Nhạc sĩ của tình ca và quê hương
Nguyễn Thế Khoa
Hoàng Việt là một
trong 5 nhạc sĩ đầu tiên của âm nhạc Việt Nam (cùng với Văn Cao, Lưu Hữu Phước,
Đỗ Nhuận, Nguyễn Xuân Khoát) được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT năm
1996. Ông cũng là nhạc sĩ đầu tiên được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân trong năm 2011 cùng với các nhà văn Chu Cẩm Phong,
Nguyễn Ngọc Tấn và nhà thơ Ca lê Hiến. Hoàng Việt xứng đáng với mọi sự tôn vinh
bởi những gì ông đã dâng hiến cho quê hương đất nước…
Từ “Tiếng còi trong
sương đêm” và những ca khúc kháng chiến bất hủ
Hoàng Việt tên thật là
Lê Chí Trực, sinh ngày 29/10/1928 tại Chợ Lớn. Quê cha anh ở thị xã Bà Rịa, quê
mẹ ở Cái Bè, Tiền Giang. Từ những năm học trung học ở Sài Gòn, lúc mới 16, 17
tuổi, Lê Chí Trực với bút danh Lê Trực đã viết những ca khúc như “Chị
Cả”, “Biệt đô thành” và “Tiếng còi trong sương đêm”, trong
đó ca khúc theo điệu tango “Tiếng còi trong sương đêm” qua
tiếng hát của ca sĩ Khánh Vân những năm 1944-1945 được người dân Nam Bộ rất yêu
thích:
Bến nước gió rét đò đưa
khách sang
Lau xanh ven sông mờ
rung bóng trăng
Đêm nay không gian chìm
trong giá băng…
Mà đoàn hùng binh âm
thầm xông lướt trong sương…
Khi ra đi có hứa thu nay
về
Mà hôm nay lá thu đã rơi
tràn
Trong giai đoạn tiền
khởi nghĩa ở Nam Bộ, nếu các hành khúc của Lưu Hữu Phước như“Lên đàng”,
“Tiếng gọi thanh niên” là lời kêu gọi, tiếng kèn thúc giục thanh niên
đứng dậy cứu nước thì “Tiếng còi trong sương đêm” là lời tâm
sự và quyết tâm ra đi của một lớp thanh niên đô thành được thức tỉnh bởi lời
kêu gọi và tiếng kèn thúc giục ấy. Cho đến nay, sau hơn 65 năm ra đời, ca khúc
trữ tình thắm sâu tinh thần yêu nước này là một trong những ca khúc tiền chiến
vẫn còn được hát nhiều nhất cả trong nước lẫn hải ngoại qua tiếng hát của các
ca sĩ nhiều thế hệ như Thanh Thuý, Khánh Ly, Thanh Tuyền, Ngọc Ánh, Vân Khánh,
Đoan Trang, Tâm Đoan, Trang Mỹ Dung, Hồng Cúc…
Năm 1947, Lê Chí Trực
thực sự “biệt đô thành” ra bưng biền tham gia kháng chiến và là thành viên trẻ
nhất của đội ngũ văn nghệ kháng chiến Nam Bộ, đầu tiên công tác tại chiến
trường miền Tây “dọc ngang sông rạch” rồi sau đó chuyển sang chiến trường miền
Đông “gian lao mà anh dũng”. Trong những tháng năm này, giữa tuổi 20, chàng
thanh niên yêu nước Lê Chí Trực đã trở thành nhạc sĩ – chiến sĩ Hoàng Việt,
người phát ngôn kỳ tài bằng âm nhạc ý chí chiến đấu, tinh thần lạc quan của
quân dân Nam Bộ thành đồng tổ quốc với các ca khúc “Lá xanh”, “Nhạc
rừng”, “Mùa lúa chín “, “Lên ngàn”… Nếu “Lá
xanh” là bài hát tòng quân ra trận thật rộn ràng, tươi trẻ, lôi cuốn
thì “Nhạc rừng” như sự ngân vang tuyệt vời của thiên nhiên đất
nước trong tâm hồn người chiến sĩ vệ quốc còn “Lên ngàn” là
khúc tráng ca về sức sống bất khuất, sự hy sinh thầm lặng và niềm tin sắt đá
vào chiến thắng cuối cùng của người phụ nữ Nam Bộ giữa ngút ngàn đau thương,
tang tóc, gian khó của cuộc kháng chiến trưòng kỳ:
Nước ngập đồng xanh
lúa chết
Gió mưa sập đổ mái nhà
Bao nhiêu gia đình tan
hoang
Đau thương lệ rơi chứa
chan
Em đi cắt lúa trên
ngàn rẫy trên ngàn nắng chiều chang chang
Đường đi nước ngập
mênh mang
bàn chân dẫm gai lòng
không thở than…
Cùng với “Làng tôi”, “Tiến
về Hà Nội”, “Trường ca sông Lô” của Văn Cao, “Hành quân xa”,
“Du kích sông Thao”, “Giải phòng Điện Biên” của Đỗ Nhuận, “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi, “Tiếng
chuông nhà thờ” của Nguyễn Xuân Khoát, “Lỳ và Sáo”, “Quê tôi
giải phóng” của Văn Chung…ba ca khúc đậm chất lãng mạn cách mạng trên
của Hoàng Việt nằm trong số những ca khúc hay nhất của âm nhạc cách mạng Việt
Nam thời kháng chiến chống Pháp và là những ca khúc mãi đi cùng năm tháng như
chúng ta thưòng nói.
Đến khúc tình ca được
cả dân tộc ca hát
Cùng với “Bài
ca hy vọng” của Văn Ký, “Tình trong lá thiếp” của
Phan Huỳnh Điểu, “Trăng sáng đôi miền” của An Chung, “Câu
hò bên bờ Hiền Lương” của Hoàng Hiệp, “Giữ trọn tình quê”của
Văn Cận… “Tình ca” của Hoàng Việt ra đời trong những năm đầu
đất nước bị chia cắt, là các ca khúc mở ra dòng ca khúc đấu tranh thống nhất
đất nước rất đặc biệt trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Đối với Hoàng Việt, “Tình
ca” như là một bài hát rất riêng tư. Năm 1954, Hoàng Việt tập kết ra
Bắc, để lại ở miền Nam người vợ trẻ đẹp và ba đứa con thơ, đứa lớn nhất chưa
đến 5 tuổi, giữa nanh vuốt kẻ thù. Từ đấy, như bao ngưòi con miền Nam tập kết,
ở thủ đô Hà Nội Hoàng Việt luôn sống trong tình cảnh “Ban ngày bận công
tác/Ban đêm nằm nhớ em/Ban ngày ở miền Bắc/Ở miền Nam ban đêm” (Tế
Hanh). Năm 1957, sau hơn
hai năm trời bặt vô âm tín, Hoàng Việt bất ngờ nhận được thư vợ từ miền Nam gửi
ra, lá thư đã phải đi vòng vèo vạn dặm qua tận nước Pháp xa xôi rồi mời về được
Hà Nội để đến tay ông. Hoàng Việt nhoà nước mắt khi đọc thư vợ. Những rung động
mãnh liệt, trào dâng từ những nhớ thương, tin tưởng, tự hào với người vợ hiền
đảm, từ nỗi đau đất nước chia cắt và gia đình ly tán, Hoàng Việt chợt cảm nhận
rõ ràng hơn bao giờ hết sức mạnh kỳ diệu của tình yêu đôi lứa trong sự gắn bó
thiếng liêng với tình yêu quê hương đất nước. Một sức mạnh bất chấp không gian
xa cách và thời gian dằng dặc, thách thức mọi phong ba bão tố, vượt trên chiến
tranh thù hận, xoá tan đau khổ chia ly, để toả sáng như ánh sao đêm, thơm ngát
như cánh hoa xuân và bền vững muôn đời như sông nước Cửu Long bất diệt. Và bản “Tình
ca” đã ra đời như tiếng lòng của Hoàng Việt gửi về người vợ phưong xa
với những nhắn nhủ thuỷ chung son sắt:
Bến nước Cửu Long còn đó em ơi
Biển lúa nương dâu còn mãi muôn đời
Là còn duyên tình ta thắm trong tiếng ca không thể xoá
nhoà...
Giữ lấy đức tin bền vững em ơi
Giữ lấy trái tim đòi sống yêu đời
Là một bài tình ca của đôi lứa ta dâng cả bao người
Ngay sau khi ra đời, “Tình ca” đã được
ca sĩ Quốc Hương, người bạn thân từ chiến trường Nam Bộ của Hoàng Việt, thu
thanh, phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam làm ngây ngất thính giả trong và
ngoài nước. Tuy vây, thật khó tin khi bản tình ca tha thiết, mạnh mẽ nhường ấy
lại bị một số quan chức văn hoá và cả một số văn nghệ sĩ phê phán là bi luỵ,
yếu đuối và lập tức bị lưu kho. Mãi đến hơn 10 năm sau, sau khi Hoàng Việt trở
về miền Nam chiến đấu, sáng tác và hy sinh,“Tình ca” mới được phổ
biến trở lại. Từ đấy, “bài tình ca của đôi lứa ta dâng cả bao người” của
Hoàng Việt đã cất cánh bay đến với các thế hệ người Việt ở mọi phương trời, trở
thành khúc tình ca được cả dân tộc ca hát trong hơn nửa thế kỷ qua, cả trong
chiến tranh cũng như giữa thời bình, cả trong đau khổ và hạnh phúc. Với sức
chinh phục vô song và khả năng thức tỉnh, nâng mọi tâm hồn vươn đến những điều
cao đẹp, thánh thiện, “Tình ca” xứng đáng được coi là biểu
tượng của âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20 như có người đề nghị.
Năm 1958, Hoàng Việt được Đảng và nhà nước cử sang học tập tại Nhạc viện Sofia,Bulgari.
Đến cuối năm 1964 ông tốt nghiệp hạng ưu tú tại đây với bản giao hưởng số 1 của
ông, cũng là bản giao hưởng đầu tiên của âm nhạc Việt Nam, bản giao hưởng mang
tên “Quê hương”.Sau 7 năm tu nghiệp tại một nhạc viện lớn của châu
Âu, người nhạc sĩ tự học từ đô thành Sài Gòn năm xưa đã nỗ lực vươn lên làm chủ
được thể loại giao hưởng, thể loại âm nhạc được coi là lớn nhất và khó nhất của
âm nhạc hàn lâm thế giới, “một trong những biểu hiện rực rỡ nhất của sự
trưởng thành về tinh thần của loài người” như nhận định của giới mỹ
học châu Âu.
Giám đốc Nhạc viện Sofia từng tự hào đánh giá: “Bản giao hưởng của Hoàng
Việt không phải là một tác phẩm tốt nghiệp mà thật sự là một tác phẩm lớn... Đó
là một thành công rực rỡ của âm nhạc Việt Nam". GS Ca Lê Thuần cũng
cho rằng giao hưởng Quê hương của Hoàng Việt đã
đánh dấu một bước tiến quan trọng của nền âm nhạc Việt Nam dân tộc hiện đại, là
giá trị tinh thần sống mãi với đất nước.
Hoàng Việt tâm sự: "những ký ức quê
hương" và "trách
nhiệm của một công dân" đã giúp ông viết nên bản giao hưởng với
lời đề tặng "Kính dâng Nam Bộ trong cuộc chiến đấu anh dũng chống
ngoại xâm"...
“Quê hương” là bản giao hưởng sử thi đồ sộ gồm 4
chương, với những hình tượng âm nhạc phong phú khắc hoạ cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm của nhân dân Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Tác giả đã sử
dụng chất liệu từ những bài hát cách mạng và dân ca để làm các chủ đề, được
phát triển nhuần nhuyễn với những cảm xúc sáng tạo tinh tế và một bút pháp khá
điêu luyện. Chương I diễn tả không khí những ngày Cách mạng tháng Tám và kháng
chiến chống Pháp, được viết dưới hình thức sonate với các chủ đề lấy từ các ca
khúc “Hội nghị Diên Hồng”, “Lên đàng” của Lưu Hữu Phước, “Nam
Bộ kháng chiến” của Tạ Thanh Sơn, “Chiến thắng Điện Biên” của
Đỗ Nhuận. Chương II mang tính chất trữ tình, miêu tả quê hương từ chiến tranh
chuyển sang những ngày hòa bình, được viết dưới hình thức ronto với các chủ đề
lấy từ “Lên ngàn”, “Mùa lúa chin” (Hoàng Việt), “Kỵ binh
Việt Nam” của Lê Yên, “Cây trúc xinh”, dân ca quan họ Bắc
Ninh và“Quê tôi giải phóng” của Văn Chung. Chương III là chương
nhanh, kịch tính, nhằm miêu tả cuộc kháng chiến chống Mỹ, được viết dưới hình
thức sonate, bao gồm các chủ đề phát triển từ bài “Giải phóng miền Nam” của
Lưu Hữu Phước, “Đợi chờ”, dân ca Tây Nguyên và “Lên đàng”. Trong
chương này, âm nhạc mang tính căng thẳng, kịch tính cao độ để thể hiện cuộc
chiến tranh một mất một còn, cuối cùng phần tái hiện mang âm hưởng hai bài “Lên
đàng” và “Giải phóng miền Nam” biểu hiện quyết tâm
chiến đấu và chiến thăng kẻ thù xâm lược. Chương IV mang âm hưởng vui tươi, rộn
rã, thể hiện niềm vui khi đất nước giành được độc lập tự do. Chương này được
xây dựng với hình thức 3 đoạn phức cùng phần coda trang trọng, hoành tráng, có
sự tham gia của dàn hợp xướng thể hiện ước mơ được sống trong hạnh phúc thanh
bình của dân tộc.
Trong năm 1964, giao hưởng “Quê hưong” đã
được biểu diễn ba lần tại thủ đô Bugari: lần thứ nhất trong dịp Hoàng Việt thi
tốt nghiệp với Dàn nhạc Nhạc viện Sofia và hai lần nữa để phục vụ công chúng
với Dàn nhạc Giao hưởng Bugari. Dàn nhạc Giao hưởng Bungari cũng đã thu thanh
giao hưởng “Quê hương” để phát trên đài phát thanh Quốc gia.
Tại Việt Nam, khi Hoàng Việt trở về Hà Nội, bản giao hưởng này cũng đã được Nhà
hát giao hưởng hợp xướng nhạc vũ kịch Việt Nam và hai danh ca Quốc Hương, Vũ
Dậu dàn dựng, công diễn cùng bản giao hưởng số 5 của nhạc sĩ vĩ đại người Nga
P.I.Tchaikovsky vào ba đêm 26, 27, 28 tháng 3 năm 1965 tại Nhà hát Lớn Hà Nội
dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng, nghệ sĩ công huân Triều Tiên Ly Hiơng Un. Đó
là ba đêm nghệ thuật không thể nào quên không chỉ với Hoàng Việt mà cả với
người hâm mộ và giới âm nhạc hàn lâm Việt Nam…
Ông tiên tóc trắng ở khu nhà 87B Lý Thường Kiệt, Hà Nội
Tôi nhớ mãi ấn tượng về Hoàng Việt khi ông đến sống tại
khu nhà 87B LýThượng Kiệt, Hà Nội. Đây là khu nhà dành cho các văn nghệ sĩ miền
Nam tập kết gồm nhà thơ Bảo Định Giang, các nhà văn Khương Minh Ngọc, Nguyễn
Quang Sáng, Xuân Vũ, hoạ sĩ Nguyễn Tấn Hưng, nghệ sĩ điện ảnh Nhị Hà và ba tôi,
nhà nghiên cứu Mịch Quang. Đầu năm 1965, khi Hoàng Việt từ Bungari về nước, nhà
thơ Bảo Định Giang, Phó Tổng thư ký phụ trách văn nghệ miền Nam của Liên hiệp
các hội VHNTVN, đã cùng gia đình dọn đến trong cơ quan 51 Trần Hưng Đạo, nhưòng
căn phòng lớn của gia đình tạị đây cho nhạc sĩ đồng hương Tiền Giang tài năng
đến ở để có điều kiện sáng tác. Khi ấy, tôi là một cậu học sinh lớp 9 mê nhạc
cổ điển, rất tự hào khi biết người nhạc sĩ nổi tiếng của những “Lên
ngàn”, “Nhạc rừng” và giao hưởng “Quê hương” đến ở
trong khu nhà mình. Hằng ngày, Hoàng Việt hầu như chỉ ở trong căn phòng của ông
và tôi luôn được nghe tiếng đàn piano vọng ra từ đấy, chỉ thỉnh thoảng tôi mới
thoáng thấy bóng ông ra ngoài với vóc dáng mình hạc xương mai và mái tóc bạc
trắng. Với tôi, Hoàng Việt gần thật đấy mà cứ xa xôi huyền hoặc như là một ông
tiên trong cổ tích. Tôi không hề biết ông tiên tóc bạc trắng này chỉ mới 37
tuổi. Ít lâu sau, nhạc sĩ Văn Cận sau khi tu nghiệp ở Trung Quốc về, đã đến ở
với ba con tôi và tôi đã đôi lần theo nhạc sĩ Văn Cận vào chơi với nhạc sĩ
Hoàng Việt trong căn phòng của ông. Được đối diện thật gần với Hoàng Việt, tôi
thấy ông không già như tôi tưởng, ông có đôi mắt thật sang và nụ cười thật hiền
từ. Nghe Hoàng Việt và Văn Cận trò chuyện, tôi biết hai nhạc sĩ của “Tình
ca” và “Giữ trọn tình quê” khi tập kết đều để lại vợ
con ở miền Nam, nay đều có nguyện vọng trở về Nam chiến đấu, sáng tác mong có
cơ hội sum họp gia đình và nguyện vọng đó đã được cấp trên chấp thuận. Bên cây
đàn piano, Hoàng Việt và Văn Cận đã đàn và hát cho nhau nghe các sáng tác mới
chuẩn bị cho chuyến hồi hương thiêng liêng, Hoàng Việt với bài “Giết
giặc Mỹ cứu nước” còn Văn Cận có bài “Mẹ ơi! Con sẽ trở về”. Thời
gian này, chị tôi sau khi tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp đã xung phong về miền
Nam được hơn một năm. Trong thư chị gửi ra cho gia đình, tôi được biết chị tôi
đã phải mất hơn hai tháng trời vượt qua hàng ngàn cây số đèo dốc Trường Sơn mới
về được đến quê hương. Nhìn Hoàng Việt và Văn Cận, tôi thầm nghĩ không biết hai
ông sẽ làm thế nào để vượt Trưòng Sơn, khi Văn Cận thì cận thị rất nặng còn
Hoàng Việt thì quá mảnh khảnh, gầy guộc…Sau tết 1966, tôi không còn được gặp
Hoàng Việt và Văn Cận tại khu nhà 87B Lý Thường Kiệt Hà Nội nữa, hai ông đều đã
lên đường…
Cửu Long – Bản giao hưởng dang dở
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng, trưởng đoàn văn nghệ sĩ đi
chiến trường Nam Bộ đầu năm 1966 kể rằng ông và các văn nghệ sĩ trong đoàn
không ai nghĩ rằng Hoàng Việt có khả năng vượt nổi Trường Sơn bởi thấy ông quá
ốm yếu. Trên đường Trường Sơn, Nguyễn Quang Sáng luôn bố trí Hoàng Việt đi đầu
khi hành quân nhưng bao giờ ông cũng là người cuối cùng đến trạm, rất lâu sau
khi mọi người đã đến đã nấu cơm và ăn cơm xong, khi cả đoàn đã lên võng ngủ
Hoàng Việt mới lủi thủi một mình lặng lẽ nhóm bếp nấu cơm. Có lần, Hoàng Việt
bị lật cổ chân, chân sưng to, mưng mủ, đoàn muốn gửi ông lại trạm để dưỡng bệnh
nhưng ông vẫn cắn răng lết theo đoàn, kể cả khi phải mang thêm hơn 10 cân gạo
ăn đường trong cái ba lô đã nặng gần bằng trọng lượng 42 kg người ông. Cứ thế,
sau hơn ba tháng, Hoàng Việt vẫn theo kịp đoàn để về đến quê hương trong sự
kinh ngạc của mọi người.
Toại nguyện về với quê hương, bất chấp đói khổ, ác liệt,
ngay trên chiến khu, song song với việc đào hầm, cất nhà, tải gạo, với bút danh
mới Lê Quỳnh, Hoàng Việt đã say sưa sáng tác với năng suất chưa từng có. Từ
cuối năm 1966 đến giữa năm 1967, ông đã hoàn thành 12 ca khúc và vở nhạc kịch “Bông
sen” kể chuyện anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Lịch với 102 trang phần đệm
piano để gửi ra miền Bắc.
Ông còn viết nhạc cho hai điệu múa của Văn công R, rồi chuyển“Bông sen” từ thể loại lớn opera thành một nhạc cảnh nhỏ để Văn công R có thể biểu diễn phục vụ tại chiến trường. Trong lá thư viết cho nhạc sĩ Đỗ Nhuận tháng 5/1967, Hoàng Việt nói với Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam rằng dù rất tích cực sáng tác phục vụ kip thời nhưng ông vẫn không quên dồn tâm sức sáng tác những tác phẩm lớn góp phần đánh dấu giai đoạn tiến triển mới của âm nhạc cách mạng miền Nam. Hoàng Việt còn bày tỏ với nhạc sĩ Đỗ Nhuận khát vọng đưa âm nhạc cách mạng thâm nhập sâu vào đời sống tinh thần của người dân miền Nam để thay thế loại tân cổ tạp nham cũng như thứ nhạc dance ỉ eo than khóc mị dân của Phạm Duy hoặc loại nhạc điện tử làm ô uê thích giác người nghe của đám nhạc trẻ sa đoạ Sài Gòn…
Ông còn viết nhạc cho hai điệu múa của Văn công R, rồi chuyển“Bông sen” từ thể loại lớn opera thành một nhạc cảnh nhỏ để Văn công R có thể biểu diễn phục vụ tại chiến trường. Trong lá thư viết cho nhạc sĩ Đỗ Nhuận tháng 5/1967, Hoàng Việt nói với Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam rằng dù rất tích cực sáng tác phục vụ kip thời nhưng ông vẫn không quên dồn tâm sức sáng tác những tác phẩm lớn góp phần đánh dấu giai đoạn tiến triển mới của âm nhạc cách mạng miền Nam. Hoàng Việt còn bày tỏ với nhạc sĩ Đỗ Nhuận khát vọng đưa âm nhạc cách mạng thâm nhập sâu vào đời sống tinh thần của người dân miền Nam để thay thế loại tân cổ tạp nham cũng như thứ nhạc dance ỉ eo than khóc mị dân của Phạm Duy hoặc loại nhạc điện tử làm ô uê thích giác người nghe của đám nhạc trẻ sa đoạ Sài Gòn…
Sau niềm hạnh phúc to lớn được đón người vợ yêu thương và
ba đứa con từ Sài Gòn ra chiến khu sum họp gia đình sau hơn 13 năm xa cách
trong dịp têt 1967, Hoàng Việt lại bắt đầu một thử thách mới. Ông xin tổ chức
cho rời chiến khu về với vùng đất ven bờ Cửu Long, vùng chiến sự ác liệt, để
lấy cảm hứng thực hiện dự án sáng tác lớn ông hằng ôm ấp: bản giao hưởng số 2
của ông, giao hưởng mang tên “Cửu Long” . Theo Hoàng Việt, đây
sẽ là giao hưởng có 3 chương: Chiến thắng, hạnh phúc và xây
dựng. Và ông đã lên đường về Cao Lãnh, Tiền Giang men theo đường số 4
và bờ sông Cửu Long để tìm hiểu thêm những điều Hoàng Việt gọi là“những khía
cạnh đặc biệt” nơi dòng sông vĩ đại của quê hương. Cuối năm 1967, sau
những ngày tháng băng đồng, qua lộ, chịu bom pháo, Hoàng Việt đã đặt chân về
đến quê mẹ Tiền Giang, đã đến rất gần với sóng nước Cửu Long. Nhưng ngay
trên bờ kênh Ả Rặt, làng Mỹ Thiện, huyện Cái Bè, Tiền Giang, trong buổi sáng
cuối cùng năm 1967, sáng 31 tháng 12, Hoàng Việt và những người cùng đi bất ngờ
bị máy bay Mỹ tập kích. Hoàng Việt bị trúng đạn rốc két của kẻ thù. Ông hy
sinh, thân xác hoà tan trong con kênh chảy ra dòng sông Cửu Long. Khi ấy, Hoàng
Việt mới vừa qua tuổi 39. Và bản giao hương số 2 của đời ông, giao hưởng “Cửu
Long”, mãi là bản giao hưởng dang dở…







.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét