiếng thét oán hờn, những lời châm biếm chua cay, những
bùng cháy ham muốn, làm cho chúng ta sợ hãi, là thứ nghệ sĩ khách quan, phi
nghệ sĩ tuyệt vời. Archiloque -con người đam mê, con người bỏng cháy tình yêu
và thù hận- thiên tài đã nhìn thấy nỗi khổ nguyên khai của con người, con
người trần trụi.
Câu ''(Người thơ hôm nay) không mơ
mộng nghĩa là không tạo những hình dáng, họ muốn nhìn thực tế bằng con mắt
trợn tròn, căng thẳng phá vỡ hết mọi hình dáng để sự vật hiện ra với cái thực
chất hổn loạn, không che đậy''của Thanh Tâm Tuyền cũng từ đấy mà ra.
Thanh Tâm Tuyền đã tổng kết ý của Nietzsche: Nghệ thuật Apollon dựa trên sự
mơ mộng để tạo hình (tạo ra những hình dáng), và cái mà tôi, Thanh Tâm Tuyền
(người thơ hôm nay) chọn là nghệ thuật Dionysos, nghệ thuật phi hình dáng "phá
hết mọi hình dáng để cho sự thực hỗn loạn hiện ra, không che đậy".
Nghệ thuật này chúng ta cũng từng thấy rất rõ trong tiểu thuyết của
Dostoïevski. Và nếu để ý, anh cũng đã thấy trên các bức tranh cực thực
(hyper-réalisme) thời nay, đầy rẫy những hình ảnh khốc liệt, ghê gớm, không
che giấu gì cả. Thanh Tâm Tuyền ở Việt Nam là người đi trước thời đại của
mình, thơ ông đã nói lên cái khủng hoảng tinh thần trong con người, tương tự
như trong những bức tranh siêu thực và cực thực. Thời của ông (năm 1956) có
gây sốc, nhưng bây giờ thì không. Bây giờ, có một số ngòi bút dường như mới
khám phá ra thơ ông, hoặc do ảnh hưởng gián tiếp, tôi không biết rõ. Tiếc
rằng, phần đông chưa hiểu được ý nghiã triết học trong thơ ông, nên mới chỉ
làm được việc ghép chữ mà thôi.

31/ HTA: Chị nhận thấy
gì về những nhà văn viết tùy bút nổi tiếng như Nguyễn Tuân (''Vang Bóng Một
Thời''), Xuân Diệu (''Phấn Thông Vàng''), Võ Phiến (''Ảo Ảnh'' và ''Phù
Thế'')...?
TK: Nếu hiểu tùy bút theo nghĩa tùy hứng phóng
bút thì Nguyễn Tuân viết rất ít tùy bút (tôi đã có dịp bàn kỹ về vấn đề này
trong bài Nguyễn Tuân). Vang bóng một thời là tập truyện
ngắn có một thi pháp độc đáo, với lối văn phóng túng và tài hoa, khác hẳn lối
viết truyện ngắn bình thường. Vang bóng một thời đã xác định
vị trí của Nguyễn Tuân trên văn đàn, và mọi người coi Nguyễn Tuân như một tác
giả viết "tùy bút" cũng vì lối viết phóng túng và tài hoa này.
Ngoài ra, phần lớn những bài mà Nguyễn Tuân cho in trong các tập Tùy Bút I và
II đều là bút ký, tức là những bài viết có chủ đề về những chuyến đi
"thực tế" của ông.
Tập Phấn thông vàng của
Xuân Diệu có vài bài như Phấn thông vàng,Thương vay... có
thể coi là tùy bút, chỗ còn lại phần lớn là những truyện ngắn. Bài Phấn
thông vàng ghi lại những cảm giác, những ấn tượng xẩy ra trong tâm
hồn một họa sĩ đứng trước thiên nhiên, viết theo lối lãng mạn. Văn xuôi của
Xuân Diệu tầm thường, thậm chí nhiều bài dở. Viết loại cảm xúc lãng mạn này
cần phải chân thật và tài hoa (chân thật để người đọc tiếp nhận được những
xúc cảm của mình, và tài hoa để người đọc thấy cái hay trong bút pháp). Cả
hai yếu tố đó hầu như vắng mặt trong văn Xuân Diệu: những cảm xúc trong Phấn
thông vàng thường giả tạo, câu văn cổ, chải chuốt mà vụng về, ví dụ: "Nhị
vàng của thông, ồ! tình yêu của thông đó chăng? Gió hơi se, rừng thông rún
rẩy, tiếng ngân hữu ý, khí trời thành một sự đổi trao: muôn cây chắc đương
khoái lạc vì đương sống việc ái tình". Cũng lối cảm xúc lãng
mạn ấy, Hồ Dzếnh viết hay hơn nhiều, tập truyện ngắn Chân trời cũ của
Hồ Dzếnh viết từ thập niên 40, không một nét nhăn. Còn về tuỳ bút văn chương,
thì tập Chơi giữa mùa trăngcủa Hàn Mặc Tử (cũng viết vào khoảng
những năm 38-40) hay hơn Phấn thông vàng nhiều lắm, vừa có
cảm xúc vừa có suy nghĩ sâu sắc về nghệ thuật.
Võ Phiến cũng lại lầm như Nguyễn Tuân, khi
ông xếp các cuốn: Lại thư nhà, Ảo ảnh và Phù thế vào
loại tùy bút. Những truyện ngắn trong ba tác phẩm này, có chung một đặc điểm
là nhân vật chính xưng tôi, hoặc được gọi là chàng.
Chú ý kỹ thì ta thấy chữ chàng ở đây không phải ở ngôi thứ
ba, mà là ngôi thứ nhất, tương đương với chữ tôi.
Vậy chúng ta có thể tạm hiểu như thế này: Từ
1956 đến 1961, trong các cuốnChữ tình, Người tù, Mưa đêm cuối năm, Đêm
xuân trăng sáng... Võ Phiến viết truyện ngắn theo lối truyền thống, tác
giả chủ quan đứng ngoài để kể chuyện. Sau 1962, nhất là từ 1967 trở đi, đặc
biệt trong hai cuốn Ảo ảnh (1967) và Phù thế (1969),
ông đổi cách viết: nhân vật của ông bây giờ xưng tôi, viết về mình, tức là Võ
Phiến tìm cách đứng vào trong nhân vật, (như phần đông lối viết hiện đại),
thay vì đứng ở ngoài để mô tả, theo lối truyền thống. Lại thư nhàlà
tác phẩm bắc cầu giữa hai lối viết ấy.
Phải đến Đất nước quê hương (1973),
mới có Võ Phiến tùy bút. Và tùy bút là một trong những sở trường của ông.
Cách phóng bút của Võ Phiến rất đặc biệt: vừa bàn, vừa luận, vừa nói tầm
phào, vừa bình phẩm, khi tự trào, khi mỉa mai châm biếm. Trong tùy bút, Võ
Phiến vận dụng những kinh nhiệm sống, kinh nghiệm đọc và quan sát để phóng
bút, ông không trau chuốt lời văn như Nguyễn Tuân, Mai Thảo, mà ông dồn toàn
lực vào ý: một sự giàu có ý tưởng lạ thường về bất cứ chủ đề nào: từ mắm tôm
đến chửi, từ bánh tráng đến hạt bọt trà... như thể khi ông đã bắt được một ý
tưởng, ví dụ về hạt bọt trà, thì ông bèn ném nó xuống nước như ném hòn sỏi,
để chỗ sỏi rơi sẽ trở thành hồng tâm, cho vô vàn vòng tròn khác nở ra, xoay
quanh hồng tâm, hết vòng này đến vòng khác: ý của Võ Phiến chung quanh hạt
bọt trà, cứ như thế mà lan rộng và phát ra mọi hướng, khi lấy trong sách, khi
lượm ở đời, khi đi từ ngôn ngữ, khi vào cổ tích, khi dí dỏm, khi tinh tế, tạo
cho người đọc những lý thú bất ngờ.
32/ HTA: Dự định viết
lách của chị trong tương lai gần gũi hay trong tương lai xa xôi ra sao? Những
tác giả nào có đủ điều kiện để chị nhắm tới trong các cuốn biên khảo hay
trong các cuốn phê bình sắp tới?
TK: Tôi đang xem lại bản thảo để in cuốn sách
về Nhân Văn Giai Phẩm, và cũng đang sửa lại loạt bài về Phê bình văn học thế
kỷ XX, đã đọc trên RFI từ năm ngoái, đang đi trên Văn Học, sau đó sẽ in thành
sách. Còn tập bản thảo Sóng Từ Trường IV về Tự Lực Văn Đoàn cũng đang nằm
chờ. Ngoài ra, tôi vẫn tiếp tục viết về những nhà văn lớn của miền Nam, cố
gắng phục hồi một mảng văn học quan trọng gần như bị chôn vùi mà lại rất cần
cho lớp trẻ, đang bị cắt đứt với mảng văn học hiện đại nhất của nước mình.
Tất nhiên tôi cũng chú ý giới thiệu các tài năng trẻ. Hiện giờ các cây bút nữ
rất trội, trội hơn các cây bút nam. Họ thể hiện uy tín và nữ quyền bằng ngòi
bút của mình.
33/ HTA: Xin cám ơn chị
Thụy Khuê.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét